UBND tỉnh Quảng Ninh đã có báo cáo kết quả triển khai kết quả thanh tra chuyên đề mua sắm trang thiết bị, vật tư y tế, sinh phẩm, kit xét nghiệm, vắc xin, thuốc phòng, chống dịch COVID-19.

Thanh tra tổng số 1.481 gói thầu
UBND tỉnh Quảng Ninh thông tin, năm 2020, đã chủ động chỉ đạo cơ quan thanh tra các cấp xây dựng kế hoạch thanh tra trình cấp có thẩm quyền phê duyệt để chủ động thanh tra từ ngay khi có hoạt động mua sắm trang thiết bị, vật tư y tế phục vụ phòng, chống dịch nhằm phòng ngừa sai phạm, trục lợi từ xa, từ sớm.
Năm 2021, khi Thanh tra Chính phủ chỉ đạo cuộc thanh tra diện rộng trên phạm vi toàn quốc, UBND tỉnh đã chỉ đạo Thanh tra tỉnh và UBND cấp huyện thực hiện thanh tra toàn diện trên địa bàn toàn tỉnh.
Căn cứ nội dung kế hoạch thanh tra được phê duyệt, Thanh tra tỉnh và thanh tra các địa phương đã thành lập 15 đoàn thanh tra. Trong đó, năm 2020 thành lập 1 đoàn; năm 2022 thành lập 14 đoàn.
Tiến hành thanh tra tổng số 1.481 gói thầu mua sắm trang thiết bị, vật tư y tế, hóa chất sinh phẩm, kit xét nghiệm và thuốc phục vụ công tác phòng, chống dịch COVID-19 trên địa bàn toàn tỉnh; với tổng giá trị dự toán 613.489 triệu đồng, giá trị trúng thầu 390.169 triệu đồng; giá trị tạm ứng, thanh toán hợp đồng đến thời điểm thanh tra 300.158 triệu đồng.
Trên cơ sở kết quả thanh tra tổng số 1.481 gói thầu, Thanh tra tỉnh và UBND các địa phương đã ban hành 17 kết luận thanh tra. Trong đó, Thanh tra tỉnh ban hành 7 kết luận; các địa phương ban hành 10 kết luận.
Qua thanh tra, đã phát hiện, kiến nghị xử lý về kinh tế 53 triệu đồng (Cẩm Phả 35,6 triệu đồng; Bệnh viện Việt Nam – Thụy Điển Uông Bí 17,4 triệu đồng).
Đồng thời, Tỉnh ủy, UBND tỉnh đã giao Công an tỉnh điều tra, làm rõ các gói thầu liên quan đến mua sắm kit xét nghiệm của Công ty Cổ phần Công nghệ Việt Á tại thị xã Đông Triều và Bệnh viện Việt Nam – Thụy Điển Uông Bí.
Kiến nghị xử lý tồn tại, hạn chế về quy trình, trình tự, thủ tục mua sắm trang thiết bị, vật tư y tế, sinh phẩm, kit xét nghiệm, vắc xin, thuốc phòng, chống dịch COVID-19 tổng số 315 gói thầu có sai sót về trình tự thủ tục.
Trên cơ sở tồn tại, hạn chế về quy trình, trình tự, thủ tục mua sắm 315 gói thầu mua sắm trang thiết bị, vật tư y tế, sinh phẩm, kit xét nghiệm, vắc xin, thuốc phòng, chống dịch COVID-19, Thanh tra tỉnh và UBND các huyện, thị xã, TP đã kiến nghị tổ chức xử lý trách nhiệm đối với các tập thể, cá nhân có liên quan.
Thực hiện dứt điểm 105/107 kiến nghị
Trên cơ sở các kiến nghị tại các kết luận thanh tra của Thanh tra tỉnh, thanh tra các địa phương và báo cáo tổng hợp, đề xuất của Thanh tra tỉnh, UBND tỉnh Quảng Ninh đã có nhiều văn bản chỉ đạo thực hiện các kết luận sau thanh tra.
Đồng thời, Thanh tra tỉnh đã ban hành nhiều văn bản đôn đốc các đơn vị có liên quan nghiêm túc thực hiện những nội dung đã kiến nghị.
Thực hiện các nội dung chỉ đạo, đến thời điểm báo cáo, về cơ bản các đơn vị đã tổ chức thực hiện dứt điểm 105/107 kiến nghị.
Trong đó, kiến nghị xử lý về kinh tế, đã thực hiện dứt điểm 2/2 kiến nghị. Thương thảo, thu hồi số tiền chênh lệch giữa giá khẩu trang N95, với tổng giá trị là 17.416.650 đồng; đã thu hồi số tiền thuế GTGT 10% của 4 gói thầu là 35,6 triệu đồng.
Kiến nghị về công tác quản lý Nhà nước, đã thực hiện 79/81 kiến nghị (41/43 kiến nghị tại 7 kết luận do Thanh tra tỉnh ban hành; 38/38 kiến nghị tại 10 kết luận thanh tra do địa phương thực hiện).
Hiện nay, còn 2 kiến nghị đang thực hiện liên quan đến: Việc rà soát thẩm định lại giá các gói thầu mua sắm để xử lý, thương thảo điều chỉnh lại giá trị hợp đồng và thanh quyết toán cho nhà thầu đối với các gói thầu mua sắm từ năm 2020 vẫn chưa thực hiện dứt điểm.
Việc tổng hợp, rà soát xác lập quyền sở hữu đối với các tài sản là trang thiết bị y tế, phương tiện do các tổ chức, cá nhân ủng hộ, tài trợ để theo dõi, quản lý sử dụng theo Luật Quản lý, sử dụng tài sản công (Sở Y tế và Sở Tài chính báo cáo vẫn đang triển khai, chưa xong).
Kiến nghị về xử lý trách nhiệm, đã thực hiện dứt điểm 18/18 kiến nghị.
Cụ thể, đối với 10 kiến nghị tại 7 kết luận do Thanh tra tỉnh ban hành, đã xử lý về chính quyền: Kiểm điểm rút kinh nghiệm đối với 39 tập thể, 82 cá nhân; khiển trách 7 cá nhân; cảnh cáo 2 cá nhân; cách chức 2 cá nhân.
Xử lý về Đảng: Kỷ luật cảnh cáo đối với 1 tập thể; khiển trách 1 cá nhân; cảnh cáo 3 cá nhân; khai trừ Đảng đối với 1 cá nhân.
Đối với 8 kiến nghị tại 10 kết luận thanh tra do địa phương thực hiện, đã kiểm điểm rút kinh nghiệm đối với 80 tập thể và 98 cá nhân.
Kiến nghị về cơ chế chính sách, đã thực hiện dứt điểm 6/6 kiến nghị.
Trong quá trình thanh tra, Thanh tra tỉnh đã tổng hợp một số bất cập, đề xuất một số nội dung trong báo cáo gửi Thanh tra Chính phủ để tổng hợp chung trong phạm vi toàn quốc.
Những nội dung trên đã được Thanh tra Chính phủ tham khảo tổng hợp và hiện nay, Thanh tra Chính phủ đã có Báo cáo số 03/BC-TTCP ngày 6/1/2023 tổng hợp kết quả thanh tra chuyên đề mua sắm trang thiết bị, vật tư y tế, sinh y phẩm, kit xét nghiệm, vắc xin, thuốc phòng, chống dịch COVID-19 báo cáo Chính phủ; Thủ tướng Chính phủ đã có ý kiến chỉ đạo để các bộ, ngành, địa phương triển khai thực hiện theo đề xuất của Thanh tra Chính phủ.
(Nguồn: Thanhtra.com.vn)

Theo đó, Phó Trưởng Ban Chỉ đạo phòng, chống tham nhũng, tiêu cực TP Nguyễn Thị Lệ yêu cầu Đảng bộ Quận 3 cần tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát tại các cơ quan, đơn vị để nâng cao hiệu quả của công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, đồng thời, tập trung giải quyết các vụ việc đơn thư, kiến nghị phản ánh khi tiếp nhận thông tin.
Nâng cao công tác tuyên truyền, giáo dục về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực
Theo báo cáo công tác trên địa bàn, thời gian qua, Quận ủy Quận 3 đã ban hành 20 văn bản, trong đó có những văn bản quan trọng trong công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực. Ban Thường vụ Quận ủy Quận 3 đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo, kiểm tra, giám sát, đôn đốc công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, đối với các tổ chức đảng trực thuộc; công tác phát hiện, xử lý tham nhũng thông qua hoạt động kiểm tra, giám sát, tự kiểm tra. Bên cạnh đó, tập trung giải quyết các vụ việc đơn thư, kiến nghị phản ánh khi tiếp nhận thông tin từ các cơ quan của Đảng, Ủy ban MTTQ Việt Nam, báo chí…
Ngoài ra, Ban Thường vụ Quận ủy cũng ban hành kế hoạch đi cơ sở và tổ chức hội nghị tiếp xúc, đối thoại của UBND các phường hàng tháng. Qua đó, gặp gỡ, lắng nghe ý kiến của người dân, ghi nhận những phản ánh cụ thể về những hành vi, biểu hiện tham nhũng, tiêu cực, lãng phí và kịp thời chỉ đạo xử lý đối với từng trường hợp cụ thể.
Sau khi nghe báo cáo kết quả lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực của Ban Thường vụ Quận ủy Quận 3, Chủ tịch HĐND TP Nguyễn Thị Lệ, Phó Trưởng Ban Chỉ đạo phòng, chống tham nhũng, tiêu cực TP nhấn mạnh, để nâng cao chất lượng công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trên địa bàn Quận 3, trong thời gian tới, Ban Thường vụ Quận ủy Quận 3 cần tiếp tục lãnh đạo, chỉ đạo nâng cao hiệu quả công tác tuyên truyền, giáo dục về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực; xây dựng văn hóa liêm chính, không tham nhũng, tiêu cực trong cán bộ, đảng viên, cán bộ, công chức, viên chức. Xây dựng ý thức tự giác, gương mẫu thực hiện nghiêm các quy định của Đảng và pháp luật của Nhà nước về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực; chủ động xử lý khi có xung đột lợi ích; xây dựng, thực hiện tốt quy tắc ứng xử, chuẩn mực đạo đức của người cán bộ, đảng viên…
Ngoài ra, Ban Thường vụ Quận ủy Quận 3 phải thực hiện nghiêm nguyên tắc “tập trung dân chủ”; tiếp tục phát huy trách nhiệm nêu gương nhất là đối với các cán bộ chủ chốt, toàn thể đảng viên, để lan tỏa, thể hiện tính tiên phong, gương mẫu, là cam kết chính trị của cán bộ, đảng viên, nhất là vai trò người đứng đầu của các cơ quan, đơn vị. Đồng thời, thực hiện tốt các quy định về trách nhiệm nêu gương; đưa việc nêu gương trở thành việc làm tự giác, thường xuyên và trở thành nếp văn hóa của mỗi cán bộ, đảng viên, lan tỏa đến từng công chức, viên chức, người lao động.
Theo đồng chí Nguyễn Thị Lệ, cán bộ, đảng viên giữ chức vụ càng cao càng phải gương mẫu nêu gương, tạo sự lan tỏa mạnh mẽ từ trên xuống dưới trong toàn hệ thống chính trị, tạo sự lan tỏa trong đoàn viên, hội viên, quần chúng nhân dân là hết sức quan trọng góp phần củng cố lòng tin của Nhân dân đối với Đảng. Trong đó, cần quan tâm có giải pháp nâng cao nhận thức, trách nhiệm thực hiện nêu gương của cán bộ quản lý là yêu cầu khách quan cấp thiết mang ý nghĩa chiến lược trong quá trình xây dựng, chỉnh đốn Đảng.
Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát
Một trong những nội dung quan trọng được đồng chí Nguyễn Thị Lệ nhấn mạnh là Quận 3 cần tiếp tục thực hiện tốt việc tự phê bình và phê bình toàn hệ thống các cơ quan đảng, tổ chức chính trị xã hội, cơ quan chính quyền các cấp trên địa bàn quận; phát huy tốt công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát, giải quyết đơn thư đảm bảo theo quy định và cần có cơ chế bảo vệ người khiếu nại, tố cáo đúng sự thật liên quan đến tham nhũng, tiêu cực. Trước hết phải làm tốt công tác này trong nội bộ từng chi bộ, từng phòng, ban, địa phương, đơn vị trực thuộc để sớm phát hiện và xử lý để không trở thành những vụ việc phức tạp, nổi cộm.
Đồng thời, tăng cường tính công khai, minh bạch và kiểm soát quyền lực trong các cơ quan nhà nước; thực hiện chính sách cải thiện thu nhập, tiền lương đối với đội ngũ cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức và người lao động đang làm việc tại các cơ quan nhà nước trên địa bàn quận.
Bên cạnh đó, quan tâm đến công tác quy hoạch, bổ nhiệm lãnh đạo tại các cơ quan, đơn vị theo đúng quy trình, quy định và có cơ chế quản lý, phát huy vai trò tích cực của người đứng đầu các đơn vị trực thuộc. Ngoài ra, cần tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát tại các cơ quan, đơn vị để nâng cao hiệu quả công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực với phương châm “Phòng ngừa tham nhũng, tiêu cực từ sớm, từ xa, cả ngọn lẫn gốc”.
Với những nỗ lực của Ban Thường vụ Quận ủy, đồng chí Nguyễn Thị Lệ tin tưởng Quận ủy Quận 3 sẽ tiếp tục phát huy và đạt được những thành quả cao hơn trong công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực và có nhiều giải pháp hay trong việc phòng ngừa từ sớm, từ xa, để góp phần xây dựng Đảng bộ quận trong sạch vững mạnh, góp phần nâng cao sự hài lòng, tăng thêm niềm tin của người dân đối với Đảng với chính quyền, góp phần đảm bảo quốc phòng an ninh, trật tự an toàn xã hội tại địa phương.
(Nguồn: ThanhtraVietNam)
Triển khai quyết liệt các biện pháp phòng ngừa tham nhũng
Theo báo cáo thẩm tra của Ủy ban Tư pháp, năm2023, các biện pháp phòng ngừa tham nhũng tiếp tục được Chính phủ, các bộ, ngành, địa phương đẩy mạnh thực hiện. Các bộ, ngành, địa phương đã ban hành 8.150 văn bản; huỷ bỏ hoặc sửa đổi, bổ sung 1.938 văn bản về định mức, tiêu chuẩn, chế độ, chủ động và rà soát, bổ sung, hoàn thiện các quy định về quy tắc ứng xử của người có chức vụ, quyền hạn thuộc thẩm quyền, lĩnh vực quản lý. Việc kiểm soát tài sản, thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn được tăng cường, đã kịp thời phát hiện, xử lý nghiêm các trường hợp kê khai tài sản, thu nhập không trung thực, kể cả đối tượng là lãnh đạo quản lý cấp cao ở địa phương; việc thực hiện chuyển đổi vị trí công tác để phòng ngừa tham nhũng tiếp tục được quan tâm. Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo tiếp tục đẩy mạnh thực hiện công cuộc chuyển đổi số quốc gia, xây dựng Chính phủ điện tử, Chính phủ số, kinh tế số, xã hội số, tập trung tổ chức thực hiện hiệu quả Đề án 06/CP của Chính phủ về phát triển ứng dụng dữ liệu dân cư, định danh và xác thực điện tử phục vụ chuyển đổi số quốc gia giai đoạn 2022-2025, tầm nhìn đến năm 2030 và xây dựng Trung tâm dữ liệu lớn quốc gia. Tích cực thực hiện thanh toán không dùng tiền mặt. Công tác thanh tra, kiểm tra việc thực hiện các biện pháp phòng ngừa tham nhũng được duy trì; việc xử lý trách nhiệm của người đứng đầu khi để xảy ra tham nhũng tiếp tục được chú trọng.
Công tác PCTN trong doanh nghiệp, tổ chức khu vực ngoài nhà nước từng bước đi vào nề nếp. Nhiều tổ chức, doanh nghiệp khu vực ngoài nhà nước đã xây dựng, ban hành và thực hiện quy định về chuẩn mực đạo đức và quy tắc ứng xử nghề nghiệp. Một số cơ quan, tổ chức đã thực hiện việc công khai thông tin về các khoản đóng góp trên các phương tiện thông tin đại chúng; thực hiện kiểm toán các khoản thu, chi của tổ chức. Việc thực hiện công khai (công bố thông tin) của các tổ chức tín dụng, doanh nghiệp được niêm yết trên thị trường chứng khoán đã được thực hiện nghiêm túc, đầy đủ và chặt chẽ hơn; công tác thanh tra, kiểm tra việc thực hiện pháp luật về PCTN tại các công ty đại chúng, công ty chứng khoán, công ty quản lý quỹ… bước đầu được quan tâm triển khai thực hiện.
