Phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực là nhiệm vụ trọng tâm, xuyên suốt, đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp, toàn diện của Đảng, sự giám sát của Nhân dân. Trong quá trình đó, báo chí cách mạng giữ vai trò quan trọng trong việc phát hiện, giám sát, phản ánh sự thật; đấu tranh phản bác các thông tin sai lệch, góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong bối cảnh không gian mạng ngày càng phát triển mạnh mẽ.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm và đồng chí Lương Cường, Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư trao thưởng tặng các tác giả, nhóm tác giả đoạt giải A của Cuộc thi chính luận về bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng lần thứ tư, năm 2024. Ảnh: https://www.qdnd.vn
Phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực – nhiệm vụ đặc biệt quan trọng trong xây dựng, chỉnh đốn Đảng
Tham nhũng là một trong những nguy cơ đe dọa sự phát triển bền vững của đất nước, làm suy giảm hiệu lực, hiệu quả quản lý Nhà nước, xói mòn đạo đức công vụ, làm tổn hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của người dân, doanh nghiệp. Nghiêm trọng hơn, tham nhũng còn làm suy giảm niềm tin của Nhân dân đối với bộ máy công quyền, tạo ra những rào cản đối với tiến trình phát triển kinh tế – xã hội.
Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng xác định: “tăng cường kiểm soát quyền lực, kiên quyết, kiên trì đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, quan liêu, tiêu cực, “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” trong nội bộ.
Ngày 1/4/2026, Ban Chấp hành Trung ương đã ban hành Nghị quyết số 04-NQ/TW Hội nghị lần thứ hai Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV về tiếp tục tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực trong giai đoạn mới. Trong đó, xác định rõ mục tiêu: Kiên quyết, kiên trì phòng ngừa, kiểm soát, ngăn chặn, đẩy lùi tham nhũng, lãng phí, tiêu cực; xây dựng Đảng, hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh toàn diện, củng cố niềm tin của Nhân dân với Đảng, Nhà nước và chế độ…
Những năm qua, dưới sự lãnh đạo trực tiếp, toàn diện của Đảng, công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực đã đạt nhiều kết quả nổi bật. Hàng loạt vụ án, vụ việc nghiêm trọng được phát hiện, điều tra, truy tố, xét xử nghiêm minh; nhiều cán bộ, đảng viên vi phạm, kể cả cán bộ giữ chức vụ cao, bị xử lý theo quy định của Đảng và pháp luật của Nhà nước.
Trong đó, phải kể đến các vụ án, như: Vụ “chuyến bay giải cứu” giai đoạn 1, 2 với tổng số tiền hối lộ bị cáo buộc lên tới gần 180 tỷ đồng, liên quan đến nhiều lãnh đạo thuộc các cơ quan chủ chốt như Bộ Ngoại giao, Bộ Công an, Bộ Y tế, Bộ Giao thông vận tải (cũ)…; Vụ án xảy ra tại Công ty Việt Á liên quan đến kit test xét nghiệm Covid-19, gây thiệt hại số tiền hơn 1.235 tỷ đồng của cơ quan, tổ chức, trong đó thiệt hại cho Nhà nước là hơn 402 tỷ đồng; Vụ án xảy ra tại Tập đoàn Phúc Sơn liên quan đến hành vi đưa hối lộ cho nhiều cán bộ Nhà nước, sai phạm nghiêm trong trong hạch toán kế toán, gây thất thoát tài sản công hàng trăm tỷ đồng; vụ án gây thất thoát, lãng phí tại Dự án Bệnh viện Bạch Mai, Việt Đức cơ sở 2…
Những kết quả nêu trên thể hiện quyết tâm chính trị cao trong xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, khẳng định nguyên tắc “không có vùng cấm, không có ngoại lệ, bất kể người đó là ai”.
Thực tiễn cho thấy, đấu tranh phòng, chống tham nhũng không chỉ là cuộc đấu tranh chống lại những hành vi vi phạm pháp luật, mà còn là quá trình tự chỉnh đốn, tự đổi mới để nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng. Đây là nhiệm vụ có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, giữ vững niềm tin của Nhân dân, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc và tạo động lực cho đất nước phát triển.
Chính trong bối cảnh đó, vai trò của báo chí cách mạng càng được khẳng định rõ nét. Không chỉ là kênh thông tin chính thống, báo chí còn trở thành một lực lượng tham gia tích cực vào quá trình phát hiện, giám sát và đấu tranh với các hành vi tham nhũng, tiêu cực.
Từ phát hiện dấu hiệu vi phạm đến giám sát quá trình xử lý tham nhũng
Trong cuộc đấu tranh đầy cam go, phức tạp đó, Báo chí cách mạng Việt Nam luôn giữ vai trò là một lực lượng xung kích trên mặt trận tư tưởng, văn hóa; là cầu nối giữa Đảng, Nhà nước với Nhân dân; đồng thời là kênh thông tin quan trọng góp phần phát hiện, phản ánh, giám sát và tạo sự đồng thuận xã hội đối với công tác phòng, chống tham nhũng.
Thực tế cho thấy, không ít vụ việc liên quan đến quản lý đất đai, đầu tư công, sử dụng tài sản công được phát hiện từ phản ánh ban đầu của báo chí, sau đó trở thành căn cứ để các cơ quan chức năng kiểm tra, thanh tra và xử lý theo quy định. Thông qua những bài viết phóng sự điều tra, xác minh, phản ánh khách quan, trung thực, nhiều cơ quan báo chí đã góp phần đưa những vấn đề bất cập ra trước công luận, là kênh thông tin hữu ích để các cơ quan chức năng vào cuộc kiểm tra, thanh tra, xử lý theo quy định.
Trong quá trình xử lý các vụ án, vụ việc tham nhũng lớn, báo chí đã kịp thời thông tin đầy đủ, chính xác về chủ trương, quan điểm của Đảng; diễn biến điều tra, truy tố, xét xử; kết quả xử lý cán bộ vi phạm. Qua đó, giúp Nhân dân hiểu rõ bản chất của cuộc đấu tranh chống tham nhũng, nhận thức đầy đủ hơn về quyết tâm chính trị của Đảng trong xây dựng đội ngũ cán bộ liêm chính, trách nhiệm.
Thông tin khách quan, minh bạch của báo chí đã góp phần ngăn chặn những đồn đoán thiếu căn cứ, hạn chế tác động tiêu cực của tin giả, tin sai sự thật trên không gian mạng. Đồng thời, khẳng định rằng việc xử lý nghiêm cán bộ vi phạm không phải là biểu hiện của sự suy yếu, mà ngược lại là minh chứng cho sức mạnh tự chỉnh đốn, tự làm trong sạch của Đảng.
Bên cạnh đó, báo chí còn là diễn đàn để Nhân dân tham gia giám sát quyền lực, phản ánh tâm tư, nguyện vọng và những vấn đề bức xúc từ cơ sở. Thông qua các tác phẩm báo chí, tiếng nói của người dân được lắng nghe, góp phần phát hiện những “điểm nghẽn” trong cơ chế, chính sách và thực thi công vụ, từ đó kiến nghị các giải pháp hoàn thiện thể chế, phòng ngừa tham nhũng từ gốc.

