Tại Quyết định số 20-QĐ/BCĐ ngày 24/6/2026, Ban Chỉ đạo Chuyển đổi số trong các cơ quan đảng ban hành Khung quản trị, quản lý dữ liệu trong các cơ quan đảng (phiên bản 1.0).
Khung quản trị, quản lý dữ liệu xác định mục tiêu hoàn thiện chính sách về dữ liệu để dữ liệu trở thành tài sản có giá trị; bảo đảm chất lượng, tính sẵn sàng, tính toàn vẹn, an toàn trong suốt vòng đời dữ liệu và khả năng chia sẻ dữ liệu số; bảo vệ quyền riêng tư, dữ liệu cá nhân và bảo đảm an toàn, bảo mật dữ liệu trong toàn bộ vòng đời dữ liệu; thúc đẩy kết nối, chia sẻ, điều phối dữ liệu giữa các hệ thống; bảo đảm liên thông, kết nối với hệ thống dữ liệu quốc gia; đồng thời hình thành văn hóa dữ liệu, đạo đức dữ liệu và quản trị dữ liệu có trách nhiệm trong các cơ quan đảng, đặc biệt khi ứng dụng các công nghệ tiên tiến.
Về phạm vi áp dụng, Khung quản trị, quản lý dữ liệu được áp dụng thống nhất trong hoạt động quản lý dữ liệu đối với dữ liệu có chủ sở hữu, chủ quản dữ liệu là các cơ quan Đảng ở Trung ương. Phạm vi quản trị, quản lý bao trùm toàn bộ vòng đời dữ liệu số, từ thu thập, tạo lập, cập nhật, phân loại, gắn nhãn, lưu trữ, bảo vệ, xử lý, chia sẻ, khai thác đến điều phối và hủy dữ liệu. Đối với dữ liệu do các cơ quan Đảng cấp tỉnh, phường, xã, đặc khu là chủ sở hữu, chủ quản dữ liệu, các cơ quan này tổ chức triển khai hoạt động quản trị, quản lý dữ liệu phù hợp với đặc thù của từng cấp.
Khung quản trị, quản lý dữ liệu trong các cơ quan đảng (phiên bản 1.0) cũng quy định các nguyên tắc quản trị, quản lý dữ liệu, trong đó yêu cầu dữ liệu thuộc phạm vi quản lý của Đảng phải được quản lý chặt chẽ, nhất quán và có trách nhiệm trong toàn bộ vòng đời. Việc quản lý dữ liệu phải tuân thủ quy định của pháp luật, quy định của Đảng và phù hợp với thông lệ, chuẩn mực quốc tế. Đảm bảo đúng, đủ, sạch, sống, thống nhất, dùng chung, đảm bảo chất lượng dữ liệu, tính toàn vẹn, và độ tin cậy dữ liệu; đảm bảo an ninh mạng và an toàn dữ liệu.
Đảm bảo xác định rõ vai trò, trách nhiệm của các bên liên quan; các quy trình quản lý dữ liệu phải công khai, rõ ràng, dễ hiểu và được ghi chép đầy đủ. Chất lượng dữ liệu phải được theo dõi, giám sát thường xuyên nhằm phát hiện kịp thời các vấn đề và thực hiện biện pháp xử lý phù hợp. Siêu dữ liệu được xây dựng, cập nhật đầy đủ, thống nhất, thường xuyên, kịp thời để phục vụ tra cứu, kiểm soát và khai thác dữ liệu hiệu quả. Dữ liệu được phân loại theo quy định của pháp luật về dữ liệu và mức độ bí mật.
Bên cạnh đó, việc thu thập, lưu trữ và vận hành dữ liệu được thực hiện có kiểm soát, đảm bảo tính toàn vẹn, an toàn, hiệu năng và khả năng phục hồi; thu thập dữ liệu một lần, sử dụng nhiều lần; bảo đảm một nguồn dữ liệu gốc duy nhất; ưu tiên kết nối, chia sẻ dữ liệu qua các nền tảng dùng chung; tuân thủ các nguyên tắc của Khung quản trị, quản lý dữ liệu quốc gia, đồng thời ưu tiên áp dụng quy định của Đảng và pháp luật về bảo vệ bí mật nhà nước đối với dữ liệu mật, dữ liệu nội bộ đặc thù.
Đáng chú ý, Khung quản trị, quản lý dữ liệu trong các cơ quan đảng được cấu thành bởi bốn lớp có quan hệ tầng bậc và bổ trợ lẫn nhau, gồm:
(1) Lớp điều hành quản trị dữ liệu đảm nhận chức năng quyết định chiến lược, phê duyệt chính sách và giám sát toàn hệ thống.
(2) Lớp quản trị dữ liệu chuyển hóa các quyết định đó thành cấu trúc tổ chức, phân công trách nhiệm và bộ quy định cụ thể.
(3) Lớp quản lý dữ liệu triển khai các chính sách thành các quy trình nghiệp vụ trong toàn bộ vòng đời dữ liệu.
(4) Lớp vận hành dữ liệu đóng vai trò nền tảng thực thi, chịu trách nhiệm chuyển hóa các quy định từ các lớp trên thành hoạt động kỹ thuật cụ thể, bao gồm vận hành vòng đời dữ liệu và hạ tầng kỹ thuật quản trị dữ liệu.
ĐP
(Nguồn: Dangcongsan.vn)
Ban Tổ chức Trung ương vừa ban hành Quy định số 348-QĐ/BTCTW về kết nối, chia sẻ dữ liệu của Hệ thống thông tin lĩnh vực Tổ chức xây dựng Đảng với cơ sở dữ liệu của các cơ quan, tổ chức trong hệ thống chính trị.
Quy định gồm 8 chương, 40 điều và 8 phụ lục, quy định toàn diện về phạm vi, nguyên tắc, phương thức, quy trình kết nối, chia sẻ và liên thông dữ liệu giữa Hệ thống thông tin lĩnh vực Tổ chức xây dựng Đảng với các cơ sở dữ liệu của các cơ quan, tổ chức trong hệ thống chính trị; xác định rõ trách nhiệm của các cơ quan tham gia kết nối, cơ chế bảo đảm chất lượng dữ liệu, an ninh mạng, bảo vệ bí mật nhà nước và bảo vệ dữ liệu cá nhân trong toàn bộ quá trình khai thác, sử dụng dữ liệu.
Một trong những điểm nổi bật của Quy định là xác lập nguyên tắc quản trị dữ liệu theo phương châm “đúng, đủ, sạch, sống, thống nhất, dùng chung”, trong đó mỗi trường dữ liệu chỉ có một nguồn tin cậy duy nhất. Quy định cũng yêu cầu việc kết nối, chia sẻ dữ liệu phải được thực hiện thông qua nền tảng tích hợp, chia sẻ dữ liệu theo quy định; ưu tiên chia sẻ tự động, theo thời gian thực hoặc gần thời gian thực; đồng thời phân quyền chặt chẽ theo từng nhóm dữ liệu, từng đối tượng và từng mức độ chia sẻ nhằm bảo đảm an toàn, bảo mật thông tin.
Để bảo đảm an toàn trong khai thác dữ liệu, Quy định phân loại dữ liệu thành ba mức độ chia sẻ gồm: chia sẻ cơ bản, chia sẻ có điều kiện và chia sẻ đặc biệt. Đối với dữ liệu nhạy cảm, dữ liệu thuộc danh mục bí mật nhà nước hoặc liên quan đến công tác bảo vệ chính trị nội bộ, việc chia sẻ chỉ được thực hiện theo yêu cầu của cấp có thẩm quyền, không thực hiện chia sẻ tự động và phải áp dụng các giải pháp bảo mật, mật mã chuyên dùng theo quy định.
Tại Chương IV, Quy định nhấn mạnh việc liên thông dữ liệu hai chiều giữa Cơ sở dữ liệu tổ chức đảng, đảng viên với Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư và Cơ sở dữ liệu quốc gia về cán bộ, công chức, viên chức. Việc liên thông hướng tới mục tiêu làm sạch, đồng bộ và xác thực dữ liệu, lấy số định danh cá nhân làm khóa liên kết thống nhất, góp phần nâng cao chất lượng quản lý đảng viên, cán bộ và phục vụ hiệu quả công tác lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành trên nền tảng dữ liệu số.
Bên cạnh đó, Quy định quy định chặt chẽ phương thức, quy trình kết nối và chia sẻ dữ liệu; việc đề nghị kết nối, thẩm định, phê duyệt, cấp quyền khai thác dữ liệu; cơ chế xử lý xung đột dữ liệu; chế độ đối soát định kỳ; trách nhiệm bảo đảm an ninh mạng, ứng phó sự cố, lưu trữ nhật ký chia sẻ dữ liệu cũng như trách nhiệm của Ban Tổ chức Trung ương, Văn phòng Trung ương Đảng, Bộ Công an, Bộ Nội vụ, Ban Cơ yếu Chính phủ và các cơ quan tiếp nhận dữ liệu trong quá trình tổ chức thực hiện.
Việc ban hành Quy định số 348-QĐ/BTCTW tạo hành lang thống nhất cho hoạt động kết nối, chia sẻ và liên thông dữ liệu trong lĩnh vực tổ chức xây dựng Đảng, góp phần hình thành hệ sinh thái dữ liệu đồng bộ giữa các cơ quan trong hệ thống chính trị. Đây là nền tảng quan trọng để nâng cao chất lượng quản trị dữ liệu, giảm trùng lặp thông tin, đẩy mạnh cải cách hành chính, thúc đẩy chuyển đổi số trong các cơ quan Đảng, thúc đẩy quản trị dữ liệu thống nhất, hiện đại, phục vụ hiệu quả công tác xây dựng Đảng trong tình hình mới./.
Cơ quan Thường trực Ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số vừa ban hành Thông báo số 24-CQTTBCĐ ngày 07/7/2026 kết luận của đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm, Trưởng Ban Chỉ đạo tại Hội nghị toàn quốc sơ kết 1 năm 6 tháng triển khai thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW.