Tuy nhiên, Ủy ban Tư pháp cũng đánh giá việc thực hiện một số biện pháp phòng ngừa tham nhũng còn có những hạn chế và đều là những hạn chế không mới, đã tồn tại kéo dài qua nhiều năm nhưng Chính phủ vẫn chưa có giải pháp hữu hiệu để khắc phục. Đó là, việc thực hiện công khai, minh bạch trong tổ chức và hoạt động ở một số cơ quan, tổ chức, đơn vị chưa có nhiều cải thiện, nhất là ở địa phương; tình trạng vi phạm việc thực hiện định mức, tiêu chuẩn, chế độ, vi phạm việc thực hiện quy tắc ứng xử diễn ra ở nhiều cơ quan, tổ chức, đơn vị; việc kiểm soát tài sản, thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn tuy đã bước đầu phát huy được hiệu quả nhưng kết quả vẫn còn có những hạn chế; thủ tục hành chính trên một số lĩnh vực còn nhiều rào cản, đặc biệt là những lĩnh vực liên quan đến đất đai, quản lý tài chính, đầu tư công, y tế, giáo dục, kiểm tra chuyên ngành, xuất nhập khẩu…
Đẩy mạnh phát hiện, xử lý tham nhũng, thu hồi tài sản tham nhũng
Báo cáo thẩm tra của Ủy ban Tư pháp cũng nêu rõ, năm 2023, công tác phát hiện, xử lý tham nhũng tiếp tục được đẩy mạnh, xử lý toàn diện, nghiêm minh, bảo đảm đồng bộ giữa xử lý cán bộ (thôi giữ chức vụ, nghỉ công tác) với kỷ luật Đảng, kỷ luật hành chính và xử lý hình sự. Ủy ban Kiểm tra Trung ương đã kiểm tra, thi hành kỷ luật, kiến nghị Bộ Chính trị, Ban Bí thư xem xét, kỷ luật nhiều tổ chức đảng, đảng viên có vi phạm, khuyết điểm.
Công tác phát hiện, xử lý tham nhũng ở địa phương, cơ sở có nhiều chuyển biến rõ rệt; hoạt động của Ban Chỉ đạo cấp tỉnh từng bước đi vào nề nếp. Các Cơ quan điều tra trong Công an nhân dân đã khởi tố mới 620 vụ án/1.749 bị can; đã kết luận điều tra đề nghị truy tố 377 vụ án/997 bị can. Viện kiểm sát các cấp thụ lý giải quyết trong giai đoạn truy tố 591 vụ/1.640 bị can (trong đó án mới 538 vụ/1.499 bị can); đã giải quyết 503 vụ/1.296 bị can. Tòa án đã xét xử sơ thẩm 384 vụ/849 bị cáo về các tội tham nhũng; tuyên phạt tù chung thân 07 bị cáo; xử phạt tù từ trên 15 năm đến 20 năm đối với 40 bị cáo; tù từ trên 7 năm đến 15 năm đối với 117 bị cáo; tù từ trên 3 năm đến 7 năm đối với 223 bị cáo; tù từ 3 năm trở xuống đối với 426 bị cáo. Cơ quan chức năng ở địa phương đã khởi tố, điều tra, xử lý nhiều vụ án tham nhũng nghiêm trọng, phức tạp liên quan đến cán bộ cao cấp ở địa phương như Phó Chủ tịch UBND tỉnh, Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Giám đốc, Phó giám đốc sở, Chủ tịch, Phó Chủ tịch UBND cấp quận, huyện… (Quảng Ninh, Hà Nam, Đà Nẵng, Hòa Bình, Thanh Hóa, Cao Bằng…).
Bên cạnh đó, các cơ quan chức năng đã tăng cường phối hợp chặt chẽ, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử kịp thời, kiên quyết xử lý nghiêm minh các vụ án tham nhũng, cả trong khu vực nhà nước và khu vực ngoài nhà nước, xử lý cả cán bộ đương chức và cán bộ đã nghỉ hưu có sai phạm. Đáng chú ý, việc phát hiện, xử lý tham nhũng được tiến hành đồng bộ, quyết liệt ở cả ở cấp Trung ương và địa phương, đặc biệt là ở cấp tỉnh; đồng thời với việc phát hiện, xử lý các vụ án tham nhũng, tiêu cực lớn, trọng điểm, dư luận xã hội quan tâm như: Vụ án Vi phạm quy định về đấu thầu gây hậu quả nghiêm trọng tại Công ty cổ phần Tiến Bộ Quốc Tế (AIC); vụ án Nhận hối lộ xảy ra tại Cục Lãnh sự, Bộ Ngoại giao; Vụ án kít xét nghiệm Covid-19 Việt Á; các vụ án liên quan đến Công ty cổ phần Tập đoàn Vạn Thịnh Phát; vụ án Vi phạm quy định về đấu thầu gây hậu quả nghiêm trọng xảy ra tại Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam…, cơ quan chức năng cũng đã quyết liệt đấu tranh, khởi tố đối với các vụ án tham nhũng, tiêu cực, “tham nhũng vặt” có tính hệ thống, có tổ chức, liên quan đến nhiều bộ, ngành, địa phương; nhiều hành vi tham nhũng nghiêm trọng xảy ra rất lâu từ trước đây cũng đã được khám phá, khởi tố, điều tra để xử lý như: Vụ án Vi phạm quy định về nghiên cứu, thăm dò, khai thác tài nguyên, rửa tiền xảy ra tại xã Đồng Tuyển, thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai; vụ án Vi phạm quy định về quản lý, sử dụng tài sản Nhà nước gây thất thoát, lãng phí xảy ra tại Dự án Tân Việt Phát 2, thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận; nhiều đối tượng là lãnh đạo, nguyên là lãnh đạo các cơ quan, đơn vị làm công tác PCTN, tiêu cực bị khởi tố, điều tra về hành vi tham nhũng. Kết quả công tác thu hồi tài sản bị chiếm đoạt, thất thoát trong các vụ án tham nhũng, kinh tế tiếp tục có những chuyển biến tích cực, theo Báo cáo của Chính phủ, tổng số tài sản thiệt hại trong các vụ án đang thụ lý, điều tra trên 1.738 tỷ đồng và 70.950,9 m2 đất; đã thu hồi trên 1.237 tỷ đồng và 28.822,6 m2 đất.
Qua thẩm tra báo cáo của Chính phủ, Ủy ban Tư pháp đề nghị Chính phủ tiếp tục xây dựng, hoàn thiện đồng bộ hệ thống pháp luật; đề cao trách nhiệm của người đứng đầu, bảo đảm PCTN, tiêu cực, lợi ích nhóm, cục bộ trong công tác xây dựng pháp luật. Đồng thời, tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, kiểm toán, tập trung vào các lĩnh vực quản lý tài sản công, đấu thầu, đấu giá, tài chính, ngân hàng, chứng khoán, trái phiếu…; ngăn chặn có hiệu quả tình trạng nhũng nhiễu, tiêu cực, “tham nhũng vặt”, gây phiền hà cho người dân, doanh nghiệp. Bên cạnh đó, siết chặt kỷ cương, kỷ luật công vụ. Chỉ đạo rà soát, chấn chỉnh, khắc phục ngay những biểu hiện đùn đẩy, né tránh, làm việc cầm chừng, sợ sai không dám làm trong một bộ phận cán bộ, công chức, viên chức.
Đồng thời, chỉ đạo khẩn trương hoàn thành các yêu cầu của Quốc hội liên quan đến công tác PCTN, cụ thể như: Sớm ban hành bộ tiêu chí đánh giá công tác PCTN, tiêu cực đối với bộ, ngành trung ương; xây dựng Chiến lược quốc gia về PCTN đến năm 2030 và kế hoạch thực hiện Công ước Liên hợp quốc về chống tham nhũng; xây dựng Cơ sở dữ liệu quốc gia về kiểm soát tài sản, thu nhập và xây dựng Cơ sở dữ liệu quốc gia về PCTN, tiêu cực…/.
Ngày 19/9/2023, tại Hà Nội, Thượng tướng, PGS.TS Trần Quốc Tỏ, Uỷ viên Trung ương Đảng, Thứ trưởng Bộ Công an đã chủ trì Hội thảo tổ chức theo hình thức trực tuyến từ điểm cầu Bộ Công an đến Công an các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương. Lãnh đạo Vụ Pháp chế đại diện Thanh tra Chính phủ cùng lãnh đạo Công an các đơn vị, địa phương, các nhà khoa học trong CAND… tham dự Hội thảo.
Theo Trung tướng Trần Đức Tuấn, Chánh Thanh tra Bộ Công an, Hội thảo được tổ chức nhằm tập trung thảo luận, tranh thủ ý kiến của các nhà quản lý, nhà khoa học, chuyên gia và Công an các đơn vị, địa phương để có những giải pháp hoàn thiện hành lang pháp lý cho tổ chức và hoạt động thanh tra CAND trong thời gian tới, vừa bảo đảm thống nhất với quy định của Luật Thanh tra năm 2022, vừa phù hợp với tính chất, đặc thù trong tổ chức và hoạt động của lực lượng CAND.
Hội thảo đã tập trung thảo luận về tổ chức và hoạt động thanh tra của lực lượng CAND, như: về chức năng, nhiệm vụ và tổ chức bộ máy; việc bố trí cán bộ thanh tra tại các đơn vị không có tổ chức thanh tra; việc thực hiện thẩm quyền của Chánh Thanh tra các cấp.
Đồng thời, phân tích, thảo luận về các lĩnh vực quản lý nhà nước của Bộ Công an và sự cần thiết phải xác định rõ nội dung, đối tượng của hoạt động thanh tra chuyên ngành CAND để xây dựng nghị định, tạo cơ sở pháp lý cho hoạt động thanh tra chuyên ngành của lực lượng CAND…
Hội thảo này là một trong những hoạt động nghiên cứu, quán triệt thực hiện Nghị quyết số 09 ngày 29/3/2022 của Đảng uỷ Công an Trung ương về tiếp tục hoàn thiện pháp luật về an ninh, trật tự đến năm 2026, định hướng đến năm 2030, góp phần thực hiện thắng lợi các mục tiêu, nhiệm vụ được giao tại Nghị quyết số 12-NQ/TW ngày 16/3/2022 của Bộ Chính trị về đẩy mạnh xây dựng lực lượng CAND thật sự trong sạch, vững mạnh, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới.
Thứ trưởng Bộ Công an yêu cầu Thanh tra Bộ chủ trì, phối hợp Cục Pháp chế và cải cách hành chính, tư pháp cùng với Công an các đơn vị, địa phương khẩn trương tham mưu Ban Thường vụ Đảng uỷ Công an Trung ương, lãnh đạo Bộ tổ chức tổng kết công tác thi hành Luật Thanh tra trong CAND.
Đồng thời, giao Cục Tổ chức cán bộ, Thanh tra Bộ phối hợp các đơn vị có liên quan, rà soát, sắp xếp lại tổ chức bộ máy thanh tra CAND theo đúng tinh thần Nghị quyết số 22-NQ/TW ngày 15/3/2018 của Bộ Chính trị về “Tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy Bộ Công an tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả”; Nghị định số 01/2018/NĐ – CP ngày 06/8/2018 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Công an và Nghị quyết số 12 của Bộ Chính trị, phù hợp với thực tiễn tổ chức và yêu cầu, nhiệm vụ mang tính đặc thù của lực lượng CAND.
Lãnh đạo, chỉ huy Công an các đơn vị, địa phương tiếp tục nghiên cứu Luật Thanh tra năm 2022, Nghị định của Chính phủ về Quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Thanh tra để chuẩn bị cho việc tổng kết Luật Thanh tra năm 2010…
(Nguồn: ThanhtraVietNam)
Ngày 20-21/9/2023, tại TP Nha Trang, tỉnh Khánh Hoà, Thanh tra Chính phủ tổ chức hội nghị tập huấn “Chia sẻ kinh nghiệm quốc tế về công tác thanh tra trong nền hành chính công vụ”.

Tham dự hội nghị gồm các đại biểu đại diện các cục, vụ, đơn vị thuộc Thanh tra Chính phủ, đại diện thanh tra một số Bộ, ngành Trung ương, các tỉnh thành phố khu vực Tây Nguyên và các tỉnh miền Nam. Về phía Đại sứ quán Cộng hòa Pháp có Ông Béla Hegedus – Phó tham tán hợp tác và các hoạt động văn hoá; Bà Trần Lan Hương, Phụ trách hợp tác quản trị; Viện dịch vụ công quốc gia Pháp INSP có Ông Alexandre TRAN Phụ trách Dự án và đối tác quốc tế khu vực Châu Á – Châu Mỹ (MPPI).

Tại hội nghị tập huấn “Chia sẻ kinh nghiệm quốc tế về công tác thanh tra trong nền hành chính công vụ”. Đây là Chương trình hoạt động đối ngoại năm 2023 của Thanh tra Chính phủ và Bản ghi nhớ hợp tác đã ký kết với Cơ quan Chống tham nhũng của Cộng hòa Pháp, Thanh tra Chính phủ phối hợp với Đại sứ quán Cộng hòa Pháp tại Việt Nam tổ chức Hội nghị tập huấn, chia sẻ kinh nghiệm quốc tế cho công chức, viên chức của Thanh tra Chính phủ và ngành Thanh tra với chủ đề về “Công tác thanh tra trong nền hành chính công phục vụ” và “Phòng, chống tham nhũng, tiêu cực và nâng cao hiệu quả kiểm soát minh bạch công”. Nhằm nâng cao năng lực, cập nhật, bồi dưỡng về chuyên môn, nghiệp vụ và chuẩn mực đạo đức cho đội ngũ công chức của ngành Thanh tra, đặc biệt là những vấn đề cần lưu ý trong thực tiễn triển khai công tác thanh tra và phòng, chống tham nhũng…

Phát biểu khai mạc hội nghị, TS Nguyễn Huy Hoàng, GVCC – Phó Hiệu trưởng Trường Cán bộ Thanh tra cho biết, trong khuôn khổ chương trình hoạt động đối ngoại năm 2023 của Thanh tra Chính phủ và thực hiện Bản ghi nhớ hợp tác đã ký kết giữa Thanh tra Chính phủ Việt Nam và Cơ quan chống tham nhũng của Cộng hoà Pháp, Thanh tra Chính phủ Việt Nam tổ chức 2 hội nghị tập huấn chia sẻ kinh nghiệm quốc tế cho công chức, viên chức của Thanh tra Chính phủ và ngành thanh tra, trong đó Hội nghị “Chia sẻ kinh nghiệm quốc tế về công tác thanh tra trong nền hành chính công vụ” sẽ được tổ chức trong 2 ngày 20-21/9.
Hội nghị thứ hai về “Phòng, chống tham nhũng, tiêu cực và nâng cao hiệu quả kiểm soát minh bạch công” sẽ được tổ chức vào tháng 10/2023.
Trong hai ngày diễn ra hội nghị, các đại biểu tham dự sẽ được nghe các chuyên gia đến từ Cộng hoà Pháp trình bày, trao đổi theo hình thức trực tuyến 2 nội dung: Giới thiệu về hệ thống thanh tra trong nền hành chính công của Pháp và việc quản lý hành chính, phân cấp, phân quyền trong hệ thống thanh tra; Trao đổi về đạo đức công vụ, quy tắc ứng xử, kiểm soát xung đột lợi ích, nhận diện và quản lý rủi ro trong hệ thống thanh tra.

Cũng tại hội nghị, TS Đinh Văn Minh, nguyên Vụ trưởng Vụ Pháp chế- Thanh tra Chính phủ sẽ trình bày 2 nội dung: Những điểm cần lưu ý trong tổ chức và hoạt động thanh tra nhằm xây dựng nền hành chính công vụ ở Việt Nam; Một số vấn đề về đạo đức công vụ, quá trình ứng xử và kiểm soát xung đột lợi ích của cán bộ thanh tra từ thực tiễn của Việt Nam.
“Đây là những nội dung rất bổ ích nhằm nâng cao năng lực, cập nhật, bồi dưỡng về chuyên môn, nghiệp vụ và chuẩn mực đạo đức cho đội ngũ công chức của ngành Thanh tra, đặc biệt là những vấn đề cần lưu ý trong thực tiễn triển khai công tác thanh tra và phòng, chống tham nhũng”, Phó Hiệu trưởng Trường Cán bộ Thanh tra nhấn mạnh.