Báo Thanh tra đạt giải ba Cuộc thi chính luận về bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng năm 2024. Ảnh: T.T
Chủ động phản bác các luận điệu xuyên tạc, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng
Phòng, chống tham nhũng là chủ trương đúng đắn, nhất quán, xuyên suốt của Đảng và Nhà nước. Tuy nhiên, các thế lực thù địch, phần tử cơ hội chính trị luôn tìm cách lợi dụng các vụ án, vụ việc tham nhũng để xuyên tạc, bóp méo bản chất của vấn đề, kích động tâm lý hoài nghi, làm suy giảm niềm tin của Nhân dân đối với Đảng và chế độ.
Các phần tử, trang mạng xã hội phản động cố tình quy kết các vụ việc tham nhũng là “bản chất của chế độ”, từ đó phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng; hoặc lợi dụng việc xử lý cán bộ vi phạm để xuyên tạc rằng công cuộc đấu tranh chống tham nhũng là biểu hiện của đấu đá nội bộ, thanh trừng phe phái.
Trước những thủ đoạn đó, báo chí cách mạng có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc cung cấp thông tin chính xác, khách quan, kịp thời; giúp Nhân dân nhận diện đúng bản chất của sự việc, không bị dẫn dắt bởi các thông tin sai lệch.
Thông qua các bài viết phân tích chuyên sâu, các tác phẩm chính luận có sức thuyết phục cao, báo chí góp phần làm rõ rằng tham nhũng là hiện tượng tồn tại ở nhiều quốc gia, nhiều chế độ khác nhau; điều quan trọng là quyết tâm chính trị và hiệu quả của công tác phòng, chống tham nhũng. Việc Đảng kiên quyết xử lý cán bộ vi phạm, kể cả cán bộ cấp cao, chính là minh chứng rõ nét cho tinh thần thượng tôn pháp luật và quyết tâm xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh.
Báo chí còn góp phần đấu tranh phản bác những thông tin bịa đặt, cắt ghép, xuyên tạc trên không gian mạng; định hướng dư luận xã hội theo hướng khách quan, tích cực; bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trước các âm mưu chống phá ngày càng tinh vi, phức tạp.
Trong những năm qua, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đã giao Bộ Thông tin và Truyền thông, nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch chỉ đạo, định hướng các cơ quan thông tấn, báo chí tăng cường thông tin, tuyên truyền đầy đủ về chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước trên môi trường mạng Internet.
Đồng thời, giao Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch chỉ đạo, thúc đẩy các cơ quan báo chí nhanh chóng “làm chủ” các tính năng, công cụ mới của Internet và mạng xã hội phục vụ cho công tác quản lý, tuyên truyền, nắm bắt dư luận xã hội, thúc đẩy truyền thông chủ động; tiếp tục đẩy mạnh tập huấn cho các bộ, ngành, địa phương xây dựng, vận hành hiệu quả hệ thống truyền thông đa phương tiện để phục vụ hoạt động truyền thông chính sách. Đặc biệt, đẩy mạnh chuyển đổi số báo chí trong công tác “sản xuất” và “phân phối” nội dung báo chí trên các môi trường truyền dẫn khác nhau.
Theo đó, nhiều cơ quan báo chí đã đưa nội dung lên các nền tảng số Facebook, YouTube, Zalo, TikTok…, tiếp cận bạn đọc, cung cấp nhiều nội dung phong phú, định hướng dư luận xã hội.
Thời gian tới, các cơ quan báo chí cần tăng cường phát huy vai trò trong việc thông tin tuyên truyền trên không gian mạng theo các mục tiêu của Chiến lược chuyển đổi số báo chí; đưa thông tin báo chí lên các nền tảng số để dẫn dắt, định hướng dư luận, đảm bảo vai trò dẫn dắt, giữ vững chủ quyền trên không gian mạng.
Không chỉ tập trung phản bác tin giả sau khi được lan truyền, báo chí cần tiếp tục chủ động sản xuất nội dung về thành tựu cách mạng, lịch sử dân tộc và đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước để lấp đầy “khoảng trống thông tin” – nơi các thế lực thù địch, phản động thường lợi dụng để gieo rắc luận điệu xuyên tạc.
Trong xu thế chuyển đổi số mạnh mẽ, để Báo chí cách mạng Việt Nam có thể hội nhập, hiện đại, chuyên nghiệp và phát huy hiệu quả vai trò là “chiến sĩ trên mặt trận thông tin”, là phương tiện, vũ khí sắc bén của Đảng, Nhà nước và Nhân dân, đồng thời là phương tiện giám sát, phản biện xã hội có hiệu quả, cần đẩy nhanh chuyển đổi số báo chí. Trọng tâm là đưa sản xuất nội dung, phân phối nội dung và mô hình kinh doanh lên môi trường số, từng bước làm chủ nền tảng phân phối nội dung trên không gian mạng; đổi mới cách làm nội dung; tích cực, chủ động truyền thông chính sách, tạo đồng thuận trong xã hội về chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước.
Mỗi tác phẩm báo chí chính xác, có chiều sâu, có cơ sở lý luận và thực tiễn vững chắc chính là một “lá chắn” hữu hiệu trên mặt trận tư tưởng, góp phần giữ vững ổn định chính trị, củng cố niềm tin xã hội và bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc.
Tốc độ không thể thay thế sự chính xác
Sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ, mạng xã hội đang tạo ra những thay đổi sâu sắc trong hoạt động báo chí. Thông tin được lan truyền với tốc độ chưa từng có, vừa mở ra nhiều cơ hội nhưng cũng đặt ra không ít thách thức đối với người làm báo.
Trong môi trường truyền thông số, áp lực cạnh tranh về tốc độ thông tin có thể dẫn đến nguy cơ đăng tải thông tin thiếu kiểm chứng, thiếu khách quan hoặc chạy theo xu hướng câu view, giật gân. Điều đó đòi hỏi đội ngũ người làm báo phải không ngừng nâng cao bản lĩnh chính trị, trình độ chuyên môn và đạo đức nghề nghiệp trong nhiệm vụ thực hiện trọng trách của người làm báo.
Đối với công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, yêu cầu này càng trở nên quan trọng hơn bởi đây là lĩnh vực nhạy cảm, liên quan trực tiếp đến danh dự, uy tín của tổ chức, cá nhân và lợi ích của Nhà nước, xã hội. Mỗi thông tin được đăng tải phải bảo đảm chính xác, khách quan, đúng bản chất sự việc; tuân thủ các quy định của pháp luật và chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp.
Người làm báo cần phát huy tinh thần dũng cảm, trách nhiệm xã hội và nghĩa vụ công dân; đồng thời giữ vững nguyên tắc khách quan, công tâm, không để bị chi phối bởi lợi ích cá nhân hoặc các áp lực bên ngoài. Chỉ khi bảo đảm tính trung thực và trách nhiệm trong hoạt động nghề nghiệp, báo chí mới thực sự phát huy vai trò là lực lượng tiên phong trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực và bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.
Kỷ niệm 101 năm Ngày Báo chí Cách mạng Việt Nam (21/6/1925 – 21/6/2026) là dịp để những người làm báo nhìn lại những đóng góp to lớn của báo chí đối với quá trình xây dựng, phát triển đất nước. Trong bối cảnh không gian mạng ngày càng trở thành mặt trận cạnh tranh thông tin khốc liệt, mỗi tác phẩm báo chí chính xác, khách quan và giàu tính thuyết phục không chỉ góp phần đấu tranh với tham nhũng, tiêu cực mà còn trực tiếp củng cố niềm tin xã hội. Đó cũng là cách Báo chí cách mạng tiếp tục thực hiện sứ mệnh đồng hành cùng Đảng, Nhà nước và Nhân dân trong sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.
Minh Nguyệt
(Nguồn: Thanhtra.com.vn)
Trong bối cảnh cải cách thủ tục hành chính và nâng cao chất lượng dịch vụ công đang trở thành yêu cầu cấp thiết, thanh tra công vụ được xác định là công cụ quan trọng để kiểm soát việc thực thi nhiệm vụ của cán bộ, công chức, viên chức. Việc nghiên cứu, tổng kết thực tiễn nhằm nhận diện và gỡ bỏ những “điểm nghẽn” trong hoạt động này được kỳ vọng sẽ góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước, phục vụ tốt hơn người dân và doanh nghiệp.