Thông báo nêu rõ, sau khi nghe Báo cáo sơ kết 1 năm 6 tháng triển khai thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW; trên cơ sở các định hướng, chỉ đạo của Bộ Chính trị, Ban Bí thư và ý kiến tham luận, trao đổi của các bộ, cơ quan, địa phương, doanh nghiệp, đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm, Trưởng Ban Chỉ đạo đã kết luận như sau:
1. Sau 1 năm 6 tháng triển khai thực hiện, Nghị quyết số 57-NQ/TW đã tạo chuyển biến tích cực trong nhận thức và hành động của toàn hệ thống chính trị. Khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số được xác định là động lực chủ yếu để đổi mới mô hình phát triển, nâng cao năng suất, năng lực cạnh tranh, hiệu lực quản trị và năng lực tự chủ quốc gia.
Thể chế, cơ chế, chính sách từng bước được hoàn thiện; nhiều điểm nghẽn, nút thắt được rà soát, tháo gỡ. Chuyển đổi số quốc gia đạt nhiều kết quả tích cực; hạ tầng số tiếp tục được đầu tư; các nền tảng số dùng chung bước đầu phát huy hiệu quả. Cổng dịch vụ công quốc gia, Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư và ứng dụng VNeID tiếp tục được hoàn thiện, kết nối, khai thác hiệu quả, góp phần cắt giảm thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh, nâng cao chất lượng phục vụ, giảm chi phí cho doanh nghiệp và người dân; thương mại điện tử, thanh toán không dùng tiền mặt và ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong một số lĩnh vực đã tạo ra hiệu quả kinh tế – xã hội cụ thể.
Trong khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, đã xác định 10 công nghệ chiến lược gắn với 30 sản phẩm công nghệ chiến lược và 20 bài toán lớn của quốc gia; hoạt động nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu ứng dụng và liên kết giữa Nhà nước, nhà trường, viện nghiên cứu và doanh nghiệp bước đầu phát huy hiệu quả, góp phần đưa kết quả nghiên cứu vào thực tiễn. Một số doanh nghiệp Việt Nam từng bước làm chủ công nghệ, phát triển sản phẩm phục vụ thị trường trong nước và xuất khẩu; nhiều địa phương đã chủ động ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo vào sản xuất, kinh doanh, quản lý, phát triển du lịch, xây dựng chuỗi cung ứng và truy xuất nguồn gốc, qua đó hình thành nhiều mô hình, cách làm sáng tạo, mang lại hiệu quả thiết thực.
2. Bên cạnh những kết quả đạt được, việc thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW vẫn còn nhiều tồn tại, hạn chế, điểm nghẽn về thể chế, hạ tầng, nhân lực, dữ liệu, an ninh mạng, an toàn thông tin và giải ngân vốn; kết quả thực tế chưa tương xứng với chủ trương, nguồn lực và quyết tâm chính trị, chưa tạo ra nhiều sản phẩm chiến lược cụ thể, chưa đóng góp rõ nét vào tăng trưởng, năng suất lao động và năng lực quản trị quốc gia. Khâu yếu nhất hiện nay là tổ chức thực hiện; trong cùng điều kiện, nơi nào tổ chức thực hiện quyết liệt, người đứng đầu trực tiếp chỉ đạo thì tạo được sản phẩm, kết quả cụ thể; nơi nào triển khai còn hình thức, chậm trễ, người đứng đầu chưa phát huy đầy đủ trách nhiệm trong lãnh đạo, chỉ đạo kỷ luật thực thi thì chuyển biến hạn chế.
3. Để khắc phục những hạn chế nêu trên, tạo chuyển biến rõ rệt từ chủ trương sang kết quả thực tế, yêu cầu các cấp uỷ, tổ chức đảng, bộ, ngành, địa phương, cơ quan, đơn vị quán triệt sâu sắc các định hướng lớn của Bộ Chính trị, tổ chức thực hiện nghiêm túc, quyết liệt, thực chất các nhiệm vụ, giải pháp, chương trình, kế hoạch triển khai Nghị quyết số 57-NQ/TW và Kế hoạch hành động 100 ngày xử lý các điểm nghẽn về chuyển đổi số do Ban Chỉ đạo ban hành, trong đó tập trung vào 4 yêu cầu trọng tâm sau:
Thứ nhất, tiếp tục quán triệt sâu sắc Nghị quyết số 57-NQ/TW gắn với triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng.
Phải nhận thức sâu sắc khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là động lực chủ yếu để đổi mới mô hình phát triển, xác lập mô hình tăng trưởng mới; là con đường tất yếu để hiện thực hoá hai mục tiêu 100 năm của đất nước. Trong bối cảnh cạnh tranh công nghệ ngày càng gay gắt, việc thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW không chỉ nhằm khắc phục nguy cơ tụt hậu mà còn trực tiếp góp phần nâng cao năng lực tự chủ chiến lược, bảo đảm quốc phòng, an ninh và chủ quyền quốc gia.
Mỗi cấp uỷ, tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu, phải xác định việc thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW là nhiệm vụ chính trị quan trọng, thường xuyên; không coi đây là nhiệm vụ riêng của cơ quan chuyên môn. Việc triển khai phải đồng bộ, quyết liệt trong toàn hệ thống chính trị, từ Trung ương đến địa phương, tạo điều kiện để doanh nghiệp và người dân tích cực tham gia.
Thứ hai, chuyển mạnh sang tạo ra sản phẩm, kết quả và giá trị cụ thể, đóng góp trực tiếp vào mục tiêu tăng trưởng hai con số.
Các nhiệm vụ thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW chỉ được coi là hoàn thành khi có sản phẩm vận hành, dữ liệu kiểm chứng, người dùng thực tế và hiệu quả đo đếm được. Kết quả thực hiện không chỉ dừng ở việc văn bản được ban hành, kế hoạch được xây dựng, tổ chức các hội nghị hoặc thành lập bộ máy, mà phải thể hiện bằng công nghệ được làm chủ, dữ liệu được kết nối, thủ tục hành chính được cắt giảm, đơn giản hoá, năng suất được nâng cao, doanh nghiệp phát triển, lợi ích mang lại cho người dân, xã hội và mức đóng góp vào tăng trưởng.
Tiếp tục đẩy mạnh chuyển đổi số trong hệ thống chính trị; đồng thời thúc đẩy chuyển đổi số trong doanh nghiệp và toàn xã hội, phát triển kinh tế số, kinh tế dữ liệu gắn với đổi mới phương thức quản trị và nâng cao năng suất lao động. Cần bảo đảm dữ liệu đúng, đủ, sạch, sống, liên thông, dùng chung; tái cấu trúc quy trình nghiệp vụ; xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, người lao động có kỹ năng số và văn hoá làm việc trên môi trường số.
Về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, phải gắn kết chặt chẽ việc tạo ra tri thức mới, làm chủ công nghệ và chuyển hoá thành giá trị mới cho xã hội. Tập trung nguồn lực làm chủ và phát triển các công nghệ chiến lược thành sản phẩm cụ thể, nhất là trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, robot và tự động hoá, công nghệ sinh học và y sinh, vật liệu và năng lượng, chip bán dẫn, an ninh mạng, công nghệ lượng tử, thiết bị bay không người lái, công nghệ biển, đại dương và lòng đất. Đối với từng công nghệ chiến lược, phải xác định rõ mục tiêu theo các mốc 1 năm, 3 năm, 5 năm và 10 năm về công nghệ được làm chủ, sản phẩm hình thành, khả năng xuất khẩu và đóng góp cho tăng trưởng, quốc phòng, an ninh, năng lực tự chủ quốc gia. Bộ, cơ quan được giao chủ trì không chỉ chịu trách nhiệm về quy trình, thủ tục mà phải chịu trách nhiệm về sản phẩm cuối cùng, kết quả, hiệu quả và tác động thực tế.
Đồng thời, phải đặc biệt coi trọng bảo đảm an ninh mạng, an toàn thông tin, an ninh dữ liệu và chủ quyền số quốc gia; không đánh đổi an ninh, an toàn để lấy phát triển, nhưng cũng không vì lo ngại rủi ro mà làm chậm đổi mới sáng tạo. Mọi hệ thống số, cơ sở dữ liệu, nền tảng số phải được thiết kế, xây dựng và vận hành theo yêu cầu bảo đảm an ninh, an toàn ngay từ đầu. Các cơ quan, đơn vị, địa phương chịu trách nhiệm chính về an ninh, an toàn đối với hệ thống thông tin và dữ liệu thuộc phạm vi quản lý.
Thứ ba, tạo chuyển biến đồng bộ từ Trung ương đến địa phương, từ các cơ quan trong hệ thống chính trị đến toàn xã hội.
Các bộ, ngành Trung ương phải phát huy vai trò kiến tạo phát triển ngành, lĩnh vực; chủ động rà soát, hoàn thiện thể chế, cơ chế, chính sách; kịp thời ban hành tiêu chuẩn, quy chuẩn, quy trình, kiến trúc tổng thể. Đối với các bài toán lớn của quốc gia, công nghệ chiến lược, cơ sở dữ liệu quốc gia và nhiệm vụ liên ngành, liên vùng, cơ quan được giao chủ trì phải trực tiếp chỉ đạo, tổ chức thực hiện đến cùng và chịu trách nhiệm về kết quả. Đồng thời, tăng cường hướng dẫn, hỗ trợ, đồng hành cùng địa phương, khắc phục tình trạng triển khai thiếu thống nhất, đầu tư phân tán, trùng lặp, thiếu kết nối.
Các địa phương phải chủ động tổ chức thực hiện, sáng tạo trong khuôn khổ pháp luật và theo thẩm quyền phân cấp, phân quyền; căn cứ điều kiện thực tiễn, lợi thế so sánh và nhu cầu phát triển để lựa chọn đúng trọng tâm, trọng điểm, tránh dàn trải. Mỗi địa phương phải xác định rõ các bài toán thực tiễn cần giải quyết bằng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; chủ động đăng ký đảm nhận các bài toán lớn, đề xuất cơ chế, mô hình, cách làm mới; kịp thời phản ánh vướng mắc từ thực tiễn để kiến nghị Trung ương sửa đổi, hoàn thiện thể chế.
Cộng đồng doanh nghiệp tăng cường đầu tư cho nghiên cứu và phát triển, đổi mới công nghệ, chuyển đổi số, đào tạo nhân lực chất lượng cao và tham gia các chương trình công nghệ chiến lược quốc gia, thực sự trở thành trung tâm của hệ sinh thái đổi mới sáng tạo. Các tập đoàn, doanh nghiệp lớn thuộc khu vực nhà nước và khu vực tư nhân phát huy vai trò dẫn dắt, tiên phong trong làm chủ công nghệ lõi, phát triển sản phẩm công nghệ Việt Nam, tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu và hình thành các hệ sinh thái đổi mới sáng tạo có sức lan toả.
Các viện nghiên cứu, trường đại học và đội ngũ nhà khoa học tiếp tục phát huy vai trò nòng cốt trong tạo ra tri thức mới, công nghệ mới và nguồn nhân lực chất lượng cao; tập trung giải quyết các bài toán thực tiễn của đất nước, ngành, địa phương và doanh nghiệp. Đối với hoạt động nghiên cứu ứng dụng và phát triển công nghệ, lấy hiệu quả ứng dụng, chuyển giao và thương mại hoá làm một trong những thước đo quan trọng; đồng thời, tiếp tục coi trọng nghiên cứu cơ bản, nhất là tại các lĩnh vực nền tảng, chiến lược.
Để tạo nền tảng tri thức và nhân lực cho phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, cần có chính sách đủ mạnh để thu hút, trọng dụng nhân tài, chuyên gia và trí thức người Việt Nam ở trong và ngoài nước; hình thành các nhóm nghiên cứu mạnh, kết nối hiệu quả mạng lưới trí thức Việt Nam toàn cầu. Hợp tác quốc tế phải chuyển từ trọng tâm thu hút vốn sang thu hút tri thức, công nghệ và chuyên gia, gắn với nâng cao năng lực nghiên cứu, phát triển và làm chủ công nghệ trong nước.
Đồng thời, phải đặc biệt coi trọng chuẩn bị nguồn nhân lực trong nước. Ngay từ năm học 2026 – 2027, ngành giáo dục và đào tạo, các cơ sở giáo dục đại học và cơ sở giáo dục nghề nghiệp phải rà soát chương trình đào tạo, ưu tiên các lĩnh vực công nghệ chiến lược; đẩy mạnh đào tạo kỹ năng số, năng lực đổi mới sáng tạo và ứng dụng trí tuệ nhân tạo. Xác định nâng cao chất lượng nguồn nhân lực là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị, không riêng của ngành giáo dục và đào tạo.
Thứ tư, đổi mới mạnh mẽ công tác lãnh đạo, chỉ đạo, kiểm tra, giám sát và đánh giá kết quả thực hiện.
Người đứng đầu các cấp phải trực tiếp lãnh đạo, chỉ đạo, kiểm tra và chịu trách nhiệm về kết quả thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW thuộc phạm vi phụ trách. Nhiệm vụ thuộc thẩm quyền phải chủ động giải quyết, nhiệm vụ vượt thẩm quyền phải kịp thời báo cáo, đề xuất cấp có thẩm quyền xem xét, quyết định; không chờ đợi, đùn đẩy, né tránh trách nhiệm. Kết quả thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW phải được xác định là tiêu chí quan trọng trong đánh giá cán bộ, tập thể và người đứng đầu; biểu dương, khen thưởng, nhân rộng các tổ chức, cá nhân thực hiện tốt, có sản phẩm, kết quả cụ thể; đồng thời nhắc nhở, kiểm điểm, xử lý phù hợp các trường hợp triển khai hình thức, chậm trễ, né tránh trách nhiệm; khuyến khích, bảo vệ cán bộ dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung.
Các cấp uỷ, tổ chức đảng ở Trung ương và địa phương xây dựng kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng, chuẩn bị nguồn cán bộ; thực hiện chủ trương nâng tỉ lệ cán bộ có trình độ khoa học, công nghệ trong cấp uỷ từ 5% lên 10% – 15%. Thực hiện nghiêm quy định của Bộ Chính trị về đánh giá cán bộ hằng quý; kịp thời thay thế, điều chuyển cán bộ không đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ.
Uỷ ban Kiểm tra Trung ương và uỷ ban kiểm tra các cấp tăng cường kiểm tra, giám sát việc lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW; kịp thời phát hiện, chấn chỉnh, xử lý những biểu hiện hình thức, chậm trễ, thiếu trách nhiệm, bảo đảm các chủ trương, nhiệm vụ được triển khai nghiêm túc, thực chất, hiệu quả.
4. Trong bối cảnh cạnh tranh công nghệ trên thế giới diễn biến nhanh, ngày càng gay gắt, khoảng cách phát triển có nguy cơ ngày càng gia tăng, việc thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW không được chậm trễ, phải quyết tâm hơn, hành động mạnh mẽ hơn, bảo đảm thực chất và hiệu quả.
Yêu cầu các đồng chí thành viên Ban Chỉ đạo, các cấp uỷ, tổ chức đảng, bộ, ngành, địa phương trực tiếp chỉ đạo rà soát các nhiệm vụ thuộc phạm vi phụ trách; xác định rõ những vướng mắc, nguyên nhân, trách nhiệm, sản phẩm và thời hạn hoàn thành; khẩn trương cụ thể hoá thành chương trình, kế hoạch hành động với mốc thời gian và trách nhiệm rõ ràng; quyết tâm đưa khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trở thành động lực phát triển mạnh mẽ của đất nước trong giai đoạn mới, góp phần đưa Việt Nam phát triển nhanh, bền vững, hùng cường và thịnh vượng.
Đối với các đề xuất của Đại học Bách khoa Hà Nội và Tập đoàn Vingroup nêu tại tham luận, đề nghị Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ, Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo theo chức năng, nhiệm vụ được giao, khẩn trương làm việc với các đơn vị nêu trên để nghiên cứu, xử lý theo thẩm quyền; đối với nội dung vượt thẩm quyền, báo cáo cấp có thẩm quyền xem xét, quyết định.
Văn phòng Trung ương Đảng – Cơ quan Thường trực Ban Chỉ đạo thông báo để các đồng chí thành viên Ban Chỉ đạo, các cấp uỷ, tổ chức đảng, cơ quan, đơn vị và địa phương biết, triển khai thực hiện.
(Nguồn: Dangcongsan.vn)
Trong 6 tháng đầu năm 2026, Viện kiểm sát nhân dân (VKSND) 2 cấp TP Cần Thơ đã triển khai đồng bộ nhiều giải pháp nhằm thực hiện hiệu quả công tác xây dựng Đảng, xây dựng Ngành gắn với nâng cao chất lượng thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp.
Trụ sở làm việc VKSND TP Cần Thơ. Ảnh: Phú Đức
Theo báo cáo của VKSND TP Cần Thơ, năm 2026, VKSND TP Cần Thơ tiếp tục tập trung xây dựng Đảng bộ trong sạch, vững mạnh; chú trọng giáo dục chính trị, tư tưởng, đạo đức nghề nghiệp, nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ và phát huy vai trò nêu gương của người đứng đầu.
Cùng với công tác xây dựng Đảng, VKSND TP Cần Thơ xác định chuyển đổi số là nhiệm vụ đột phá của năm 2026. Đơn vị đã triển khai nhiều phần mềm phục vụ quản lý, chỉ đạo điều hành, tổ chức các lớp tập huấn về công nghệ thông tin và trí tuệ nhân tạo (AI), từng bước nâng cao kỹ năng số cho đội ngũ công chức, góp phần hiện đại hóa hoạt động của Ngành.
Trên nền tảng đó, công tác tiếp công dân, giải quyết và kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo trong hoạt động tư pháp tiếp tục được quan tâm chỉ đạo và đạt nhiều kết quả tích cực.
Trong kỳ, VKSND hai cấp đã tiếp 199 lượt công dân đến khiếu nại, tố cáo, tăng 01 lượt so với cùng kỳ; tiếp nhận và xử lý 1.208 đơn, tăng 186 đơn. Trong số này có 12 đơn thuộc thẩm quyền giải quyết của Viện kiểm sát và đã được giải quyết đạt tỷ lệ 100%; 46 đơn thuộc trách nhiệm kiểm sát việc giải quyết đã được chuyển đến các cơ quan có thẩm quyền gồm: Tòa án, Cơ quan điều tra và Cơ quan Thi hành án dân sự để giải quyết theo quy định. Ngoài ra, có 1.095 đơn không thuộc thẩm quyền giải quyết hoặc kiểm sát việc giải quyết, 19 đơn không đủ điều kiện thụ lý; 36 đơn đang tiếp tục được xem xét, xử lý.
Bên cạnh việc giải quyết đơn đúng thời hạn, VKSND TP Cần Thơ còn tăng cường công tác kiểm sát nhằm nâng cao trách nhiệm của các cơ quan tư pháp trong giải quyết khiếu nại, tố cáo. Qua kiểm sát đã ban hành 6 công văn yêu cầu các cơ quan ban hành văn bản giải quyết khiếu nại theo quy định; công văn yêu cầu cung cấp hồ sơ, tài liệu liên quan và 2 công văn yêu cầu các cơ quan tư pháp tự kiểm tra việc giải quyết khiếu nại, tố cáo. Kết quả kiểm tra cho thấy các cơ quan đều thực hiện nghiêm túc và báo cáo đúng quy định, góp phần nâng cao chất lượng, tính minh bạch trong hoạt động tư pháp.
Công tác giải quyết đơn đề nghị kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm cũng được thực hiện chặt chẽ. Trong kỳ, VKSND TP Cần Thơ tiếp nhận 35 đơn thuộc các lĩnh vực hình sự, dân sự, kinh doanh thương mại, lao động và hành chính; tất cả đều được thụ lý, xem xét và giải quyết theo đúng quy định của pháp luật.
Những kết quả trên có được là nhờ sự lãnh đạo, chỉ đạo sát sao của Đảng ủy và Lãnh đạo VKSND TP Cần Thơ; sự đoàn kết, trách nhiệm của đội ngũ công chức, Kiểm sát viên; đồng thời là kết quả của việc tăng cường phối hợp với các cơ quan tư pháp và cấp ủy, chính quyền địa phương. Công tác giao ban định kỳ, kiểm tra tiến độ thực hiện nhiệm vụ được duy trì thường xuyên, kịp thời tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong quá trình thực hiện chức năng, nhiệm vụ.
Bên cạnh những kết quả đạt được, VKSND 2 cấp vẫn còn gặp một số khó khăn như khối lượng công việc ngày càng tăng, nhất là đối với các loại tội phạm sử dụng công nghệ cao; cơ sở vật chất, trang thiết bị tại một số đơn vị sau sáp nhập còn hạn chế; ngân sách đầu tư cho chuyển đổi số và sửa chữa trụ sở chưa đáp ứng yêu cầu thực tiễn.
Thời gian tới, VKSND 2 cấp TP Cần Thơ sẽ tiếp tục đẩy mạnh công tác xây dựng Đảng, tăng cường kỷ luật, kỷ cương, phát huy vai trò nêu gương của người đứng đầu; tiếp tục nâng cao chất lượng công tác tiếp công dân, giải quyết và kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo; đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số trong quản lý và hoạt động nghiệp vụ. Đồng thời, tăng cường phối hợp với các cơ quan tư pháp nhằm kịp thời phát hiện, khắc phục vi phạm, bảo đảm mọi khiếu nại, tố cáo được xem xét, giải quyết đúng quy định của pháp luật.
Với tinh thần “Đoàn kết, đổi mới – Bản lĩnh, kỷ cương – Chuyên nghiệp, hiện đại”, VKSND 2 cấp TP Cần Thơ tiếp tục phát huy vai trò là cơ quan bảo vệ pháp luật, góp phần giữ vững kỷ cương pháp luật, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, phục vụ hiệu quả nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã hội và xây dựng nền tư pháp trong sạch, vững mạnh.
Phú Đức
(Nguồn: Thanhtra.com.vn)
Theo bà Lê Thị Kim Dung, Phó Bí thư Thường trực Tỉnh ủy, Trưởng Đoàn đại biểu Quốc hội khóa XVI tỉnh Tuyên Quang, kiểm tra, giám sát không chỉ nhằm phát hiện, xử lý vi phạm mà quan trọng hơn là phòng ngừa vi phạm, kịp thời nhắc nhở, uốn nắn những biểu hiện lệch lạc ngay từ cơ sở.
Bà Lê Thị Kim Dung, Phó Bí thư Thường trực Tỉnh ủy, Trưởng Đoàn đại biểu Quốc hội khóa XVI tỉnh Tuyên Quang phát biểu chỉ đạo tại hội nghị. Ảnh: Hoàng Ngọc
Sáng 7/7, Ủy ban Kiểm tra (UBKT) Tỉnh ủy Tuyên Quang tổ chức Hội nghị sơ kết công tác kiểm tra, giám sát và thi hành kỷ luật của Đảng 6 tháng đầu năm, triển khai nhiệm vụ trọng tâm 6 tháng cuối năm 2026.
Tại hội nghị, các đại biểu đã tập trung thảo luận, làm rõ những kết quả đạt được, đồng thời chỉ ra những khó khăn, hạn chế trong quá trình thực hiện nhiệm vụ; qua đó đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng công tác kiểm tra, giám sát và thi hành kỷ luật của Đảng trong 6 tháng cuối năm 2026.
Phát biểu chỉ đạo tại hội nghị, bà Lê Thị Kim Dung, Phó Bí thư Thường trực Tỉnh ủy, Trưởng Đoàn đại biểu Quốc hội khóa XVI tỉnh Tuyên Quang nhấn mạnh, công tác kiểm tra, giám sát phải tiếp tục được đổi mới cả về tư duy, phương pháp và cách thức tổ chức thực hiện, bảo đảm thực chất, hiệu quả.
Theo bà Dung, kiểm tra, giám sát không chỉ nhằm phát hiện, xử lý vi phạm mà quan trọng hơn là phòng ngừa vi phạm, kịp thời nhắc nhở, uốn nắn những biểu hiện lệch lạc ngay từ cơ sở.
Tại đây, bà yêu cầu cấp ủy, UBKT các cấp tập trung kiểm tra việc thực hiện các nghị quyết, kết luận của Trung ương, của Tỉnh ủy; việc thực hiện các chương trình, dự án trọng điểm.
Đồng thời, quan tâm theo dõi, đôn đốc việc thực hiện các kết luận kiểm tra, giám sát; đánh giá việc chấp hành, khắc phục những hạn chế, khuyết điểm, vi phạm đã được chỉ ra, nhất là các kết luận của Ban Thường vụ Tỉnh ủy sau khi 22 đoàn tiến hành kiểm tra, giám sát trong 6 tháng đầu năm 2026, bảo đảm các kết luận được chấp hành nghiêm túc.
Bên cạnh đó, cần kiên quyết xử lý các trường hợp vi phạm, nhất là những biểu hiện né tránh, đùn đẩy trách nhiệm; đẩy mạnh chuyển đổi số, xây dựng đội ngũ cán bộ kiểm tra có bản lĩnh, tinh thông nghiệp vụ, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới.