Thông qua hội nghị sẽ góp phần thúc đẩy hợp tác quốc tế, đặc biệt là giao lưu, trao đổi, chia sẻ về chuyên môn nghiệp vụ và thực tiễn công tác với cá đối tác có chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn tương đồng của Cộng hoà Pháp. Qua đó đóng góp thiết thực và kỷ niệm 50 năm ngày thiết lập quan hệ ngoại giao Việt Nam- Pháp (1973-2023), 10 năm ngày 2 nước nâng cấp quan hệ đối tác chiến lược (2013-2023).
Và đặc biệt, qua hội nghị này là dịp để các đại biểu đến từ các bộ, ngành Trung ương, các cụ, vụ, đơn vị của Thanh tra Chính phủ, thanh tra các tỉnh, thành phố chia sẻ những kinh nghiệm thực tế hay, bài học quý được rút ra từ thực tế công tác của mình.
Phó Hiệu trưởng Trường Cán bộ Thanh tra cũng bày tỏ hy vọng hội nghị sẽ là hoạt động hợp tác thực chất và hiệu quả giữa các cơ quan nói riêng, giữa Việt Nam và Cộng hoà Pháp nói riêng, tạo tiền đề hợp tác tốt đẹp cho Thanh tra Chính phủ và các cơ quan đối tác của Cộng hoà Pháp trong thời gian tới.
Sáng 19/9, Trường Cán bộ Thanh tra tổ chức Lễ Khai giảng lớp Nghiệp vụ thanh tra viên chính (TTVC) K12/2023 theo hình thức trực tuyến cho 126 học viên. Thầy Vũ Văn Chiến, Bí thư Đảng uỷ – Hiệu trưởng Trường Cán bộ Thanh tra dự và phát biểu khai giảng khóa học.

Tham gia khóa học có 126 học viên, khóa học sẽ diễn ra trong hơn một tháng “hình thức học trực tuyến”. Trong đó, các học viên sẽ được nghiên cứu gồm nhiều chuyên đề liên quan đến kiến thức chung về công chức, công vụ như: Quản lý nhà nước về công tác thanh tra, tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo và phòng chống tham; Thanh tra trách nhiệm việc thực hiện pháp luật về tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo; Công tác của tổ trưởng tổ xác minh nội dung khiếu nại, tố cáo; Công tác của tổ trưởng tổ xác minh kê khai tài sản thu nhập; Giám sát hoạt động đoàn thanh tra; theo dõi, đôn đốc, kiểm tra, việc thực hiện kết luận thanh tra; Kỹ năng xây dựng kế hoạch tiến hành một cuộc thanh; Thực hành kỹ năng xây dựng kế hoạch tiến hành một cuộc thanh tra…

Phát biểu Lễ khai giảng khóa học, thầy Vũ Văn Chiến, Bí thư Đảng uỷ – Hiệu trưởng Trường Cán bộ Thanh tra đã nhiệt liệt chào mừng các học viên về tham dự khóa học trực tuyến này, đồng thời nhấn mạnh: “Lớp bồi dưỡng nghiệp vụ TTVC được Nhà trường đặc biệt quan tâm và xác định là một trong những nhiệm vụ quan trọng nhất, vì đây là khóa học nhằm nâng cao năng lực trình độ cho đội ngũ cán bộ nòng cốt của Ngành. Đồng thời là nguồn cán bộ để dự thi, bổ nhiệm vào ngạch TTVC”.
Hiệu trưởng nhà trường cho rằng, công tác đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ thanh tra nói chung và việc tổ chức khóa bồi dưỡng nghiệp vụ TTVC Khóa 12 năm 2023 nói riêng có ý nghĩa hết sức quan trọng vì đây là Khóa bồi dưỡng nghiệp vụ TTVC đầu tiên tổ chức đào tạo bằng khung chương trình đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ TTVC hoàn toàn mới được Tổng Thanh tra phê duyệt đưa vào giảng dậy, trong đó có bổ sung nhiều buổi thảo luận, báo cáo thực tế giúp học viên tháo gỡ một số vướng mắc, khóa khăn trong quá trình thực thi công vụ.
Qua đó hoàn thiện, nâng cao năng lực trình độ cho đội ngũ cán bộ nòng cốt của Ngành, đáp ứng yêu cầu thực hiện Chiến lược phát triển ngành Thanh tra trong thời gian tới. Chính vì lẽ đó, Ban Giám hiệu Nhà trường đã bố trí, đội ngũ giảng viên, chuyên gia có nhiều kinh nghiệm trong ngành về lĩnh vực thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và phòng chống tham nhũng trực tiếp giảng dạy cho phù hợp với đối tượng người học.

Để đảm bảo chất lượng của khóa học, Hiệu trưởng yêu cầu các học viên khắc phục những khó khăn về thời gian, bố trí công việc một cách khoa học, hợp lý để tham dự các buổi học đầy đủ, nghiêm túc, chấp hành nội quy, quy chế của Nhà trường. Đồng thời, các học viên cần tăng cường trao đổi, thảo luận với giảng viên và tích cực tự nghiên cứu để nâng cao chất lượng của khóa học. Hiệu trưởng Nhà trường cũng gửi lời cám ơn sâu sắc đến Lãnh đạo các Bộ ngành và địa phương đã tạo điều kiện để học viên tham dự khóa học này.
Ngay sau Lễ Khai giảng, thầy Vũ Văn Chiến, Bí thư Đảng ủy – Hiệu trưởng Nhà trường đã trực tiếp giảng dạy chuyên đề “Quản lý nhà nước về công tác thanh tra, tiếp công dân, giải quyết khiếu nại tố cáo và phòng chống tham nhũng” đầu tiên với lớp bồi dưỡng nghiệp vụ TTVC này./.
Việc xây dựng kế hoạch thanh tra ngành Công thương, đặc biệt là thanh tra chuyên ngành phụ thuộc vào định hướng Chương trình thanh tra của Chính phủ (trọng tâm thực hiện một số ngành nghề cụ thể); tình hình thực tiễn theo dõi, tổng hợp thông tin về ngành, lĩnh vực và theo yêu cầu quản lý nhà nước; đồng thời đánh giá những vấn đề cấp bách, được dư luận và xã hội quan tâm, điển hình lĩnh vực: hóa chất, điện lực, xăng dầu… Trên cơ sở báo cáo, đề xuất kế hoạch thanh tra của Tổng cục và các Cục thuộc Bộ, Thanh tra Bộ sẽ là đơn vị đầu mối, chủ trì, chịu trách nhiệm xây dựng, tổng hợp, rà soát, xử lý chồng chéo về nội dung và trình Bộ trưởng phê duyệt kế hoạch thanh tra của Bộ Công Thương.
1. Một số kết quả đạt được trong tổ chức thực hiện việc xử lý chồng chéo trong công tác lập kế hoạch thanh tra ngành Công Thương
Căn cứ Báo cáo kết quả hoạt động của Thanh tra Bộ trong những năm gần đây, kế hoạch thanh tra hàng năm của Bộ Công Thương được xây dựng theo đúng thời gian quy định, bám sát định hướng và hướng dẫn của Thanh tra Chính phủ, đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước của Bộ Công Thương; chủ động xác định đối tượng thanh tra và các nội dung thanh tra. Theo kế hoạch thanh tra năm 2020, tổng số các cuộc thanh tra của Bộ Công Thương là 185 cuộc thanh tra[1]; theo kế hoạch thanh tra năm 2021, tổng số cuộc thanh tra của Bộ Công Thương là 138 cuộc thanh tra[2]; theo kế hoạch thanh tra năm 2021, tổng số cuộc thanh tra năm 2022 của Bộ Công Thương sau điều chỉnh là 255 cuộc thanh tra[3].
Trong quá trình xây dựng kế hoạch thanh tra, Bộ Công Thương đã chủ động đối chiếu, rà soát với kế hoạch kiểm toán của Kiểm toán Nhà nước, kế hoạch thanh tra của Thanh tra Chính phủ và tổ chức họp trao đổi với các đơn vị thuộc Bộ có chức năng thanh tra để tránh chồng chéo ngay từ khi xây dựng kế hoạch. Bộ Công thương cũng phối hợp với các đơn vị như Bộ Xây dựng, Bộ Tài chính, Thanh tra Chính phủ để giải quyết, đảm bảo các doanh nghiệp không có hai lần bị thanh tra trong một năm. Ngoài ra, khi xây dựng kế hoạch thanh tra hàng năm các đơn vị đều lấy ý kiến các vụ, cục, đơn vị có liên quan thuộc Bộ Công Thương để đảm bảo tránh chồng chéo và lựa chọn đối tượng thanh tra đúng trọng tâm, trọng điểm. Cụ thể: Bộ Công Thương tăng cường sự phối hợp với các sở, ban, ngành địa phương để thực hiện công tác thanh tra chuyên ngành. Ví dụ: Ngày 15 tháng 02 năm 2022, Bộ trưởng Bộ Công Thương ban hành các Quyết định số 188/QĐ-BCT, Quyết định số 189/QĐ-BCT, Quyết định số 192/QĐ-BCT về thanh tra việc chấp hành quy định của pháp luật trong kinh doanh xăng dầu của một số thương nhân kinh doanh xăng dầu. Theo nội dung Quyết định, Đoàn thanh tra bao gồm một số đơn vị thuộc Bộ Công Thương và Sở Công Thương các địa phương. Việc đề nghị Sở Công Thương cử công chức tham gia Đoàn thanh tra đã cho thấy sự phối hợp tích cực giữa Bộ Công Thương và các sở, ban, ngành địa phương.
Việc điều chỉnh, xử lý chồng chéo trong giai đoạn lập kế hoạch thanh tra cũng được Bộ Công Thương quan tâm và tích cực thực hiện với nhiều biện pháp cụ thể. Trong đó, việc đổi mới công tác xây dựng, phê duyệt và chỉ đạo việc thực hiện kế hoạch thanh tra; khắc phục tình trạng chồng chéo, giảm thiểu phiền hà cho doanh nghiệp theo Chỉ thị số 20/CT-TTg ngày 17/05/2017 của Thủ tướng Chính phủ được quan tâm, chú trọng. Khi phát hiện có chồng chéo trong việc lập kế hoạch thanh tra, nếu xảy ra chồng chéo về phạm vi, đối tượng, nội dung, thời gian thanh tra hoặc khi có sự chỉ đạo của thủ trưởng cơ quan quản lý nhà nước, Thanh tra bộ Công Thương sẽ chủ động, tích cực phối hợp với các đơn vị có chức năng thanh tra chuyên ngành thực hiện điều chỉnh kế hoạch thanh tra theo đúng quy định tại Chỉ thị 20 của Thủ tướng Chính phủ và Thông tư số 01/2014/TT-TTCP ngày 23/4/2014 của Thanh tra Chính phủ theo hướng đảm bảo yêu cầu quản lý, phù hợp với tình hình thực tế.
Theo báo cáo tổng kết công tác hàng năm của Thanh tra Bộ, khi phát hiện có chồng chéo trong kế hoạch thanh tra, Thanh tra Bộ đã chủ động, tích cực phối hợp với các cơ quan có chức năng thanh tra chuyên ngành của Bộ Công Thương để xử lý chồng chéo, điều chỉnh kế hoạch theo hướng đảm bảo yêu cầu quản lý và phù hợp với tình hình thực tế. Kế hoạch thanh tra được xây dựng theo định hướng chương trình thanh tra và hướng dẫn của Thanh tra Chính phủ, đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước của Bộ Công Thương, đảm bảo đúng thời gian quy định. Cụ thể:
Năm 2020, Thanh tra Bộ đã trình Bộ trưởng phê duyệt điều chỉnh giảm 133 cuộc thanh tra nhằm tránh chồng chéo khi xây dựng, ban hành kế hoạch thanh tra, đảm bảo tập trung cho công tác chống dịch COVID-19 và hỗ trợ doanh nghiệp vượt qua giai đoạn khó khăn theo đúng yêu cầu của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, phù hợp với tình hình thực tế của cơ quan, đơn vị, địa phương và doanh nghiệp[4].
Năm 2021,Thanh tra Bộ đã trình Bộ trưởng phê duyệt điều chỉnh kế hoạch thanh tra 03 lần (bổ sung 04 cuộc, đưa ra khỏi kế hoạch 245 cuộc) nhằm tránh chồng chéo khi xây dựng, ban hành kế hoạch thanh tra và để phù hợp với tình hình thực tế của cơ quan, đơn vị, địa phương và doanh nghiệp[5].
Năm 2022, Thanh tra Bộ đã trình Bộ trưởng phê duyệt điều chỉnh kế hoạch thanh tra 02 lần nhằm tránh chồng chéo khi xây dựng, ban hành kế hoạch thanh tra và để phù hợp với tình hình thực tế của cơ quan, đơn vị, địa phương và doanh nghiệp. Lần 1: ký ban hành Quyết định số 1298/QĐ-BCT ngày 30/6/2022 về việc điều chỉnh kế hoạch thanh tra năm 2022 của Bộ Công Thương; Lần 2: ký ban hành Quyết định số 2527/QĐ-BCT ngày 25/11/2022 về việc điều chỉnh kế hoạch thanh tra năm 2022 của Bộ Công Thương (lần 2)[6].
Nhìn chung, việc xây dựng, phê duyệt kế hoạch thanh tra hàng năm của Bộ Công Thương được thực hiện theo đúng quy định của pháp luật về thanh tra, định hướng chương trình thanh tra hàng năm được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt và hướng dẫn của Thanh tra Chính phủ, đáp ứng được yêu cầu quản lý nhà nước của ngành Công Thương và quan tâm xử lý chồng chéo.
2. Một số tồn tại, hạn chế và nguyên nhân
Mặc dù việc xây dựng, phê duyệt Chương trình, kế hoạch thanh tra hàng năm của Bộ Công Thương đã được quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo và thực hiện theo đúng quy định nhưng vẫn còn tình trạng chồng chéo trong hoạt động thanh tra của Ngành. Chồng chéo trong hoạt động thanh tra ngành Công Thương là chồng chéo về thẩm quyền xem xét, đánh giá, xử lý theo pháp luật đối với việc thực hiện chính sách, pháp luật, nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan, tổ chức, cá nhân; chồng chéo về thời gian, phạm vi, đối tượng và nội dung thanh tra.
Qua nghiên cứu thực tiễn, có thể khái quát những tồn tại, hạn chế và nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế trong công tác lập kế hoạch thanh tra ngành Công Thương như sau:
Một là, việc xây dựng, phê duyệt hàng năm của một số đơn vị thanh tra ngành Công Thương trên thực tế vẫn bị chậm so với thời gian quy định, làm ảnh hưởng đến việc triển khai và tiến độ ban hành, thực hiện kế hoạch thanh tra chung của toàn Ngành.
Khoản 10, Điều 1 của Nghị định số 54/2020/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 127/2015/NĐ-CP ngày 14 tháng 12 năm 2015 của Chính phủ về tổ chức và hoạt động thanh tra ngành Công Thương quy định Thanh tra Sở căn cứ vào kế hoạch thanh tra của Thanh tra Bộ, Thanh tra tỉnh và yêu cầu công tác quản lý xây dựng kế hoạch thanh tra, trình Giám đốc Sở chậm nhất vào ngày 05 tháng 12 hằng năm. Giám đốc Sở phê duyệt kế hoạch thanh tra chậm nhất vào ngày 15 tháng 12 hằng năm. Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy, nhiều Sở Công thương phê duyệt kế hoạch thanh tra không đúng theo thời hạn quy định, đáng chú ý một số Sở phê duyệt kế hoạch thanh tra vào Quý I của năm thực hiện, dẫn đến thời gian ban hành, gửi kế hoạch thanh tra về Thanh tra Bộ bị chậm, muộn, ảnh hưởng đến tiến độ ban hành kế hoạch thanh tra chung của toàn Ngành.