Cải cách hành chính đặt ra yêu cầu mới với công tác thanh tra công vụ
Những năm gần đây, Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách lớn nhằm thúc đẩy cải cách thủ tục hành chính (TTHC), đơn giản hóa quy trình giải quyết hồ sơ và nâng cao chất lượng dịch vụ công.
Đặc biệt, trong Chương trình tổng thể cải cách hành chính Nhà nước giai đoạn 2021 – 2030, cải cách TTHC và hiện đại hóa nền hành chính được xác định là nhiệm vụ then chốt. Các nghị quyết, chỉ thị của Bộ Chính trị, Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ đều nhấn mạnh yêu cầu cắt giảm thời gian xử lý, chi phí tuân thủ, điều kiện kinh doanh; đồng thời đẩy mạnh chuyển đổi số và cung cấp dịch vụ công trực tuyến toàn trình.
Tại đề tài khoa học “Nghiên cứu, tổng kết thực tiễn thanh tra thực hiện công vụ của cán bộ, công chức, viên chức trong giải quyết thủ tục hành chính, cung cấp dịch vụ công cho người dân, doanh nghiệp” do ThS Phạm Thị Thu Hiền, Phó Hiệu trưởng Trường Cán bộ Thanh tra làm chủ nhiệm được Hội đồng tư vấn tuyển chọn nhiệm vụ khoa học và công nghệ của Thanh tra Chính phủ lựa chọn triển khai nghiên cứu nhấn mạnh, việc giải quyết TTHC nhanh chóng, thuận lợi không chỉ giúp giảm chi phí cho người dân và doanh nghiệp mà còn tạo dựng niềm tin vào bộ máy hành chính, thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội.
Cùng với đó, việc sắp xếp tổ chức bộ máy, xây dựng mô hình chính quyền địa phương hai cấp và tăng cường phân cấp, phân quyền đang đặt ra nhiều yêu cầu mới đối với hoạt động quản lý nhà nước nói chung và công tác thanh tra nói riêng.
Trong bối cảnh này, thanh tra thực hiện công vụ đối với cán bộ, công chức, viên chức trong giải quyết TTHC và cung cấp dịch vụ công có vai trò đặc biệt quan trọng. Đây là công cụ kiểm soát việc thực thi chính sách, pháp luật; kịp thời phát hiện những bất cập, hạn chế trong tổ chức thực hiện để chấn chỉnh, xử lý và kiến nghị hoàn thiện cơ chế, chính sách.
Hiệu quả sau thanh tra công vụ vẫn còn khoảng trống
Thực tiễn cho thấy, trong giai đoạn 2023 – 2024, Thanh tra Chính phủ và cơ quan thanh tra các cấp đã triển khai nhiều cuộc thanh tra liên quan đến việc thực hiện công vụ trong giải quyết TTHC và cung cấp dịch vụ công.
Qua thanh tra, nhiều tồn tại, hạn chế đã được phát hiện, qua đó góp phần nâng cao kỷ luật, kỷ cương hành chính, chấn chỉnh tác phong thực thi công vụ của cán bộ, công chức, viên chức.
Nhiều kiến nghị thanh tra đã giúp các bộ, ngành, địa phương rà soát, sửa đổi quy trình xử lý hồ sơ, tăng cường trách nhiệm của người đứng đầu và nâng cao chất lượng phục vụ.
Tuy nhiên, theo kết quả tổng hợp ban đầu của đề tài, vẫn còn không ít hạn chế mang tính hệ thống.
Một số bộ, ngành, địa phương còn chậm ban hành hoặc cập nhật văn bản triển khai cải cách hành chính và kiểm soát TTHC. Việc công khai, minh bạch thủ tục ở một số nơi chưa kịp thời, chưa đầy đủ.
Tình trạng hồ sơ giải quyết chậm hạn, quá hạn vẫn xảy ra ở một số lĩnh vực. Tỷ lệ số hóa hồ sơ và khai thác dữ liệu điện tử chưa đạt kỳ vọng; khoảng cách giữa tỷ lệ dịch vụ công trực tuyến sẵn sàng và tỷ lệ phát sinh hồ sơ trực tuyến thực tế còn khá lớn.
Theo bà Phạm Thị Thu Hiền, một trong những bất cập lớn hiện nay là nhiều kinh nghiệm thực tiễn từ các cuộc thanh tra vẫn chưa được hệ thống hóa thành quy trình nghiệp vụ thống nhất.
Mỗi cuộc thanh tra thường được tiến hành độc lập; những mô hình hay, cách làm hiệu quả chưa được tổng hợp đầy đủ để chia sẻ, nhân rộng trong toàn ngành.
Bên cạnh đó, việc đánh giá hiệu quả sau thanh tra công vụ trong giải quyết thủ tục hành chính và cung cấp dịch vụ công vẫn còn là khoảng trống. Nhiều kết luận, kiến nghị thanh tra đã được ban hành nhưng chưa có cơ chế theo dõi, đo lường toàn diện mức độ chuyển biến trong thực tiễn.
Tổng kết thực tiễn để hoàn thiện nghiệp vụ thanh tra
Theo chủ nhiệm đề tài, việc nghiên cứu, tổng kết thực tiễn thanh tra thực hiện công vụ trong giải quyết TTHC và cung cấp dịch vụ công hiện nay có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn.
Trước hết, đề tài sẽ tập trung đánh giá toàn diện thực trạng hoạt động thanh tra trong lĩnh vực này; phân tích những kết quả đạt được, chỉ ra các hạn chế, tồn tại và nguyên nhân.
Đồng thời, nhóm nghiên cứu sẽ làm rõ những yêu cầu mới đặt ra đối với công tác thanh tra trong bối cảnh cải cách hành chính gắn với chuyển đổi số, tinh gọn bộ máy và đổi mới mô hình tổ chức hệ thống cơ quan thanh tra.
Một nội dung quan trọng khác là tổng kết, khái quát hóa kinh nghiệm thực tiễn từ các cuộc thanh tra công vụ của cán bộ, công chức, viên chức trong giải quyết thủ tục hành chính, cung cấp dịch vụ công cho người dân, doanh nghiệp đã triển khai để xây dựng quy trình nghiệp vụ mang tính thống nhất, bài bản và có thể áp dụng rộng rãi trong toàn ngành.
Theo bà Hiền, mục tiêu cuối cùng của đề tài không chỉ dừng lại ở việc tổng kết thực trạng mà còn hướng tới xây dựng các giải pháp thiết thực nhằm nâng cao hiệu quả thanh tra công vụ.
Trong đó, đáng chú ý là các giải pháp về hoàn thiện thể chế; đổi mới phương pháp thanh tra theo hướng tăng cường ứng dụng công nghệ và dữ liệu số; nâng cao năng lực chuyên môn cho đội ngũ thanh tra viên; đồng thời hoàn thiện cơ chế giám sát việc thực hiện kết luận, kiến nghị sau thanh tra.
Kết quả nghiên cứu được kỳ vọng sẽ góp phần hình thành cơ sở khoa học và thực tiễn quan trọng để nâng cao chất lượng thanh tra thực hiện công vụ trong giải quyết TTHC và cung cấp dịch vụ công, góp phần xây dựng nền hành chính chuyên nghiệp, minh bạch, hiệu lực, hiệu quả, lấy người dân và doanh nghiệp làm trung tâm phục vụ; đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong giai đoạn mới.
Thái Hải
(Nguồn: Thanhtra.com.vn)
Chiều 19/6, tại Hà Nội, Đảng ủy Chính phủ tổ chức Hội nghị tổng kết, đánh giá kết quả thực hiện Quyết định số 23-QĐ/TW, ngày 30/7/2021 của Bộ Chính trị về việc ban hành Quy chế công tác dân vận của hệ thống chính trị.
Báo cáo kết quả thực hiện, đồng chí Lại Xuân Lâm, Phó Bí thư Đảng ủy Chính phủ cho biết, trong 5 năm qua, dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của Ban cán sự đảng Chính phủ, Đảng ủy Chính phủ và Ban cán sự đảng, đảng ủy các bộ, ngành trong việc tổ chức triển khai thực hiện Quyết định số 23-QĐ/TW và các văn bản chỉ đạo của Đảng, nhà nước về công tác dân vận, công tác dân vận tại Đảng bộ Chính phủ đã đạt được nhiều kết quả tích cực.
Việc kiện toàn tổ chức bộ máy, xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt tham mưu thực hiện công tác dân vận được Đảng ủy Chính phủ và các đảng ủy trực thuộc thường xuyên quan tâm, từng bước nâng cao chuyên môn nghiệp vụ về công tác dân vận, góp phần tăng cường sức chiến đấu của tổ chức đảng và chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên… Đến nay, 100% các đảng uỷ cấp trên cơ sở thuộc Đảng uỷ Chính phủ đã thành lập Ban Tuyên giáo và Dân vận, đồng thời phân công cán bộ phụ trách, cán bộ trực tiếp tham mưu thực hiện công tác dân vận. 16/16 đảng uỷ trực thuộc Đảng ủy Chính phủ đã phân công đồng chí thường trực hoặc thường vụ, cấp ủy viên trực tiếp phụ trách công tác dân vận.
Cải cách hành chính, nhất là cải cách thủ tục hành chính đạt hiệu quả cao, hầu hết các mục tiêu, chỉ tiêu đơn giản, cắt giảm thủ tục hành chính đều đạt tỷ lệ theo đúng kế hoạch; ứng dụng công nghệ thông tin, cải cách chế độ công vụ, công chức, đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, thực hành tiết kiệm được thực hiện quyết liệt; công tác tiếp công dân, đối thoại trực tiếp với người lao động, giải quyết kịp thời đơn thư khiếu nại, tố cáo của công dân, nhất là các vụ việc tồn đọng, kéo dài được chỉ đạo thực hiện hiệu quả, đúng quy định của pháp luật.
Các phong trào thi đua yêu nước, “dân vận khéo” được đẩy mạnh, có sức lan tỏa mạnh mẽ, khơi dậy tinh thần yêu nước, khát vọng phát triển của toàn dân tộc và sức sáng tạo của mỗi tập thể, cá nhân trên tất cả các lĩnh vực.
Đổi mới mạnh mẽ phương thức tiến hành công tác dân vận trong thời đại số
Sau khi nghe Báo cáo tổng kết và các ý kiến tham luận tâm huyết, trách nhiệm của các đại biểu, đồng chí Nguyễn Thị Tuyến, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Bí thư Đảng ủy Chính phủ cơ bản thống nhất với những đánh giá, nhận định và phương hướng, nhiệm vụ đã được trình bày.
Đồng chí Nguyễn Thị Tuyến khẳng định, việc Bộ Chính trị ban hành Quyết định số 23-QĐ/TW đã tạo cơ sở chính trị quan trọng để tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với công tác dân vận trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và đẩy mạnh hội nhập quốc tế.
Đối với Đảng bộ Chính phủ, việc thực hiện Quyết định số 23-QĐ/TW có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Bởi lẽ, Chính phủ và các bộ, ngành là nơi trực tiếp thể chế hóa chủ trương, đường lối của Đảng thành chính sách, pháp luật và tổ chức thực hiện trên phạm vi cả nước. Vì vậy, hiệu quả công tác dân vận không chỉ được thể hiện qua hoạt động tuyên truyền, vận động mà còn được đo bằng chất lượng thể chế, chính sách; bằng mức độ hài lòng của người dân, doanh nghiệp; bằng hiệu quả phục vụ của nền hành chính nhà nước và kết quả giải quyết những vấn đề thiết thực mà nhân dân quan tâm. Qua 05 năm triển khai thực hiện Quyết định số 23-QĐ/TW, công tác dân vận trong Đảng bộ Chính phủ đã đạt nhiều kết quả quan trọng.
Đồng chí Nguyễn Thị Tuyến cho hay, đất nước ta đang bước vào giai đoạn phát triển mới với nhiều thời cơ, thuận lợi nhưng cũng đặt ra không ít khó khăn, thách thức. Cuộc cách mạng về sắp xếp, tinh gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị; việc tổ chức chính quyền địa phương hai cấp; yêu cầu xây dựng nền hành chính hiện đại, phục vụ; việc triển khai Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia đang đặt ra những yêu cầu mới đối với công tác dân vận.
Để tiếp tục thực hiện hiệu quả Quyết định số 23-QĐ/TW trong thời gian tới, đồng chí Nguyễn Thị Tuyến lưu ý công tác dân vận của Đảng bộ Chính phủ cần được thực hiện theo phương châm: lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm phục vụ; lấy sự hài lòng của nhân dân làm thước đo; lấy chuyển đổi số làm động lực đổi mới phương thức dân vận.
Đồng thời, Phó Bí thư Đảng ủy Chính phủ đề nghị tiếp tục nâng cao nhận thức và trách nhiệm của các cấp ủy, tổ chức đảng, người đứng đầu, cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức đối với công tác dân vận; xây dựng nền hành chính phục vụ hiện đại, chuyên nghiệp, công khai, minh bạch, lấy người dân và doanh nghiệp làm trung tâm. Gắn chặt công tác dân vận với cải cách hành chính, phân cấp, phân quyền, chuyển đổi số và nâng cao chất lượng phục vụ Nhân dân.
Nâng cao chất lượng công tác xây dựng và hoàn thiện thể chế, chính sách, pháp luật; đổi mới mạnh mẽ phương thức tiến hành công tác dân vận trong thời đại số. Chủ động ứng dụng khoa học, công nghệ, dữ liệu số, trí tuệ nhân tạo và các nền tảng số trong tiếp nhận, xử lý phản ánh, kiến nghị của người dân; nâng cao năng lực nắm bắt, dự báo dư luận xã hội trên môi trường mạng; kịp thời cung cấp thông tin chính thống, chính xác, góp phần củng cố niềm tin và tạo sự đồng thuận xã hội.
Tiếp tục phát huy quyền làm chủ của Nhân dân; thực hiện nghiêm trách nhiệm tiếp công dân, đối thoại với Nhân dân và người lao động; giải quyết kịp thời các kiến nghị, phản ánh, khiếu nại, tố cáo ngay từ cơ sở, không để kéo dài, phát sinh điểm nóng. Cùng với đó, chăm lo xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức có bản lĩnh chính trị vững vàng, đạo đức công vụ trong sáng, phong cách làm việc chuyên nghiệp, gần dân, trọng dân, hiểu dân, học dân và có trách nhiệm với dân; coi sự hài lòng của người dân là thước đo quan trọng trong đánh giá chất lượng thực thi công vụ./.
Trong nhiều năm, công tác tiếp công dân và giải quyết khiếu nại, tố cáo thường được nhìn nhận như một hoạt động hành chính nhằm xử lý các vụ việc phát sinh. Nhưng khi đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới, yêu cầu đặt ra không chỉ là giải quyết đơn thư đúng quy định mà còn phải nhận diện sớm nguy cơ xung đột, kiểm soát quyền lực và củng cố niềm tin xã hội. Tại Hội thảo khoa học quốc gia về thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo, phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực trong kỷ nguyên mới, TS. Trần Đăng Vinh, Vụ trưởng Vụ Pháp chế (Thanh tra Chính phủ) đã phác thảo một tầm nhìn đáng chú ý: chuyển mạnh từ tư duy xử lý vụ việc đơn lẻ sang tư duy quản trị rủi ro xã hội dựa trên dữ liệu, đối thoại và trách nhiệm giải trình.
TS. Trần Đăng Vinh, Vụ trưởng Vụ Pháp chế, Thanh tra Chính phủ. Ảnh:VL
Từ “tiếp nhận đơn thư” đến thiết chế của nền quản trị hiện đại
Theo TS. Trần Đăng Vinh, công tác tiếp công dân và giải quyết khiếu nại, tố cáo không chỉ là hoạt động bảo đảm quyền hiến định của công dân mà đang trở thành một thiết chế quan trọng của nền quản trị quốc gia hiện đại. Đây là kênh kết nối trực tiếp giữa Nhà nước với Nhân dân, đồng thời là công cụ phản ánh chất lượng điều hành, hiệu quả thực thi chính sách và mức độ hài lòng của người dân đối với bộ máy công quyền.
Cách tiếp cận này cho thấy một sự thay đổi đáng kể về triết lý hành động. Nếu trước đây trọng tâm là tiếp nhận và xử lý từng vụ việc cụ thể, thì trong giai đoạn mới, yêu cầu đặt ra là phải nhìn các vụ việc như những tín hiệu cảnh báo về những vấn đề tồn tại trong quản lý nhà nước.
Nói cách khác, khiếu nại, tố cáo không chỉ là hệ quả của một quyết định hành chính hay một tranh chấp cụ thể. Đó còn là nguồn dữ liệu quan trọng để nhận diện những bất cập của cơ chế, chính sách và quá trình tổ chức thực hiện.