Hội nghị được tổ chức theo hình thức trực tiếp kết hợp trực tuyến với 124 Đảng ủy xã, phường trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang. Ảnh: Hoàng Ngọc
Tiếp thu đầy đủ các ý kiến chỉ đạo của lãnh đạo tỉnh Tuyên Quang và các ý kiến tham luận của đại biểu tại hội nghị, Chủ nhiệm UBKT Tỉnh ủy Tuyên Quang Nguyễn Hưng Vượng yêu cầu UBKT các cấp trong tỉnh khẩn trương cụ thể hóa thành chương trình, kế hoạch công tác 6 tháng cuối năm.
Đồng thời, UBKT các cấp tiếp tục nâng cao chất lượng công tác kiểm tra, giám sát; chủ động nắm chắc tình hình địa bàn, lĩnh vực dễ phát sinh vi phạm; tăng cường kiểm tra khi có dấu hiệu vi phạm; giải quyết dứt điểm đơn thư khiếu nại, tố cáo thuộc thẩm quyền; thực hiện nghiêm các quy định của Đảng về kiểm tra, giám sát và thi hành kỷ luật Đảng.
Chủ nhiệm UBKT Tỉnh ủy Tuyên Quang Nguyễn Hưng Vượng nhấn mạnh, việc thực hiện tốt các nhiệm vụ trên sẽ góp phần xây dựng Đảng bộ tỉnh ngày càng trong sạch, vững mạnh, đáp ứng yêu cầu phát triển của địa phương.
Trong 6 tháng đầu năm 2026, cấp ủy, tổ chức đảng và UBKT các cấp trong tỉnh Tuyên Quang đã bám sát chương trình kiểm tra, giám sát toàn khóa và nhiệm vụ chính trị của địa phương, đơn vị để lãnh đạo, chỉ đạo triển khai toàn diện công tác kiểm tra, giám sát, góp phần giữ vững kỷ cương, kỷ luật của Đảng.
Cấp ủy các cấp đã tiến hành kiểm tra 1.643 cuộc đối với 530 tổ chức đảng và 1.583 đảng viên.
Nội dung kiểm tra tập trung vào việc thực hiện các nghị quyết, chỉ thị của Trung ương và của tỉnh; việc lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã hội, quốc phòng, an ninh; công tác quản lý đất đai, đầu tư công, quản lý tài chính, tài sản công, cải cách hành chính, sắp xếp tổ chức bộ máy và công tác cán bộ sau khi thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp.
Qua kiểm tra, kết luận có 435 tổ chức đảng và 1.495 đảng viên thực hiện tốt nội dung được kiểm tra; 95 tổ chức đảng và 88 đảng viên chưa thực hiện tốt, được yêu cầu khắc phục những hạn chế, khuyết điểm và kiểm điểm, rút kinh nghiệm.
Cấp ủy các cấp thực hiện giám sát chuyên đề 1.275 cuộc đối với 580 tổ chức đảng và 1.209 đảng viên; các cơ quan tham mưu, giúp việc cấp ủy hai cấp (tỉnh, xã) tiến hành giám sát chuyên đề 34 cuộc đối với 62 tổ chức đảng.
Nội dung giám sát tập trung vào việc lãnh đạo, tổ chức quán triệt, triển khai thực hiện các chỉ thị, nghị quyết, quy chế làm việc, trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu; việc thực hiện các kết luận sau kiểm tra, thanh tra, kiểm toán và giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo.
UBKT các cấp đã chủ động nắm tình hình, kiểm tra khi có dấu hiệu vi phạm đối với tổ chức đảng và đảng viên; xem xét, giải quyết kịp thời đơn thư khiếu nại, tố cáo thuộc thẩm quyền; thi hành kỷ luật nghiêm minh, đúng quy định đối với các trường hợp vi phạm.
Trong 6 tháng đầu năm 2026, cấp ủy và UBKT các cấp trong tỉnh Tuyên Quang đã thi hành kỷ luật 5 tổ chức đảng và 132 đảng viên.
Thanh Lương
(Nguồn: Thanhtra.com.vn)
Chiều 6/7, Đảng ủy Tổng (LĐLĐ) Việt Nam tổ chức lễ phát động Cuộc thi trực tuyến “Tìm hiểu Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các đoàn thể Trung ương lần thứ I, Nghị quyết Đại hội XIV Công đoàn Việt Nam, nhiệm kỳ 2026-2031”.
Tổng LĐLĐ Việt Nam phát động cuộc thi tìm hiểu các Nghị quyết của Đảng, Mặt trận Tổ quốc và Công đoàn. Ảnh Hữu Chánh
Cuộc thi nhằm tạo khí thế thi đua sôi nổi, phổ biến sâu rộng và đưa các Nghị quyết sớm đi vào cuộc sống.
Lễ phát động cuộc thi dưới hình thức trực tiếp và trực tuyến tại các điểm cầu của các đảng bộ, chi bộ trực thuộc Đảng ủy Tổng LĐLĐ Việt Nam.