Theo quy định tại Thông tư 01/2014/TT-TTCP, chậm nhất vào ngày 15 tháng 11 hằng năm, Chánh Thanh tra Bộ, Thủ trưởng cơ quan được giao thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành thuộc Bộ căn cứ vào Định hướng chương trình thanh tra, hướng dẫn của Tổng Thanh tra Chính phủ và yêu cầu công tác quản lý của bộ, cơ quan được giao thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành thuộc Bộ mới phải trình Thủ trưởng cơ quan quản lý nhà nước cùng cấp phê duyệt kế hoạch thanh tra. Sau đó, Bộ trưởng Bộ Công Thương có trách nhiệm xem xét, phê duyệt kế hoạch thanh tra chậm nhất vào ngày 25 tháng 11 hàng năm và gửi cho Thanh tra Chính phủ, các Bộ, ngành, Sở Công Thương các tỉnh, thành phố để phối hợp thực hiện, tránh chồng chéo trong hoạt động thanh tra, đồng thời gửi thông báo cho đối tượng thanh tra, kiểm tra. Trong khi thực tiễn của quá trình xây dựng, trình kế hoạch thanh tra đến khi phê duyệt kế hoạch thanh tra là một khoảng thời gian ngắn, công tác xây dựng kế hoạch thanh tra tại Bộ Công Thương lại phát sinh nhiều vấn đề cần sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện, nên khó đảm bảo được đúng tiến độ theo quy định pháp luật, ảnh hưởng đến chất lượng xây dựng kế hoạch thanh tra của toàn Ngành và công tác xử lý chồng chéo trong hoạt động thanh tra ngành Công Thương.
Do vậy, với các mốc thời gian quy định như trên, việc một số cơ quan, đơn vị khó đảm bảo đúng quy định về thời hạn ban hành kế hoạch thanh tra là điều khó tránh khỏi.
Nguyên nhân là do nhận thức của thủ trưởng cơ quan hành chính nhà nước, thủ trưởng cơ quan thanh tra nhà nước, thủ trưởng các cơ quan nhà nước khác, cán bộ, công chức trực tiếp thực hiện nhiệm vụ thanh tra về việc xây dựng và thực hiện kế hoạch thanh tra nhiều nơi, nhiều lúc còn hạn chế, chưa thực sự coi trọng và đầu tư nguồn lực vào công tác này, chưa nắm chắc các nguyên tắc, yêu cầu đối với việc xây dựng và thực hiện kế hoạch thanh tra. Một số thủ trưởng cơ quan còn thiếu quan tâm trong việc tổ chức, triển khai công tác lập kế hoạch thanh tra; thiếu chủ động, tích cực trong kiểm tra, chỉ đạo thực hiện kế hoạch thanh tra của các cơ quan có chức năng thanh tra trong phạm vi quản lý nhà nước của mình để xử lý, hạn chế chồng chéo. Ngoài ra, còn do một số cơ quan thanh tra chưa thực sự quyết tâm đổi mới phương pháp, cách thức nắm tình hình, tiến hành thanh tra, dẫn đến tình trạng chồng chéo trong công tác lập kế hoạch thanh tra ngành Công Thương vẫn xảy ra.
Hai là, kế hoạch thanh tra của một số cơ quan thực hiện chức năng thanh tra ngành Công Thương còn dàn trải, chưa có trọng tâm, trọng điểm, chưa bám sát yêu cầu quản lý nhà nước của ngành, chưa phù hợp với Định hướng chương trình thanh tra của Chính phủ, nhất là kế hoạch kiểm tra của Tổng cục được xây dựng không xác định rõ đối tượng (là các tỉnh); không xác định cụ thể thời gian (xác định theo quý)… nên rất khó để xử lý chồng chéo từ khâu xây dựng kế hoạch thanh tra, dẫn đến hậu quả phải tiến hành bổ sung, điều chỉnh nhiều lần trong quá trình thực hiện.
Nguyên nhân là do thiếu cơ chế phối hợp chặt chẽ và toàn diện nhằm tránh chồng chéo giữa các cơ quan thực hiện chức năng thanh tra trong nội bộ ngành Công Thương. Việc phối hợp để tiếp cận, chia sẻ thông tin giữa các cơ quan có chức năng thanh tra hoạt động trong cùng một lĩnh vực với nhau chưa thật tốt còn chưa hoặc thực hiện chưa có hiệu quả cũng phần nào làm ảnh hưởng tới hiệu quả công tác lập kế hoạch thanh tra.
Ba là, hình thức văn bản thể hiện kế hoạch thanh tra giữa các cơ quan thực hiện chức năng thanh tra ngành Công Thương còn chưa thống nhất.
Nguyên nhân là do chưa có sự thống nhất về yêu cầu nội dung và hình thức của kế hoạch thanh tra, kế hoạch thanh tra của nhiều cơ quan, đặc biệt là các cơ quan được giao thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành không rõ về đối tượng, phạm vi, về thời gian – thời kỳ thanh tra, về nội dung thanh tra. Ngoài ra, còn do đội ngũ cán bộ làm công tác xây dựng kế hoạch thanh tra chủ yếu làm việc theo chế độ kiêm nhiệm, chưa được đào tạo bài bản, chuyên nghiệp về công tác lập kế hoạch thanh tra.
Bốn là, vẫn còn xảy ra tình trạng chồng chéo trong công tác xây dựng kế hoạch thanh tra trong nội bộ các cơ quan thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành ngành Công Thương với nhau và giữa ngành Công thương với các Bộ, ngành, địa phương khác, cụ thể là chồng chéo trong công tác lập kế hoạch thanh tra giữa các cơ quan thanh tra nhà nước với các cơ quan được giao thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành; chồng chéo trong công tác lập kế hoạch thanh tra giữa các cơ quan được giao thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành của Bộ với nhau; chồng chéo trong công tác lập kế hoạch thanh tra chuyên ngành giữa các cơ quan thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành của Bộ Công thương với các Bộ, Ngành khác.
Nguyên nhân là do quá trình xây dựng kế hoạch chưa chi tiết, cụ thể, thiếu các tiêu chí pháp lý – khoa học, phương pháp, cách thức cụ thể trong việc xây dựng kế hoạch thanh tra, nhất là đối với thanh tra chuyên ngành ngành Công thương là đơn vị có nhiều lĩnh vực đặc thù, không công khai kế hoạch thanh tra trước. Với chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của các đơn vị thuộc Bộ Công thương, một doanh nghiệp (cơ quan, đơn vị) có thể là đối tượng thanh tra của nhiều đơn vị khác nhau. Và ngành Công Thương có một số lĩnh vực đặc thù nên không thể công bố trước kế hoạch thanh tra (kinh doanh nhà hàng, vũ trường, karaoke …), khó khăn trong việc phối hợp lập kế hoạch thanh tra để tránh chồng chéo.
Năm là, việc phối hợp xử lý chồng chéo trong công tác lập kế hoạch thanh tra giữa các cơ quan thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành của Bộ Công thương vẫn chưa thực sự hiệu quả dẫn đến tình trạng dù Thanh tra Bộ đã xử lý chồng chéo ở khâu xây dựng, ban hành kế hoạch thanh tra, vẫn xuất hiện tình trạng chồng chéo trong quá trình tổ chức thực hiện kế hoạch.
Nguyên nhân xuất phát từ việc chưa có công cụ hữu hiệu để theo dõi, xử lý, phòng ngừa những tình huống chồng chéo trong quá trình xây dựng Chương trình, kế hoạch thanh tra. Việc chưa thật đầy đủ về cơ sở vật chất, điều kiện hỗ trợ cho các cơ quan thanh tra là nguyên nhân dẫn đến việc nắm bắt thông tin về đơn vị trong quá trình khảo sát, xây dựng kế hoạch thanh tra thực hiện chưa thực hiện hoặc thực hiện chưa khoa học. Các cơ quan thanh tra nói chung và các cơ quan có chức năng thanh tra ngành Công Thương nói riêng chưa có một kênh thông tin thống nhất để tiếp cận về hệ thống quản lý kế hoạch thanh tra dẫn đến công tác phối hợp trong việc xây dựng kế hoạch thanh tra cũng gặp khó khăn.
Sáu là, công tác theo dõi, đôn đốc, kiểm tra việc thực hiện kế hoạch thanh tra chưa được tổ chức thực hiện một cách bài bản, có hệ thống.
Nguyên nhân là do việc xây dựng kế hoạch thanh tra của các cơ quan thanh tra ngành Công Thương chưa có sự liên thông, phối hợp đồng bộ, nhất quán và hiệu quả giữa các cơ quan có chức năng thanh tra trong việc hạn chế tiến tới chấm dứt tình trạng chồng chéo trong toàn ngành Công Thương.
Những tồn tại, bất cập trong công tác lập kế hoạch thanh tra nói trên còn xuất phát từ nguyên nhân chính là do pháp luật thanh tra chưa phù hợp với thực tiễn quản lý nhà nước, và đặc thù quản lý nhà nước của ngành Công Thương, đã tác động đến hoạt động bình thường của cơ quan, tổ chức, cá nhân là đối tượng thanh tra; qua đó làm giảm hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước.
3. Giải pháp khắc phục những tồn tại, hạn chế trong tổ chức thực hiện nhằm xử lý chồng chéo trong công tác lập kế hoạch thanh tra ngành Công Thương
Nhằm góp phần giải quyết những tồn tại, hạn chế trong tổ chức thực hiện công tác lập kế hoạch thanh tra nhằm xử lý chồng chéo hoạt động thanh tra ngành Công Thương, bài viết đề xuất một số giải pháp như sau:
Thứ nhất, tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của các cơ quan có chức năng thanh tra trong công tác xây dựng và thực hiện kế hoạch thanh tra trong toàn ngành Công Thương. Nâng cao chất lượng công tác xây dựng định hướng chương trình thanh tra, xác định rõ các nội dung cần tập trung thanh tra, hạn chế tối đa tình trạng chồng chéo trong việc xây dựng kế hoạch thanh tra nội bộ ngành Công Thương.
Thứ hai,tăng cường trách nhiệm phối hợp và bảo đảm phối hợp thực chất giữa các cơ quan có chức năng thanh tra và các cơ quan nhà nước khác trong xây dựng và thực hiện kế hoạch thanh tra ngành Công Thương.
Thứ ba, tăng cường đội ngũ cán bộ làm công tác xây dựng kế hoạch thanh tra, đôn đốc, theo dõi, kiểm tra việc xây dựng và thực hiện kế hoạch thanh tra ở các cơ quan có chức năng thanh tra ngành Công Thương, nhằm đáp ứng các yêu cầu nhiệm vụ được giao. Bổ sung biên chế cho lực lượng thanh tra chuyên ngành, đặc biệt là lực lượng quản lý thị trường. Với tính chất phải di chuyển để tìm kiếm, phát hiện những vi phạm của các chủ thể thương mại nên với số lượng biên chế như hiện tại khiến việc tổ chức thực thi pháp luật của lực lượng quản lý thị trường gặp rất nhiều khó khăn.
Thứ tư, nghiên cứuxây dựng cơ sở dữ liệu mở về các cơ quan, đơn vị thuộc phạm vi thẩm quyền thanh tra chuyên ngành ngành Công Thương, tích hợp lộ trình các thông tin về việc chấp hành chính sách, pháp luật của cơ quan, tổ chức, cá nhân, thông tin về các lần thanh tra của cơ quan thanh tra đối với cơ quan, tổ chức (nội dung, thời gian, kết quả thanh tra, việc khắc phục hạn chế, thiếu sót đã được chỉ ra qua thanh tra….). Đây là một trong những nguồn thông tin quan trọng phục vụ cho công tác xây dựng kế hoạch thanh tra của các cơ quan thanh tra ngành Công Thương.
Thứ năm, nghiên cứu xây dựng phần mềm quản lý kế hoạch thanh tra chung đối với toàn ngành Công Thương, Thanh tra Bộ là đơn vị quản lý phần mềm, trong đó tích hợp các cơ sở dữ liệu về các đơn vị thanh tra của Tổng Cục, các Cục, Vụ ngành Công Thương nhằm theo dõi công tác xây dựng, ban hành, phê duyệt và thực hiện kế hoạch thanh tra của các cơ quan trực thuộc Bộ./.
Viện Chiến lược và Khoa học thanh tra
[1] Nguồn: Báo cáo tổng kết công tác năm 2020 của Thanh tra Bộ Công Thương
[2] Nguồn: Báo cáo tổng kết công tác năm 2021 của Thanh tra Bộ Công Thương
[3] Nguồn: Báo cáo tổng kết công tác năm 2022 của Thanh tra Bộ Công Thương
[4] Nguồn: Báo cáo tổng kết công tác năm 2020 của Thanh tra Bộ Công Thương
[5] Nguồn: Báo cáo tổng kết công tác năm 2021 của Thanh tra Bộ Công Thương
[6] Nguồn: Báo cáo tổng kết công tác năm 2021 của Thanh tra Bộ Công Thương
1. Khái niệm quyền thanh tra
(i) Quyền thanh tra là một loại quyền lực nhà nước/thuộc nội hàm của quyền lực nhà nước và là quyền hành pháp, bởi theo Hiến pháp năm 2013[1], “Chính phủ là cơ quan thực hiện quyền hành pháp”; và quyền hành pháp là “quyền năng trực tiếp trong hoạch định chính sách, đề xuất đường hướng phát triển kinh tế – xã hội; ban hành chính sách, pháp luật theo thẩm quyền hoặc được ủy quyền lập pháp; tổ chức đưa pháp luật vào thực tiễn cuộc sống; kiểm tra, thanh tra việc thực hiện chính sách, pháp luật; áp dụng pháp luật trong những trường hợp cần thiết”[2]. Do đó, việc thực thi quyền lực trong hoạt động thanh tra của các chủ thể thanh tra nhà nước là quá trình nhân danh nhà nước nói chung, nhân danh cơ quan hành chính nhà nước để sử dụng quyền năng của nhà nước trong tiến hành thanh tra.
(ii) Quyền thanh tra là một thành tố cấu thành của quyền lực hành chính, được phái sinh từ quyền lực hành chính. Do đó, quyền lực trong hoạt động thanh tra có đặc điểm là ban hành mệnh lệnh và yêu cầu phục tùng mệnh lệnh. Thực hiện chức năng quản lý nhà nước, các chủ thể thanh tra thể hiện quyền lực của chủ thể quản lý nhà nước đối với đối tượng quản lý nhà nước thông qua các quyết định, kết luận, yêu cầu, kiến nghị – những văn bản mang tính mệnh lệnh, đòi hỏi này có thể làm cơ sở cho việc sửa đổi, bổ sung chính sách, pháp luật hay hoạt động quản lý, điều hành; có khả năng làm dịch chuyển, thay đổi quyền và lợi ích của các đối tượng thuộc phạm vi quản lý nhà nước theo hai hướng tích cực và bất lợi – thậm chí trong rất nhiều trường hợp có thể làm xâm hại đến quyền cơ bản của công dân theo quy định của Hiến pháp, chẳng hạn các quyền về sở hữu tài sản.
(iii) Quyền thanh tra được quy định và giới hạn bởi hiến pháp, pháp luật. Các bản Hiến pháp Việt Nam đều quy định nhiệm vụ, quyền hạn của Chính phủ, bao gồm nhiệm vụ, quyền hạn thanh tra – kiểm tra. Luật Thanh tra, Luật Tổ chức Chính phủ, Luật Tổ chức Chính quyền địa phương và các văn bản pháp luật chuyên ngành đều căn cứ vào Hiến pháp để thể chế cụ thể nhiệm vụ, quyền hạn của các chủ thể có thẩm quyền, có trách nhiệm hoặc có liên quan đến hoạt động thanh tra. Ở các mức độ cụ thể khác nhau, những văn bản pháp luật này đều có ý nghĩa trao quyền lực, quy định phương thức thực thi quyền lực, bảo đảm việc thực thi quyền lực và bảo đảm sự giới hạn quyền lực của các chủ thể có chức năng thanh tra trong hoạt động thanh tra.
(iv) Quyền thanh tra luôn có khả năng bị tha hóa; các chủ thể của quyền thanh tra luôn có nguy cơ lạm quyền, tham nhũng, tiêu cực, xung đột lợi ích trong tất cả các giai đoạn của quá trình thanh tra. Theo đó, các chủ thể thanh tra nhà nước luôn tiềm ẩn rủi ro rất cao khi thực hiện quyền lực được ủy thác, đó là nguy cơ lạm dụng quyền lực, “ngộ nhận quyền lực” hoặc cẩu thả, qua loa khi ban hành hay đề xuất ban hành các kế hoạch, kết luận, quyết định, yêu cầu về thanh tra trái pháp luật, thiếu khả thi, tùy tiện, chủ quan, thiếu cơ sở pháp lý và thiếu tính thực tiễn làm xâm hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của nhà nước, tổ chức và người dân. Chẳng hạn việc ban hành hay đề xuất ban hành các kế hoạch thanh tra, các kết luận, quyết định xử lý về thanh tra thiếu căn cứ, thiếu chính xác, thiếu khách quan, không rõ ràng khi xác định lỗi, động cơ, mức độ thiệt hại của hành vi vi phạm và trách nhiệm của đối tượng thanh tra và các chủ thể liên quan như: Thu hồi, phong tỏa, niêm phong, kê biên, tạm giữ tiền, tài sản, đồ vật, giấy phép trong vụ việc thanh tra; đình chỉ, tạm đình chỉ, xử lý kỷ luật cán bộ, công chức sai phạm; sửa đổi, bổ sung, hủy bỏ văn bản quy phạm pháp luật hay văn bản quản lý điều hành; chuyển hồ sơ vụ việc sang cơ quan điều tra, viện kiểm sát đề nghị khởi tố….Các hành vi này đều có thể gây ra hậu quả nghiêm trọng về kinh tế, chính trị, xã hội; làm suy giảm uy tín của ngành Thanh tra; bị dư luận phản ứng; bị khiếu nại, tố cáo; bị xử lý hành chính, hình sự và chịu trách nhiệm bồi thường nhà nước.