TS. Nguyễn Ngọc Bích, Trưởng Bộ môn Luật Hành chính, Trường Đại học Luật Hà Nội. Ảnh:MN
Quan điểm này cũng nhận được sự đồng thuận từ nhiều chuyên gia tham dự hội thảo. PGS.TS. Trương Thị Hồng Hà, Phó Vụ trưởng Vụ Nghiên cứu – Tổng hợp, Ban Nội chính Trung ương. Nhìn nhận công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo như một “kênh cảm biến chính sách”, giúp cơ quan quản lý phát hiện sớm các nguy cơ xung đột xã hội. Trong khi đó, ThS. Nguyễn Văn Lương cho rằng hoạt động thanh tra và giải quyết khiếu nại, tố cáo cần chuyển trọng tâm từ xử lý vi phạm sang phòng ngừa, cảnh báo và quản trị rủi ro.
Từ góc độ quản trị công hiện đại, hiệu quả của công tác tiếp dân không nên chỉ được đo bằng số lượng buổi tiếp dân hay số vụ việc được giải quyết. Quan trọng hơn là khả năng tạo đồng thuận xã hội, giảm phát sinh khiếu kiện kéo dài và nâng cao niềm tin của người dân đối với chính quyền.
Dữ liệu số sẽ thay đổi cách tiếp công dân và giải quyết khiếu nại
Một trong những điểm nhấn nổi bật trong tham luận của TS. Trần Đăng Vinh là định hướng xây dựng hệ sinh thái dữ liệu liên thông quốc gia về tiếp công dân, xử lý đơn và giải quyết khiếu nại, tố cáo.
Theo đó, dữ liệu cần được kết nối thông suốt từ cấp xã, cấp tỉnh đến Trung ương, hình thành một hệ thống thống nhất, cập nhật theo thời gian thực. Khi đó, cơ quan quản lý không chỉ biết một vụ việc đang được xử lý ở đâu mà còn có thể theo dõi tiến độ, phát hiện điểm nghẽn và đánh giá trách nhiệm của từng cấp, từng cơ quan.

Các diễn giả tại Hội thảo khoa học quốc gia. Ảnh: VL
Ý tưởng này có sự tương đồng với tham luận của ThS. Nguyễn Hồng Điệp – Trưởng Ban Tiếp công dân Trung ương (Thanh tra Chính phủ) về nền tảng quản lý công tác khiếu nại, tố cáo quốc gia. Theo ông, chuyển đổi số trong lĩnh vực này không đơn thuần là số hóa hồ sơ mà là chuyển từ tư duy lưu trữ sang tư duy quản trị dữ liệu.
Xa hơn, TS. Trần Văn Long, Phó Vụ trưởng Vụ Tổ chức cán bộ, Thanh tra Chính phủ đề xuất khai thác dữ liệu điện tử để nhận diện dấu hiệu bất thường, thay vì chỉ kiểm tra hồ sơ theo phương thức truyền thống. Trong khi đó, GS.TS Vũ Công Giao – Trường Đại học Luật Hà Nội cho rằng AI và Big Data có thể hỗ trợ phân tích các mô hình hành vi, nhận diện xu hướng khiếu kiện và cảnh báo sớm những nguy cơ phát sinh điểm nóng.
Nếu được triển khai đồng bộ, hệ thống dữ liệu liên thông sẽ giúp ngành Thanh tra chuyển từ trạng thái “phản ứng” sang trạng thái “chủ động”. Thay vì chờ khiếu kiện xảy ra mới xử lý, cơ quan quản lý có thể dự báo những khu vực, lĩnh vực hoặc dự án có nguy cơ phát sinh tranh chấp để kịp thời điều chỉnh chính sách và phương thức quản lý.
Đây cũng là nền tảng quan trọng để hình thành mô hình tiếp công dân trực tuyến, giảm khoảng cách địa lý, tiết kiệm thời gian và tăng tính minh bạch trong quá trình giải quyết vụ việc.

