Ban Chấp hành Trung ương khóa XIV có 200 Ủy viên, gồm 180 Ủy viên chính thức và 20 Ủy viên dự khuyết.
Ngày 22/1, Đại hội XIV của Đảng tiếp tục làm việc cả ngày để thảo luận và thực hiện các nội dung về công tác nhân sự Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV.
Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV là 200 Ủy viên, gồm 180 Ủy viên chính thức và 20 Ủy viên dự khuyết.
Theo danh sách công bố 200 Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương khóa XIV, Tổng Bí thư Tô Lâm, Chủ tịch nước Trần Thanh Mẫn, Thường trực Ban Bí thư Trần Cẩm Tú đã được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương khóa XIV.
DANH SÁCH ỦY VIÊN CHÍNH THỨC BAN CHẤP HÀNH TRUNG ƯƠNG ĐẢNG KHÓA XIV
KHỐI CÁC CƠ QUAN TRUNG ƯƠNG
1. ĐỒNG CHÍ TÔ LÂM, Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bí thư Quân ủy Trung ương
2. ĐÀO TUẤN ANH, Trung tướng, Phó Bí thư Đảng ủy, Tư lệnh Quân đoàn 34, Bộ Quốc phòng
3. TRẦN VĂN BẮC, Thiếu tướng, Phó Bí thư Đảng ủy, Tư lệnh Quân khu 2, Bộ Quốc phòng
4. ĐỖ THANH BÌNH, Ủy viên Trung ương Đảng, Ủy viên Ban Thường vụ Đảng ủy Chính phủ, Bộ trưởng Bộ Nội vụ, Phó Trưởng Ban Tổ chức Trung ương
5. LÊ HẢI BÌNH, Ủy viên dự khuyết Trung ương Đảng, Uỷ viên Ban Thường vụ Đảng ủy, Phó Giám đốc Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh
6. ĐOÀN XUÂN BƯỜNG, Thiếu tướng, Bí thư Đảng ủy, Chính ủy Quân khu 4, Bộ Quốc phòng
7. ĐỖ VĂN CHIẾN, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Bí thư Thường trực Đảng ủy Quốc hội, Phó Chủ tịch Thường trực Quốc hội
8. HOÀNG DUY CHINH, Ủy viên Trung ương Đảng, Ủy viên Ban Thường vụ Đảng ủy Quốc hội, Ủy viên Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Phó Chủ tịch Thường trực Hội đồng Dân tộc của Quốc hội khóa XV
9. NGUYỄN TÂN CƯƠNG, Ủy viên Trung ương Đảng, Ủy viên Ban Thường vụ Quân ủy Trung ương, Đại tướng, Tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng
10. NGUYỄN MẠNH CƯỜNG, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Bí thư Thường trực Đảng ủy, Thứ trưởng Bộ Ngoại giao
11. NGUYỄN HỒNG DIÊN, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Bí thư Đảng ủy Quốc hội
12. ĐẶNG VĂN DŨNG, Ủy viên Ban Chấp hành Đảng bộ các cơ quan Đảng Trung ương, Phó Trưởng Ban Nội chính Trung ương
13. ĐOÀN ANH DŨNG, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Trung ương
14. HOÀNG TRUNG DŨNG, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Trưởng Ban Tổ chức Trung ương
15. HỒ QUỐC DŨNG, Ủy viên Trung ương Đảng, Ủy viên Ban Thường vụ Đảng ủy Chính phủ, Phó Thủ tướng Chính phủ
16. NGUYỄN KHẮC ĐỊNH, Ủy viên Trung ương Đảng, Ủy viên Ban Thường vụ Đảng ủy Quốc hội, Phó Chủ tịch Quốc hội
17. LƯƠNG QUỐC ĐOÀN, Ủy viên Trung ương Đảng, Ủy viên Ban Thường vụ Đảng ủy Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể Trung ương, Phó Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Chủ tịch Hội Nông dân Việt Nam
18. NGUYỄN QUỐC ĐOÀN, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Bí thư Thường trực Đảng ủy, Phó Tổng Thanh tra Thường trực Thanh tra Chính phủ
19. NGUYỄN HỮU ĐÔNG, Ủy viên Trung ương Đảng, Ủy viên Ban Thường vụ Đảng ủy Quốc hội, Ủy viên Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chủ nhiệm Ủy ban Công tác đại biểu của Quốc hội khóa XV, Phó Trưởng Ban Tổ chức Trung ương
20. ĐẶNG HỒNG ĐỨC, Ủy viên Ban Thường vụ Đảng ủy Công an Trung ương, Trung tướng, Thứ trưởng Bộ Công an
21. NGUYỄN QUANG ĐỨC, Phó Bí thư Đảng ủy, Phó Trưởng Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương
22. NGUYỄN VĂN GẤU, Ủy viên Trung ương Đảng, Ủy viên Quân ủy Trung ương, Thượng tướng, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng
23. PHAN VĂN GIANG, Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Thường vụ Đảng ủy Chính phủ, Phó Bí thư Quân ủy Trung ương, Đại tướng, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng
24. NGUYỄN THỊ THU HÀ, Ủy viên Trung ương Đảng, Ủy viên Ban Thường vụ Đảng ủy các cơ quan Đảng Trung ương, Phó Chánh Văn phòng Thường trực Văn phòng Trung ương Đảng
25. VŨ HẢI HÀ, Ủy viên Trung ương Đảng, Ủy viên Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Phó Bí thư Đảng ủy Quốc hội
26. LÊ KHÁNH HẢI, Ủy viên Trung ương Đảng, Ủy viên Ban Thường vụ Đảng ủy các cơ quan Đảng Trung ương, Chủ nhiệm Văn phòng Chủ tịch nước
27. LÊ NGỌC HẢI, Trung tướng, Phó Bí thư Đảng ủy, Tư lệnh Quân khu 5, Bộ Quốc phòng
28. NGÔ ĐÔNG HẢI, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Trưởng Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương
29. NGUYỄN LONG HẢI, Ủy viên dự khuyết Trung ương Đảng, Phó Bí thư Thường trực Đảng ủy các cơ quan Đảng Trung ương
30. NGUYỄN THANH HẢI, Ủy viên Trung ương Đảng, Ủy viên Ban Thường vụ Đảng ủy Quốc hội, Ủy viên Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội khóa XV
31. NGUYỄN VĂN HIỀN, Ủy viên Trung ương Đảng, Ủy viên Quân ủy Trung ương, Thượng tướng, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng
32. TRẦN THỊ HIỀN, Ủy viên Ban Thường vụ Đảng ủy các cơ quan Đảng Trung ương, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Trung ương
33. NGUYỄN SỸ HIỆP, Phó Bí thư Thường trực Đảng ủy, Phó Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ
34. PHAN CHÍ HIẾU, Ủy viên Ban Thường vụ Đảng ủy, Thứ trưởng Bộ Tư pháp
35. BÙI THỊ MINH HOÀI, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Bí thư Đảng ủy Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể Trung ương, Chủ tịch Ủy Ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
36. NGUYỄN THỊ HỒNG, Ủy viên Trung ương Đảng, Ủy viên Ban Chấp hành Đảng bộ Chính phủ, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
37. ĐOÀN MINH HUẤN, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Bí thư Thường trực Đảng ủy, Phó Giám đốc Thường trực Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh
38. LÊ MẠNH HÙNG, Ủy viên Ban Chấp hành Đảng bộ Chính phủ, Quyền Bộ trưởng Bộ Công Thương
39. LÊ QUỐC HÙNG, Ủy viên Trung ương Đảng, Ủy viên Ban Thường vụ Đảng ủy Công an Trung ương, Thượng tướng, Thứ trưởng Bộ Công an
40. BÙI QUANG HUY, Ủy viên dự khuyết Trung ương Đảng, Ủy viên Ban Thường vụ Đảng ủy Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể Trung ương, Phó Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Bí thư thứ nhất Trung ương Đoàn Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh
41. DƯƠNG QUỐC HUY, Ủy viên Ban Thường vụ Đảng ủy, Phó Tổng Thanh tra Chính phủ
42. LÊ MINH HƯNG, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Tổ chức Trung ương
43. NGUYỄN ĐỨC HƯNG, Trung tướng, Bí thư Đảng ủy, Chính ủy Quân khu 3, Bộ Quốc phòng
44. TRẦN TIẾN HƯNG, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Trung ương
45. NGUYỄN ĐÌNH KHANG, Ủy viên Trung ương Đảng, Ủy viên Ban Thường vụ Đảng ủy Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể Trung ương, Phó Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Chủ tịch Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam
46. TRẦN VIỆT KHOA, Ủy viên Trung ương Đảng, Ủy viên Quân ủy Trung ương, Thượng tướng, Phó Bí thư Đảng ủy, Giám đốc Học viện Quốc phòng, Bộ Quốc phòng
47. VŨ TRUNG KIÊN, Trung tướng, Phó Bí thư Đảng ủy, Tư lệnh Bộ đội Biên phòng, Bộ Quốc phòng
48. ĐÀO HỒNG LAN, Ủy viên Trung ương Đảng, Ủy viên Ban Chấp hành Đảng bộ Chính phủ, Bộ trưởng Bộ Y tế
49. NGUYỄN NGỌC LÂM, Ủy viên Ban Thường vụ Đảng ủy Công an Trung ương, Thượng tướng, Thứ trưởng Bộ Công an
50. NGUYỄN THANH LÂM, Ủy viên Ban Chấp hành Đảng bộ Chính phủ, Tổng Giám đốc Đài Truyền hình Việt Nam
51. TRẦN THANH LÂM, Phó Trưởng Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương
52. TRỊNH MẠNH LINH, Phó Trưởng Ban Tổ chức Trung ương
53. NGUYỄN HỒNG LĨNH, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Trung ương
54. NGUYỄN PHI LONG, Ủy viên dự khuyết Trung ương Đảng, Phó Bí thư Đảng ủy Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể Trung ương
55. NGUYỄN VĂN LONG, Ủy viên Ban Thường vụ Đảng ủy Công an Trung ương, Thượng tướng, Thứ trưởng Bộ Công an
56. LÊ VĂN LỢI, Ủy viên Ban Chấp hành Đảng bộ Chính phủ, Chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam
57. NGUYỄN THỊ THANH MAI, Bí thư Đảng ủy, Giám đốc Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh
58. PHAN VĂN MÃI, Ủy viên Trung ương Đảng, Ủy viên Ban Thường vụ Đảng ủy Quốc hội, Ủy viên Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế và Tài chính của Quốc hội khóa XV
59. LÊ QUANG MẠNH, Ủy viên Trung ương Đảng, Ủy viên Ban Thường vụ Đảng Ủy Quốc hội, Ủy viên Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Tổng Thư ký – Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội
60. LÂM VĂN MẪN, Ủy viên Trung ương Đảng, Ủy viên Ban Thường vụ Đảng ủy Quốc hội, Ủy viên Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chủ tịch Hội đồng Dân tộc của Quốc hội khóa XV
61. TRẦN THANH MẪN, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Đảng ủy Quốc hội, Chủ tịch Quốc hội
62. LÊ QUỐC MINH, Ủy viên Trung ương Đảng, Ủy viên Ban Thường vụ Đảng ủy các cơ quan Đảng Trung ương, Tổng Biên tập Báo Nhân Dân, Phó Trưởng Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương, Chủ tịch Hội Nhà báo Việt Nam
63. TRẦN HỒNG MINH, Ủy viên Trung ương Đảng, Ủy viên Ban Chấp hành Đảng bộ Chính phủ, Bộ trưởng Bộ Xây dựng
64. PHẠM HOÀI NAM, Ủy viên Trung ương Đảng, Ủy viên Quân ủy Trung ương, Thượng tướng, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng
65. HÀ THỊ NGA, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Bí thư Thường trực Đảng ủy Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể Trung ương, Phó Chủ tịch – Tổng Thư ký Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
66. LÊ THỊ NGA, Ủy viên Trung ương Đảng, Ủy viên Ban Thường vụ Đảng ủy Quốc hội, Ủy viên Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Phó Chủ nhiệm Thường trực Ủy ban Dân nguyện và Giám sát của Quốc hội khóa XV
67. NGUYỄN THANH NGHỊ, Ủy viên Trung ương Đảng, Trưởng Ban Chính sách, chiến lược Trung ương
68. NGUYỄN TRỌNG NGHĨA, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Ủy viên Ban Thường vụ Quân ủy Trung ương, Đại tướng, Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam
69. BÙI VĂN NGHIÊM, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Trưởng Ban Nội chính Trung ương
70. TRẦN THANH NGHIÊM, Ủy viên Trung ương Đảng, Ủy viên Quân ủy Trung ương, Phó Đô đốc Hải quân, Tư lệnh Quân chủng Hải quân, Bộ Quốc phòng
71. NGUYỄN QUANG NGỌC, Ủy viên Trung ương Đảng, Ủy viên Quân ủy Trung ương, Thượng tướng, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng
72. NGUYỄN THỊ BÍCH NGỌC, Phó Bí thư Thường trực Đảng ủy, Thứ trưởng Bộ Tài chính
73. CHIÊM THỐNG NHẤT, Thiếu tướng, Phó Tư lệnh kiêm Tham mưu trưởng Quân khu 9, Bộ Quốc phòng
74. NGUYỄN HẢI NINH, Ủy viên Trung ương Đảng, Ủy viên Ban Chấp hành Đảng bộ Chính phủ, Bộ trưởng Bộ Tư pháp
75. LA CÔNG PHƯƠNG, Trung tướng, Bí thư Đảng ủy, Chính ủy Quân khu 1, Bộ Quốc phòng
76. LÊ HỒNG QUANG, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Trưởng Ban Nội chính Trung ương
77. LƯƠNG TAM QUANG, Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Thường vụ Đảng ủy Chính phủ, Bí thư Đảng ủy Công an Trung ương, Đại tướng, Bộ trưởng Bộ Công an
78. NGUYỄN VĂN QUẢNG, Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Đảng ủy, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao
79. VŨ HẢI QUÂN, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Bí thư Thường trực Đảng ủy, Thứ trưởng Thường trực Bộ Khoa học và Công nghệ
80. THÁI THANH QUÝ, Ủy viên Trung ương Đảng, Ủy viên Ban Thường vụ Đảng ủy các cơ quan Đảng Trung ương, Phó Trưởng Ban Thường trực Ban Chính sách, chiến lược Trung ương
81. TRỊNH VĂN QUYẾT, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương
82. HOÀNG MINH SƠN, Bí thư Đảng ủy, Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội
83. NGUYỄN KIM SƠN, Ủy viên Trung ương Đảng, Ủy viên Ban Chấp hành Đảng bộ Chính phủ, Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo
84. VŨ HỒNG SƠN, Trung tướng, Phó Bí thư Đảng ủy, Tư lệnh Quân chủng Phòng không-Không quân, Bộ Quốc phòng
85. ĐỖ TIẾN SỸ, Ủy viên Trung ương Đảng, Ủy viên Ban Chấp hành Đảng bộ Chính phủ, Tổng Giám đốc Đài Tiếng nói Việt Nam
86. NGUYỄN THÀNH TÂM, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Trưởng Ban Tổ chức Trung ương