2. Nội dung quyền thanh tra
Nội dung quyền thanh tra được Luật Thanh tra, Luật Tổ chức Chính phủ, Luật Tổ chức chính quyền địa phương và các văn bản pháp luật chuyên ngành thể chế cụ thể, chi tiết theo từng nhóm chủ thể tiến hành hoạt động thanh tra. Có thể tổng hợp các nhóm quyền, trách nhiệm và nghĩa vụ chủ yếu của các chủ thể tiến hành thanh tra qua các giai đoạn trước, trong và sau hoạt động thanh tra trực tiếp như sau:
(i) Quyền xây dựng, ban hành định hướng, chương trình, kế hoạch thanh tra hàng năm;
(ii) Quyền ra quyết định thanh tra song cùng với việc xác định đối tượng, nội dung, phạm vi, kế hoạch tiến hành cuộc thanh tra;
(iii) Quyền tổ chức, thành lập đoàn thanh tra và phân công nhiệm vụ cho các thành viên đoàn thanh tra;
(iv) Quyền tổ chức cuộc thanh tra; quyền thanh tra lại; quyền kiểm tra tính chính xác, hợp pháp của kết luận thanh tra theo quy định của pháp luật;
(v) Quyền kiểm tra, xác minh, làm rõ những vấn đề thuộc nội dung thanh tra;
(vi) Quyền giám định và trưng cầu giám định tư pháp, giám định chuyên môn về các vấn đề thuộc nội dung thanh tra;
(vii) Quyền giám sát, kiểm tra hoạt động thanh tra, hoạt động của đoàn thanh tra
(vii) Quyền thẩm định dự thảo kết luận thanh tra;
(viii) Quyền báo cáo kết quả thanh tra; dự thảo và ban hành kết luận thanh tra;
(ix) Quyền quyết định xử lý về thanh tra và kiến nghị xử lý về thanh tra, bao gồm xử phạt vi phạm hành chính; thu hồi tiền, tài sản của đối tượng thanh tra có hành vi vi phạm pháp luật; xử lý kỷ luật cán bộ, công chức có hành vi vi phạm.
3. Thực thi quyền thanh tra
Để thực hiện được chức năng thanh tra thì các chủ thể thanh tra phải được pháp luật trao quyền lực. Nội dung quyền thanh tra được thể hiện trong các quy định về nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân như đã phân tích ở phần trên. Ngoài các văn bản pháp luật về thanh tra, các nội dung về quyền thanh tra còn được quy định trong các văn bản pháp luật chuyên ngành, các văn bản khác của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền và chứa đựng trong các nguyên tắc phổ quát của quản lý hành chính nhà nước. Theo đó, các văn bản pháp luật do bộ, ngành hoặc chính quyền địa phương ban hành cũng có thể là cơ sở để xác định nội dung quyền lực trong hoạt động thanh tra. Tuy nhiên, việc thực thi quyền lực trong hoạt động thanh tra cần phải được tiếp cận đồng thời trên 02 phương diện, đó là: (i) Tiềm năng, khả năng về quyền đã được luật định hoặc theo nguyên tắc của quản lý hành chính nhà nước, và (ii) quá trình chuyển hóa, hiện thực hóa khả năng, tiềm năng đó vào thực tiễn các giai đoạn của hoạt động thanh tra. Theo đó, khái niệm thực thi quyền lực trong hoạt động thanh tra có thể được phân tích qua các giai đoạn của hoạt động thanh tra như sau:
(i) Giai đoạn xây dựng, phê duyệt định hướng, chương trình, kế hoạch thanh tra hàng năm: Chủ thể chính thực thi quyền lực sẽ là thủ trưởng cơ quan quản lý nhà nước, thủ trưởng cơ quan thanh tra nhà nước, thủ trưởng cơ quan được giao chức năng thanh tra chuyên ngành. Phương thức thực thi quyền lực trong giai đoạn này được thể hiện qua hình thức tham mưu – đề xuất, chỉ đạo, phê duyệt, quyết định định hướng, chương trình, kế hoạch thanh tra hàng năm. Trong quá trình này, khả năng về quyền theo luật định và quyền theo các nguyên tắc của quản lý hành chính nhà nước được các chủ thể như thủ trưởng cơ quan quản lý nhà nước, thủ trưởng cơ quan thanh tra nhà nước, thủ trưởng cơ quan được giao chức năng thanh tra chuyên ngành thể hiện/vật chất hóa qua các hành vi cụ thể – thông thường bằng văn bản – như chỉ đạo, tham mưu – đề xuất, quyết định. Trong giai đoạn này, việc thực thi quyền lực của các chủ thể chủ yếu mang tính nội bộ giữa cấp trên và cấp dưới trong hệ thống cơ quan hành chính nhà nước và cơ quan thanh tra nhà nước.
(ii) Giai đoạn xây dựng, phê duyệt kế hoạch hoạt động thanh tra trực tiếp. Theo quy định của pháp luật và theo các nguyên tắc của quản lý hành chính nhà nước, chủ thể chính thực thi quyền lực là người ra quyết định thanh tra, đơn vị được giao theo dõi thực hiện kế hoạch thanh tra, thủ trưởng đơn vị chủ trì cuộc thanh tra (trong mối quan hệ với người được giao nhiệm vụ khảo sát, nắm tình hình chuẩn bị thanh tra), người dự kiến được phân công làm trưởng đoàn thanh tra. Quyền lực của chủ thể được thể hiện qua quyền tham mưu – đề xuất, yêu cầu; quyền chấp thuận hoặc không chấp thuận. Trong giai đoạn này, việc thực thi quyền lực của các chủ thể chủ yếu mang tính nội bộ hệ thống cơ quan thanh tra nhà nước; giữa cấp trên và cấp dưới của chủ thể có thẩm quyền xây dựng, phê duyệt kế hoạch thanh tra trực tiếp.
Ngoài ra, trong giai đoạn này, quyền lực trong hoạt động thanh tra cũng có thể phát sinh trong mối quan hệ giữa các chủ thể sẽ tiến hành thanh tra trực tiếp và “đối tượng thanh tra tiềm năng” trong hoạt động khảo sát, nắm tình hình trước khi xây dựng kế hoạch, đề cương thanh tra trực tiếp – đây là hoạt động chưa được luật hóa. Trong mối quan hệ “khảo sát, nắm tình hình” này, quyền lực thực tế của các chủ thể thanh tra thường được thể hiện qua các hành vi thu thập thông tin, tài liệu có liên quan và yêu cầu – đề nghị “đối tượng thanh tra tiềm năng” phối hợp trong quá trình khảo sát, nắm tình hình, thu thập thông tin có liên quan phục vụ việc xây dựng kế hoạch thanh tra trực tiép.
Bên cạnh đó, trong giai đoạn này, việc thực thi quyền lực của các chủ thể là thủ trưởng cơ quan quản lý nhà nước, thủ trưởng cơ quan thanh tra nhà nước, thủ trưởng cơ quan được giao chức năng thanh tra chuyên ngành cũng có thể được chuyển hóa từ quyền năng luật định và từ các nguyên tắc của quản lý hành chính nhà nước thành các hành vi cụ thể tùy theo địa vị pháp lý của mình, bao gồm các hành vi tham mưu, chỉ đạo, quyết định về: Nhân sự tham gia đoàn thanh tra; điều kiện tài chính – kỹ thuật bảo đảm cho hoạt động thanh tra, nhất là hoạt động thanh tra trực tiếp; thời gian, thời hạn, thời kỳ thanh tra; phạm vi đối tượng và nội dung thanh tra; biện pháp pháp lý – nghiệp vụ áp dụng trong tiến hành thanh tra; quan hệ phối hợp trong hoạt động thanh tra; phân công tổ, nhóm, người giám sát hoạt động thanh tra; cơ chế thông tin – báo cáo trong hoạt động thanh tra; xử lý rủi ro trong hoạt động thanh tra;…
(iii) Giai đoạn tiến hành hoạt động thanh tra trực tiếp: Giai đoạn tiến hành thanh tra trực tiếp chính là “môi trường, điều kiện” để chuyển hóa tiềm năng quyền lực được luật định hoặc được ủy quyền đối với người ra quyết định thanh tra, trưởng đoàn thanh tra, thành viên đoàn thanh tra thành các hành vi cụ thể tùy thuộc vị trí, vai trò của các chủ thể này trong quá trình thanh tra. Về cơ bản, quyền lực của các chủ thể trong giai đoạn này sẽ được thực hành, áp dụng từ sau khi quyết định thanh tra được công bố và kế hoạch thanh tra được phê duyệt, ban hành đến khi kết thúc hoạt động thanh tra trực tiếp, bao gồm hoàn thành báo cáo kết quả thanh tra và kết luận thanh tra. Cụ thể là:
– Đối với người ra quyết định thanh tra: Người ra quyết định thanh tra có thể là thủ trưởng cơ quan quản lý nhà nước, thủ trưởng cơ quan thanh tra nhà nước, thủ trưởng cơ quan được giao chức năng thanh tra chuyên ngành. Căn cứ các quy định của pháp luật, người ra quyết định thanh tra thực thi quyền lực thông qua các hành vi: Chỉ đạo, kiểm tra, giám sát hoạt động của đoàn thanh tra; yêu cầu đối với đối tượng thanh tra; yêu cầu nghiệp vụ liên quan đến nội dung thanh tra; kiến nghị đối với chủ thể có liên quan đến hoạt động thanh tra; quyết định hay kiến nghị xử lý đối với thành viên đoàn thanh tra; quyết định hay kiến nghị xử lý đối với đối tượng thanh tra hay tài sản của đối tượng thanh tra trong quá trình thanh tra trực tiếp; kết luận về nội dung thanh tra; quyết định xử lý kết quả thanh tra…
– Đối với trưởng đoàn thanh tra: Trưởng đoàn thanh tra là người có vai trò hết sức quan trọng trong quá trình tổ chức thực hiện nhiệm vụ thanh tra trực tiếp. Quyền lực của trưởng đoàn thanh tra được pháp luật quy định và theo sự phân công, ủy quyền của người ra quyết định thanh tra trước hết thể hiện qua các hành vi chỉ đạo, điều hành đoàn thanh tra thực hiện nhiệm vụ thanh tra do người ra quyết định thanh tra giao phó thể hiện tập trung trong kế hoạch thanh tra. Trong quá trình thanh tra trực tiếp, trưởng đoàn thanh tra được sử dụng các quyền yêu cầu, quyết định, quyền kiến nghị đối với thành viên đoàn thanh tra, đối tượng thanh tra, đối tượng có liên quan; quyền báo cáo, kiến nghị, đề xuất với người ra quyết định thanh tra.
– Đối với thành viên đoàn thanh tra: Thành viên đoàn thanh tra là người có vai trò trực tiếp cùng trưởng đoàn thanh tra tổ chức thực hiện nhiệm vụ thanh tra theo yêu cầu, nội dung của quyết định thanh tra và kế hoạch thanh tra. Quyền lực của thành viên đoàn thanh tra được pháp luật quy định và theo sự phân công, ủy quyền của trưởng đoàn thanh tra. Trong quá trình thanh tra trực tiếp, thành viên đoàn thanh tra được sử dụng các quyền yêu cầu đối với đối tượng thanh tra, quyền báo cáo, kiến nghị đối với trưởng đoàn thanh tra về những vấn đề liên quan đến nội dung thanh tra và những vấn đề liên quan đến tổ chức, hoạt động của đoàn thanh tra theo quyết định và kế hoạch thanh tra đã được phê duyệt.
– Đối với thủ trưởng cơ quan hành chính nhà nước, thủ trưởng cơ quan thanh tra nhà nước, thủ trưởng cơ quan được giao chức năng thanh tra chuyên ngành. Trong giai đoạn tiến hành thanh tra, các chủ thể này có thể thực hiện các hành vi quyền lực theo quy định của pháp luật, nguyên tắc của quản lý hành chính nhà nước hoặc theo ủy quyền, như: Chỉ đạo, theo dõi, đôn đốc quá trình tiến hành hoạt động thanh tra; giám sát, kiểm tra, thanh tra trách nhiệm đối với hoạt động thanh tra; yêu cầu đối với trưởng đoàn thanh tra và thành viên đoàn thanh tra; yêu cầu, đề nghị đối tượng thanh tra và chủ thể có liên quan phối hợp trong hoạt động thanh tra; quyết định, kiến nghị xử lý về thanh tra; kết luận hoặc đề xuất kết luận thanh tra; quyết định việc sử dụng báo cáo kết quả giám sát hoạt động của đoàn thanh tra; quyết định việc sử dụng báo cáo kết quả thẩm định dự thảo kết luận thanh tra; quyết định hay kiến nghị xử lý đối với thành viên đoàn thanh tra;…
Tóm lại, thực thi quyền thanh tra là quá trình chuyển hóa các quyền, trách nhiệm, nghĩa vụ được luật định hoặc được xác định bởi các nguyên tắc của quản lý hành chính nhà nước (tồn tại dưới dạng tiềm năng – năng lực pháp luật) của các chủ thể thanh tra thành các hành vi của từng chủ thể trong toàn bộ quá trình thanh tra thông qua các hoạt động: Xây dựng, phê duyệt, ban hành định hướng, chương trình, kế hoạch thanh tra hàng năm; chuẩn bị thanh tra trực tiếp; ban hành quyết định thanh tra trực tiếp và kế hoạch thanh tra trực tiếp; tổ chức tiến hành thanh tra trực tiếp; xây dựng, ban hành báo cáo kết quả thanh tra và kết luận thanh tra; xử lý và kiến nghị, yêu cầu xử lý về thanh tra… Hình thức thể hiện quyền lực của chủ thể có thẩm quyền trong hoạt động thanh bao gồm: Quyền chỉ đạo, hướng dẫn; quyền quyết định; quyền kết luận thanh tra; quyền kiến nghị, quyền yêu cầu… trong tổ chức, hoạt động thanh tra và trong xử lý về thanh tra.