TS Trần Đăng Vinh – Vụ trưởng Vụ pháp chế Thanh tra Chính phủ chụp ảnh lưu niệm với đồng chủ trì hội thảo. Ảnh: VL
Trách nhiệm người đứng đầu và nghệ thuật đối thoại từ cơ sở
Dù công nghệ có phát triển đến đâu, TS. Trần Đăng Vinh cho rằng yếu tố quyết định vẫn là con người, đặc biệt là trách nhiệm của người đứng đầu.
Trong nhiều trường hợp, một cuộc đối thoại trực tiếp, thẳng thắn và cầu thị có thể tháo gỡ những khúc mắc tồn tại nhiều năm. Ngược lại, sự chậm trễ, né tránh hoặc thiếu trách nhiệm rất dễ khiến những mâu thuẫn nhỏ trở thành khiếu kiện kéo dài, thậm chí phát sinh điểm nóng về an ninh, trật tự.
Từ thực tiễn đó, ông đề xuất tiếp tục hoàn thiện cơ chế pháp lý theo hướng xác định rõ trách nhiệm của người đứng đầu cấp ủy, chính quyền trong công tác tiếp dân và giải quyết khiếu nại, tố cáo.

Hai đồng chủ trì Trường cán bộ Thanh tra và Trường đại học Luật Hà Nội chụp ảnh lưu niệm bế mạc hội thảo. Ảnh: VL
Quan điểm này cũng được TS. Nguyễn Huy Hoàng, Phó Hiệu trưởng Trường Cán bộ thanh tra đồng tình khi đề xuất xây dựng hệ thống tiêu chí đánh giá trách nhiệm giải trình của người đứng đầu trên nền tảng dữ liệu số. Trong khi đó, các nghiên cứu của PGS.TS Đoàn Thị Tố Uyên và ThS. Nguyễn Duy Nghĩa đến từ Trường Đại học Luật Hà Nội đều cho thấy đối thoại trực tiếp tại cơ sở là giải pháp hiệu quả để giảm căng thẳng, tạo đồng thuận và hạn chế khiếu kiện vượt cấp.
Quan trọng hơn, cùng với việc đề cao trách nhiệm, cần có cơ chế bảo vệ những cán bộ dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm khi xử lý các vụ việc phức tạp, tồn đọng kéo dài. Bởi trong nhiều trường hợp, giải quyết dứt điểm một vụ việc không chỉ cần đúng pháp luật mà còn cần sự linh hoạt, bản lĩnh và tinh thần phụng sự Nhân dân.
Tầm nhìn mà TS. Trần Đăng Vinh đưa ra không dừng lại ở việc hoàn thiện quy trình tiếp dân hay giải quyết khiếu nại, tố cáo. Đó là hình ảnh về một hệ thống quản trị hiện đại, nơi dữ liệu được kết nối, trách nhiệm được lượng hóa và người dân thực sự trở thành trung tâm của nền hành chính phục vụ.
Khi mỗi phản ánh của người dân được lắng nghe, mỗi vụ việc được giải quyết minh bạch và mỗi nguy cơ xung đột được nhận diện từ sớm, đó không chỉ là thành công của ngành Thanh tra mà còn là nền tảng để củng cố “thế trận lòng dân” – nguồn lực quan trọng nhất cho sự phát triển bền vững của đất nước trong kỷ nguyên mới.
Minh Nghĩa – Vũ Linh
(Nguồn: Thanhtra.com.vn)
Khi Việt Nam bước vào giai đoạn đổi mới quản trị quốc gia theo hướng hiện đại, hiệu quả và vận hành mô hình chính quyền địa phương mới, ngành Thanh tra cũng đứng trước một yêu cầu chưa từng có: không chỉ phát hiện, xử lý vi phạm mà còn phải trở thành một thiết chế góp phần phòng ngừa rủi ro, kiểm soát quyền lực và hoàn thiện thể chế.

Toàn cảnh Hội thảo khoa học quốc gia về thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo, phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực trong kỷ nguyên mới. Ảnh: MN
Tại Hội thảo khoa học quốc gia về thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo, phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực trong kỷ nguyên mới diễn ra tại Nha Trang ngày 18-19/6/2026, nhiều chuyên gia đã cùng chỉ ra rằng, đổi mới phương thức hoạt động thanh tra không còn là lựa chọn, mà là yêu cầu tất yếu của quá trình hiện đại hóa nền quản trị quốc gia.
Từ tư duy quản lý hành chính sang tư duy quản trị quốc gia
Trong tham luận dẫn đề của hội thảo, ThS. Nguyễn Văn Lương, Hiệu trưởng Trường Cán bộ Thanh tra cho rằng, những thay đổi của mô hình quản trị quốc gia đang đặt ra các yêu cầu hoàn toàn mới đối với hoạt động của các cơ quan nhà nước. Nếu trước đây trọng tâm là thực hiện đúng quy định và bảo đảm trật tự quản lý hành chính, thì hiện nay mục tiêu lớn hơn là tạo lập môi trường phát triển thuận lợi, sử dụng hiệu quả nguồn lực và nâng cao chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp.
Sự thay đổi đó kéo theo hàng loạt yêu cầu mới: tăng tính công khai, minh bạch; nâng cao trách nhiệm giải trình; quản trị dựa trên dữ liệu; thúc đẩy sự tham gia của người dân và tăng cường kiểm soát quyền lực gắn với phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực.
Nhìn dưới góc độ này, hoạt động thanh tra không thể tiếp tục vận hành chủ yếu theo tư duy “hậu kiểm”, phát hiện sai phạm sau khi sự việc đã xảy ra. Nhiều chuyên gia tại hội thảo cùng chung nhận định rằng, nếu chỉ tập trung xử lý vi phạm, thanh tra sẽ luôn ở thế đi sau thực tiễn.
Theo PGS.TS Nguyễn Văn Quang, Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Luật Hà Nội, khi phân tích xu hướng quản trị công hiện đại cũng nhấn mạnh yêu cầu chuyển từ mô hình quản lý sang mô hình quản trị, trong đó dữ liệu, minh bạch và trách nhiệm giải trình trở thành những yếu tố cốt lõi.
Điều đó đồng nghĩa vai trò của thanh tra phải được mở rộng. Không chỉ kiểm tra tính tuân thủ pháp luật, thanh tra còn phải tham gia nhận diện rủi ro, cảnh báo nguy cơ và góp phần hoàn thiện chính sách trước khi sai phạm xảy ra.

Ths Nguyễn Văn Lương, Hiệu trưởng Trường Cán bộ Thanh tra đề xuất chuyển trọng tâm hoạt động thanh tra từ “xử lý vi phạm” sang “phòng ngừa từ sớm, từ xa” trên cơ sở quản trị rủi ro và khai thác dữ liệu. Ảnh: MN
Thanh tra không chỉ xử lý vi phạm mà phải phòng ngừa từ sớm, từ xa
Một trong những điểm nhấn đáng chú ý nhất trong tham luận của ThS. Nguyễn Văn Lương là đề xuất chuyển trọng tâm hoạt động thanh tra từ “xử lý vi phạm” sang “phòng ngừa từ sớm, từ xa” trên cơ sở quản trị rủi ro và khai thác dữ liệu.
Theo đó, việc xây dựng kế hoạch thanh tra không nên dựa chủ yếu vào cơ chế phân công hành chính hoặc phản ánh sau khi sự việc phát sinh, mà phải dựa trên phân tích dữ liệu, đánh giá mức độ rủi ro và xác định chính xác các lĩnh vực, địa bàn, dự án có nguy cơ vi phạm cao.
Cách tiếp cận này cũng được TS. Đinh Văn Minh – nguyên Vụ trưởng Vụ Pháp chế, Thanh tra Chính phủ và nhiều chuyên gia về kiểm soát quyền lực đồng tình khi cho rằng, hiệu quả của thanh tra trong giai đoạn mới không nên chỉ đo bằng số cuộc thanh tra, số tiền thu hồi hay số vụ việc xử lý. Quan trọng hơn là khả năng phòng ngừa sai phạm, bịt kín các kẽ hở trong quản lý và giảm thiểu rủi ro cho hệ thống.
Đây là sự thay đổi mang tính bản chất.

TS. Đinh Văn Minh – nguyên Vụ trưởng Vụ Pháp chế, Thanh tra Chính phủ. Ảnh: MN
Nếu trước đây thanh tra được nhìn nhận như công cụ xử lý sai phạm thì trong mô hình mới, thanh tra phải trở thành thiết chế cảnh báo sớm. Một dự án đầu tư công có dấu hiệu chậm tiến độ, một cơ sở dữ liệu đất đai xuất hiện bất thường, hay một hệ thống đấu thầu điện tử phát sinh chỉ số rủi ro cao đều phải được nhận diện trước khi trở thành vụ việc thanh tra.
Ở góc độ rộng hơn, thanh tra không chỉ phát hiện vi phạm mà còn phải chỉ ra nguyên nhân phát sinh vi phạm. Giá trị lớn nhất của kết luận thanh tra không phải ở việc xác định ai sai, mà ở khả năng kiến nghị sửa đổi cơ chế, chính sách để ngăn chặn những sai phạm tương tự trong tương lai.
Dữ liệu và công nghệ sẽ định hình diện mạo mới của ngành Thanh tra
Nếu quản trị rủi ro là thay đổi về tư duy thì chuyển đổi số chính là thay đổi về công cụ thực hiện.
Trong nhiều tham luận tại hội thảo, đặc biệt là các nghiên cứu của Ths. Phạm Trần Tuấn (Trưởng phòng Hành chính – Tổ chức, Trường Cán bộ Thanh tra) và các chuyên gia về thanh tra số, dữ liệu được xem là nền tảng của phương thức thanh tra mới.