Đồng chí Ngọ Duy Hiểu, Phó Bí thư Thường trực Đảng ủy, Phó Chủ tịch Thường trực Tổng LĐLĐVN; đồng chí Vũ Anh Đức – Phó Bí thư Đảng ủy Tổng LĐLĐ Việt Nam (bên trái ảnh) tham dự lễ phát động. Ảnh Hữu Chánh
Phát biểu tại lễ phát động cuộc thi, đồng chí Vũ Anh Đức – Phó Bí thư Đảng ủy Tổng LĐLĐ Việt Nam cho biết, mỗi kỳ Đại hội của Đảng đều mở ra một chặng đường phát triển mới của đất nước. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng đã xác định những định hướng chiến lược, khơi dậy mạnh mẽ khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc, đưa Việt Nam vững bước trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc. Tiếp nối tinh thần đó, Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể Trung ương lần thứ I và Nghị quyết Đại hội XIV Công đoàn Việt Nam đã cụ thể hóa những chủ trương lớn của Đảng, khẳng định yêu cầu tiếp tục đổi mới tổ chức và hoạt động Công đoàn, xây dựng giai cấp công nhân hiện đại, lớn mạnh, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong giai đoạn mới.
Lịch sử đã chứng minh rằng sức mạnh của một nghị quyết không chỉ nằm ở tầm nhìn chiến lược, mà được khẳng định bằng nhận thức, niềm tin và hành động của mỗi cán bộ, đảng viên, đoàn viên và người lao động.
“Nghị quyết chỉ thực sự đi vào cuộc sống khi được chuyển hóa thành những việc làm cụ thể, thành những sáng kiến, công trình, sản phẩm và kết quả lao động hằng ngày. Chính vì vậy, Cuộc thi tìm hiểu trực tuyến được phát động hôm nay không đơn thuần là một cuộc thi kiến thức, mà là một đợt sinh hoạt chính trị sâu rộng trong toàn Đảng bộ Tổng LĐLĐ Việt Nam. Đây là dịp để mỗi cán bộ, đoàn viên nghiên cứu sâu hơn các nghị quyết của Đảng và của tổ chức Công đoàn; củng cố bản lĩnh chính trị, nâng cao nhận thức, khơi dậy tinh thần đổi mới, sáng tạo và khát vọng cống hiến. Đồng thời, thông qua nền tảng số, cuộc thi góp phần đổi mới công tác tuyên truyền, đưa nghị quyết đến gần hơn với cán bộ, đảng viên, đoàn viên và người lao động ở mọi lĩnh vực, mọi vị trí việc làm ở các chi, đảng bộ trực thuộc” – đồng chí Vũ Anh Đức chia sẻ.