4. Biểu hiện tha hóa của quyền thanh tra
Quá trình theo dõi, thống kê, tổng kết thực tiễn hoạt động thanh tra thời gian qua đã xác định được các biểu hiện của tha hóa quyền lực trong hoạt động thanh tra gây khó khăn, vướng mắc, tổn thất cho các chủ thể thanh tra nhà nước và cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan đến hoạt động thanh tra. Trong đó, các hành vi lạm quyền, lộng quyền, tùy tiện, vô trách nhiệm, bất lực, lợi dụng quyền lực, tiếm quyền, tham quyền cố vị, quan liêu, sự tập trung quyền lực quá đáng (độc đoán, chuyên quyền, sự phân tán quyền lực và nạn “kiêu binh” luôn có khả năng hiện diện trong các giai đoạn tiến hành cuộc thanh tra, từ giai đoạn chuẩn bị thanh tra đến giai đoạn thực hiện cuộc thanh tra và kết thúc cuộc thanh tra. Có rất nhiều biểu hiện thực tiễn về tha hóa quyền lực trong hoạt động thanh tra. Sau đây là một số ví dụ điển hình và hậu quả của nó:
(i) Trong giai đoạn chuẩn bị thanh tra
– Các chủ thể có thẩm quyền, trách nhiệm trong xây dựng Định hướng chương trình thanh tra, kế hoạch thanh tra hàng năm vì lợi ích cá nhân đã tham mưu hoặc quyết định, phê duyệt, ban hành các văn bản chính sách quan trọng này thiếu căn cứ khách quan, thiếu minh bạch, không xuất phát từ mục tiêu nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước đối với ngành, lĩnh vực; không căn cứ vào các dấu hiệu sai phạm của cơ quan, tổ chức được người dân và cơ quan báo chí khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh; không quan tâm đên sự chồng chéo, trùng lặp với hoạt động thanh tra, kiểm toán khác; cố ý để ngoài danh sách thanh tra theo kế hoạch các doanh nghiệp “sân sau”, những tổ chức “thân hữu; cố ý đưa vào danh sách các tổ chức, doanh nghiệp là “đối thủ” của mình để có cơ hội “triệt hạ”; trục lợi qua việc cố tình để lọt thông tin về việc “đưa vào – rút ra” danh sách đối tượng thanh tra hàng năm; có biểu hiện sách nhiễu, dọa dẫm trong quá trình khảo sát, nắm tình hình tại doanh nghiệp, tổ chức là “đối tượng thanh tra tiềm năng”…
– Các chủ thể có thẩm quyền, trách nhiệm trong hoạt động thanh tra không khảo sát, nắm tình hình không đầy đủ, không khách quan hoặc thiếu thông tin về đối tượng thanh tra và các đối tượng liên quan dẫn đến thiếu căn cứ ban hành quyết định thanh tra; không bảo đảm điều kiện về nhân sự, tài chính, kỹ thuật và chuyên môn nghiệp vụ của đoàn thanh tra; kế hoạch tiến hành thanh tra không cụ thể, không xác định rõ đối tượng – phạm vi, mục đích, yêu cầu, nội dung, phương pháp, thời hạn tiến hành thanh tra; việc xác định cơ cấu, thành phần, số lượng thành viên đoàn thanh tra và phân công nhiệm vụ cho các thành viên không đúng đắn, tính khách quan, chính xác, không phù hợp với năng lực, sở trường của thành viên đoàn thanh tra, không xử lý được xung đột lợi ích của các thành viên đoàn thanh tra…; người ra quyết định thanh tra, trưởng đoàn thanh tra và thành viên đoàn thanh tra không dự liệu được những khó khăn mà đoàn thanh tra sẽ gặp phải dẫn đến bị động, lúng túng hoặc không thể hoàn thành nhiệm vụ; người ký chương trình, kế hoạch thanh tra không chấp nhận đề xuất đúng đắn của cơ quan thanh tra do có quan hệ thân hữu, lợi ích với các doanh nghiệp, tổ chức là đối tượng thanh tra…
– Sự trùng lặp về phạm vi, đối tượng, nội dung, thời gian thanh tra giữa các cơ quan thực hiện chức năng thanh tra và hoạt động kiểm tra, kiểm toán, giám sát của các cơ quan khác làm cản trở hoạt động bình thường của cơ quan, tổ chức, cá nhân là đối tượng thanh tra. Việc thực hiện thanh tra, kiểm tra trong hoạt động quản lý nhà nước không chỉ có các cơ quan thanh tra mà còn có cơ quan kiểm toán nhà nước, cơ quan kiểm tra của Đảng, giám sát của Quốc hội, Hội đồng nhân dân và Mặt trận Tổ quốc và hoạt động kiểm tra theo chức năng của các cơ quan quản lý nhà nước kiểm tra trong chính nội bộ quản lý của mình. Ngoài ra, việc quản lý theo lãnh thổ và ngành, lĩnh vực cũng dẫn tới việc trùng lắp trong quản lý nhà nước. Luật Thanh tra năm 2010 đã quy định nguyên tắc không trùng lặp về phạm vi, đối tượng, nội dung thanh tra, thời gian qua, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Chỉ thị số 20/2017/CT-TTg ngày 17 tháng 5 năm 2017 quy định chỉ thanh tra 01 lần/doanh nghiệp trong năm trừ trường hợp có lý do đột xuất. Đây là một trong những giải pháp vĩ mô với ý nghĩa kiểm soát quyền lực trong hoạt động thanh tra, nhằm hạn chế rủi ro trùng lặp trong hoạt động thanh tra, kiểm tra, kiểm toán… Tuy nhiên, nếu các chủ thể thanh tra và các chủ thể nhà nước khác lạm dụng quyền lực, coi thường các nguyên tắc cơ bản trong hoạt động thanh tra sẽ làm ảnh hưởng trực tiếp tới hoạt động của đối tượng thanh tra, cơ quan, tổ chức có liên quan, gây ra phản ứng tiêu cực, ảnh hưởng đến sự tuân thủ pháp luật, trật tự quản lý nhà nước.
(ii) Trong giai đoạn tiến hành thanh tra
– Tham nhũng, tiêu cực trong hoạt động thanh tra. Đây là biểu hiện phổ biến của tha hóa quyền lực và thường xuyên được dư luận quan tâm. Các chủ thể có thẩm quyền, trách nhiệm trong hoạt động thanh tra đều có thể là chủ thể, tác nhân hoặc nạn nhân của hành vi tham nhũng, tiêu cực. Nguyên nhân của sự tha hóa này đến từ nhiều phía, chẳng hạn: Sự thiếu liêm chính trong hoạt động công vụ của cán bộ, công chức thanh tra; tâm lý của đối tượng thanh tra luôn mong muốn đoàn thanh tra, người ra quyết định thanh tra, người ban hành kết luận thanh tra… giảm nhẹ hoặc bỏ qua hành vi vi phạm nên thường dùng nhiều chiêu thức “quan tâm, chăm sóc”, thậm chí là mua chuộc, đưa hối lộ, gây sức ép, đe dọa thành viên đoàn thanh tra và các chủ thể tiến hành thanh tra; thủ trưởng cơ quan quản lý nhà nước, thủ trưởng cơ quan thanh tra nhà nước, người ra quyết định thanh tra, trưởng đoàn hay thành viên đoàn thanh tra có quan hệ thân hữu, bè phái, lợi ích nhóm hay quan hệ lợi ích không chính đáng với đối tượng thanh tra nên có khả năng bỏ mặc sai phạm, giảm nhẹ sai phạm, tiêu hủy tài liệu chứng cứ… nhằm bảo vệ đối tượng thanh tra; thủ trưởng cơ quan hành chính nhà nước, thủ trưởng cơ quan được giao chức năng thanh tra chuyên ngành, người ra quyết định thanh tra có hành vi chỉ đạo sai trái nhằm bảo vệ đối tượng thanh tra hoặc gây sức ép, gây khó dễ, can thiệp trái pháp luật đối với trưởng đoàn thanh tra, thành viên đoàn thanh tra do họ có quan hệ về lợi ích không chính đáng với đối tượng thanh tra…
– Các chủ thể tiến hành thanh tra cố ý tiết lộ, “rò rỉ” thông tin, tài liệu bí mật trong quá trình thanh tra, dự thảo kết luận thanh tra, dự thảo quyết định xử lý về thanh tra; đánh cắp, tiêu hủy, cố tình làm sai lệch các tài liệu, chứng cứ, vật chứng, mẫu giám định, tang vật vi phạm thu thập được trong quá trình thanh tra, các biên bản làm việc, nhật ký đoàn thanh tra, biên bản xác minh, dự thảo kết luận thanh tra, dự kiến phương án xử lý vi phạm, báo cáo, tờ trình cấp trên về kết quả thanh tra và phương án xử lý… Những thông tin, tài liệu này khi bị tiết lộ ra bên ngoài có thể dẫn đến khả năng “khủng hoảng truyền thông” và có thể kéo theo các hệ lụy phức tạp, nguy hiểm như tài liệu chứng cứ, hiện trường bị ngụy tạo, đánh tráo, bị mất; tạo cơ hội để đối tượng thanh tra và các chủ thể có liên quan bao che, chống đối, đe dọa hoặc “tiếp cận” với người có trách nhiệm trong hoạt động thanh tra để mua chuộc, cầu cạnh, nhờ vả, can thiệp hoặc tung tin thất thiệt nhằm làm giảm uy tín cơ quan và đoàn thanh tra…
– Các chủ thể tiến hành thanh tra không thu thập đầy đủ tài liệu, chứng cứ; bỏ qua các ý kiến, quan điểm của đối tượng thanh tra và đối tượng có liên quan; không bảo quản tài liệu, chứng cứ, tang vật, mẫu giám định dẫn đến sự thất thoát, hư hỏng; không kiểm tra, xác minh, giám định tài liệu, chứng cứ, vật chứng hoặc việc kiểm tra, xác minh, tài liệu, chứng cứ, vật chứng qua loa, đại khái, thiếu khách quan… dẫn đến sự ngộ nhận, sai lệch trong đánh giá, kết luận và xử lý các vấn đề thuộc nội dung thanh tra.
– Các chủ thể tiến hành thanh tra thiếu sự cộng tác, phối hợp của các cơ quan, tổ chức có liên quan trong thu thập, xác minh tài liệu, chứng cứ; trong trưng cầu giám định chuyên môn; trong đề nghị khởi tố vụ án, khởi tố bị can; trong phong tỏa, niêm phong, tạm giữ, tịch thu tài sản, vật chứng… dẫn đến sự chậm muộn, thiếu chính xác trong thu thập, xác minh tài liệu, chứng cứ và trong kết luận, xử lý hành vi vi phạm.
– Tồn tại cùng lúc sự chỉ đạo, sự can thiệp từ nhiều phía – cơ quan và người đứng đầu cơ quan thanh tra nhà nước, cơ quan và người đứng đầu cơ quan cơ quan hành chính nhà nước, các cấp ủy Đảng – có thể với nội dung và yêu cầu khác nhau, thậm chí là xung đột nhau đến tổ chức, hoạt động của đoàn thanh tra. Sự lạm quyền này có thể gây hoang mang, mất phương hướng, thiếu tính độc lập, tự chủ và tự chịu trách nhiệm của cơ quan thanh tra và người đứng đầu cơ quan thanh tra nhà nước, cơ quan được giao chức năng thanh tra chuyên ngành, người ra quyết định thanh tra, trưởng đoàn thanh tra và thành viên đoàn thanh tra trong quá trình thanh tra; có thể dẫn đến hiện tượng các chủ thể có thẩm quyền buông bỏ trách nhiệm, từ chối, đùn đẩy việc ký kết luận thanh tra hay quyết định xử lý về thanh tra.
– Các chủ thể tiến hành thanh tra không bảo đảm thời gian, thời hạn thanh tra theo kế hoạch; không bảo đảm trình tự, thủ tục thanh tra và thời hiệu xử lý về thanh tra theo quy định của pháp luật.
– Trưởng đoàn thanh tra không quản lý, điều hành và kiểm soát tốt mọi công việc của đoàn thanh tra theo kế hoạch, đề cương thanh tra; không kiểm soát được nhân sự và tình hình tổ chức, hoạt động của đoàn thanh tra, xảy ra mâu thuẫn nội bộ đoàn thanh tra; xảy ra xung đột về lợi ích hoặc xung đột về quan điểm nghiệp vụ – pháp luật hoặc xung đột do công tác quản lý, điều hành của trưởng đoàn thanh tra còn bất cập; xung đột về quan điểm công việc và phương pháp công tác giữa đoàn thanh tra, thành viên đoàn thanh tra với tổ hoặc công chức được phân công giám sát hoạt động của đoàn thanh tra.
(iii) Trong giai đoạn kết thúc cuộc thanh tra
– Đoàn thanh tra, người ra quyết định thanh tra không hoàn thành báo cáo kết quả thanh tra và kết luận thanh tra khi đã hết thời hạn theo luật, gây tâm lý căng thẳng, nghi ngại cho đối tượng thanh tra và các chủ thể có liên quan; gây khó khăn cho việc xem xét, đánh giá hay thu thập, xác minh bổ sung tài liệu, chứng cứ nhằm hoàn tất các văn bản quan trọng này khi đoàn thanh tra đã kết thúc thời gian tác nghiệp thực địa, điều này ảnh hưởng trực tiếp đến tính chính xác, khách quan của kết luận thanh tra.
– Các chủ thể có trách nhiệm trong hoạt động thanh tra đã cố tình áp đặt ý chí cá nhân trong ban hành kết luận thanh tra, quyết định, kiến nghị xử lý về thanh tra mà không quan tâm đến việc giải quyết các xung đột về quan điểm chuyên môn, nghiệp vụ và quan điểm áp dụng pháp luật giữa các chủ thể có liên quan (giữa thủ trưởng cơ quan hành chính nhà nước, thanh tra nhà nước; giữa cơ quan hành chính với cơ quan của Đảng; giữa cơ quan thanh tra với các cơ quan kiểm toán, điều tra, giám định, luật sư, trợ giúp pháp lý; giữa đoàn thanh tra với cơ quan thẩm định dự thảo kết luận thanh tra), trong khi sự xung đột quan điểm chuyên môn, nghiệp vụ, quan điểm áp dụng pháp luật trong giữa các chủ thể khu vực công là khá phổ biến và có thể xuất hiện trong toàn bộ quá trình thanh tra.
– Các chủ thể có trách nhiệm trong hoạt động thanh tra có kết luận thanh tra, quyết định, kiến nghị xử lý về thanh tra thiếu chính xác, thiếu khách quan, thiếu khả thi; không được đối tượng thanh tra và các chủ thể có liên quan tôn trọng, thực hiện, tuân thủ; hoặc kết luận thanh tra, quyết định xử lý về thanh tra bị khiếu nại hoặc bị khởi kiện ra tòa hành chính yêu cầu bồi thường nhà nước, buộc cơ quan hoặc người đứng đầu cơ quan thanh tra nhà nước, cơ quan hoặc người đứng đầu cơ quan được giao chức năng thanh tra chuyên ngành công khai xin lỗi, khắc phục hậu quả; trưởng đoàn thanh tra, thành viên đoàn thanh tra bị tố cáo…
5. Bản chất của kiểm soát quyền thanh tra
Tại quy định số 205-QĐ/TW ngày 23 tháng 9 năm 2019 của Bộ Chính trị về việc kiểm soát quyền lực trong công tác cán bộ và chống chạy chức, chạy quyền, “kiểm soát quyền lực trong công tác cán bộ” được định nghĩa là “việc sử dụng cơ chế, biện pháp nhằm thực hiện nghiêm túc các quy định về công tác cán bộ; phòng ngừa, ngăn chặn, phát hiện, xử lý các hành vi vi phạm các quy định của Đảng, Nhà nước, nhất là các hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn, lạm quyền, lộng quyền hoặc không thực hiện đầy đủ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và những việc phải làm trên cương vị được giao trong công tác cán bộ”. Vận dụng quan điểm của Đảng trong lĩnh vực thanh tra, có ý kiến cho rằng “Kiểm soát quyền lực trong hoạt động thanh tra là việc sử dụng cơ chế, biện pháp để phát hiện, loại trừ các nguyên nhân, điều kiện làm nảy sinh tham nhũng, tiêu cực; ngăn chặn, xử lý những hành vi tham nhũng, tiêu cực được thực hiện bởi các chủ thể có thẩm quyền liên quan trực tiếp đến quá trình tiến hành xem xét, đánh giá, xử lý đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân, chủ yếu thông qua hoạt động thanh tra, từ khâu phê duyệt kế hoạch, xác định đối tượng thanh tra, chuẩn bị, tiến hành và đến khi kết thúc một cuộc thanh tra”[3].
Hoạt động thanh tra là sự thực hành chức năng quản lý nhà nước của bộ máy hành pháp và là phương thức sử dụng quyền lực hành pháp để đảm bảo các đối tượng chịu sự quản lý chấp hành chính sách, pháp luật trong việc thực hiện quyền hành pháp. Vì vậy, kiểm soát quyền lực trong hoạt động thanh tra là một trong những nội dung của kiểm soát quyền hành pháp. Kiểm soát quyền hành pháp là nguyên tắc tổ chức và hoạt động nhà nước pháp quyền nhằm bảo đảm chống lại sự tha hóa, lạm quyền của nhánh hành pháp và duy trì kỷ luật, kỷ cương nhà nước. Kiểm soát quyền hành pháp là tổng thể những phương tiện tổ chức – pháp lý được các cơ quan nhà nước, các tổ chức xã hội và công dân sử dụng nhằm ngăn chặn, loại bỏ những hành vi lộng quyền, lạm quyền của các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện quyền hành pháp, bảo đảm cho quyền hành pháp được thực hiện đúng với Hiến pháp và pháp luật; thiết lập trật tự trong quản lý, bảo vệ các quyền, tự do, lợi ích hợp pháp của công dân, lợi ích nhà nước vã xã hội.
Tiếp cận từ khía cạnh kiểm soát quyền hành pháp và căn cứ các đặc điểm pháp lý và thực tiễn của hoạt động thanh tra, có thể định nghĩa: Kiểm soát quyền thanh tra (hay còn gọi là kiểm soát quyền lực trong hoạt động thanh tra) là quá trình các chủ thể nhà nước và xã hội áp dụng các cơ chế, phương thức, biện pháp chính trị – pháp lý nhằm xem xét, theo dõi, đánh giá, xử lý đối với việc thực hiện quyền lực của các chủ thể thanh tra nhằm phòng ngừa, phát hiện, xử lý các biểu hiện tha hóa quyền lực;bảo đảm quyền lực trong hoạt động thanh tra được thực hiện trong khuôn khổ Hiến pháp, pháp luật và góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động thanh tra.