Các đại biểu, diễn giả tại hội thảo khoa học quốc gia. Ảnh: MN
Theo đề xuất của ThS. Nguyễn Văn Lương, cần xây dựng trung tâm dữ liệu dùng chung và liên thông cho ngành Thanh tra; thiết lập cơ chế chia sẻ dữ liệu bắt buộc giữa các cơ quan như thuế, hải quan, đất đai, đấu thầu và cơ quan thanh tra. Khi đó, hệ thống có thể tự động phân tích dữ liệu, nhận diện các dấu hiệu bất thường và cảnh báo những “điểm đỏ” rủi ro.
Thay vì thanh tra diện rộng, cơ quan thanh tra có thể tập trung nguồn lực vào những địa chỉ có nguy cơ sai phạm cao nhất.
Một điểm đáng chú ý khác là khái niệm “thanh tra viên công nghệ” lần đầu tiên được đặt ra một cách rõ nét. Trong tương lai, thanh tra viên không chỉ cần kiến thức pháp luật và nghiệp vụ truyền thống, mà còn phải có khả năng phân tích dữ liệu, hiểu biết về tài chính số, an ninh mạng và công nghệ thông tin.

Đại biểu Trường Đại học luật Hà Nội tại hội thảo. Ảnh: VL
Điều này phản ánh một thực tế rằng, sai phạm trong thời đại số cũng đang thay đổi nhanh chóng. Khi giao dịch điện tử, tài sản số và dữ liệu lớn trở thành một phần của đời sống kinh tế – xã hội, năng lực phát hiện và kiểm soát rủi ro của ngành Thanh tra cũng phải được nâng lên tương ứng.
Từ góc nhìn quản trị quốc gia, đổi mới phương thức hoạt động thanh tra thực chất là một phần của quá trình hiện đại hóa bộ máy nhà nước. Khi dữ liệu trở thành nguồn lực quản trị, khi trách nhiệm giải trình được đặt lên hàng đầu và khi kiểm soát quyền lực được thực hiện bằng những công cụ hiện đại hơn, ngành Thanh tra sẽ không chỉ là cơ quan phát hiện sai phạm mà còn là một thiết chế góp phần kiến tạo nền quản trị minh bạch, hiệu quả và phát triển bền vững.
Đó cũng là thách thức, nhưng đồng thời là cơ hội để ngành Thanh tra chuyển mình từ một cơ quan kiểm tra, giám sát truyền thống trở thành một chủ thể quan trọng trong kiến trúc quản trị quốc gia của Việt Nam trong giai đoạn mới.
Trong dòng chảy đổi mới của ngành Thanh tra, việc xử lý các vụ khiếu nại, tố cáo tồn đọng, phức tạp, kéo dài được xem là một trong những phép thử lớn nhất đối với năng lực quản trị và hiệu quả thực thi công vụ. Tại Hội thảo khoa học quốc gia về thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo, phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực trong kỷ nguyên mới diễn ra tại Nha Trang ngày 18-19/6/2026, ThS. Phạm Hùng, Cục trưởng Cục I (Thanh tra Chính phủ) đã chia sẻ những kết quả bước đầu trong quá trình tháo gỡ 210 vụ việc phức tạp trên phạm vi cả nước.
ThS. Phạm Hùng, Cục trưởng Cục I, Thanh tra Chính phủ. Ảnh: MN
Nhận diện “vùng rủi ro” từ 210 vụ việc kéo dài
Theo ThS. Phạm Hùng, danh mục 210 vụ việc phức tạp về an ninh, trật tự được xác lập trên cơ sở rà soát, phối hợp giữa Thanh tra Chính phủ và Bộ Công an. Phần lớn đều là những vụ việc tồn tại qua nhiều năm, thậm chí nhiều giai đoạn lịch sử, liên quan đến quản lý đất đai, thu hồi đất, bồi thường, giải phóng mặt bằng và sự thay đổi của chính sách pháp luật qua từng thời kỳ.
Tại địa bàn do Cục I phụ trách, có 41 vụ việc phát sinh tại 11 địa phương. Điểm chung của nhóm vụ việc này là khiếu kiện kéo dài, nhiều lần vượt cấp lên Trung ương, có sự tham gia của các đoàn đông người và tiềm ẩn nguy cơ ảnh hưởng đến an ninh, trật tự nếu không được xử lý kịp thời.
Từ thực tiễn đó, ngành Thanh tra không tiếp cận theo hướng giải quyết từng hồ sơ riêng lẻ mà đặt các vụ việc trong một chương trình rà soát tổng thể, có phân loại, xác định mức độ rủi ro và cơ chế xử lý phù hợp. Việc nhận diện đúng bản chất vấn đề được xem là bước đầu tiên để chuyển từ cách xử lý tình huống sang quản trị rủi ro một cách chủ động.

Ths Phạm Mạnh Hùng cho biết, 210 vụ việc phức tạp về an ninh, trật tự được xác lập trên cơ sở rà soát, phối hợp giữa Thanh tra Chính phủ và Bộ Công an. Ảnh: VL
Bản đồ trách nhiệm nhiều tầng
Một trong những điểm đáng chú ý của Kế hoạch số 329/KH-TTCP là thiết lập cơ chế trách nhiệm liên thông giữa Trung ương và địa phương, khắc phục tình trạng né tránh hoặc đùn đẩy trách nhiệm trong xử lý các vụ việc phức tạp.
Tại khu vực phía Bắc, Cục I cùng Cục An ninh nội địa (Bộ Công an) trực tiếp kiểm tra, rà soát 10 vụ việc trọng điểm tại 7 địa phương. Đây là những trường hợp có tính chất đặc biệt phức tạp, cần sự tham gia trực tiếp của cơ quan Trung ương để thống nhất phương án xử lý.
Đối với 31 vụ việc còn lại, trách nhiệm được giao cho địa phương chủ động rà soát, giải quyết dưới sự theo dõi, hướng dẫn và đôn đốc thường xuyên của Tổ công tác.
Điểm nổi bật trong cách làm của Cục I là quy trình rà soát nhiều bước, từ nghiên cứu hồ sơ, kiểm tra thực địa, làm việc với chính quyền địa phương, tham gia đối thoại với công dân đến tổng hợp báo cáo, đề xuất phương án xử lý. Cách tiếp cận này giúp việc giải quyết không chỉ dựa trên hồ sơ giấy tờ mà còn đặt trong bối cảnh thực tiễn của từng vụ việc.
Kết quả bước đầu cho thấy, toàn bộ 10 vụ việc trọng điểm đã hoàn thành rà soát trực tiếp và thống nhất được hướng xử lý. Trong nhóm 31 vụ việc giao địa phương giải quyết, đến nay chỉ còn 5 vụ đang tiếp tục xử lý.
Những con số đó cho thấy hiệu quả của cơ chế phối hợp nhiều tầng, trong đó Trung ương giữ vai trò điều phối, giám sát, còn địa phương là chủ thể trực tiếp tổ chức thực hiện và chịu trách nhiệm về kết quả cuối cùng.

Các đại biểu tham dự hội thảo khoa học quốc gia. Ảnh: VL
Từ khép lại hồ sơ đến củng cố niềm tin
Đến ngày 1/5/2026, trong tổng số 210 vụ việc trên phạm vi cả nước, đã có 107 vụ được giải quyết dứt điểm; 78 vụ khác đang được triển khai theo phương án đã thống nhất.
Tuy nhiên, theo ThS. Phạm Hùng, giải quyết một vụ việc không đồng nghĩa với việc mọi vấn đề đã kết thúc. Thực tế cho thấy có những trường hợp đã được xem xét nhiều lần, có kết luận rõ ràng nhưng người dân vẫn tiếp tục khiếu kiện. Nguyên nhân không chỉ xuất phát từ hồ sơ pháp lý mà còn liên quan đến quá trình đối thoại, giải thích, vận động và tạo sự đồng thuận trong xã hội.
Từ thực tiễn đó, ông đề xuất 3 nhóm giải pháp trọng tâm cho giai đoạn tiếp theo.
Thứ nhất, tăng cường đối thoại thực chất, đề cao trách nhiệm người đứng đầu trong việc trực tiếp gặp gỡ, lắng nghe và giải thích cho công dân về căn cứ pháp lý cũng như phương án giải quyết.