87. LÊ ĐỨC THÁI, Ủy viên Trung ương Đảng, Ủy viên Quân ủy Trung ương, Thượng tướng, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng
88. TRẦN HỒNG THÁI, Phó Bí thư Thường trực Đảng ủy, Phó Chủ tịch Thường trực Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam
89. LÂM THỊ PHƯƠNG THANH, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Bí thư Thường trực Đảng ủy, Thứ trưởng Thường trực Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch
90. NGUYỄN THỊ THANH, Ủy viên Trung ương Đảng, Ủy viên Ban Thường vụ Đảng ủy Quốc hội, Phó Chủ tịch Quốc hội
91. TRẦN SỸ THANH, Ủy viên Trung ương Đảng, Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Trung ương
92. ĐINH HỮU THÀNH, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Trung ương
93. NGUYỄN TRƯỜNG THẮNG, Ủy viên Trung ương Đảng, Ủy viên Quân ủy Trung ương, Thượng tướng, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng
94. NGUYỄN VĂN THẮNG, Ủy viên Trung ương Đảng, Ủy viên Ban Chấp hành Đảng bộ Chính phủ, Bộ trưởng Bộ Tài chính
95. PHẠM TẤT THẮNG, Ủy viên Trung ương Đảng, Ủy viên Ban Chấp hành Đảng bộ các cơ quan Đảng Trung ương, Phó Trưởng Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương
96.TÀO ĐỨC THẮNG, Trung tướng, Phó Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch kiêm Tổng Giám đốc Tập đoàn Công nghiệp – Viễn thông Quân đội
97. TRẦN ĐỨC THẮNG, Ủy viên Trung ương Đảng, Ủy viên Ban Chấp hành Đảng bộ Chính phủ, Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường
98. LÊ XUÂN THẾ, Trung tướng, Phó Bí thư Đảng ủy, Tư lệnh Quân khu 7, Bộ Quốc phòng
99. LÊ XUÂN THUÂN, Thiếu tướng, Phó Bí thư Đảng ủy, Tư lệnh Quân đoàn 12, Bộ Quốc phòng
100. LÊ THỊ THỦY, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Bí thư Đảng ủy Chính phủ
101. NGUYỄN HUY TIẾN, Ủy viên Ban Thường vụ Đảng ủy các cơ quan Đảng Trung ương, Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tối cao
102. ĐẶNG KHÁNH TOÀN, Phó Bí thư Thường trực Đảng ủy, Phó Chánh Văn phòng Trung ương Đảng
103. TRƯƠNG THIÊN TÔ, Thượng tướng, Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam
104. LÊ TẤN TỚI, Ủy viên Trung ương Đảng, Ủy viên Ban Thường vụ Đảng ủy Quốc hội, Ủy viên Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chủ nhiệm Ủy ban Quốc phòng, An ninh và Đối ngoại của Quốc hội khóa XV
105. PHẠM THỊ THANH TRÀ, Ủy viên Trung ương Đảng, Ủy viên Ban Thường vụ Đảng ủy Chính phủ, Phó Thủ tướng Chính phủ
106. NGUYỄN HẢI TRÂM, Ủy viên Ban Thường vụ Đảng ủy các cơ quan Đảng Trung ương, Phó Bí thư Thường trực Đảng ủy Tòa án nhân dân tối cao
107. LÊ MINH TRÍ, Bí thư Trung ương Đảng, Phó Trưởng Ban Thường trực Ban Nội chính Trung ương
108. HÀ QUỐC TRỊ, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Trung ương
109. LÊ HOÀI TRUNG, Bí thư Trung ương Đảng, Ủy viên Ban Thường vụ Đảng ủy Chính phủ, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao
110. TRẦN CẨM TÚ, Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư, Bí thư Đảng ủy các cơ quan Đảng Trung ương
111. NGÔ VĂN TUẤN, Ủy viên Trung ương Đảng, Ủy viên Ban Thường vụ Đảng ủy Quốc hội, Tổng Kiểm toán nhà nuớc
112. NGUYỄN ANH TUẤN, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Trưởng Ban Chính sách, chiến lược Trung ương
113. PHẠM GIA TÚC, Ủy viên Trung ương Đảng, Chánh Văn phòng Trung ương Đảng
114. HOÀNG THANH TÙNG, Ủy viên Trung ương Đảng, Ủy viên Ban Thường vụ Đảng ủy Quốc hội, Ủy viên Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật và Tư pháp của Quốc hội khóa XV
115. PHẠM THẾ TÙNG, Ủy viên Ban Thường vụ Đảng ủy Công an Trung ương, Thượng tướng, Thứ trưởng Bộ Công an
116. ĐỖ XUÂN TỤNG Thượng tướng, Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam
117. LÊ VĂN TUYẾN, Ủy viên Ban Thường vụ Đảng ủy Công an Trung ương, Thượng tướng, Thứ trưởng Bộ Công an
118. NGUYỄN THỊ TUYẾN, Ủy viên Trung ương Đảng, Ủy viên Ban Thường vụ Đảng ủy Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể Trung ương, Phó Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam
119. BÙI THỊ QUỲNH VÂN, Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Đảng ủy, Phó Trưởng Ban Tổ chức Trung ương
120. NGUYỄN ĐẮC VINH, Ủy viên Trung ương Đảng, Ủy viên Ban Thường vụ Đảng ủy Quốc hội, Ủy viên Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa và Xã hội của Quốc hội khóa XV
121. NGUYỄN MINH VŨ, Ủy viên dự khuyết Trung ương Đảng, Phó Bí thư Đảng ủy, Thứ trưởng Thường trực Bộ Ngoại giao
122. VÕ THỊ ÁNH XUÂN, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Chủ tịch nước
123. DƯƠNG TRUNG Ý, Ủy viên Ban Thường vụ Đảng ủy các cơ quan Đảng Trung ương, Tổng Biên tập Tạp chí Cộng sản.
KHỐI ĐỊA PHƯƠNG
124. CAO THỊ HÒA AN, Phó Bí thư Thường trực Tỉnh ủy, Chủ tịch HĐND tỉnh Đắk Lắk
125. PHAN THĂNG AN, Bí thư Tỉnh ủy Cao Bằng
126. NGUYỄN DOÃN ANH, Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy Thanh Hóa
127. NGUYỄN HOÀI ANH, Ủy viên dự khuyết Trung ương Đảng, Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch UBND tỉnh Thanh Hóa
128. PHẠM ĐỨC ẤN, Phó Bí thư Thành ủy, Chủ tịch UBND thành phố Đà Nẵng
129. LÊ NGỌC CHÂU, Phó Bí thư Thành ủy, Chủ tịch UBND thành phố Hải Phòng
130. LÊ TIẾN CHÂU, Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Thành ủy, Trưởng Đoàn ĐBQH khóa XV thành phố Hải Phòng
131. NGÔ CHÍ CƯỜNG, Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy, Trưởng đoàn Đại biểu Quốc hội khóa XV tỉnh Đồng Tháp
132. QUẢN MINH CƯỜNG, Bí thư Tỉnh ủy, Trưởng đoàn ĐBQH khóa XV tỉnh Quảng Ninh
133. TRẦN TIẾN DŨNG, Bí thư Tỉnh ủy Điện Biên
134. PHẠM ĐẠI DƯƠNG, Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy Phú Thọ
135. NGUYỄN TRỌNG ĐÔNG, Phó Bí thư Thành ủy Hà Nội
136. NGUYỄN VĂN ĐƯỢC, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Bí thư Thành ủy, Chủ tịch UBND Thành phố Hồ Chí Minh
137. NGUYỄN HOÀNG GIANG, Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Ngãi
138. NGUYỄN HỒ HẢI, Bí thư Tỉnh ủy Cà Mau
139. NGUYỄN TIẾN HẢI, Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy An Giang
140. TÔN NGỌC HẠNH, Ủy viên dự khuyết Trung ương Đảng, Phó Bí thư Thường trực Tỉnh ủy, Chủ tịch HĐND tỉnh Đồng Nai
141. NGUYỄN MẠNH HÙNG, Phó Bí thư Thường trực Tỉnh ủy, Chủ tịch HĐND tỉnh Tây Ninh
142. TRỊNH VIỆT HÙNG, Ủy viên dự khuyết Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch HĐND tỉnh Lào Cai
143. Y THANH HÀ NIÊ KDĂM, Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy, Trưởng Đoàn ĐBQH khóa XV tỉnh Lâm Đồng
144. HOÀNG QUỐC KHÁNH, Bí thư Tỉnh ủy Lạng Sơn
145. NGUYỄN DUY LÂM, Bí thư Tỉnh ủy Hà Tĩnh
146. TRẦN VĂN LÂU, Bí thư Tỉnh ủy Vĩnh Long
147. HẦU A LỀNH, Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy Tuyên Quang
148. NGUYỄN PHƯỚC LỘC, Phó Bí thư Thành ủy, Chủ tịch Mặt trận Tổ quốc Thành phố Hồ Chí Minh
149. VÕ VĂN MINH, Phó Bí thư Thành ủy, Chủ tịch HĐND Thành phố Hồ Chí Minh
150. HỒ VĂN MỪNG, Ủy viên dự khuyết Trung ương Đảng, Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch UBND tỉnh An Giang
151. HỒ VĂN MƯỜI, Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch UBND tỉnh Lâm Đồng
152. LÊ MINH NGÂN, Bí thư Tỉnh ủy Lai Châu
153. NGUYỄN HỮU NGHĨA, Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy Hưng Yên
154. HOÀNG VĂN NGHIỆM, Bí thư Tỉnh ủy, Trưởng Đoàn ĐBQH khóa XV tỉnh Sơn La
155. NGUYỄN DUY NGỌC, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Thành ủy Hà Nội
156. PHẠM QUANG NGỌC, Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch UBND tỉnh Hưng Yên
157. THÁI ĐẠI NGỌC, Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy Gia Lai
158. HỒ VĂN NIÊN, Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy Quảng Ngãi
159. ĐẶNG XUÂN PHONG, Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy, Trưởng Đoàn ĐBQH khóa XV tỉnh Ninh Bình
160. LÊ QUỐC PHONG, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Bí thư Thường trực Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh
161. TRẦN PHONG, Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch UBND tỉnh Khánh Hòa
162. NGUYỄN VĂN PHƯƠNG, Bí thư Tỉnh ủy Quảng Trị
163. LÊ NGỌC QUANG, Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Thành ủy Đà Nẵng
164. TRẦN LƯU QUANG, Bí thư Trung ương Đảng, Bí thư Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh
165. NGUYỄN VĂN QUYẾT, Bí thư Tỉnh ủy Tây Ninh
166. NGUYỄN HỒNG THÁI, Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy Bắc Ninh
167. ĐỒNG VĂN THANH, Phó Bí thư Thường trực Thành ủy, Chủ tịch HĐND thành phố Cần Thơ
168. NGHIÊM XUÂN THÀNH, Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy Khánh Hòa
169. VŨ ĐẠI THẮNG, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Bí thư Thành ủy, Chủ tịch UBND thành phố Hà Nội
170. NGUYỄN KHẮC THẬN, Bí thư Tỉnh ủy Nghệ An
171. NGUYỄN KHẮC TOÀN, Phó Bí thư Thành ủy, Chủ tịch UBND thành phố Huế
172. LƯƠNG NGUYỄN MINH TRIẾT, Ủy viên dự khuyết Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy Đắk Lắk
173. NGUYỄN ĐÌNH TRUNG, Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Thành ủy Huế
174. TRỊNH XUÂN TRƯỜNG, Bí thư Tỉnh ủy Thái Nguyên
175. PHẠM ANH TUẤN, Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch UBND tỉnh Gia Lai
176. TRẦN HUY TUẤN, Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch UBND tỉnh Ninh Bình
177. VƯƠNG QUỐC TUẤN, Ủy viên dự khuyết Trung ương Đảng, Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch UBND tỉnh Thái Nguyên
178. LÊ QUANG TÙNG, Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Thành ủy Cần Thơ
179. VŨ HỒNG VĂN, Bí thư Tỉnh ủy, Trưởng đoàn Đại biểu Quốc hội khóa XV tỉnh Đồng Nai
180. HỒ THỊ HOÀNG YẾN, Phó Bí thư Thường trực Tỉnh ủy Vĩnh Long
DANH SÁCH ỦY VIÊN DỰ KHUYẾT BAN CHẤP HÀNH TRUNG ƯƠNG ĐẢNG KHÓA XIV
1. NGUYỄN HẢI ANH, Đại tá, Phó Tư lệnh Quân đoàn 12, Bộ Quốc phòng
2. NGUYỄN TUẤN ANH, Phó Bí thư Tỉnh ủy Lai Châu
3. NGUYỄN MẠNH CƯỜNG, Ủy viên Ban Thường vụ Thành ủy, Phó Chủ tịch UBND Thành phố Hồ Chí Minh
4. BÙI QUỐC DŨNG, Ủy viên Ban Thường vụ Đảng ủy, Phó Tổng Kiểm toán nhà nước
5. NGUYỄN HUY DŨNG, Ủy viên chuyên trách Ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số
6. NGUYỄN MINH DŨNG, Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch HĐND tỉnh Vĩnh Long
7. BÙI THẾ DUY, Ủy viên dự khuyết Trung ương Đảng, Phó Bí thư Đảng ủy, Phó Chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam
8. TRẦN DUY ĐÔNG, Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch UBND tỉnh Phú Thọ
9. VŨ MẠNH HÀ, Ủy viên dự khuyết Trung ương Đảng, Phó Bí thư Thường trực Đảng ủy, Thứ trưởng Thường trực Bộ Y tế
10. LÊ HẢI HÒA, Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch UBND tỉnh Cao Bằng
11. U HUẤN, Ủy viên dự khuyết Trung ương Đảng, Phó Bí thư Thường trực Tỉnh ủy, Trưởng Đoàn ĐBQH khóa XV tỉnh, Chủ tịch Ủy ban MTTQ tỉnh Quảng Ngãi
12. ĐỖ HỮU HUY, Phó Bí thư Tỉnh ủy Đắk Lắk
13. NGUYỄN HỒNG PHONG, Phó Bí thư Thường trực Tỉnh ủy Thanh Hóa
14. BÙI HOÀNG PHƯƠNG, Ủy viên Ban Thường vụ Đảng ủy, Thứ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ
15. TRẦN QUÂN, Giám đốc Kho bạc Nhà nước, Bộ Tài chính
16. TRẦN ĐĂNG QUỲNH, Thiếu tướng, Trợ lý đồng chí Tổng Bí thư, sỹ quan Công an Nhân dân biệt phái
17. NGUYỄN MINH TRIẾT, Phó Bí thư Thường trực Đảng ủy cơ quan, Bí thư Thường trực Trung ương Đoàn, Chủ tịch Trung ương Hội Sinh viên Việt Nam
18. HỒ XUÂN TRUỜNG, Phó Bí thư Thường trực Tỉnh ủy Khánh Hòa
19. BÙI ANH TUẤN, Trợ lý đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư
20. MÙA A VẢNG, Ủy viên dự khuyết Trung ương Đảng, Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh Điện Biên./.
Hương Giang
(Nguồn: Thanhtra.com.vn)
3 lãnh đạo chủ chốt của Đảng, Nhà nước gồm Tổng Bí thư Tô Lâm, Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn, Thường trực Ban Bí thư Trần Cẩm Tú cùng 7 Ủy viên Bộ Chính trị khác được tín nhiệm tái cử Trung ương khóa XIV.
Đại hội XIV của Đảng đã bầu ra Ban Chấp hành Trung ương khóa XIV gồm 200 nhân sự, trong đó có 180 Ủy viên Trung ương chính thức và 20 Ủy viên dự khuyết.
Theo danh sách công bố, trong 16 Ủy viên Bộ Chính trị khóa XIII, có 10 người tái cử Ban Chấp hành Trung ương khóa mới.
Trong đó, có 3 lãnh đạo chủ chốt của Đảng, Nhà nước gồm: Tổng Bí thư Tô Lâm, Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn, Thường trực Ban Bí thư Trần Cẩm Tú.