Theo định nghĩa trên, kiểm soát quyền thanh tra có những dấu hiệu bản chất sau:
– Về mặt chủ thể của kiểm soát: Chủ thể của kiểm soát quyền lực trong hoạt động thanh tra là các chủ thể nhà nước và xã hội, bao gồm: Các cơ quan quyền lực nhà nước; cơ quan hành chính nhà nước; cơ quan tư pháp; Kiểm toán Nhà nước; Đảng Cộng sản Việt Nam và các cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam; Mặt trận tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên; các tổ chức xã hội, báo chí, người dân, doanh nghiệp.
– Về mặt đối tượng của kiểm soát: Đối tượng của kiểm soát quyền lực trong hoạt động thanh tra là các chủ thể của quyền thanh tra, bao gồm: Cơ quan và thủ trưởng cơ quan hành chính nhà nước; cơ quan và thủ trưởng cơ quan thanh tra nhà nước; cơ quan và thủ trưởng cơ quan được giao chức năng thanh tra chuyên ngành; người ra quyết định thanh tra; trưởng đoàn thanh tra; thành viên đoàn thanh tra.
– Về mặt khách thể và mục tiêu kiểm soát: Khách thể bảo vệ của kiểm soát quyền lực trong hoạt động thanh tra là các quy định của Hiến pháp, pháp luật về nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm, nghĩa vụ của cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền trong hoạt động thanh tra. Mục tiêu của kiểm soát quyền lực trong hoạt động thanh tra là nhằm phòng ngừa, phát hiện, xử lý các biểu hiện tha hóa quyền lực; bảo đảm quyền lực trong hoạt động thanh tra được thực hiện trong khuôn khổ, giới hạn của Hiến pháp, pháp luật và góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động thanh tra.
– Về mặt khách quan của kiểm soát: Kiểm soát quyền lực trong hoạt động thanh tra được thực hiện thông qua việc áp dụng, thực hiện các cơ chế, phương thức và biện pháp chính trị – pháp lý được Hiến định, luật định hoặc theo Điều lệ, quy định của Đảng Cộng sản Việt Nam, Điều lệ Mặt trận tổ quốc Việt Nam và điều lệ của các tổ chức thành viên của Mặt trận, điều lệ và quy tắc hoạt động của các tổ chức xã hội, báo chí, doanh nghiệp, nhóm xã hội… để xem xét, theo dõi, đánh giá, xử lý đối với việc thực hiện quyền lực của các chủ thể thanh tra.
6. Cơ chế kiểm soát quyền thanh tra
Cơ chế kiểm soát quyền thanh tra là sự đề cập đến mối quan hệ mang tính kiểm soát giữa chủ thể kiểm soát và đối tượng kiểm soát theo tinh thần nhà nước pháp quyền và dựa trên quy định của Hiến pháp, pháp luật, bao gồm cơ chế kiểm soát từ bên ngoài hệ thống cơ quan thanh tra nhà nước, cơ quan hành chính nhà nước và cơ chế kiểm soát bên trong hệ thống hành chính nhà nước, hệ thống thanh tra nhà nước. Đối tượng chịu sự kiểm soát là các chủ thể tiến hành hoạt động thanh tra, bao gồm cơ quan và người đứng đầu cơ quan quản lý nhà nước; cơ quan và người đứng đầu cơ quan thanh tra nhà nước; người ra quyết định thanh tra; trưởng đoàn thanh tra và thành viên đoàn thanh tra. Tính hiệu quả của cơ chế kiểm soát quyền lực trong hoạt động thanh tra phụ thuộc đồng thời vào địa vị chính trị – pháp lý, tính độc lập, năng lực pháp luật và năng lực hành vi của các chủ thể kiểm soát; phụ thuộc vào phương thức, trình tự, thủ tục kiểm soát, sự hợp tác của đối tượng kiểm soát, sự phối hợp của các chủ thể nhà nước và xã hội và các nguồn lực tài chính – kỹ thuật.
6.1. Cơ chế kiểm soát từ bên ngoài hệ thống cơ quan thanh tra nhà nước và cơ quan hành chính nhà nước
Cơ chế kiểm soát từ bên ngoài đối với hoạt động thanh tra được tiến hành bởi 04 nhóm chủ thể: (i) Các chủ thể nhà nước; (ii) các cấp ủy Đảng và cơ quan kiểm tra, nội chính của Đảng; (iii) Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận; (iv) người dân và các chủ thể xã hội khác.
– Kiểm soát của các chủ thể nhà nước: Kiểm soát của các chủ thể nhà nước bao gồm Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp; cơ quan tư pháp; Kiểm toán nhà nước; cơ quan và người đứng đầu cơ quan hành chính các cấp; cơ quan và người đứng đầu cơ quan thanh tra nhà nước; thủ trưởng cơ quan được giao chức năng thanh tra chuyên ngành; người ra quyết định thanh tra; tổ giám sát hoặc công chức được giao giám sát hoạt động thanh tra; trưởng đoàn thanh tra; các đơn vị và công chức có trách nhiệm thẩm định dự thảo kết luận thanh tra. Đây là hoạt động kiểm soát mang tính quyền lực nhà nước được Hiến định (giám sát của Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp) hoặc được luật định (Kiểm toán Nhà nước; kiểm tra, giám sát của các chủ thể thuộc hệ thống hành chính nhà nước và hệ thống các cơ quan thanh tra nhà nước). Trình tự, thủ tục, phương thức, hậu quả giám sát được quy định trong Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội, Hội đồng nhân dân; Luật Thanh tra; Luật Kiểm toán Nhà nước; Luật Tổ chức Chính phủ; Luật Tổ chức Chính quyền địa phương; Luật Cán bộ Công chức; Luật Viên chức… Do đó, về cơ bản, các kết luận thanh tra, kiểm toán, kiểm tra, giám sát đều có giá trị pháp lý với mức độ khác nhau. Trong đó, chế tài của hoạt động giám sát của Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp chủ yếu mang tính chính trị; chế tài của hoạt động kiểm soát của các chủ thể nhà nước khác chủ yếu mang tính pháp lý.
– Kiểm soát của Đảng Cộng sản Việt Nam: Đây là hoạt động kiểm soát mang tính chính trị của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với tổ chức Đảng và đảng viên là cán bộ, công chức tham gia hoạt động thanh tra thuộc các cơ quan hành chính nhà nước, cơ quan thanh tra nhà nước, cơ quan được giao chức năng thanh tra chuyên ngành. Kiểm soát của Đảng Cộng sản Việt Nam được tiến hành thông qua hoạt động của Bộ Chính trị, Ban Chấp hành Trung ương Đảng, các cấp ủy Đảng và của cơ quan kiểm tra, nội chính của cấp ủy Đảng các cấp. Phương thức kiểm soát là kiểm tra, giám sát thường xuyên và kiểm tra, giám sát theo chuyên đề, vụ việc. Cơ sở của kiểm soát là Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam và các văn bản Nghị quyết, Quy định, Quy chế, Chỉ thị, Quyết định, Hướng dẫn của Bộ Chính trị, Ban Chấp hành Trung ương Đảng, của các cấp ủy Đảng và của cơ quan kiểm tra, nội chính của cấp ủy Đảng các cấp. Kiểm soát của Đảng với ý nghĩa phòng ngừa, phát hiện và xử lý kỷ luật Đảng đối với các hành vi tham nhũng, tiêu cực của tổ chức Đảng và cán bộ, đảng viên; chấn chỉnh và nâng cao sức chiến đấu của tổ chức Đảng và Đảng viên; bảo đảm sự tuân thủ nghiêm túc của các tổ chức Đảng và Đảng viên đối với Điều lệ, Nghị quyết của Đảng và chính sách, pháp luật của nhà nước. Trong điều kiện một Đảng cầm quyền, kiểm soát của Đảng đối với cán bộ, đảng viên và tổ chức Đảng trên phạm vi toàn quốc, bao gồm các tổ chức Đảng và cán bộ, đảng viên trong hệ thống thanh tra nhà nước đang tỏ rõ hiệu lực, hiệu quả và sức chiến đấu của Đảng, nhất là trong phòng, chống tham nhũng, tiêu cực.
– Kiểm soát của Mặt trận tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận: Đây là hoạt động kiểm soát không mang tính quyền lực nhà nước của Mặt trận tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên với 02 phương thức chính là giám sát và phản biện xã hội. Cơ sở chính trị – pháp lý chủ yếu là Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Luật Phòng, chống tham nhũng, Luật Khiếu nại, Luật Tố cáo, điều lệ và nghị quyết của các tổ chức chính trị – xã hội là thành viên của Mặt trận Tổ quốc. Hoạt động kiểm soát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam còn thông qua các thiết chế dân chủ ở cơ sở như ban thanh tra nhân dân, ban giám sát đầu tư của cộng đồng và công dân với các hình thức dân chủ trực tiếp. Theo đó, Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam năm 2015 đã quy định về: Quyền và trách nhiệm của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong giám sát, phản biện xã hội (Điều 3); phản ánh ý kiến, kiến nghị của cử tri và Nhân dân (Điều 15); tiếp công dân, tham gia công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo (Điều 18); tham gia xây dựng pháp luật (Điều 21); tham dự các kỳ họp Quốc hội, phiên họp của Ủy ban thường vụ Quốc hội, Chính phủ, kỳ họp Hội đồng nhân dân, phiên họp Ủy ban nhân dân (Điều 22); tham gia phòng, chống tham nhũng, lãng phí (Điều 23); tham gia góp ý, kiến nghị với Nhà nước (Điều 24). Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam năm 2015 cũng dành một chương (Chương V) quy định về giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc với những nội dung chủ yếu như: Đối tượng, nội dung, phạm vi giám sát (Điều 26); hình thức giám sát (Điều 27); quyền và trách nhiệm của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong hoạt động giám sát (Điều 28); quyền và trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân được giám sát (Điều 29)… Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018 đã quy định tại Điều 74 về trách nhiệm của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận trong phòng, chống tham nhũng; tại Điều 77 về trách nhiệm của công dân, Ban thanh tra nhân dân, Ban giám sát đầu tư của cộng đồng…. Như vậy, với các cơ sở chính trị – pháp lý hiện hành, các chủ thể nhà nước có trách nhiệm, quyền hạn trong hoạt động thanh tra đều có thể trở thành đối tượng giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam thông qua các phương thức khác nhau. Đối tượng, nội dung, hình thức, thủ tục giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên về cơ bản đã được Luật định. Kết quả giám sát là các ý kiến yêu cầu, góp ý, kiến nghị, phản biện của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên đối với các chủ thể nhà nước nói chung, bao gồm các chủ thể có thẩm quyền trong hoạt động thanh tra.
– Kiểm soát của xã hội (báo chí, người dân, doanh nghiệp…): Đây là phương thức kiểm soát mang tính xã hội thông qua các hoạt động như khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh của người dân, doanh nghiệp, báo chí, hiệp hội và các tổ chức, nhóm xã hội. Trong đó, một số phương thức kiểm soát đã được hiến định và luật định (khiếu nại, tố cáo, hoạt động báo chí) cụ thể về chủ thể, đối tượng, khách thể, phương thức, hậu quả của kiểm soát và các bảo đảm, bảo vệ của nhà nước trong hoạt động kiểm soát; một số phương thức kiểm soát chưa được thể chế chính thức, đầy đủ bằng quy định pháp luật (kiến nghị, phản ánh), nhất là phản ánh qua đường dây nóng, mạng xã hội. Hiện nay, Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018 đã quy định về trách nhiệm của cơ quan báo chí, nhà báo[4]; về trách nhiệm của doanh nghiệp, hiệp hội doanh nghiệp, hiệp hội ngành nghề trong phòng, chống tham nhũng[5]; về trách nhiệm của công dân, Ban thanh tra nhân dân, Ban giám sát đầu tư của cộng đồng[6] trong phòng, chống tham nhũng. Đặc biệt, Luật Phòng, chống tham nhũng đã quy định rõ quyền và nghĩa vụ của công dân trong phòng, chống tham nhũng với nội dung: “(i) Công dân có quyền phát hiện, phản ánh, tố cáo, tố giác, báo tin về hành vi tham nhũng và được bảo vệ, khen thưởng theo quy định của pháp luật; có quyền kiến nghị với cơ quan nhà nước hoàn thiện pháp luật về phòng, chống tham nhũng và giám sát việc thực hiện pháp luật về phòng, chống tham nhũng. (ii) Công dân có nghĩa vụ hợp tác, giúp đỡ cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền trong phòng, chống tham nhũng”[7]…Đây là các quy định mang tính nguyên tắc, xác lập tiền đề nhằm phát huy vai trò của các thiết chế xã hội và người dân trong giám sát khu vực công, bảo đảm sự tuân thủ pháp luật và đạo đức liêm chính cơ quan và cán bộ, công chức nhà nước và phòng, chống tham nhũng, tiêu cực.
6.2. Cơ chế kiểm soát bên trong hệ thống hành chính nhà nước và hệ thống thanh tra nhà nước
Cơ chế kiểm soát bên trong hệ thống hành chính nhà nước và hệ thống thanh tra nhà nước là cơ chế kiểm soát tự thân của hệ thống cơ quan hành chính nhà nước, cơ quan thanh tra nhà nước, cơ quan được giao chức năng thanh tra chuyên ngành, còn gọi là cơ chế kiểm soát nội bộ hệ thống hay tự kiểm soát. Trong đó, phương thức trọng tâm và chủ yếu là sự kiểm soát của cấp trên đối với cấp dưới trong tiến hành hoạt động thanh tra trực tiếp:
– Giai đoạn chuẩn bị thanh tra:
Mục đích kiểm soát quyền lực trong giai đoạn này là nhằm:
(i) Bảo đảm việc xây dựng Định hướng chương trình thanh tra và kế hoạch thanh tra hàng năm, kế hoạch hoạt động thanh tra là có cơ sở pháp lý, khách quan, minh bach, khả thi và tập trung vào việc đáp ứng các yêu cầu bức xúc của thực tiễn quản lý nhà nước trên các địa bàn, lĩnh vực;
(ii) Bảo đảm nhân sự tham gia đoàn thanh tra và nhân sự giám sát hoạt động của đoàn thanh tra có đủ năng lực, phẩm chất, kỹ năng, bản lĩnh để có thể đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ của cuộc thanh tra cụ thể;
(iii) Bảo đảm điều kiện vật chất – kỹ thuật cho quá trình thanh tra, nhất là thanh tra trực tiếp, thanh tra chuyên ngành;
(iv) Bảo đảm việc xác định thời gian, thời hạn, lộ trình tiến hành thanh tra theo quy định của pháp luật và đáp ứng yêu cầu về chất lượng cuộc thanh tra;
(v) Bảo đảm các phương pháp thu thập, xác minh thông tin, tài liệu, chứng cứ hay các phương pháp nghiệp vụ khác dự kiến được áp dụng phù hợp với địa bàn, lĩnh vực, đối tượng và yêu cầu cuộc thanh tra;
(vi) Bảo đảm phòng ngừa, xử lý xung đột lợi ích và các động cơ cá nhân, vụ lợi từ các chủ thể có liên quan trong thành lập đoàn thanh tra và xây dựng kế hoạch, đề cương thanh tra;
(vii) Dự liệu các rủi ro có thể xảy ra trong quá trình tiến hành thanh tra và phương án xử lý…
Trong giai đoạn này, chủ thể có thẩm quyền chính, trực tiếp trong kiểm soát thực thi quyền lực là thủ trưởng cơ quan hành chính nhà nước, thủ trưởng cơ quan thanh tra nhà nước, thủ trưởng cơ quan được giao chức năng thanh tra chuyên ngành, thủ trưởng đơn vị chủ trì cuộc thanh tra; đơn vị được giao theo dõi việc xây dựng và thực hiện kế hoạch thanh tra của cơ quan thanh tra; những người được giao nhiệm vụ khảo sát, nắm tình hình, chuẩn bị nội dung thanh tra. Chủ thể chính kiểm soát của giai đoạn này – tùy theo nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định của pháp luật – có quyền chấp thuận, không chấp thuận, hoặc yêu cầu bổ sung, giải trình các thông tin liên quan đến công tác nắm tình hình chuẩn bị cho cuộc thanh tra, công tác nhân sự của đoàn thanh tra; ban hành quyết định thanh tra; phân công tổ hoặc cá nhân giám sát hoạt động của đàn thanh tra.