Đồng chí Vũ Anh Đức – Phó Bí thư Đảng ủy Tổng LĐLĐ Việt Nam phát biểu tại lễ phát động. Ảnh Hữu Chánh
Để cuộc thi đạt hiệu quả thiết thực và lan tỏa sâu rộng, đồng chí Vũ Anh Đức – Phó Bí thư Đảng ủy Tổng LĐLĐ Việt Nam đề nghị các đồng chí cấp ủy của các chi, đảng bộ trực thuộc tiếp tục quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo, tuyên truyền, vận động và xem đây là nhiệm vụ trọng tâm trong công tác tuyên truyền, giáo dục chính trị, tư tưởng; tạo điều kiện thuận lợi để đông đảo cán bộ, đảng viên, đoàn viên và người lao động tích cực hưởng ứng tham gia cuộc thi. Mỗi đoàn viên hãy tham gia cuộc thi với tinh thần trách nhiệm, ý thức tự học, xem đây là cơ hội để nâng cao nhận thức, bồi dưỡng bản lĩnh chính trị, vận dụng sáng tạo các nghị quyết vào thực tiễn công tác, lao động và sản xuất. Ban Tổ chức Cuộc thi cần tiếp tục bảo đảm cuộc thi được tổ chức khách quan, minh bạch, ứng dụng hiệu quả công nghệ số để tạo môi trường học tập thuận tiện, hấp dẫn và an toàn.

Lễ phát động Cuộc thi trực tuyến “Tìm hiểu Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các đoàn thể Trung ương lần thứ I, Nghị quyết Đại hội XIV Công đoàn Việt Nam, nhiệm kỳ 2026-2031”
Với tinh thần “Hiểu Nghị quyết để vững niềm tin; vững niềm tin để hành động; hành động quyết liệt để đưa Nghị quyết vào cuộc sống”; hãy để mỗi cán bộ, đoàn viên là một tuyên truyền viên của nghị quyết, mỗi chi, đảng bộ trực thuộc là một điểm sáng trong học tập và thực hiện nghị quyết, mỗi việc làm thiết thực là một đóng góp cho sự phát triển của cơ quan, đơn vị, của tổ chức Công đoàn và của đất nước… thay mặt Ban Thường vụ Đảng ủy Tổng LĐLĐ Việt Nam, đồng chí Vũ Anh Đức – Phó Bí thư Đảng ủy Tổng LĐLĐ Việt Nam chính thức phát động Cuộc thi trực tuyến “Tìm hiểu Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng, Nghị quyết Đại hội Đảng bộ MTTQ, các đoàn thể Trung ương lần thứ I và Nghị quyết Đại hội XIV Công đoàn Việt Nam”.
Đối tượng tham gia dự thi
Toàn thể cán bộ, đảng viên, đoàn viên và người lao động đang công tác, sinh hoạt tại các chi bộ, đảng bộ trực thuộc Đảng bộ Tổng LĐLĐVN được tham gia cuộc thi.
Nội dung thi:
– Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng;
– Nghị quyết Đại hội Đảng bộ MTTQ, các đoàn thể Trung ương lần thứ I;
– Nghị quyết Đại hội XIV Công đoàn Việt Nam, nhiệm kỳ 2026-2031”;
– Chương trình hành động số 08/Ctr-ĐUTĐ, ngày 26/3/2026 của Đảng ủy Tổng Liên đoàn về thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng;
– Chỉ thị số 58-CT/TW ngày 10/1/2026 của Ban Bí thư tăng cường lãnh đạo công tác tuyên truyền, giáo dục chính trị, tư tưởng, pháp luật cho công nhân trong tình hình mới.
Hình thức thi:
– Cuộc thi được tổ chức bằng hình thức thi trắc nghiệm trực tuyến trên internet. Các thí sinh sử dụng máy tính, điện thoại thông minh truy cập vào địa chỉ của cuộc thi, trả lời các câu hỏi của Ban Tổ chức cuộc thi.
– Cuộc thi có 3 tuần thi. Thí sinh tham gia dự thi trả lời 10 câu hỏi trong đó: 9 câu hỏi trắc nghiệm, 1 câu dự đoán tổng số người tham gia. Mỗi câu hỏi có từ 3 phương án trả lời trở lên và chỉ có duy nhất một phương án đúng, thời gian làm bài trong vòng 10 phút, trước khi nộp bài có thể thay đổi đáp án những câu đã chọn trước đó. Mỗi thí sinh được thi tối đa 3 lượt thi/tuần trong thời gian diễn ra cuộc thi.
Địa chỉ tham gia cuộc thi:
+ Banner liên kết trên Cổng thông tin điện tử Công đoàn Việt Nam, đường dẫn: https://congdoanvietnam.vn/
+ Ngoài ra thí sinh có thể quét Mã QR code bằng camera (trên IOS) hoặc vào phần quét mã QR trên ứng dụng Zalo (trên Android) để truy cập vào cuộc thi.
Các bước tham gia cuộc thi:
Bước 1: Thí sinh tham gia dự thi bằng cách truy cập vào địa chỉ chính thức của Cuộc thi tại địa chỉ https://congdoanvietnam.vn/
– Sau khi truy cập Cổng Thông tin điện tử Công đoàn Việt Nam, thí sinh bấm vào Banner Cuộc thi để được chuyển đến hệ thống thi trực tuyến.
– Ngoài ra thí sinh có thể quét Mã QR code bằng camera (trên IOS) hoặc vào phần quét mã QR trên ứng dụng Zalo (trên Android) để truy cập vào cuộc thi.
Bước 2: Thí sinh đăng ký tài khoản dự thi với các thông tin được yêu cầu. Tài khoản vừa tạo sẽ được sử dụng để tham gia cuộc thi.
– Nhập đúng họ và tên theo căn cước công dân.
– Nhập đúng số điện thoại của người dự thi.
– Nhập đúng chi bộ, đảng bộ đang sinh hoạt; cơ quan, đơn vị đang làm việc, công tác.
Bước 3: Trả lời các câu hỏi trực tiếp trên hệ thống bằng cách chọn đáp án.
Bước 4: Chọn dự đoán tổng số người tham gia dự thi. Dự đoán bằng con số cụ thể, ví dụ: 12345…
Bước 5: Xác nhận nộp bài thi.
– Cuộc thi diễn ra trong 3 tuần, mỗi thí sinh được tham dự tối đa 3 lượt thi/1 tuần. Thí sinh tham gia dự thi trả lời 10 câu hỏi trong đó: 9 câu trắc nghiệm, 1 câu dự đoán số lượng người tham gia, trực tiếp trên máy tính hoặc các thiết bị di động có kết nối Internet theo phần mềm bộ câu hỏi được thiết kế sẵn trong thời gian tối đa 10 phút/lần thi (mỗi lần đăng nhập thi sẽ tự động hiện ra một mã đề bất kỳ; mỗi mã đề thi gồm 10 câu hỏi: 9 câu trắc nghiệm, 1 câu dự đoán số lượng người tham gia). Mỗi câu hỏi có từ 3 đến 4 phương án trả lời và chỉ có duy nhất một phương án đúng, thời gian làm bài trong vòng 10 phút, có thể thay đổi đáp án những câu đã chọn trước đó. Mỗi câu trả lời đúng tương đương với 1 điểm.
– Ban Tổ chức không công nhận kết quả của các thí sinh có hành vi không trung thực hoặc cung cấp thông tin không chính xác
Thời gian thi
– Kỳ thi thứ Nhất: Bắt đầu từ lúc 7h00 ngày 6 tháng 7 năm 2026 và kết thúc vào lúc 23h00 ngày 12 tháng 7 năm 2026
– Kỳ thi thứ Hai: Bắt đầu từ lúc 7h00 ngày 13 tháng 7 năm 2026 và kết thúc vào lúc 23h00 ngày 19 tháng 7 năm 2026.
– Kỳ thi thứ Ba : Bắt đầu từ lúc 7h00 ngày 20 tháng 7 năm 2026 và kết thúc vào lúc 23h00 ngày 26 tháng 7 năm 2026.
Cơ cấu Giải thưởng
Giải cá nhân/1 kỳ
– 1 giải nhất: 2.000.000 đồng/giải.
– 2 giải nhì: 1.500.000 đồng/giải.
– 3 giải ba: 1.000.000 đồng/giải.
– 5 giải khuyến khích: 500.000 đồng/giải.
Giải tập thể
– 1 giải nhất: 5.000.000 đồng/giải.
– 2 giải nhì: 3.000.000 đồng/giải.
– 3 giải ba: 2.000.000 đồng/giải.
– 5 giải khuyến khích: 1.500.000 đồng/giải
Nguyễn Điểm
(Nguồn: Thanhtra.com.vn)
Sau 5 ngày, lớp bồi dưỡng nghiệp vụ Trưởng đoàn kiểm tra chuyên ngành bảo hiểm xã hội đã khép lại với nhiều kết quả tích cực. Điều học viên nhận được không chỉ là kiến thức, kỹ năng mà còn là sự tự tin, bản lĩnh và tư duy mới để nâng cao chất lượng công tác kiểm tra trong thực tiễn.
Sáng 10/7, Trường Cán bộ Thanh tra bế giảng lớp bồi dưỡng nghiệp vụ Trưởng đoàn kiểm tra chuyên ngành bảo hiểm xã hội.
Gần 100 học viên là cán bộ đang công tác trong ngành Bảo hiểm xã hội trên cả nước đã hoàn thành chương trình theo kế hoạch, tham gia kiểm tra cuối khóa và được cấp chứng nhận hoàn thành chương trình bồi dưỡng.
Khóa học do Trường Cán bộ Thanh tra phối hợp với Bảo hiểm xã hội Việt Nam tổ chức, tập trung trang bị kiến thức, kỹ năng và phương pháp tổ chức hoạt động kiểm tra chuyên ngành cho đội ngũ Trưởng đoàn kiểm tra.