Tổng Bí thư Tô Lâm
Tổng Bí thư Tô Lâm sinh năm 1957, quê ở Hưng Yên. Ông là Ủy viên Bộ Chính trị khóa XII, XIII; Ủy viên Trung ương Đảng khóa XI, XII, XIII và là đại biểu Quốc hội khóa XIV, XV.
Sau thời gian dài công tác gắn bó với ngành Công an và có 8 năm giữ cương vị Bộ trưởng Bộ Công an, ông được bầu làm Chủ tịch nước vào tháng 5/2024. Sau 3 tháng giữ vị trí này, Chủ tịch nước Tô Lâm khi đó được bầu giữ chức Tổng Bí thư. Sau đó, ông thôi chức Chủ tịch nước và giữ chức Tổng Bí thư cho đến nay.
Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn sinh năm 1962, quê ở Hậu Giang. Ông là Ủy viên Trung ương Đảng 4 khóa (khóa X – dự khuyết, XI, XII, XIII); Bí thư Trung ương Đảng khóa XII; Ủy viên Bộ Chính trị khóa XIII và đại biểu Quốc hội các khóa XIII, XIV, XV.

Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn
Trong quá trình công tác, ông Mẫn có thời gian dài làm công tác Đoàn tại các tỉnh Hậu Giang và Cần Thơ. Tháng 4/2021, ông Trần Thanh Mẫn được bầu giữ chức Phó Chủ tịch Quốc hội khóa XIV, sau đó ông giữ chức Phó Chủ tịch Thường trực Quốc hội.
Tháng 5/2024, ông Trần Thanh Mẫn được bầu giữ chức Chủ tịch Quốc hội khóa XV.
Thường trực Ban Bí thư Trần Cẩm Tú sinh năm 1961, quê ở Hà Tĩnh. Ông là Ủy viên Trung ương 4 khóa (X – dự khuyết, XI, XII, XIII), Bí thư Trung ương Đảng 2 khóa (XII, XIII) và Ủy viên Bộ Chính trị khóa XIII.
Ông Trần Cẩm Tú có hơn một nhiệm kỳ đảm nhiệm chức Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Trung ương, trước khi trở thành Thường trực Ban Bí thư.