Các đại biểu thuộc Trường Cán bộ Thanh tra, Đại học Luật Hà Nội tham dự hội thảo. Ảnh: VL
Thứ hai, quan tâm đến yếu tố an sinh xã hội. Đối với những trường hợp đã được giải quyết đúng quy định nhưng đời sống vẫn còn nhiều khó khăn, cần nghiên cứu các chính sách hỗ trợ phù hợp để người dân ổn định cuộc sống.
Thứ ba, tiếp tục hoàn thiện thể chế. Việc luật hóa khái niệm và tiêu chí xác định vụ việc “tồn đọng, phức tạp, kéo dài” sẽ giúp xây dựng quy trình xử lý thống nhất trên phạm vi cả nước, hạn chế tình trạng mỗi nơi hiểu và áp dụng khác nhau.
Nhìn từ góc độ quản trị, việc xử lý 210 vụ việc không chỉ là nhiệm vụ chuyên môn của ngành Thanh tra mà còn là thước đo năng lực điều hành của bộ máy công quyền. Thành công không nằm ở số lượng hồ sơ được đóng lại, mà ở khả năng giải quyết tận gốc nguyên nhân phát sinh khiếu kiện, ngăn ngừa các vụ việc tương tự tái diễn trong tương lai.
Khi mỗi vụ việc được xử lý thấu tình, đạt lý và nhận được sự đồng thuận của người dân, đó không chỉ là sự khép lại của một hồ sơ kéo dài nhiều năm, mà còn là cách thiết thực nhất để củng cố niềm tin xã hội, giữ vững kỷ cương phép nước và xây dựng nền hành chính phục vụ Nhân dân.
Minh Nghĩa – Vũ Linh
(Nguồn: Thanhtra.com.vn)
Tại Đại hội đại biểu Phụ nữ toàn quốc lần thứ XIV, bà Lê Thị Thủy, Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ (LHPN) Việt Nam khóa XIII, tái đắc cử Chủ tịch Hội LHPN Việt Nam khóa XIV, nhiệm kỳ 2026 – 2031.
Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn cùng lãnh đạo, nguyên lãnh đạo Đảng, Nhà nước chúc mừng bà Lê Thị Thủy, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Chủ tịch UBTƯ MTTQ Việt Nam tái đắc cử Chủ tịch Hội LHPN Việt Nam khóa XIV và Ban Chấp hành TƯ Hội LHPN Việt Nam khóa XIV ra mắt tại Đại hội. Ảnh: Thu Hà
Sáng 18/6, tại Trung tâm Hội nghị Quốc gia (Hà Nội), đã diễn ra phiên trọng thể Đại hội đại biểu Phụ nữ toàn quốc lần thứ XIV, nhiệm kỳ 2026 – 2031.
Tại Đại hội, 111 đại biểu đã trúng cử vào Ban Chấp hành Trung ương Hội LHPN Việt Nam khóa XIV; 16 vị trí còn lại sẽ tiếp tục được kiện toàn, bổ sung sau.
Hội nghị lần thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương Hội LHPN Việt Nam khóa XIV đã bầu 24 người vào Ban Thường vụ Trung ương Hội LHPN Việt Nam khóa XIV.

Bà Lê Thị Thủy tái đắc cử Chủ tịch Hội LHPN Việt Nam. Ảnh: Thu Hà
Bà Lê Thị Thủy, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Chủ tịch UBTƯ MTTQ Việt Nam, Chủ tịch Hội LHPN Việt Nam khóa XIII tái cử giữ chức Chủ tịch Hội LHPN Việt Nam khóa XIV, nhiệm kỳ 2026 – 2031.
3 Phó Chủ tịch Hội LHPN Việt Nam khóa XIII cũng được tín nhiệm tái cử gồm: Bà Trần Lan Phương, bà Nguyễn Thị Minh Hương và bà Nguyễn Thị Thu Hiền.
Đại hội đại biểu Phụ nữ toàn quốc lần thứ XIV sẽ bế mạc vào chiều 18/6.
Bà Lê Thị Thủy (62 tuổi), quê Nghệ An, là thạc sĩ Luật học, cử nhân Luật.
Trước khi về công tác tại Hội LHPN Việt Nam, bà Lê Thị Thủy có thời gian dài làm việc tại tỉnh Nghệ An, sau đó đảm nhiệm các cương vị: Phó Tổng Thanh tra Chính phủ, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Trung ương, Bí thư Tỉnh ủy Hà Nam (cũ).
Từ tháng 2/2025, bà Lê Thị Thủy giữ chức Phó Bí thư Đảng ủy Chính phủ.
Tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIV (tháng 1/2026), bà Lê Thị Thủy tái cử Ủy viên Trung ương Đảng.
Ngày 3/3/2026, Bộ Chính trị điều động bà Lê Thị Thủy giữ chức Bí thư Đảng ủy Trung ương Hội LHPN Việt Nam và được Ban Chấp hành Trung ương Hội LHPN Việt Nam bầu giữ chức Chủ tịch Hội.
Thanh Lương
(Nguồn: Thanhtra.com.vn)
Ngày 18/6, tại Khánh Hòa, Trường Cán bộ Thanh tra phối hợp với Trường Đại học Luật Hà Nội tổ chức hội thảo khoa học quốc gia với chủ đề: “Thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo, phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực trong kỷ nguyên mới”. Đồng chủ trì hội thảo có ThS Nguyễn Văn Lương, Hiệu trưởng Trường Cán bộ Thanh tra và PGS.TS Nguyễn Văn Quang, Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Luật Hà Nội.

Đồng chủ trì Hội thảo có ThS. Nguyễn Văn Lương, Hiệu trưởng Trường Cán bộ Thanh tra và PGS.TS Nguyễn Văn Quang, Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Luật Hà Nội. Ảnh:MN
Tham dự hội thảo có đại diện lãnh đạo Thanh tra Chính phủ như TS Trần Đăng Vinh, Vụ trưởng Vụ Pháp chế; ThS Phạm Hùng, Cục trưởng Cục I; ThS Vũ Xuân Thành, Phó Cục trưởng Cục II; ThS Trịnh Như Hoa, Phó Cục trưởng Cục IV, cùng lãnh đạo nhiều cục, vụ trực thuộc Thanh tra Chính phủ. Hội thảo cũng có sự tham gia của các chuyên gia, nhà khoa học đến từ Quốc hội, Ủy ban Kiểm tra Trung ương, Học viện Hành chính và Quản trị công, Học viện Tài chính, Trường Đại học Luật Hà Nội và lãnh đạo thanh tra 25 tỉnh, thành phố trên cả nước.

ThS Nguyễn Văn Lương – Hiệu trưởng Trường Cán bộ Thanh tra phát biểu khai mạc hội thảo. Ảnh:MN
Đổi mới hoạt động thanh tra trong bối cảnh mới
Phát biểu khai mạc và dẫn đề hội thảo, ThS Nguyễn Văn Lương cho rằng, quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, sắp xếp tổ chức bộ máy tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả cùng với yêu cầu chuyển đổi số đang đặt ra những đòi hỏi mới đối với ngành Thanh tra.
Theo đó, hoạt động thanh tra không chỉ dừng lại ở việc phát hiện, xử lý sai phạm mà cần chuyển mạnh sang vai trò phòng ngừa, cảnh báo rủi ro, góp phần hoàn thiện thể chế, nâng cao chất lượng quản trị quốc gia và kiểm soát quyền lực trong bộ máy Nhà nước.
Các tham luận tại hội thảo tập trung làm rõ nhiều vấn đề lớn như đổi mới phương thức hoạt động thanh tra trong mô hình chính quyền địa phương mới; hoàn thiện thể chế pháp luật về thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo; tăng cường trách nhiệm giải trình; nâng cao hiệu quả phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực; đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số và dữ liệu điện tử trong hoạt động quản lý Nhà nước.

Các diễn giả, đại biểu tham gia hội thảo. Ảnh:MN
Thanh tra trong mô hình chính quyền địa phương mới
Một trong những nội dung nhận được nhiều sự quan tâm tại hội thảo là những yêu cầu đặt ra đối với ngành Thanh tra sau quá trình sắp xếp tổ chức bộ máy và vận hành mô hình chính quyền địa phương mới.
Các ý kiến cho rằng việc tinh gọn bộ máy, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền sẽ giúp nâng cao hiệu quả quản lý Nhà nước, rút ngắn quy trình xử lý công việc. Tuy nhiên, điều này cũng đặt ra yêu cầu phải hoàn thiện cơ chế kiểm soát quyền lực, tăng cường trách nhiệm người đứng đầu và đổi mới phương thức thanh tra nhằm đáp ứng yêu cầu quản trị hiện đại.
Nhiều tham luận nhấn mạnh xu hướng chuyển từ thanh tra theo phương thức truyền thống sang thanh tra dựa trên quản trị rủi ro, thanh tra dựa trên dữ liệu, tăng cường ứng dụng công nghệ số, thanh tra từ xa và thanh tra trực tuyến.
Theo các chuyên gia, đây là hướng đi tất yếu trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia đang được đẩy mạnh và yêu cầu xây dựng nền hành chính công khai, minh bạch, phục vụ người dân, doanh nghiệp ngày càng cao.

Một trong nhiều điểm cầu hội thảo. Ảnh: Trần Hùng
Tập trung xử lý đơn thư tồn đọng, kéo dài
Bên cạnh đổi mới tổ chức và phương thức hoạt động, công tác tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo tiếp tục là chủ đề được nhiều đại biểu quan tâm.
Các tham luận đã phân tích thực trạng giải quyết các vụ việc khiếu nại, tố cáo tồn đọng, phức tạp, kéo dài; đồng thời đề xuất nhiều giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả phối hợp giữa các cơ quan chức năng, tăng cường đối thoại, giải quyết dứt điểm các vụ việc ngay từ cơ sở.
Nhiều ý kiến cho rằng việc giải quyết hiệu quả các vụ việc tồn đọng không chỉ góp phần bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của công dân mà còn giữ vững ổn định chính trị, trật tự, an toàn xã hội và củng cố niềm tin của người dân đối với các cơ quan Nhà nước.
Trong bối cảnh số lượng đơn thư liên quan đến đất đai, bồi thường, giải phóng mặt bằng vẫn chiếm tỷ trọng lớn, yêu cầu nâng cao chất lượng công tác tiếp công dân và giải quyết khiếu nại, tố cáo được xác định là nhiệm vụ trọng tâm của ngành Thanh tra trong thời gian tới.