Toàn cảnh lễ bế giảng. Ảnh: TH
Chương trình được xây dựng theo hướng kết hợp giữa lý luận với thực tiễn, tăng cường trao đổi tình huống, chia sẻ kinh nghiệm và giải đáp những khó khăn, vướng mắc phát sinh trong quá trình thực hiện nhiệm vụ.
Phát biểu tại lễ bế giảng, TS Nguyễn Tuấn Khanh, Phó Hiệu trưởng Trường Cán bộ Thanh tra chúc mừng các học viên đã hoàn thành chương trình bồi dưỡng với tinh thần học tập nghiêm túc, trách nhiệm và cầu thị.
Phó Hiệu trưởng nhấn mạnh, trong bối cảnh yêu cầu quản lý nhà nước và công tác kiểm tra chuyên ngành ngày càng cao, đội ngũ Trưởng đoàn kiểm tra không chỉ cần nắm vững quy định của pháp luật mà còn phải có bản lĩnh nghề nghiệp, kỹ năng tổ chức, điều hành đoàn kiểm tra, xử lý tình huống linh hoạt, khách quan và đúng quy định.

Phó Hiệu trưởng Trường Cán bộ Thanh tra Nguyễn Tuấn Khanh phát biểu tại Lễ bế giảng. Ảnh: TH
Ông Khanh hi vọng, những kiến thức, kinh nghiệm được trang bị tại khóa học tiếp tục được vận dụng sáng tạo vào thực tiễn công tác, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động kiểm tra của ngành Bảo hiểm xã hội.
Phó Hiệu trưởng cũng đề nghị các học viên tiếp tục tự học, tự nghiên cứu, thường xuyên cập nhật các quy định mới, tăng cường trao đổi kinh nghiệm với đồng nghiệp, qua đó xây dựng đội ngũ cán bộ kiểm tra có trình độ chuyên môn vững vàng, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong giai đoạn mới.
Đại diện các học viên, ông Lê Văn Long, Phó Giám đốc Bảo hiểm xã hội TP Hà Nội cho biết chương trình không chỉ giúp củng cố kiến thức pháp luật, kỹ năng nghiệp vụ mà còn tạo diễn đàn để trao đổi kinh nghiệm, tháo gỡ những khó khăn trong thực tiễn.

Ông Lê Văn Long, đại diện các học viên phát biểu bày tỏ sự trân trọng đối với sự quan tâm của Nhà trường và Bảo hiểm xã hội Việt Nam trong việc tổ chức khoa học. Ảnh: TH
Tại lễ bế giảng, nhiều học viên đánh giá cao chất lượng chương trình, sự tận tâm của đội ngũ giảng viên cũng như giá trị thực tiễn mà khóa học mang lại.
Qua các buổi học, mỗi học viên không chỉ được cập nhật quy định mới của pháp luật mà còn có cơ hội trao đổi kinh nghiệm, thống nhất nhận thức và nâng cao kỹ năng tổ chức các cuộc kiểm tra chuyên ngành.
Chuẩn hóa tư duy của người Trưởng đoàn kiểm tra
Ông Trịnh Minh Hoàng, Phó Giám đốc Bảo hiểm Xã hội tỉnh Phú Thọ cho rằng, khóa học giúp nhìn nhận đầy đủ hơn về vai trò của người Trưởng đoàn kiểm tra trong bối cảnh yêu cầu đối với công tác kiểm tra chuyên ngành ngày càng cao. Trưởng đoàn không chỉ là người điều hành cuộc kiểm tra mà còn là người chịu trách nhiệm toàn diện về tổ chức, tiến độ, chất lượng và kết quả của cuộc kiểm tra.

Ông Trịnh Minh Hoàng, Phó Giám đốc Bảo hiểm Xã hội tỉnh Phú Thọ. Ảnh: TH
Thông qua các chuyên đề, chúng tôi được hệ thống hóa quy trình nghiệp vụ, hiểu rõ trách nhiệm ở từng khâu công việc, từ chuẩn bị hồ sơ, công bố quyết định kiểm tra đến xây dựng kết luận và theo dõi việc thực hiện kiến nghị sau kiểm tra.
Đây là nền tảng quan trọng để thống nhất cách làm, hạn chế sai sót và nâng cao chất lượng hoạt động kiểm tra tại các địa phương.
Bồi đắp bản lĩnh và sự tự tin khi thực thi nhiệm vụ
Ông Lê Viết Thức, Phó Giám đốc Bảo hiểm Xã hội tỉnh Nghệ An chia sẻ, điều giá trị nhất sau khóa học là sự tự tin hơn khi đảm nhận vai trò Trưởng đoàn kiểm tra. Không chỉ được củng cố kiến thức pháp luật, học viên còn được trang bị thêm kỹ năng điều hành, kỹ năng giao tiếp, xử lý tình huống và giải quyết những vấn đề phát sinh trong quá trình kiểm tra.

Ông Lê Viết Thức, Phó Giám đốc Bảo hiểm Xã hội tỉnh Nghệ An. Ảnh: TH
Theo ông, khóa học cũng góp phần nâng cao ý thức trách nhiệm, tinh thần tuân thủ quy trình nghiệp vụ và bản lĩnh nghề nghiệp của đội ngũ cán bộ làm công tác kiểm tra. Đây là những yếu tố quan trọng để bảo đảm mỗi cuộc kiểm tra được thực hiện khách quan, đúng pháp luật và đạt hiệu quả cao.
Học từ thực tiễn để áp dụng ngay vào công việc
Điều được nhiều học viên đánh giá cao là phương pháp giảng dạy gắn với thực tiễn. Thay vì chỉ truyền đạt lý thuyết, giảng viên đã dành nhiều thời gian phân tích các tình huống phát sinh trong quá trình kiểm tra, hướng dẫn cách xử lý trên cơ sở quy định của pháp luật và kinh nghiệm thực tiễn.
Theo bà Phạm Thị Thanh Xuân, Phó Trưởng phòng Kiểm tra Bảo hiểm Xã hội tỉnh Quảng Trị, nhiều nội dung được trao đổi rất gần với công việc hằng ngày, từ kỹ năng điều hành đoàn kiểm tra, xử lý vi phạm đến xây dựng văn bản và ban hành kết luận. Những kiến thức này hoàn toàn có thể vận dụng ngay sau khi trở về đơn vị, góp phần nâng cao hiệu quả thực hiện nhiệm vụ.

Bà Phạm Thị Thanh Xuân, Phó Trưởng phòng Kiểm tra Bảo hiểm Xã hội tỉnh Quảng Trị. Ảnh: TH
Đối với nhiều học viên, khóa học còn là dịp để gặp gỡ đồng nghiệp đến từ nhiều địa phương, cùng chia sẻ những cách làm hay và những khó khăn trong quá trình thực hiện nhiệm vụ.
Qua các phiên thảo luận, học viên có cơ hội tiếp cận nhiều mô hình, kinh nghiệm tổ chức đoàn kiểm tra hiệu quả; đồng thời trao đổi những tình huống còn có cách hiểu khác nhau để cùng thống nhất nhận thức. Không khí cởi mở, thẳng thắn giữa giảng viên và học viên đã tạo nên môi trường học tập hiệu quả, giúp kiến thức lý luận được kết nối chặt chẽ với thực tiễn.
Theo các học viên, hoạt động kiểm tra chuyên ngành đang đứng trước nhiều yêu cầu mới về chuyên môn và chuyển đổi số. Vì vậy, việc đào tạo, bồi dưỡng thường xuyên sẽ giúp đội ngũ cán bộ không ngừng nâng cao năng lực, đáp ứng tốt hơn yêu cầu thực tiễn.