Thường trực Ban Bí thư Trần Cẩm Tú
Trong khối các cơ quan Đảng, một Ủy viên Bộ Chính trị khóa XIII tái cử Trung ương khóa mới, Trưởng Ban Tổ chức Trung ương Lê Minh Hưng.
Ông Lê Minh Hưng sinh năm 1970, quê tỉnh Hà Tĩnh. Ông là Ủy viên Trung ương Đảng khóa XII, XIII; Bí thư Trung ương Đảng khóa XIII, đại biểu Quốc hội khóa XV và được bầu vào Bộ Chính trị khóa XIII hồi tháng 5/2024.
Ông Lê Minh Hưng từng có thời gian dài tại Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và nắm giữ cương vị Thống đốc Ngân hàng Nhà nước trong gần một nhiệm kỳ.

Trưởng Ban Tổ chức Trung ương Lê Minh Hưng. Ảnh: ĐH
Sau thời gian được điều động, phân công giữ chức Chánh Văn phòng Trung ương Đảng, ông Lê Minh Hưng được Bộ Chính trị phân công làm Trưởng ban Tổ chức Trung ương vào tháng 5/2024 và giữ cương vị đó cho đến nay.
Trong khối Quốc hội có 1 Ủy viên Bộ Chính trị tái cử là Phó Chủ tịch Thường trực Quốc hội Đỗ Văn Chiến, còn khối địa phương có Bí thư Thành ủy Hà Nội Nguyễn Duy Ngọc.
Phó Chủ tịch Thường trực Quốc hội Đỗ Văn Chiến sinh năm 1962, quê ở Tuyên Quang. Ông là Ủy viên Trung ương (X – dự khuyết, XI, XII, XIII) và được bầu bổ sung vào Bộ Chính trị hồi tháng 5/2024.

Phó Chủ tịch Thường trực Quốc hội Đỗ Văn Chiến
Ông từng giữ chức Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch UBND tỉnh Tuyên Quang; Bí thư Tỉnh ủy Yên Bái; Bộ trưởng, Chủ nhiệm Ủy ban Dân tộc.
Đầu năm 2021, ông trở thành Chủ tịch Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam và đến tháng 11/2025 được bầu giữ chức Phó Chủ tịch Quốc hội, sau đó được phân công làm Phó Chủ tịch Thường trực Quốc hội.
Bí thư Thành ủy Hà Nội Nguyễn Duy Ngọcsinh năm 1964, quê ở Hưng Yên. Ông là Ủy viên Trung ương Đảng khóa XIII và được bầu giữ chức Ủy viên Bộ Chính trị khóa XIII vào tháng 1/2025.

Bí thư Thành ủy Hà Nội Nguyễn Duy Ngọc
Ông Nguyễn Duy Ngọc có thời gian dài công tác trong ngành Công an, từng là Thứ trưởng Bộ Công an. Đầu tháng 6/2024, Bộ Chính trị điều động, phân công ông Nguyễn Duy Ngọc giữ chức Chánh Văn phòng Trung ương Đảng.
Sau đó, ông được bầu giữ chức Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Trung ương vào 1/2025. Đến tháng 11/2025, ông Nguyễn Duy Ngọc được Bộ Chính trị điều động, phân công, chỉ định làm Bí thư Thành ủy Hà Nội.
Thành viên nữ duy nhất trong Bộ Chính trị khóa XIII tiếp tục tái cử tham gia Ban Chấp hành Trung ương khóa mới là bà Bùi Thị Minh Hoài, Chủ tịch Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam.
Chủ tịch Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam Bùi Thị Minh Hoài sinh năm 1965, quê ở Hà Nam (nay là tỉnh Ninh Bình).
Bà là Ủy viên Trung ương Đảng 4 khóa (X – dự khuyết, XI, XII, XIII), Bí thư Trung ương Đảng khóa XIII, Ủy viên Bộ Chính trị khóa XIII (vào tháng 5/2024).
Bà Hoài từng kinh qua nhiều chức vụ quan trọng ở địa phương, trước khi về nhận nhiệm vụ Phó Chủ nhiệm rồi Phó Chủ nhiệm Thường trực Ủy ban Kiểm tra Trung ương.

Chủ tịch Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam Bùi Thị Minh Hoài
Tháng 5/2024, bà được bầu bổ sung vào Bộ Chính trị và 3 tháng sau được điều động, chỉ định giữ chức Bí thư Thành ủy Hà Nội. Đến cuối năm 2025, bà Hoài thôi chức Bí thư Hà Nội và giữ cương vị Chủ tịch Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam.
3 Đại tướng thuộc lực lượng vũ trang tái cử Ban Chấp hành Trung ương khóa XIV là Đại tướng Phan Văn Giang, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng; Đại tướng Lương Tam Quang, Bộ trưởng Công an và Đại tướng Nguyễn Trọng Nghĩa, Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội Nhân dân (QĐND) Việt Nam.

Đại tướng Phan Văn Giang, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng. Ảnh: Đoàn Bắc
Đại tướng, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Phan Văn Giang sinh năm 1960, quê ở Ninh Bình. Ông có 2 khóa tham gia Ban Chấp hành Trung ương (XII, XIII) và Ủy viên Bộ Chính trị khóa XIII. Đại tướng Phan Văn Giang giữ cương vị Bộ trưởng Quốc phòng từ năm 2021.
Đại tướng, Bộ trưởng Bộ Công an Lương Tam Quang sinh năm 1965, quê ở Hưng Yên. Ông là Ủy viên Trung ương khóa XIII và được bầu vào Bộ Chính trị hồi tháng 8/2024.
Đại tướng Lương Tam Quang có nhiều năm công tác và gắn bó với lực lượng Công an Nhân dân. Ông giữ cương vị Bộ trưởng Bộ Công an và được thăng hàm Đại tướng từ năm 2024.

Đại tướng Lương Tam Quang, Bộ trưởng Bộ Công an. Ảnh: P.Thắng
Đại tướng, Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị QĐND Việt Nam Nguyễn Trọng Nghĩa sinh năm 1962, quê ở Tiền Giang (nay là tỉnh Đồng Tháp).
Ông là Ủy viên Trung ương Đảng khóa XII, XIII; Bí thư Trung ương Đảng khóa XIII; Ủy viên Bộ Chính trị khóa XIII (vào tháng 5/2024); đại biểu Quốc hội khóa XIV, XV.

Đại tướng, Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị QĐND Việt Nam Nguyễn Trọng Nghĩa
Ông Nguyễn Trọng Nghĩa có thời gian dài công tác gắn bó với quân đội, trước khi giữ chức Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương vào đầu năm 2021, sau đó là Trưởng Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương sau hợp nhất.
Đến tháng 11/2025, ông được bổ nhiệm chức vụ Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị QĐND Việt Nam và được thăng quân hàm Đại tướng.
Theo thông lệ, sau khi Đại hội bầu ra Ban Chấp hành Trung ương khóa mới, Trung ương sẽ họp Hội nghị lần thứ nhất để bầu Bộ Chính trị, Tổng Bí thư, Ban Bí thư, Ủy ban Kiểm tra Trung ương và Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Trung ương.
Hương Giang – Tú Anh
(Nguồn: Thanhtra.com.vn)
Theo danh sách công bố tối ngày 22/1, Phó Tổng Thanh tra Thường trực Thanh tra Chính phủ Nguyễn Quốc Đoàn và Phó Tổng Thanh tra Dương Quốc Huy đã trúng cử Ban Chấp hành Trung ương khoá XIV.
Ngay sau khi hoàn thành kiểm phiếu, Đại hội XIV của Đảng công bố danh sách các nhân sự trúng cử vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XIV.
Ban Chấp hành Trung ương khoá XIV gồm 200 người, trong đó có 180 Uỷ viên chính thức và 20 Uỷ viên dự khuyết.
Theo danh sách công bố, Phó Tổng Thanh tra Thường trực Thanh tra Chính phủ Nguyễn Quốc Đoàn và Phó Tổng Thanh tra Dương Quốc Huy đã trúng cử Ban Chấp hành Trung ương khoá XIV.
Phó Tổng Thanh tra Thường trực Thanh tra Chính phủ Nguyễn Quốc Đoàn là Ủy viên Trung ương Đảng khóa XIII, tái cử Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV.