Điểm cầu khác của hội thảo khoa học. Ảnh: Trần Hùng
Phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực trong kỷ nguyên số
Một nội dung nổi bật khác được thảo luận tại hội thảo là yêu cầu tiếp tục nâng cao hiệu quả phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực trong bối cảnh phát triển mới của đất nước.
Các chuyên gia nhận định, cùng với phòng, chống tham nhũng, vấn đề chống lãng phí đang trở thành yêu cầu cấp thiết nhằm bảo đảm sử dụng hiệu quả các nguồn lực phục vụ phát triển kinh tế – xã hội.
Theo đó, cần tăng cường công khai, minh bạch trong quản lý, sử dụng tài sản công; đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số trong kiểm tra, giám sát; xây dựng cơ sở dữ liệu phục vụ quản lý Nhà nước; đồng thời phát huy vai trò của thanh tra trong việc phát hiện những bất cập về cơ chế, chính sách để kiến nghị hoàn thiện pháp luật.
Hội thảo cũng dành thời gian trao đổi về các giải pháp xây dựng đội ngũ cán bộ thanh tra có bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức và năng lực chuyên môn đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong giai đoạn mới.
Thông qua các tham luận và ý kiến trao đổi, nhiều đại biểu thống nhất cho rằng ngành Thanh tra đang đứng trước cơ hội lớn để đổi mới toàn diện cả về tổ chức bộ máy lẫn phương thức hoạt động. Trong đó, chuyển đổi số, quản trị dựa trên dữ liệu, nâng cao trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực sẽ là những trụ cột quan trọng để ngành Thanh tra thích ứng với yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới.
Chiều 17/6, tại Hà Nội, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng tổ chức gặp mặt các cơ quan thông tấn, báo chí nhân kỷ niệm 101 năm Ngày Báo chí cách mạng Việt Nam (21/6/1925 – 21/6/2026).
Dự gặp mặt có các đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị: Đại tướng Phan Văn Giang, Phó Bí thư Quân ủy Trung ương, Phó Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng; Đại tướng Nguyễn Trọng Nghĩa, Bí thư Trung ương Đảng, Ủy viên Thường vụ Quân ủy Trung ương, Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam.

Phát biểu tại buổi gặp mặt, Đại tướng Nguyễn Trọng Nghĩa nhấn mạnh, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng luôn ghi nhận, đánh giá cao và trân trọng cảm ơn sự quan tâm, phối hợp, giúp đỡ của các ban, bộ, ngành Trung ương, các cơ quan báo chí đối với sự nghiệp xây dựng Quân đội nói chung và công tác báo chí Quân đội nói riêng.
Thời gian qua, các cơ quan báo chí Trung ương, địa phương và các cơ quan báo chí Quân đội tiếp tục quan tâm chỉ đạo đổi mới, nâng cao chất lượng các chương trình, chuyên trang, chuyên mục tuyên truyền nhiệm vụ quân sự, quốc phòng, tuyên truyền về Quân đội. Các sản phẩm báo chí luôn đề cao tính Đảng, tính nhân dân, tính trung thực, lấy thông tin tích cực là chủ đạo. Các cơ quan báo chí đã tổ chức nhiều chương trình tuyên truyền về các sự kiện lớn của đất nước, Quân đội đạt chất lượng tốt, tạo sức lan tỏa sâu rộng, được lãnh đạo Đảng, Nhà nước, đông đảo nhân dân trong nước, kiều bào ta ở nước ngoài ghi nhận, đánh giá cao.
Đặc biệt, gần đây các cơ quan báo chí đã đăng, phát nhiều tin, bài phản ánh đóng góp của cán bộ, chiến sĩ Quân đội, Dân quân tự vệ cả nước tham gia Chiến dịch 500 ngày đêm đẩy mạnh thực hiện tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ, thu hút sự quan tâm của truyền thông quốc tế và nhận được nhiều tình cảm, ấn tượng tốt đẹp của nhân dân.
Đại tướng Nguyễn Trọng Nghĩa đề nghị thời gian tới các cơ quan báo chí tiếp tục quan tâm tuyên truyền sâu rộng về các hoạt động nổi bật trong lĩnh vực quân sự, quốc phòng; làm nổi bật bản chất cách mạng của Quân đội nhân dân Việt Nam.
Khi thông tin về Quân đội, báo chí cần bám sát mục tiêu xây dựng lực lượng theo hướng “tinh, gọn, mạnh”, trong đó, tập trung vào các khâu đột phá trọng tâm như: nâng cao chất lượng huấn luyện, xây dựng Quân đội chính quy; đẩy mạnh công tác nghiên cứu, đổi mới sáng tạo và làm chủ công nghệ trong nghiên cứu chế tạo vũ khí, trang bị hiện đại với tinh thần tự chủ, tự lực, tự cường…
Bên cạnh đó, các cơ quan thông tấn, báo chí cần chú trọng xây dựng, lan tỏa hình ảnh, phẩm chất cao đẹp cùng giá trị văn hóa của “Bộ đội Cụ Hồ” trong thời kỳ mới. Công tác tuyên truyền nhấn mạnh ba chức năng cốt lõi của Quân đội là: Đội quân chiến đấu, đội quân công tác và đội quân lao động sản xuất; đồng thời đề cao vai trò của đối ngoại quốc phòng và hội nhập quốc tế.
Về trách nhiệm của người làm báo, Đại tướng Nguyễn Trọng Nghĩa cho rằng, hoạt động báo chí phải luôn xuất phát từ lợi ích của nhân dân, phục vụ nhân dân và đặt lợi ích quốc gia, dân tộc lên trên hết. Các nhà báo cần thường xuyên trau dồi bản lĩnh chính trị, đạo đức nghề nghiệp, góp phần củng cố niềm tin xã hội và góp phần bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng.

Thông tin về kết quả công tác tuyên truyền báo chí về nhiệm vụ quân sự quốc phòng năm 2025 và 6 tháng đầu năm 2026, Thượng tướng Trương Thiên Tô, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam cho biết, các cơ quan, đơn vị trong toàn quân đã phối hợp chặt chẽ với các cơ quan báo chí Trung ương, địa phương đẩy mạnh tuyên truyền các sự kiện, hoạt động quân sự quốc phòng.
Tổng cục Chính trị đã chỉ đạo, hướng dẫn thực hiện tốt công tác phối hợp, tạo điều kiện cho hàng nghìn lượt phóng viên trong nước, hàng trăm lượt phóng viên báo chí nước ngoài tham dự tuyên truyền các sự kiện, hoạt động quân sự quốc phòng… Các cơ quan, đơn vị tích cực phối hợp, tạo điều kiện tốt nhất cho hàng ngàn lượt phóng viên các cơ quan báo chí đến dự lễ, đưa tin tuyên truyền các ngày truyền thống, sự kiện và hoạt động tiêu biểu của các cơ quan đơn vị.
Theo Thượng tướng Trương Thiên Tô, nhờ có sự chủ động phối hợp chặt chẽ với các cơ quan báo chí, công tác tuyên truyền báo chí về nhiệm vụ quân sự quốc phòng, tuyên truyền về Quân đội tiếp tục tạo được ấn tượng tốt đẹp. Báo chí Trung ương, địa phương và báo chí Quân đội đã tập trung tuyên truyền đậm nét, đúng định hướng các hội nghị của Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng; kết quả xây dựng Quân đội, sắp xếp tổ chức cơ quan quân sự địa phương phù hợp mô hình chính quyền địa phương 2 cấp; hoạt động huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu, giáo dục đào tạo, công tác dân vận, quân dân y kết hợp, công tác tuyển quân, hướng nghiệp, tuyển sinh quân sự, hội thao, hội diễn, thi dã ngoại; hoạt động đối ngoại quốc phòng của Quân đội… Qua đó, làm nổi bật vai trò, những đóng góp của Quân đội cũng như những tình cảm sâu đậm của nhân dân, bạn bè quốc tế dành cho Quân đội nhân dân Việt Nam.
Các cơ quan báo chí Trung ương, tiêu biểu là Thông tấn xã Việt Nam, Báo Nhân Dân, Đài Truyền hình Việt Nam, Đài Tiếng nói Việt Nam đã quan tâm phối hợp chỉ đạo phóng viên thường trú đưa tin tuyên truyền kịp thời các sự kiện, hoạt động đối ngoại quốc phòng ở nước ngoài, khẳng định trách nhiệm, đóng góp của Việt Nam tại các diễn đàn quân sự quốc phòng đa phương ở khu vực và thế giới, góp phần nâng cao uy tín, vị thế của Đảng, của Quân đội, đất nước, con người Việt Nam; giúp bạn bè quốc tế hiểu đúng đắn, đầy đủ hơn về chính sách quốc phòng của Việt Nam.