Theo các học viên, việc đào tạo, bồi dưỡng thường xuyên sẽ giúp đội ngũ cán bộ không ngừng nâng cao năng lực, đáp ứng tốt hơn yêu cầu thực tiễn. Ảnh: TH
Khóa bồi dưỡng nghiệp vụ Trưởng đoàn kiểm tra chuyên ngành bảo hiểm xã hội đã khép lại, nhưng những kiến thức, kỹ năng và kinh nghiệm được trang bị sẽ tiếp tục đồng hành cùng các học viên trong quá trình công tác.
Thái Hải
(Nguồn: Thanhtra.com.vn)
Việc tổng kết thực tiễn các cuộc thanh tra chuyên đề đối với những dự án chậm tiến độ, tồn đọng, có nguy cơ gây thất thoát, lãng phí và công tác quản lý, sử dụng nhà, đất được kỳ vọng tạo nền tảng khoa học để chuẩn hóa quy trình nghiệp vụ, hoàn thiện thể chế và nâng cao hiệu quả hoạt động của ngành Thanh tra trong giai đoạn mới.
TS Trần Thị Thúy chủ trì buổi tọa đàm. Ảnh: TH
Làm rõ cơ sở lý luận, pháp lý của thanh tra chuyên đề
Ngày 8/7, tại Trường Cán bộ Thanh tra, TS Trần Thị Thúy, Trưởng phòng Nghiên cứu và Hợp tác phát triển, Trường Cán bộ Thanh tra đã chủ trì toạ đàm về triển khai hoạt động nghiên cứu, tổng kết thực tiễn thanh tra chuyên đề các công trình, dự án có khó khăn, vướng mắc, chậm tiến độ, tồn đọng, kéo dài, hiệu quả thấp, nguy cơ gây thất thoát, lãng phí và thanh tra chuyên đề về phòng, chống lãng phí trong quản lý, sử dụng các cơ sở nhà, đất của các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp nhà nước quản lý.
TS Trần Thị Thuý cho biết, thời gian qua, Thanh tra Chính phủ đã triển khai nhiều cuộc thanh tra chuyên đề quy mô lớn đối với các dự án có khó khăn, vướng mắc, chậm tiến độ, tồn đọng kéo dài, hiệu quả thấp và các cuộc thanh tra về quản lý, sử dụng nhà, đất nhằm phát hiện sai phạm, kiến nghị xử lý, tháo gỡ khó khăn và phòng ngừa thất thoát, lãng phí nguồn lực của Nhà nước.
Theo bà Thúy, quá trình triển khai các cuộc thanh tra đã tích lũy nhiều kinh nghiệm thực tiễn quý báu. Tuy nhiên, trước yêu cầu đổi mới hoạt động thanh tra và nâng cao hiệu quả công tác phòng, chống lãng phí, việc tổng kết thực tiễn một cách toàn diện để xây dựng quy trình nghiệp vụ thống nhất và cẩm nang hướng dẫn là yêu cầu cấp thiết.
“Mục tiêu của nhiệm vụ nghiên cứu không chỉ dừng lại ở việc đánh giá kết quả các cuộc thanh tra chuyên đề đã triển khai mà còn hướng tới xây dựng những luận cứ khoa học và thực tiễn phục vụ hoàn thiện phương pháp tổ chức thanh tra, đáp ứng yêu cầu chỉ đạo, điều hành của Thanh tra Chính phủ và toàn ngành trong giai đoạn mới”, TS Trần Thị Thúy nhấn mạnh.
Tại tọa đàm, các đại biểu cho rằng, việc xác lập đầy đủ khung lý luận và pháp lý sẽ là nền tảng để đánh giá thực trạng hoạt động thanh tra chuyên đề một cách khách quan, thống nhất; đồng thời tạo cơ sở khoa học cho việc đề xuất các giải pháp đổi mới trong thời gian tới.
Theo các đại biểu, nhóm nghiên cứu cần hệ thống hóa đầy đủ các quan điểm, chủ trương của Đảng về tăng cường công tác thanh tra, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, phòng, chống tham nhũng, tiêu cực; làm rõ vai trò của thanh tra chuyên đề trong việc phát hiện những bất cập về cơ chế, chính sách, kiến nghị hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước.
Bên cạnh đó, việc rà soát hệ thống pháp luật cần được thực hiện toàn diện, không chỉ đối với pháp luật về thanh tra mà còn bao gồm các quy định của pháp luật chuyên ngành như đầu tư, xây dựng, đấu thầu, đất đai, nhà ở, kinh doanh bất động sản, quản lý, sử dụng tài sản công, doanh nghiệp và phòng, chống tham nhũng.

Toàn cảnh tọa đàm. Ảnh: TH
Đối với nhóm nghiên cứu về các công trình, dự án khó khăn, vướng mắc, các đại biểu đề nghị cần làm rõ khái niệm, đặc điểm, phạm vi, nội dung, phương thức tiến hành và các điều kiện bảo đảm để tổ chức hiệu quả hoạt động thanh tra chuyên đề. Đồng thời, cần phân tích những yêu cầu đặt ra từ thực tiễn khi nhiều dự án có quy mô lớn, liên quan đến nhiều cấp, nhiều ngành và chịu tác động của các chính sách qua nhiều thời kỳ.
Ở lĩnh vực thanh tra phòng, chống lãng phí trong quản lý, sử dụng nhà, đất, các ý kiến tập trung phân tích những bất cập phát sinh trong quản lý tài sản công, yêu cầu tăng cường thanh tra nhằm phát hiện sớm các nguy cơ thất thoát, sử dụng không hiệu quả hoặc lãng phí nguồn lực nhà nước.
Các đại biểu thống nhất rằng việc nghiên cứu đầy đủ cơ sở lý luận, chính trị và pháp lý sẽ tạo nền tảng quan trọng để triển khai các nội dung nghiên cứu tiếp theo, đặc biệt là đánh giá thực trạng và đề xuất các giải pháp hoàn thiện hoạt động thanh tra chuyên đề.
Hướng tới quy trình nghiệp vụ thống nhất và cẩm nang cho toàn ngành
Bên cạnh việc hoàn thiện khung lý luận, các đại biểu dành nhiều thời gian trao đổi về định hướng nghiên cứu nhằm tổng kết thực tiễn các cuộc thanh tra chuyên đề đã được Thanh tra Chính phủ triển khai trong thời gian qua.
Theo đó, nhiệm vụ nghiên cứu sẽ tập trung phân tích, đánh giá toàn diện thực trạng hoạt động thanh tra đối với các dự án chậm tiến độ, tồn đọng, kéo dài, hiệu quả thấp và các cuộc thanh tra về phòng, chống lãng phí trong quản lý, sử dụng nhà, đất; làm rõ những kết quả nổi bật, hạn chế, khó khăn cũng như nguyên nhân của những tồn tại trong quá trình tổ chức thực hiện.
Từ việc tổng kết thực tiễn, nhóm nghiên cứu sẽ rút ra những bài học kinh nghiệm, đồng thời đề xuất các định hướng, giải pháp nhằm nâng cao chất lượng hoạt động thanh tra chuyên đề trong giai đoạn mới.
Nhiều ý kiến cho rằng, một trong những sản phẩm quan trọng nhất của nhiệm vụ nghiên cứu là xây dựng quy trình nghiệp vụ thống nhất đối với các cuộc thanh tra chuyên đề.
Quy trình này cần chuẩn hóa từ khâu lựa chọn đối tượng thanh tra, thu thập và xử lý thông tin, xác định trọng tâm, tổ chức thực hiện, tổng hợp kết quả, ban hành kết luận đến việc theo dõi, đôn đốc thực hiện các kiến nghị sau thanh tra.
Cùng với đó, việc xây dựng cẩm nang nghiệp vụ được kỳ vọng sẽ giúp hệ thống hóa các phương pháp, kỹ năng, tình huống thực tiễn và những bài học kinh nghiệm đã được kiểm chứng trong quá trình tổ chức các cuộc thanh tra chuyên đề. Đây sẽ là tài liệu tham khảo thiết thực, góp phần nâng cao năng lực chuyên môn và bảo đảm tính thống nhất trong hoạt động của toàn ngành Thanh tra.
Kết luận tọa đàm, TS Trần Thị Thúy cho biết, Ba n Chủ nhiệm sẽ tiếp thu đầy đủ các ý kiến để hoàn thiện đề cương nghiên cứu. Đồng thời khẳng định, các thành viên sẽ tiếp tục rà soát hệ thống văn bản chỉ đạo của Đảng, Nhà nước, các quy định pháp luật và tổng kết sâu thực tiễn triển khai các cuộc thanh tra chuyên đề nhằm bảo đảm chất lượng của từng nội dung nghiên cứu.
Theo TS Trần Thị Thúy, kết quả của nhiệm vụ không chỉ phục vụ việc hoàn thành một đề tài khoa học mà còn hướng tới xây dựng những luận cứ khoa học và thực tiễn phục vụ Thanh tra Chính phủ trong việc hoàn thiện thể chế, đổi mới phương thức tổ chức thanh tra, chuẩn hóa quy trình nghiệp vụ, nâng cao hiệu quả phát hiện, xử lý các hành vi gây thất thoát, lãng phí và đáp ứng yêu cầu phát triển của ngành Thanh tra trong giai đoạn mới.
Thái Hải
(Nguồn: Thanhtra.com.vn)
Tổng kết thực tiễn thanh tra thực hiện công vụ trong giải quyết thủ tục hành chính, cung cấp dịch vụ công là bước đi quan trọng nhằm đúc kết kinh nghiệm, chuẩn hóa quy trình nghiệp vụ và hoàn thiện cơ chế thanh tra, đáp ứng yêu cầu xây dựng nền hành chính phục vụ người dân, doanh nghiệp trong giai đoạn mới.