Phó Tổng Thanh tra Thường trực Thanh tra Chính phủ Nguyễn Quốc Đoàn là Ủy viên Trung ương Đảng khóa XIII, tái cử Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV. Ảnh: Đ.X
Ông Nguyễn Quốc Đoàn sinh năm 1975, quê tỉnh Ninh Bình. Ông được đào tạo chuyên môn nghiệp vụ Điều tra tội phạm kinh tế (Học viện Cảnh sát nhân dân); trình độ Tiến sĩ Luật chuyên ngành Tội phạm học và Điều tra tội phạm.
Phó Tổng Thanh tra Thường trực là cán bộ có kinh nghiệm phong phú, đa dạng trong nhiều lĩnh vực, đã giữ nhiều vị trí quan trọng trong các cơ quan Trung ương và địa phương.
Ông từng là Phó Trưởng phòng, Trưởng phòng tại Cục Cảnh sát Kinh tế (Bộ Công an), đồng thời là Thư ký cho lãnh đạo Bộ Công an; sau đó được bổ nhiệm Trưởng phòng Cảnh sát Kinh tế – Phó Thủ trưởng Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Quảng Ninh; Ủy viên Đảng ủy, Phó Cục trưởng Cục Cảnh sát đường thủy – Bộ Công an.
Từ năm 2018, ông lần lượt giữ các chức vụ: Cục trưởng, Phó Tư lệnh Bộ Tư lệnh Cảnh sát cơ động, Giám đốc Công an tỉnh Thừa Thiên Huế, Phó Bí thư Thường trực Tỉnh ủy Thừa Thiên Huế (nay là TP Huế).
Tháng 7/2021, ông Nguyễn Quốc Đoàn được Bộ Chính trị điều động, chỉ định tham gia Ban Chấp hành, Ban Thường vụ và giữ chức Bí thư Tỉnh ủy Lạng Sơn. Sau đó, ông được Quốc hội phê chuẩn bổ nhiệm làm Thẩm phán TAND Tối cao.
Đến năm 2024, ông được bổ nhiệm giữ chức Phó Chánh án TAND Tối cao. Ngày 4/11/2025, ông Nguyễn Quốc Đoàn được Thủ tướng Chính phủ quyết định bổ nhiệm giữ chức Phó Tổng Thanh tra Thường trực Thanh tra Chính phủ.
Phó Tổng Thanh tra Dương Quốc Huy là nhân sự lần đầu được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng.

Phó Tổng Thanh tra Dương Quốc Huy được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV. Ảnh: Đ.X
Ông Dương Quốc Huy sinh năm 1974, quê tỉnh Hưng Yên. Ông có trình độ thạc sĩ luật.
Ngày 20/7/2023, ông được Thủ tướng Phạm Minh Chính bổ nhiệm giữ chức Phó Tổng Thanh tra Chính phủ.
Khi được bổ nhiệm giữ chức Phó Tổng Thanh tra Chính phủ, ông Dương Quốc Huy lúc đó là Vụ trưởng Vụ Thanh tra, Giải quyết khiếu nại, tố cáo kinh tế ngành (Vụ I).
Phó Tổng Thanh tra Dương Quốc Huy là người có nhiều năm công tác, gắn bó với Thanh tra Chính phủ.
Trong quá trình công tác, ông Dương Quốc Huy đã kinh qua nhiều chức vụ ở Thanh tra Chính phủ như Phó Chánh Văn phòng – Thư ký Tổng Thanh tra Chính phủ; Tổng Biên tập Tạp chí Thanh tra; Chánh Văn phòng Thanh tra Chính phủ. Đến cuối tháng 7/2021, ông Dương Quốc Huy được điều động, bổ nhiệm giữ chức vụ Vụ trưởng Vụ I.
Hương Giang – Tú Anh
(Nguồn: Thanhtra.com.vn)
Đại hội XIV của Đảng đã bầu và thông qua danh sách các nhân sự trúng cử vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV.
Ngày 22/1, Đại hội XIV của Đảng tiếp tục làm việc cả ngày để thảo luận và thực hiện các nội dung về công tác nhân sự Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV.

Tổng Bí thư Tô Lâm, Chủ tịch Đoàn Chủ tịch thay mặt Đoàn Chủ tịch điều hành phiên họp. Ảnh: TTXVN

Ông Lê Minh Hưng, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Tổ chức Trung ương thay mặt Đoàn Chủ tịch trình bày Báo cáo của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về công tác nhân sự Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV. Ảnh: TTXVN

Đại hội đã tiến hành thảo luận và biểu quyết thông qua số lượng Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV có 200 Ủy viên, gồm 180 Ủy viên chính thức và 20 Ủy viên dự khuyết. Ảnh: TTXVN

Tổng Bí thư Tô Lâm cùng các lãnh đạo Đảng và Nhà nước bỏ phiếu bầu Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV. Ảnh: TTXVN

Ảnh: TTXVN


Ảnh: TTXVN

Ảnh: TTXVN

Ảnh: TTXVN

Các đại biểu bỏ phiếu bầu cử Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV. Ảnh: TTXVN

Các đại biểu bỏ phiếu bầu cử Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV. Ảnh: TTXVN

Các đại biểu biểu quyết thông qua danh sách các nhân sự trúng cử vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV. Ảnh: TTXVN

Ảnh: TTXVN
Ngày mai 23/1, buổi sáng, Đại biểu Đại hội nghỉ, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV tiến hành Hội nghị lần thứ nhất; buổi chiều, Đại hội họp phiên bế mạc.
Hương Giang – Tú Anh
(Nguồn: Thanhtra.com.vn)
Đại hội đã biểu quyết thông qua số lượng Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV có 200 Ủy viên (gồm 180 Ủy viên chính thức và 20 Ủy viên dự khuyết) và thông qua danh sách các nhân sự trúng cử vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV.
Ngày 22/1, Đại hội XIV của Đảng tiếp tục làm việc cả ngày để thảo luận và thực hiện các nội dung về công tác nhân sự Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV.
Tổng Bí thư Tô Lâm, Chủ tịch Đoàn Chủ tịch thay mặt Đoàn Chủ tịch điều hành phiên họp.

Đại hội của Đảng đã thông qua danh sách các nhân sự trúng cử vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV. Ảnh: TTVN
Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Tổ chức Trung ương Lê Minh Hưng thay mặt Đoàn Chủ tịch trình bày Báo cáo của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về công tác nhân sự Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV.
Đại hội đã tiến hành thảo luận và biểu quyết thông qua số lượng Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV là 200 Ủy viên, gồm 180 Ủy viên chính thức và 20 Ủy viên dự khuyết.
Sau đó, các đại biểu tham dự Đại hội làm việc tại Đoàn nghiên cứu, thảo luận Báo cáo công tác nhân sự Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV; ứng cử, đề cử và nghiên cứu các tài liệu, hồ sơ nhân sự.
Đoàn Chủ tịch nghe các Trưởng đoàn báo cáo về kết quả thảo luận của các Đoàn đại biểu đối với Báo cáo công tác nhân sự Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV; việc ứng cử, đề cử, các trường hợp xin rút khỏi danh sách ứng cử, đề cử vào danh sách Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV.
Đoàn Chủ tịch báo cáo Đại hội và biểu quyết thông qua danh sách bầu cử Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV; bầu Ban Kiểm phiếu; Ban Kiểm phiếu hướng dẫn việc bầu cử.
Đại hội tiến hành ghi phiếu, bỏ phiếu, công bố kết quả và thông qua danh sách các nhân sự trúng cử vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV.
Ngày mai 23/1, buổi sáng, Đại biểu Đại hội nghỉ, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV tiến hành Hội nghị lần thứ nhất; buổi chiều, Đại hội họp phiên bế mạc.
Hương Giang – Tú Anh
(Nguồn: Thanhtra.com.vn)
Ngày 22/01/2026, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng tiếp tục làm việc cả ngày để thảo luận và thực hiện các nội dung về công tác nhân sự Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV. Đồng chí Tổng Bí thư Tô Lâm, Chủ tịch Đoàn Chủ tịch thay mặt Đoàn Chủ tịch điều hành phiên họp.
Đồng chí Lê Minh Hưng, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Tổ chức Trung ương thay mặt Đoàn Chủ tịch trình bày Báo cáo của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về công tác nhân sự Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV.

Đoàn Chủ tịch điều hành Đại hội XIV của Đảng. Ảnh: TTXVN.
Đại hội đã tiến hành thảo luận và biểu quyết thông qua số lượng Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV là 200 đồng chí, gồm: 180 đồng chí Ủy viên chính thức và 20 đồng chí Ủy viên dự khuyết.
Các đại biểu tham dự Đại hội làm việc tại Đoàn nghiên cứu, thảo luận Báo cáo công tác nhân sự Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV; ứng cử, đề cử và nghiên cứu các tài liệu, hồ sơ nhân sự.
Đoàn Chủ tịch nghe các đồng chí trưởng đoàn báo cáo về kết quả thảo luận của các Đoàn đại biểu đối với Báo cáo công tác nhân sự Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV; việc ứng cử, đề cử, các trường hợp xin rút khỏi danh sách ứng cử, đề cử vào danh sách Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV.
Đoàn Chủ tịch báo cáo Đại hội và biểu quyết thông qua danh sách bầu cử Ban Chấp hànhTrung ương Đảng khóa XIV; bầu Ban Kiểm phiếu; Ban Kiểm phiếu hướng dẫn việc bầu cử.
Đại hội tiến hành ghi phiếu, bỏ phiếu, công bố kết quả và thông qua danh sách các đồng chí trúng cử vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV.
Ngày mai (23/01/2026), buổi sáng, Đại biểu Đại hội nghỉ, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV tiến hành Hội nghị lần thứ nhất; buổi chiều, Đại hội họp phiên bế mạc.
Đại sứ Đặng Minh Khôi, Đại biểu đoàn Đảng bộ Bộ Ngoại giao, đã có những chia sẻ về Đại hội XIV của Đảng và ý nghĩa của việc Đảng nâng tầm vai trò của công tác đối ngoại.

Đại sứ Đặng Minh Khôi, Đại biểu đoàn Đảng bộ Bộ Ngoại giao. Ảnh: TTXVN.
Sáng 22/01, trả lời phỏng vấn của phóng viên TTXVN bên lề Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, Đại sứ Đặng Minh Khôi, Đại biểu đoàn Đảng bộ Bộ Ngoại giao đã có những chia sẻ về Đại hội và ý nghĩa của việc Đảng nâng tầm vai trò của công tác đối ngoại.
Phóng viên: Là đại biểu dự Đại hội, ông có cảm nhận thế nào về bầu không khí của Đại hội XIV của Đảng lần này – một bước ngoặt rất quan trọng đối với sự phát triển của đất nước, đưa đất nước bước vào kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc?
Đại biểu Đặng Minh Khôi: Cá nhân tôi cũng như tất cả các đại biểu tham dự Đại hội XIV của Đảng lần này đều hết sức vinh dự, tự hào và phấn khởi. Vinh dự bởi chúng tôi được tham dự một kỳ Đại hội có thể nói là mang tính lịch sử. Đó là thời điểm then chốt của đất nước và Đại hội sẽ bầu ra một ban lãnh đạo mới để lãnh đạo đất nước ta bước vào kỷ nguyên phát triển mới.
Lần này, Đại hội diễn ra đúng vào thời điểm đất nước có nhiều thành tựu nổi bật về tất cả các mặt: kinh tế, chính trị, xã hội, an ninh và quốc phòng. Thế và lực đất nước cũng đã khác. Các văn kiện Đại hội Đảng lần này đã đi sâu, bàn kỹ về những phương hướng, phương châm lớn để đưa đất nước phát triển nhanh và mạnh trong thời gian tới. Đây là điều chúng tôi hết sức vinh dự và tự hào.
Cảm nhận thứ hai của cá nhân tôi cũng như các đại biểu khác là rất tin tưởng vào đường lối của Đảng. Lần này, chúng ta không chỉ nhìn lại quá trình phát triển của đất nước, nhìn lại 40 năm đổi mới, mà còn định hướng đến cả 100 năm sau. Trong các văn kiện, Báo cáo chính trị, đồng chí Tổng Bí thư Tô Lâm cũng đã trình bày điều này.
Chúng ta tin tưởng rằng với sự lãnh đạo của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bộ Chính trị, Ban Bí thư khóa XIV, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta sẽ thực hiện tốt những nhiệm vụ, những mục tiêu mà Đại hội XIV đề ra. Đây là cảm nhận chung của cá nhân tôi và cũng như tất cả các đại biểu khác.
Phóng viên: Theo tinh thần của Đại hội XIV, đối ngoại sẽ giữ nhiệm vụ “trọng yếu, thường xuyên” cùng quốc phòng, an ninh thúc đẩy đất nước phát triển trong kỷ nguyên mới. Đại biểu đánh giá như thế nào về nhiệm vụ “trọng yếu, thường xuyên” này?
Đại biểu Đặng Minh Khôi: Từ khi thành lập nước đến nay, Đảng và Nhà nước hết sức coi trọng công tác đối ngoại. Công tác đối ngoại trong tất cả các kỳ Đại hội Đảng đều được đặt vào vị trí hết sức xứng đáng. Và thực sự là trong 80 năm qua, đặc biệt là trong những năm gần đây, đối ngoại đóng góp rất lớn vào sự phát triển của đất nước.
Trước hết, nếu chúng ta nhìn lại vào thời kỳ mới xây dựng đất nước thì Chủ tịch Hồ Chí Minh là Bộ trưởng Ngoại giao đầu tiên. Lúc đó, đất nước ta hết sức khó khăn. Đối ngoại khi đó, dưới sự lãnh đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh, đã đạt được những thành quả hết sức quan trọng để đưa đất nước ta vượt qua mọi khó khăn trong giai đoạn đầu tiên. Đối ngoại cũng tham gia vào việc ký kết những hiệp định quan trọng đối với đất nước như Hiệp định Geneva năm 1954, Hiệp định Paris năm 1973, cũng như trong quá trình chúng ta phá thế bao vây cấm vận để đưa đất nước phát triển.
Đặc biệt, trong 40 năm đổi mới, đối ngoại cùng tất cả các ngành đã mở đường để nước ta phát triển. Trong giai đoạn hiện nay, đặc biệt Đại hội lần này, nhiệm vụ hết sức quan trọng của đối ngoại đặt ra là đảm bảo một môi trường hòa bình, ổn định để đất nước tập trung vào phát triển. Trong dự thảo báo cáo của Đại hội XIV, các nghị quyết cũng như Báo cáo chính trị do đồng chí Tổng Bí thư Tô Lâm trình bày, đối ngoại và hội nhập quốc tế được đặt ngang hàng với an ninh và quốc phòng là những nhiệm vụ “trọng yếu, thường xuyên.” Chúng tôi rất tâm đắc với những chủ trương, quyết sách lớn này của Đảng và Nhà nước.
Và đối với cán bộ làm công tác đối ngoại, nhiệm vụ đặt ra những yêu cầu rất lớn, trách nhiệm rất cao, làm sao phải làm thật tốt nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên mà lãnh đạo Đảng, Nhà nước đã giao phó.
Theo tôi, trước hết là công tác tổ chức cán bộ làm công tác đối ngoại của Bộ Ngoại giao, phải xây dựng đội ngũ cán bộ để đáp ứng yêu cầu đòi hỏi của tình hình mới.
Thứ hai, hiện nay bối cảnh thế giới và khu vực biến động rất nhanh. Trong những ngày gần đây, chúng ta chứng kiến các diễn biến hết sức nhanh chóng và phức tạp. Nhiều lần chúng ta đánh giá tình hình thế giới là diễn biến nhanh và phức tạp, nhưng thực tế cho thấy mức độ khó lường ngày càng cao, với nhiều yếu tố không thể dự đoán trước.

Đoàn Chủ tịch điều hành Đại hội. Ảnh: TTXVN.
Trong bối cảnh đó, nhiệm vụ đối ngoại đặt ra yêu cầu phải nhận định, đánh giá chính xác tình hình thế giới và khu vực để tham mưu, kiến nghị với Bộ Chính trị và Trung ương Đảng trong việc chỉ đạo công tác đối ngoại, qua đó bảo đảm sự phát triển của đất nước đi đúng hướng, trong một môi trường thuận lợi. Đây là một thách thức rất lớn.
Thứ ba, để phát triển nhanh trong thời gian tới, nhất là bảo đảm mục tiêu tăng trưởng hai con số, công tác đối ngoại phải khơi dậy và huy động nguồn lực từ bên ngoài, tất nhiên trên cơ sở lấy nguồn lực nội tại là chính, nhằm phục vụ nhiệm vụ phát triển kinh tế-xã hội. Tổng Bí thư Tô Lâm đã nhấn mạnh rất rõ trong Báo cáo chính trị tại Đại hội Đảng rằng hạnh phúc của người dân là yêu cầu cao nhất. Muốn người dân ấm no, hạnh phúc thì kinh tế phải phát triển, khoa học-công nghệ phải đột phá và đi đầu. Vì vậy, nhiệm vụ của ngành đối ngoại trong những lĩnh vực rất mới, biến đổi nhanh hiện nay được đặt ra ở mức hết sức cao và có ý nghĩa quan trọng.
Thứ tư, ngành đối ngoại cần làm tốt quan hệ với các nước láng giềng, các nước lớn và các đối tác truyền thống. Trong công tác đối ngoại, yếu tố quan trọng nhất là xây dựng được sự tin cậy và thúc đẩy trao đổi thực chất với các đối tác. Nhìn lại tình hình thế giới hiện nay có thể thấy vai trò của lãnh đạo cấp cao, vai trò của các nguyên thủ quốc gia là hết sức quan trọng. Với vai trò là cơ quan tham mưu, giúp việc cho Đảng và Nhà nước, Bộ Ngoại giao cần chú trọng hơn nữa nhiệm vụ tham mưu, kiến nghị, qua đó tăng cường thúc đẩy quan hệ với tất cả các nước.
Thứ năm, ngoại giao phục vụ phát triển đã được nêu trong nhiều kỳ Đại hội, nhưng Đại hội lần này nhấn mạnh việc đẩy mạnh hơn nữa công tác về khoa học công nghệ. Tổng Bí thư đã nhấn mạnh đây nguồn lực mới để đưa đất nước phát triển nhanh hơn, mạnh hơn trong thời gian tới. Điều đấy cho thấy sự tin tưởng cao hơn của Đảng và Nhà nước đối với ngành đối ngoại và yêu cầu trách nhiệm cao hơn. Nên tất cả các cán bộ làm công tác đối ngoại là chúng tôi phải cố gắng hơn nữa.
Đặc biệt, những yêu cầu rất lớn được đặt ra đối với các Đại sứ, Trưởng Cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài. Trực tiếp tại địa bàn, các Đại sứ phải nắm vững tình hình để tham mưu, kiến nghị và tăng cường thúc đẩy quan hệ. Một khía cạnh quan trọng khác đối với ngành đối ngoại là thực hiện đúng tinh thần mà đồng chí Tổng Bí thư Tô Lâm đã nhấn mạnh, đó là bảo đảm ấm no, hạnh phúc cho người dân. Hiện nay, cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài rất lớn. Đây là nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân, nhưng thông qua các Đại sứ quán và các cơ quan đối ngoại, chúng tôi phải thực hiện thật tốt nhiệm vụ này.
Phóng viên: Trong phiên thảo luận tại hội trường, thay mặt Đảng bộ Bộ Ngoại giao, đồng chí Nguyễn Mạnh Cường, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Bí thư Thường trực Đảng ủy, Thứ trưởng Bộ Ngoại giao đã trình bày tham luận về vấn đề “Chủ động, tích cực thực hiện nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên là đẩy mạnh đối ngoại, hội nhập quốc tế, phục vụ các mục tiêu chiến lược của đất nước”. Đại biểu có những tâm đắc gì về bài tham luận này?
Đại biểu Đặng Minh Khôi: Phát biểu tham luận của đồng chí Nguyễn Mạnh Cường là sự kết hợp tinh hoa từ các phát biểu của ngành Ngoại giao cùng với những đóng góp của toàn thể cán bộ trong Ngành, những người đã nhiều lần nghiên cứu, thảo luận và góp ý vào các văn kiện Đại hội Đảng. Thông qua thực tiễn công tác và công việc hằng ngày, các ý kiến luôn được tập trung trao đổi, hoàn thiện. Có thể nói, bài phát biểu của đồng chí Nguyễn Mạnh Cường không chỉ thể hiện mong muốn của Bộ Ngoại giao, mà quan trọng hơn là sự quyết tâm của toàn ngành, cam kết trước Đảng và Nhà nước sẽ thực hiện tốt nhiệm vụ được giao, nhất là trong bối cảnh hiện nay với nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên.