Ngày 8/7, tại Trường Cán bộ Thanh tra, ThS Phạm Thị Thu Hiền, Phó Hiệu trưởng Trường Cán bộ Thanh tra, Chủ nhiệm nhiệm vụ nghiên cứu khoa học đã chủ trì tọa đàm triển khai nội dung nghiên cứu, tổng kết thực tiễn thanh tra thực hiện công vụ của cán bộ, công chức, viên chức trong giải quyết thủ tục hành chính, cung cấp dịch vụ công cho người dân, doanh nghiệp.
Tham dự tọa đàm có các thành viên Ban Chủ nhiệm nhiệm vụ, các chuyên gia, nhà khoa học cùng đại diện nhiều đơn vị thuộc Thanh tra Chính phủ có kinh nghiệm trực tiếp trong công tác thanh tra công vụ, cải cách hành chính và kiểm soát thủ tục hành chính.
Phát biểu khai mạc, ThS Phạm Thị Thu Hiền cho biết, trong bối cảnh cả nước đang đẩy mạnh cải cách hành chính, chuyển đổi số, sắp xếp tổ chức bộ máy và xây dựng nền hành chính phục vụ, hoạt động thanh tra thực hiện công vụ cần tiếp tục được đổi mới cả về phương pháp, quy trình và cách thức tổ chức. Vì vậy, việc tổng kết thực tiễn các cuộc thanh tra đã triển khai không chỉ nhằm đánh giá kết quả đạt được mà còn hướng tới hình thành những tri thức nghiệp vụ có thể áp dụng thống nhất trong toàn ngành.

Toàn cảnh tọa đàm. Ảnh: TH
Theo Chủ nhiệm nhiệm vụ, nghiên cứu tập trung đánh giá thực tiễn hoạt động thanh tra thực hiện công vụ trong giải quyết thủ tục hành chính, cung cấp dịch vụ công giai đoạn 2021-2025, từ đó rút ra bài học kinh nghiệm, xây dựng khung quy trình nghiệp vụ, cẩm nang nghiệp vụ và đề xuất các giải pháp hoàn thiện thể chế, tổ chức, phương pháp thanh tra phục vụ giai đoạn 2026-2030.
Lấy thực tiễn thanh tra làm trung tâm của nghiên cứu
Tại tọa đàm, các đại biểu thống nhất cho rằng nhiệm vụ nghiên cứu cần bám sát thực tiễn các cuộc thanh tra công vụ đã triển khai, coi đây là nguồn dữ liệu quan trọng để khái quát hóa kinh nghiệm nghiệp vụ.
Phó Cục trưởng Cục Thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo lĩnh vực nội chính, nội vụ, dân tộc, tôn giáo (Cục V) ThS Nguyễn Xuân Đạt cho rằng, quá trình nghiên cứu cần xuất phát từ thực tiễn tổ chức các đoàn thanh tra và việc thực hiện các kết luận thanh tra sau khi ban hành.

Phó Cục trưởng Cục V Nguyễn Xuân Đạt. Ảnh: TH
Theo ông, đây là cơ sở để đánh giá khách quan hiệu quả của hoạt động thanh tra công vụ cũng như nhận diện những vấn đề cần tiếp tục hoàn thiện.
Ông cũng đề nghị Ban Chủ nhiệm nghiên cứu lựa chọn địa bàn khảo sát phù hợp với các cuộc thanh tra đã thực hiện nhằm bảo đảm tính kế thừa và thuận lợi trong đối chiếu kết quả.
Đóng góp ý kiến tại tọa đàm, ông Đinh Văn Minh, nguyên Vụ trưởng Vụ Pháp chế, Thanh tra Chính phủ nhấn mạnh, nhiệm vụ nghiên cứu nên tập trung tổng kết từ chính các cuộc thanh tra đã được triển khai thay vì mở rộng quá nhiều nội dung lý luận.
Theo ông, 9 kết luận thanh tra công vụ của Thanh tra Chính phủ trong thời gian vừa qua là nguồn tư liệu quan trọng để đánh giá nội dung, phương pháp, cách thức tổ chức thanh tra cũng như hiệu quả tác động sau thanh tra.
Ông Đinh Văn Minh cho rằng, trong bối cảnh xây dựng nền hành chính kiến tạo, phục vụ, lấy người dân và doanh nghiệp làm trung tâm, nghiên cứu cần làm rõ hoạt động thanh tra đã góp phần như thế nào trong việc nâng cao chất lượng giải quyết thủ tục hành chính, cải thiện kỷ luật, kỷ cương công vụ và thúc đẩy cải cách hành chính.

Ông Đinh Văn Minh, nguyên Phó Vụ trưởng Vụ Pháp chế, Thanh tra Chính phủ. Ảnh: TH
Nhiều đại biểu cũng thống nhất rằng, việc tổng kết cần tập trung vào hoạt động của ngành Thanh tra, không sa vào đánh giá tình hình giải quyết thủ tục hành chính của từng địa phương hay bộ, ngành. Điều quan trọng là rút ra được những kinh nghiệm về phương pháp, quy trình và kỹ năng tổ chức thanh tra để có thể áp dụng thống nhất trong thực tiễn.
Hướng tới xây dựng quy trình nghiệp vụ thống nhất
Một trong những nội dung nhận được nhiều ý kiến trao đổi là việc xây dựng khung quy trình nghiệp vụ và cẩm nang thanh tra thực hiện công vụ.
Theo các đại biểu, quá trình nghiên cứu cần tái dựng đầy đủ quy trình tổ chức một cuộc thanh tra công vụ, từ khâu xây dựng kế hoạch, lựa chọn đối tượng, thu thập chứng cứ, khai thác dữ liệu trên hệ thống thông tin giải quyết TTHC đến việc đánh giá trách nhiệm, ban hành kết luận và theo dõi thực hiện kiến nghị sau thanh tra.

ThS Đào Quốc Trưởng, Trưởng phòng Tổng hợp, Cục VI. Ảnh: TH
ThS Đào Quốc Trưởng, Trưởng phòng Tổng hợp, Cục Thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo lĩnh vực tài chính, ngân hàng (Cục VI) đề nghị Ban Chủ nhiệm khai thác thêm kết quả rà soát các cuộc thanh tra do Cục Theo dõi, đôn đốc và xử lý sau thanh tra (Cục XIV) thực hiện để bổ sung cơ sở thực tiễn cho nhiệm vụ nghiên cứu.
Trong khi đó, ThS Trần Hùng, Cục XIV cho rằng nghiên cứu cần đánh giá sâu hơn hiệu quả thực hiện các kết luận thanh tra, đặc biệt là tính khả thi của các kiến nghị sau thanh tra.

ThS Trần Hùng, Cục XIV. Ảnh: TH
Theo ông, những kiến nghị cụ thể, có lộ trình thực hiện rõ ràng sẽ tạo chuyển biến thực chất hơn trong cải cách hành chính.
Cùng quan điểm này, ThS Hoàng Quốc Tráng, Trưởng phòng Nghiệp vụ 4, Cục V đề nghị nhóm nghiên cứu làm rõ phạm vi giữa hoạt động cung cấp dịch vụ công và giải quyết thủ tục hành chính, trong đó nên xác định trọng tâm là hoạt động giải quyết thủ tục hành chính để bảo đảm tính thống nhất của đề tài.
Đồng thời, cần bổ sung thêm số liệu khảo sát từ địa phương nhằm phản ánh đầy đủ hơn thực tiễn triển khai.

ThS Hoàng Quốc Tráng, Trưởng phòng Nghiệp vụ 4, Cục V. Ảnh: TH
Từ góc nhìn thực tiễn tại cơ sở, TS Trần Mai Vân, Phó Trưởng phòng Thanh tra – Pháp chế, Trường Đại học Y Hà Nội cho rằng, sau khi tổ chức lại bộ máy hành chính, quá trình giải quyết thủ tục hành chính còn gặp nhiều khó khăn về điều kiện cơ sở vật chất và tổ chức thực hiện.
Vì vậy, nghiên cứu cần hướng tới mục tiêu nâng cao chất lượng phục vụ người dân, tăng cường ứng dụng công nghệ, giảm thủ tục hành chính và lấy sự hài lòng của người dân, doanh nghiệp làm thước đo hiệu quả của hoạt động thanh tra.

TS Trần Mai Vân, Phó Trưởng phòng Thanh tra – Pháp chế, Trường Đại học Y Hà Nội. Ảnh: TH
Phát biểu kết luận tọa đàm, ThS Phạm Thị Thu Hiền đánh giá cao các ý kiến tâm huyết, trách nhiệm của các chuyên gia và đại biểu. Theo bà, những góp ý tại tọa đàm sẽ được Ban Chủ nhiệm tiếp thu, hoàn thiện đề cương nghiên cứu theo hướng bám sát thực tiễn, bảo đảm mỗi nội dung nghiên cứu đều hướng tới mục tiêu chuyển hóa kết quả tổng kết thành những sản phẩm có giá trị ứng dụng.
Chủ nhiệm nhiệm vụ nhấn mạnh, điểm đích của nghiên cứu không chỉ là hoàn thành một đề tài khoa học mà quan trọng hơn là xây dựng được quy trình nghiệp vụ thống nhất, cẩm nang thanh tra công vụ và hệ thống kiến nghị có cơ sở khoa học, góp phần nâng cao chất lượng hoạt động thanh tra thực hiện công vụ trong giải quyết thủ tục hành chính, cung cấp dịch vụ công, đáp ứng yêu cầu xây dựng nền hành chính chuyên nghiệp, hiện đại, minh bạch và phục vụ người dân, doanh nghiệp trong giai đoạn mới.
Thái Hải
(Nguồn: Thanhtra.com.vn)