Đồng chí Nguyễn Mạnh Cường, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Bí thư Thường trực Đảng ủy, Thứ trưởng Bộ Ngoại giao, tham luận về vấn đề “Chủ động, tích cực thực hiện nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên là đẩy mạnh đối ngoại, hội nhập quốc tế, phục vụ các mục tiêu chiến lược của đất nước”. Ảnh: TTXVN.
Tôi tin tưởng rằng, sau Đại hội, toàn thể cán bộ ngành Ngoại giao sẽ sớm triển khai việc quán triệt Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và đưa vào thực tiễn công việc của mình, qua đó đáp ứng tốt hơn những mong mỏi cũng như các nội dung đã được phát biểu trước Đại hội. Đây chính là một lời hứa trước Đại hội Đảng.
Phóng viên: Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 59 về hội nhập quốc tế. Đại biểu có đánh giá như thế nào về ý nghĩa của việc Đảng ban hành Nghị quyết này?
Đại biểu Đặng Minh Khôi: Thứ nhất, Nghị quyết số 59 là một nghị quyết hết sức quan trọng, tổng hợp toàn bộ các chủ trương, đường lối, chính sách trước đây của Đảng và Nhà nước ta về công tác đối ngoại và hội nhập quốc tế, đồng thời thể hiện một bước đánh giá mới đối với tình hình và thực tiễn hiện nay. Sau một quá trình phát triển lâu dài, sau hơn 40 năm đổi mới, đất nước ta thực sự đã có vai trò, vị thế và uy tín quốc tế khác trước. Chúng ta có sức mạnh tổng hợp của cả quốc gia, và rất nhiều đối tác, quốc gia đều mong muốn tăng cường hợp tác với Việt Nam.
Thứ hai, Nghị quyết thể hiện rõ đường lối đối ngoại của chúng ta trong thời gian qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước, đã được triển khai rất hiệu quả theo hướng mở rộng và tăng cường hơn nữa hợp tác quốc tế. Chúng ta luôn coi nội lực là yếu tố quan trọng, nhưng đồng thời khẳng định hợp tác quốc tế là hết sức cần thiết, qua đó kết hợp hài hòa sức mạnh dân tộc với sức mạnh đối ngoại.
Từ góc độ cá nhân tôi, là một Đại sứ công tác ở nước ngoài, điều này được cảm nhận rất rõ trong thời gian gần đây. Các quốc gia, các đối tác và bạn bè quốc tế, thậm chí ở phạm vi rộng hơn, đều đánh giá rất cao vai trò, vị thế của Việt Nam. Hiện nay, nhiều nước đều mong muốn tranh thủ sự tham gia và đóng góp của Việt Nam, nhất là trong bối cảnh chúng ta đã có những đường lối hết sức đúng đắn trước tình hình thế giới đang diễn biến rất phức tạp.
Vì vậy, tôi cho rằng Nghị quyết này ra đời rất kịp thời, chính xác, thể hiện sự phán đoán và đánh giá đúng đắn của Đảng và Nhà nước ta về tình hình mới, đồng thời đề ra những quyết sách, chủ trương phù hợp cho giai đoạn hiện nay.
Phóng viên: Xin trân trọng cảm ơn đại biểu!
Trên nền tảng ổn định ngân sách giai đoạn 2021-2025, chính sách tài khóa được định hướng tiếp tục điều hành chủ động, có trọng tâm, trọng điểm, qua đó kiến tạo dư địa đầu tư và dẫn dắt tăng trưởng.

Đồng chí Nguyễn Văn Thắng, Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Đảng ủy, Bộ trưởng Bộ Tài chính, trình bày tham luận “Hoàn thiện thể chế, pháp luật về huy động, sử dụng nguồn lực tài chính đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước nhanh và bền vững”. Ảnh: TTXVN.
Giai đoạn 2021-2025 ghi dấu một chặng đường nhiều thử thách nhưng cũng rất đặc biệt của ngành tài chính Việt Nam.
Trong bối cảnh kinh tế thế giới biến động khó lường, dịch bệnh, xung đột địa chính trị, lạm phát toàn cầu và đứt gãy chuỗi cung ứng đã tạo sức ép lớn lên mọi nền kinh tế, việc giữ vững ổn định tài chính ngân sách nhà nước, đồng thời tạo dư địa cho phục hồi và tăng trưởng, trở thành nhiệm vụ chưa từng có tiền lệ của ngành.
Tuy nhiên, với sự lãnh đạo của Đảng, Quốc hội, Chính phủ và sự điều hành chủ động, linh hoạt của Bộ Tài chính, chính sách tài khóa đã phát huy vai trò trụ cột, góp phần quan trọng ổn định kinh tế vĩ mô và tạo nền tảng cho phát triển nhanh, bền vững.
Nhìn lại 05 năm qua, Bộ trưởng Bộ Tài chính Nguyễn Văn Thắng khẳng định, nhiệm vụ tài chính ngân sách nhà nước được triển khai trong bối cảnh “nhiều biến động khó lường, đặt ra không ít khó khăn, thách thức”, song nhờ sự vào cuộc đồng bộ của cả hệ thống chính trị và sự chỉ đạo điều hành quyết liệt, ngành tài chính đã hoàn thành toàn bộ các chỉ tiêu chủ yếu giai đoạn 2021-2025.
Các nguồn lực tài chính ngân sách nhà nước được quản lý, huy động và sử dụng ngày càng hiệu quả, đóng góp trực tiếp vào việc thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế-xã hội, bảo đảm an sinh và củng cố niềm tin của doanh nghiệp, người dân.
Một trong những kết quả nổi bật nhất là việc duy trì ổn định các cân đối lớn của nền kinh tế.
Trong suốt giai đoạn 2021-2025, chính sách tài khóa được điều hành theo hướng chủ động, linh hoạt, phối hợp chặt chẽ với chính sách tiền tệ, qua đó góp phần kiểm soát lạm phát, ổn định thị trường và hỗ trợ tăng trưởng.
Bội chi ngân sách nhà nước bình quân khoảng 3,1-3,2% GDP, thấp hơn ngưỡng Quốc hội cho phép; nợ công duy trì quanh mức 35-36% GDP, được kiểm soát tốt và nằm trong giới hạn an toàn.
Theo đánh giá của nhiều tổ chức quốc tế, các chỉ tiêu này đã góp phần quan trọng nâng cao uy tín, cải thiện xếp hạng tín nhiệm quốc gia và giảm chi phí huy động vốn cho nền kinh tế.
Song hành với điều hành ngân sách, hệ thống pháp luật về tài chính ngân sách được tập trung hoàn thiện.
Trong 05 năm qua, Bộ Tài chính đã trình ban hành hàng chục luật, nghị quyết, hàng trăm nghị định và thông tư, tập trung tháo gỡ những “điểm nghẽn” tồn tại lâu nay, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền gắn với tăng cường kỷ luật, kỷ cương tài chính.
Theo Bộ trưởng Nguyễn Văn Thắng, đây là nền tảng quan trọng để chính sách tài khóa không chỉ phản ứng trước khó khăn trước mắt mà còn tạo khuôn khổ cho phát triển dài hạn, phù hợp yêu cầu của giai đoạn mới.
Quản lý thu ngân sách nhà nước tiếp tục được tăng cường theo hướng bền vững. Tỉ lệ huy động vào ngân sách nhà nước bình quân 05 năm đạt khoảng 18,3% GDP, cao hơn mục tiêu đề ra, trong khi cơ cấu thu chuyển dịch tích cực theo hướng tăng tỉ trọng thu nội địa, giảm dần phụ thuộc vào các nguồn thu không bền vững.
Đáng chú ý, trong bối cảnh khó khăn do đại dịch và suy giảm kinh tế toàn cầu, ngành tài chính vẫn triển khai các chính sách miễn, giảm, gia hạn thuế, phí với quy mô lớn, tổng cộng khoảng 1,1 triệu tỉ đồng để hỗ trợ doanh nghiệp và người dân phục hồi sản xuất, kinh doanh.
Theo đánh giá của giới chuyên gia, đây là sự lựa chọn khó khăn nhưng cần thiết, thể hiện rõ vai trò “đệm đỡ” của chính sách tài khóa trong giai đoạn khủng hoảng.

Người dân thực hiện giao dịch tại Cục Thuế. Ảnh: Hứa Chung/TTXVN.
Bà Nguyễn Thị Cúc, Chủ tịch Hội Tư vấn thuế Việt Nam cho biết, để hỗ trợ doanh nghiệp, người dân vượt qua khó khăn từ các tác động bên trong lẫn bên ngoài, Bộ Tài chính đã chủ động trình Quốc hội, Chính phủ ban hành nhiều chính sách từ gia hạn thời hạn nộp một số loại thuế, phí, tiền thuê đất đến miễn giảm thuế với số tiền lên đến hàng trăm nghìn tỉ đồng. Đây là những chính sách được ban hành rất kịp thời và phù hợp.
Ở chiều chi ngân sách, kỷ luật tài khóa được duy trì nghiêm túc, song vẫn bảo đảm tính linh hoạt để đáp ứng các yêu cầu cấp bách. Ngành tài chính đã thực hiện tăng thu, tiết kiệm chi khoảng 1,5 triệu tỉ đồng, để bổ sung nguồn lực cho đầu tư phát triển, quốc phòng, an ninh, khoa học công nghệ, cải cách tiền lương, an sinh xã hội, xóa nhà dột nát và xây dựng trường học tại các vùng biên giới.
Tỉ lệ chi đầu tư phát triển tăng lên khoảng 32% tổng chi ngân sách nhà nước, tập trung cho các dự án hạ tầng chiến lược, liên vùng, có sức lan tỏa lớn. Nhiều công trình trọng điểm quốc gia được đẩy nhanh tiến độ, mở ra không gian phát triển mới và tạo động lực tăng trưởng cho cả nền kinh tế.
Môi trường đầu tư, kinh doanh cũng ghi nhận những cải thiện rõ nét. Đến năm 2025, cả nước có trên 1 triệu doanh nghiệp đang hoạt động, tăng hơn 46% so với năm 2020. Tổng vốn đầu tư toàn xã hội giai đoạn 2021-2025 đạt khoảng 32,2% GDP; trong đó khu vực tư nhân và doanh nghiệp nhà nước chiếm trên 65%, cho thấy niềm tin của khu vực doanh nghiệp trong nước từng bước được củng cố.
Việt Nam tiếp tục là điểm sáng trong thu hút đầu tư nước ngoài, thuộc nhóm 15 quốc gia đang phát triển thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) lớn nhất thế giới, với vốn FDI đóng góp khoảng 16% tổng vốn đầu tư toàn xã hội.
Một điểm nhấn quan trọng khác là sự phát triển của các thị trường vốn. Đến cuối năm 2025, quy mô thị trường trái phiếu đạt khoảng 3,93 triệu tỉ đồng, tương đương 30,7% GDP; vốn hóa thị trường chứng khoán đạt gần 10 triệu tỉ đồng, tương đương 77,9% GDP.
Đặc biệt, việc thị trường chứng khoán Việt Nam được nâng hạng từ cận biên lên mới nổi trong năm 2025 được xem là cột mốc lớn, mở ra cơ hội thu hút dòng vốn trung và dài hạn, giảm áp lực cho ngân sách và hệ thống tín dụng ngân hàng.
Bước sang thời gian tới, yêu cầu đặt ra với ngành tài chính ngày càng cao khi mục tiêu không chỉ là ổn định mà còn phải dẫn dắt tăng trưởng nhanh và bền vững.
Theo định hướng giai đoạn 2026-2030, ngành tài chính phấn đấu bảo đảm tỉ lệ huy động ngân sách nhà nước khoảng 18% GDP; tăng chi đầu tư phát triển lên khoảng 40% tổng chi ngân sách; quản lý chặt chẽ bội chi và nợ công phù hợp khả năng vay, trả nợ của nền kinh tế, qua đó tiếp tục cải thiện xếp hạng tín nhiệm quốc gia.
Theo Thứ trưởng Bộ Tài chính Đỗ Thành Trung, chính sách tài khóa cần tiếp tục đóng vai trò kiến tạo tăng trưởng dài hạn, được điều hành chủ động, bền vững và có trọng tâm, trọng điểm.
Trọng tâm là cơ cấu lại chi ngân sách theo hướng nâng cao tỉ trọng chi đầu tư phát triển, tập trung cho hạ tầng chiến lược, hạ tầng số, năng lượng và chuyển đổi xanh; đồng thời phát triển thị trường vốn trở thành trụ cột huy động nguồn lực trung và dài hạn, giảm dần sự phụ thuộc vào tín dụng ngân hàng.

Khách hàng giao dịch tại Hội sở chính Công ty Chứng khoán Bảo Việt tại Hà Nội. Ảnh: Trần Việt/TTXVN.
Các chuyên gia kinh tế cho rằng, để các định hướng điều hành tài khóa giai đoạn tới thực sự đi vào cuộc sống, việc hoàn thiện thể chế và phát triển đồng bộ các thị trường tài chính có ý nghĩa then chốt trong việc khơi thông và dẫn dắt nguồn lực cho tăng trưởng.
Theo Tiến sĩ Cấn Văn Lực, đẩy nhanh hoàn thiện thể chế tài chính, đặc biệt là khung pháp lý cho các mô hình mới như tài chính xanh, thị trường carbon và trung tâm tài chính, cùng với việc phát triển thị trường vốn minh bạch, từng bước nâng hạng thị trường chứng khoán sẽ góp phần mở rộng các kênh huy động vốn trung và dài hạn cho nền kinh tế.
Bên cạnh đó, việc giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh và tăng cường phối hợp chặt chẽ giữa chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ sẽ là điều kiện quan trọng để khơi thông các nguồn lực xã hội, tạo nền tảng cho tăng trưởng bền vững và mở rộng nguồn thu ngân sách trong trung và dài hạn.
Bộ trưởng Nguyễn Văn Thắng cho biết ngành tài chính sẽ tập trung triển khai chính sách tài khóa chủ động, mở rộng hợp lý, có trọng tâm, trọng điểm; củng cố vai trò chủ đạo của ngân sách trung ương, đồng thời phát huy tính chủ động, sáng tạo của các bộ, ngành, địa phương.
Việc phối hợp chặt chẽ giữa chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ tiếp tục được coi là chìa khóa để giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô và hướng tới mục tiêu tăng trưởng hai con số trong dài hạn.
Cùng với đó, ngành đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, chuyển đổi số trong lĩnh vực tài chính, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý thu chi ngân sách. Đồng thời, nâng cao hiệu quả hoạt động của kinh tế nhà nước, thực sự phát huy vai trò chủ đạo, tiên phong trong các ngành, lĩnh vực then chốt, thiết yếu, chiến lược.
Cùng với đó, phát triển mạnh mẽ khu vực kinh tế tư nhân theo tinh thần Nghị quyết số 68-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân; phấn đấu đến năm 2030 Việt Nam có khoảng 2 triệu doanh nghiệp hoạt động; trình độ công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số thuộc nhóm dẫn đầu ASEAN và châu Á.
Ngoài ra, ngành tài chính phát triển các thị trường vốn, thị trường chứng khoán trở thành kênh huy động vốn trung và dài hạn quan trọng; khai thác hiệu quả cơ hội từ nâng hạng thị trường chứng khoán; hoàn thiện hành lang pháp lý cho các xu hướng mới như tài sản số, chuyển đổi xanh, chuyển đổi số.
Đặc biệt, thu hút FDI có chọn lọc, ưu tiên các dự án quy mô lớn, công nghệ cao, thân thiện với môi trường; tăng cường liên kết giữa doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp FDI, tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị và chuỗi cung ứng toàn cầu.
Với những thành tựu đã đạt được trong giai đoạn 2021-2025 và định hướng điều hành rõ ràng cho chặng đường tiếp theo, các chuyên gia kinh tế kỳ vọng ngành tài chính tiếp tục giữ vai trò “xương sống” của nền kinh tế, không chỉ bảo đảm kỷ cương ngân sách mà còn kiến tạo động lực tăng trưởng, hướng tới một nền tài chính quốc gia hiện đại, minh bạch, công bằng và phát triển bền vững trong giai đoạn mới.
Nhiều ý kiến cho rằng chủ đề Đại hội XIV đã chạm đến những vấn đề căn cốt của đất nước hiện nay, thể hiện rõ tinh thần đổi mới, khát vọng phát triển và quyết tâm hành động trong giai đoạn bản lề.
Đại hội XIV của Đảng diễn ra trong thời điểm có ý nghĩa đặc biệt đối với tiến trình phát triển của đất nước, khi Việt Nam đang đứng trước yêu cầu bứt phá để hiện thực hóa các mục tiêu phát triển đến năm 2030 và tầm nhìn đến năm 2045.
Trên nền tảng đó, Đại hội XIV đã thống nhất chủ đề: “Dưới lá cờ vẻ vang của Đảng, chung sức, đồng lòng thực hiện các mục tiêu phát triển đất nước đến năm 2030; tự chủ chiến lược, tự cường, tự tin tiến mạnh trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc”.

Chủ đề Đại hội XIV của Đảng nhận được sự đồng tình và kỳ vọng lớn của Nhân dân, đội ngũ trí thức, cán bộ, đảng viên trong cả nước. Ảnh: TTXVN
Chủ đề Đại hội XIV của Đảng đã thu hút sự quan tâm sâu rộng, nhận được sự đồng tình và kỳ vọng lớn của Nhân dân, đội ngũ trí thức, cán bộ, đảng viên trong cả nước.
Nhiều ý kiến đánh giá, chủ đề lần này đã chạm đến những vấn đề căn cốt của thực tiễn phát triển, thể hiện rõ tinh thần đổi mới tư duy, khát vọng vươn lên và quyết tâm chuyển mạnh từ định hướng chiến lược sang hành động cụ thể trong giai đoạn bản lề của đất nước.
“Tự chủ chiến lược” – chuyển từ tư duy “ứng phó” sang “kiến tạo phát triển”
Theo luật sư Nguyễn Thanh Điệp (Công ty Luật TNHH Khang Nhân, Đoàn Luật sư TP Hải Phòng), điểm đáng chú ý trong chủ đề Đại hội XIV là cách đặt vấn đề “tự chủ chiến lược” gắn chặt với năng lực thực chất của quốc gia, chứ không dừng ở tuyên ngôn hay định hướng chung.
Ông Điệp cho rằng, trong điều kiện hội nhập sâu và môi trường quốc tế biến động nhanh, tự chủ không có nghĩa là khép mình, mà là đủ bản lĩnh để lựa chọn, đủ năng lực để quyết định và đủ sức mạnh để bảo vệ lựa chọn phát triển của mình.

Ảnh: Tú Anh
Từ góc nhìn pháp lý, luật sư Điệp nhận định, tự chủ chiến lược chỉ có thể đứng vững khi được bảo đảm bằng một hệ thống thể chế đồng bộ, minh bạch và hiệu quả. Một nền kinh tế muốn tự cường không thể thiếu khung pháp luật ổn định, nhất quán; khoa học, công nghệ muốn bứt phá phải có cơ chế pháp lý khuyến khích đổi mới; bộ máy quản lý muốn vận hành thông suốt phải dựa trên kỷ cương pháp quyền và trách nhiệm giải trình rõ ràng.
Luật sư nhấn mạnh, việc Đại hội XIV đặt “tự cường, tự tin” song hành với “tự chủ chiến lược” cho thấy sự chuyển biến từ tư duy ứng phó sang tư duy kiến tạo phát triển.
“Khi quốc gia có đủ năng lực nội sinh, đủ niềm tin vào con đường đã lựa chọn và đủ công cụ pháp lý để thực thi hiệu quả, thì phát triển không còn là sự chạy theo, mà trở thành quá trình chủ động định hình tương lai”, ông Điệp nói.
“Chung sức, đồng lòng” là chỉ dẫn phương pháp tổ chức và triển khai
Từ thực tiễn công tác và đời sống xã hội, nhiều đảng viên bày tỏ sự đồng tình với cách tiếp cận của chủ đề Đại hội XIV, khi nhấn mạnh yêu cầu “chung sức, đồng lòng”.
Theo bà Đàm Thị Phượng, Phó Chủ tịch UBND xã Bế Văn Đàn (tỉnh Cao Bằng), cụm từ “chung sức, đồng lòng” trong chủ đề Đại hội XIV không chỉ thể hiện tinh thần đoàn kết truyền thống, mà còn là chỉ dẫn rất rõ về phương pháp tổ chức và triển khai các nhiệm vụ phát triển trong giai đoạn mới.

Ảnh: Tú Anh
Từ thực tiễn công tác ở cơ sở, bà cho rằng đoàn kết ngày nay không chỉ là sự đồng thuận về chính trị, mà còn là sự phối hợp chặt chẽ giữa chính quyền, người dân và cộng đồng doanh nghiệp trong quá trình thực hiện các mục tiêu phát triển.
“Khi các chủ trương được quán triệt thống nhất, được người dân hiểu đúng, tin tưởng và cùng tham gia thì mọi nguồn lực trong xã hội mới thực sự được khơi thông và phát huy hiệu quả”, bà Phượng khẳng định.
Bà cũng cho rằng, “chung sức, đồng lòng” chính là điều kiện để các địa phương mạnh dạn đổi mới cách làm, khuyến khích sáng tạo, nâng cao chất lượng phục vụ Nhân dân và tạo nền tảng vững chắc cho phát triển bền vững.
“Đoàn kết trong giai đoạn hiện nay không chỉ để vượt qua khó khăn, mà còn để tạo đà bứt phá, giúp địa phương và đất nước phát triển nhanh hơn, vững chắc hơn trong kỷ nguyên mới”, bà Phượng nhấn mạnh.
Chủ đề Đại hội XIV, vì vậy, không chỉ là định hướng chiến lược ở tầm vĩ mô, mà đã và đang được nhìn nhận như một thông điệp hành động mạnh mẽ, khơi dậy niềm tin, sự đồng thuận và ý thức trách nhiệm của mỗi tổ chức đảng, mỗi cán bộ, đảng viên và toàn xã hội đối với con đường phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới.
Hương Giang – Tú Anh
(Nguồn: Thanhtra.com.vn)