– Giai đoạn tiến hành thanh tra:
Chủ thể và đối tượng kiểm soát: Trong giai đoạn này, các chủ thể kiểm soát quyền lực từ bên ngoài đối với đoàn thanh tra bao gồm: Người ra quyết định thanh tra kiểm soát trưởng đoàn và thành viên đoàn thanh tra; thủ trưởng đơn vị được giao chủ trì cuộc thanh tra kiểm soát trưởng đoàn thanh tra và thành viên đoàn thanh tra là cán bộ, công chức đang công tác tại đơn vị mình quản lý; tổ hoặc người được giao nhiệm vụ giám sát hoạt động đoàn thanh tra; đơn vị, người được giao nhiệm vụ thẩm định dự thảo kết luận thanh tra; trưởng đoàn thanh tra kiểm soát thành viên đoàn thanh tra; đối tượng thanh tra và các chủ thể có quyền và nghĩa vụ liên quan kiểm soát đoàn thanh tra; các thiết chế xã hội như báo chí, doanh nghiệp, hiệp hội, nhóm xã hội và người dân kiểm soát hoạt động của đoàn thanh tra. Ngoài ra, về kiểm soát từ bên trong, trưởng đoàn thanh tra, thành viên đoàn thanh tra có thể thực hiện việc tự kiểm soát trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, công vụ. Trên thực tế, tự kiểm soát có ý nghĩa quan trọng nhất trong hoạt động thanh tra trực tiếp, do hoạt động thanh tra trực tiếp mang tính nghiệp vụ chuyên sâu, được tiến hành độc lập, chỉ tuân theo pháp luật với địa bàn và lĩnh vực hoạt động khác nhau, mặt khác, các chủ thể nhà nước và xã hội khác chỉ có thể tiếp cận đoàn thanh tra và các thông tin, tài liệu liên quan đến tổ chức, hoạt động của đoàn thanh tra theo các thủ tục và trình tự luật định.
– Mục đích của kiểm soát: Trong giai đoạn tiến hành thanh tra, nhất là thanh tra trực tiếp, việc kiểm soát có mục tiêu bảo đảm các chủ thể của hoạt động thanh tra – ở các vị trí công tác khác nhau – thực hiện đúng kế hoạch thanh tra đã được phê duyệt; tuân thủ pháp luật và đạo đức công vụ trong quá trình tiến hành thanh tra; phòng, chống tham nhũng, tiêu cực và các hành vi vi phạm pháp luật; bảo đảm cho các biện pháp nghiệp vụ, các kết luận thanh tra, các quyết định, kiến nghị xử lý về thanh tra là đúng đắn, khách quan và khả thi; bảo đảm trách nhiệm và tăng cường sự đoàn kết, thống nhất trong đoàn thanh tra; phòng ngừa và xử lý các rủi ro trong hoạt động thanh tra.
Nội dung kiểm soát: Nội dung kiểm soát trong giai đoạn này rất rộng, chủ yếu tập trung vào việc thực thi nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm, nghĩa vụ của các chủ thể tiến hành thanh tra như:
(i) Việc triển khai, áp dụng các biện pháp nghiệp vụ như thu thập, xác minh, giám định, đánh giá thông tin, tài liệu, chứng cứ;
(ii) Việc ban hành các văn bản yêu cầu, kiến nghị, biên bản làm việc;
(iii) Việc ban hành kết luận thanh tra, các quyết định, kiến nghị xử lý về thanh tra;
(iv) Việc ban hành và nội dung các báo cáo thường xuyên hoặc đột xuất của đoàn thanh tra;
(v) Thời gian, thời hạn tiến hành thanh tra;
(vi) Năng lực, đạo đức, lối sống, ý thức kỷ luật và mối quan hệ xã hội của các thành viên đoàn thanh tra có liên quan đến nhiệm vụ thanh tra;
(vii) Việc chấp hành nguyên tắc, những điều cấm trong hoạt động thanh tra và quy tắc ứng xử của cán bộ thanh tra;
(viii) Việc áp dụng, thực hiện các quyền trong hoạt động thanh tra;
(ix) Việc tiếp nhận, xử lý ý kiến của đối tượng thanh tra và cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan;
(x) Mối quan hệ nội bộ đoàn thanh tra và giữa đoàn thanh tra với người ra quyết định thanh tra, thủ trưởng đơn vị chủ trì cuộc thanh tra…
Phương thức kiểm soát: Phương thức kiểm soát được áp dụng tùy thuộc địa vị pháp lý của chủ thể kiểm soát. Chẳng hạn người ra quyết định thanh tra thực hiện việc kiểm soát đối với đoàn thanh tra thông qua các báo cáo định kỳ và đột xuất và trực tiếp kiểm tra, giám sát đối với các nội dung cụ thể phát sinh trong quá trình chỉ đạo cuộc thanh tra hoặc kiểm soát thông qua thủ trưởng đơn vị chủ trì cuộc thanh tra và người được giao nhiệm vụ giám sát hoạt động của đoàn thanh tra. Tổ hoặc người được giao nhiệm vụ giám sát hoạt động đoàn thanh tra tiến hành giám sát trực tiếp trong quá trình “đồng hành” với đoàn thanh tra, nghiên cứu các tài liệu có liên quan và xây dựng các báo cáo giám sát. Đơn vị, người được giao nhiệm vụ thẩm định dự thảo kết luận thanh tra tổ chức hoặc đề xuất tổ chức các cuộc họp, về dự thảo kết luận thanh tra, xây dựng báo cáo thẩm định dự thảo kết luận thanh tra. Đối tượng thanh tra, các chủ thể có quyền và nghĩa vụ liên quan đến hoạt động thanh tra; báo chí, doanh nghiệp, hiệp hội, nhóm xã hội và người dân kiểm soát hoạt động của đoàn thanh tra thông qua các hình thức khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh trực tiếp, bằng đơn – thư hoặc thông qua các phương tiện thông tin đại chúng, mạng xã hội…
Trách nhiệm trong hoạt động kiểm soát: Việc kiểm soát quá trình tiến hành thanh tra đòi hỏi sự gắn kết chặt chẽ giữa các chủ thể có thẩm quyền chính trong kiểm tra, giám sát như: Người ra quyết định thanh tra, thủ trưởng đơn vị chủ trì cuộc thanh tra, trưởng đoàn thanh tra, tổ hoặc người được giao nhiệm vụ giám sát hoạt động đoàn thanh tra.Theo đó, thủ trưởng đơn vị được giao nhiệm vụ chủ trì cuộc thanh tra có trách nhiệm bao quát, đốc thúc công việc của đoàn thanh tra để đáp ứng mục tiêu, yêu cầu về nội dung, tiến độ cuộc thanh tra theo kế hoạch. Mặt khác, chủ thể này còn là thủ trưởng của đơn vị có nhiều cán bộ, công chức là thành viên đoàn thanh tra, trong đó có trưởng đoàn thanh tra, do đó, thủ trưởng đơn vị chủ trì cuộc thanh tra đóng vai trò quan trọng trong kiểm soát việc chấp hành quy định của pháp luật về nhiệm vụ, quyền hạn của cán bộ, công chức nói chung và nhiệm vụ, quyền hạn, quy tắc ứng xử và đạo đức nghề nghiệp của cán bộ, công chức thanh tra nói riêng trong quá trình đoàn thanh tra thực hiện nhiệm vụ, công vụ. Tuy nhiên, việc kiểm soát hoạt động thanh tra thông qua thủ trưởng đơn vị chủ trì cuộc thanh tra chỉ được bảo đảm thực hiện khi pháp luật có quy định cụ thể về quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm của thủ trưởng đơn vị chủ trì cuộc thanh tra đối với tổ chức và hoạt động của đoàn thanh tra. Tổ hoặc người được giao nhiệm vụ giám sát hoạt động của đoàn thanh tra là các công cụ được thành lập độc lập với đơn vị được giao nhiệm vụ chủ trì cuộc thanh tra và đoàn thanh tra, với trách nhiệm chính là theo dõi, giám sát, nắm bắt chính xác, khách quan, kịp thời, đầy đủ về tình hình, thực trạng hoạt động của đoàn thanh tra để báo cáo, đề xuất với người ra quyết định thanh tra, thủ trưởng cơ quan thanh tra nhà nước phương án chỉ đạo, xử lý các hành vi vi phạm, giải quyết những khó khăn, vướng mắc, bất cập về pháp lý, nghiệp vụ, chính trị – tư tưởng, đạo đức nghề nghiệp và điều kiện bảo đảm hoạt động của đoàn thanh tra và thành viên đoàn thanh tra.
– Giai đoạn sau khi kết thúc thanh tra trực tiếp:
Trong giai đoạn này, trưởng đoàn thanh tra là chủ thể chính thực hiện việc kiểm soát kết quả thực thi nhiệm vụ, quyền hạn của các thành viên đoàn thanh tra thông qua báo cáo kết quả cá nhân thành viên đoàn thanh tra. Nội dung kiểm soát tập trung vào mức độ phản ánh đầy đủ, chính xác, khách quan kết quả thanh tra trong báo cáo của các thành viên đoàn thanh tra; mức độ hoàn thành nhiệm vụ được phân công so với kế hoạch; cơ sở pháp lý của các yêu cầu, kiến nghị, đề nghị, quyết định về thanh tra; sự chính xác, lô gic, đầy đủ của biên bản làm việc và các tài liệu, chứng cứ, ý kiến giải trình của đối tượng thanh tra và các đối tượng khác có liên quan; các ý kiến khác nhau của thành viên đoàn thanh tra khi xem xét, đánh giá, kiến nghị, kết luận, quyết định về cùng một vấn đề thuộc nội dung và trình tự, thủ tục thanh tra. Thông tin từ báo cáo của các thành viên đoàn thanh tra sẽ được trưởng đoàn thanh tra tổng hợp và xây dựng báo cáo kết quả thanh tra. Thông thường báo cáo này sẽ phản ánh đầy đủ, chân thực và sinh động nhất về kết quả của hoạt động thanh tra.
Tiếp đến, người ra quyết định thanh tra và thủ trưởng đơn vị chủ trì cuộc thanh tra sẽ tiến hành kiểm soát, đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của đoàn thanh tra được thể hiện qua báo cáo kết quả thanh tra. Nội dung đánh giá gồm: Mức độ tuân thủ pháp luật của báo cáo kết quả thanh tra về nội dung và hình thức; mức độ phản ánh đầy đủ, chính xác, khách quan kết quả thanh tra và các thông tin, tài liệu, chứng cứ chứng minh; sự phán ánh đầy đủ các ý kiến khác nhau trong đoàn thanh tra về những nội dung được nêu trong báo cáo kết quả thanh tra; quan điểm và lập luận của trưởng đoàn thanh tra về nội dung báo cáo cùng các nhận định, kiến nghị, đề xuất.
Thẩm định dự thảo kết luận thanh tra là hoạt động được luật định nhằm kiểm soát trực tiếp việc thực thi quyền lực của các chủ thể có thẩm quyền trong hoạt động thanh tra. Thẩm định dự thảo kết luận thanh tra được tiến hành bởi đơn vị chức năng và công chức được người ra quyết định thanh tra phân công. Theo đó, đơn vị và người được giao nhiệm vụ thẩm định chỉ thực hiện công việc này khi được người ra quyết định thanh tra giao. Quá trình thẩm định là quá trình nghiên cứu, đánh giá, phản biện toàn diện về cơ sở pháp lý, nội dung, hình thức của dự thảo kết luận thanh tra; có thể chỉ ra những điểm bất hợp lý, thiếu lôgic, thiếu căn cứ pháp lý hoặc mâu thuẫn về số liệu hay những điểm sơ hở, thiếu chặt chẽ, thiếu đầy đủ trong dự thảo kết luận thanh tra… Báo cáo kết quả thẩm định thể hiện rõ quan điểm của người, đơn vị được giao thẩm định về các phương diện như tính hợp lý, hợp pháp, khách quan, chính xác, đầy đủ, tính thực tiễn – khả thi của các nội dung trong dự thảo kết luận thanh tra. Kết quả thẩm định dự thảo kết luận thanh tra được báo cáo người ra quyết định thanh tra và chia sẻ với trưởng đoàn thanh tra để nghiên cứu bổ sung, hoàn thiện. Trong rất nhiều trường hợp, quan điểm của người, đơn vị thẩm định dự thảo kết luận thanh tra có sự xung đột gay gắt với quan điểm của trưởng đoàn thanh tra, thậm chí là xung đột với quan điểm của người ra quyết định thanh tra về các nội dung pháp lý – chính trị – nghiệp vụ – kỹ thuật… trong dự thảo kết luận thanh tra. Các xung đột quan điểm thường được giải quyết và hướng tới đồng thuận qua các cuộc thảo luận giữa các bên. Tuy nhiên, trong mọi trường hợp, báo cáo thẩm định của người, đơn vị thẩm định dự thảo kết luận thanh tra chỉ có ý nghĩa tham mưu, về bản chất, người ra quyết định thanh tra chính là chủ thể thực hiện thẩm định và có thẩm quyền quyết định điều chỉnh, bổ sung, sửa đổi, ban hành kết luận thanh tra theo quan điểm của mình.
Viện trưởng Viện Chiến lược và Khoa học thanh tra
[1] Điều 94, Hiến pháp năm 2013
[2] Trần Anh Tuấn (2018), Quyền hành pháp và vai trò của Chính phủ trong thực hiện quyền lực nhà nước: https://www.tapchicongsan.org.vn/web/guest/gop-y-du-thao-sua-oi-hien-phap-nam-1992/-/2018/23777/quyen-hanh-phap-va-vai-tro-cua-chinh-phu-trong-thuc-hien-quyen-luc-nha-nuoc.aspx
[3] Trịnh Văn Toàn, Chuyên đề nghiên cứu Đề tài khoa học cấp Bộ “Kiểm soát quyền lực trong hoạt động thanh tra”, tháng 7/2022.
[4] Điều 75, Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018
[5] Điều 76, Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018
[6] Điều 77, Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018
[7] Điều 5, Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018
1. Phòng, chống tham nhũng là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị và là nhiệm vụ quan trọng, cấp bách, lâu dài, xuyên suốt quá trình phát triển kinh tế – xã hội và xây dựng nhà nước pháp quyền xã chủ nghĩa trong thời kỳ mới. Đó là quan điểm và mục tiêu của Chính phủ trong công tác phòng, chống tham nhũng, thể hiện rõ trong Nghị quyết số 21/NQ-CP ban hành Chiến lược quốc gia phòng, chống tham nhũng đến năm 2020. Chiến lược đề ra 05 nhóm giải pháp cơ bản: (i)Tăng cường tính công khai, minh bạch trong hoạch định chính sách, xây dựng và thực hiện pháp luật; (ii) hoàn thiện cơ chế thanh tra, kiểm tra, giám sát việc thực hiện công khai, minh bạch trong hoạch định chính sách, xây dựng và thực hiện pháp luật; (iii) hoàn thiện cơ chế quản lý kinh tế, xây dựng môi trường kinh doanh công khai, minh bạch; (iv) nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát, kiểm toán, điều tra, truy tố, xét xử trong phát hiện và xử lý tham nhũng; (v) nâng cao nhận thức và phát huy vai trò của toàn xã hội trong phòng, chống tham nhũng. Trong đó, tại nhóm giải pháp thứ năm, việc tiếp tục hoàn thiện cơ chế bảo vệ người tố cáo hành vi tham nhũng được xác định là nhiệm vụ trọng tâm.
Ngày 18/12/2020, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 2151/QĐ-TTg về việc thành lập Ban Chỉ đạo tổng kết Chiến lược quốc gia phòng, chống tham nhũng đến năm 2020 và Kế hoạch thực hiện Công ước Liên hợp quốc về phòng, chống tham nhũng (UNCAC). Ngày 30/12/2020, Ban Chỉ đạo tổng kết Chiến lược quốc gia phòng, chống tham nhũng đến năm 2020 và Kế hoạch thực hiện UNCAC đã ban hành Quyết định số 560/QĐ-BCĐTKCLQG về Kế hoạch tổng kết. Ngày 08/4/2023, Chính phủ ban hành Nghị quyết số 50/NQ-CP về Hội nghị Chính phủ với địa phương và phiên họp Chính phủ thường kỳ tháng 3 năm 2023 đã đề ra nhiều nhiệm vụ; trong đó có nội dung khẩn trương hoàn thiện, ban hành Chiến lược quốc gia phòng, chống tham nhũng đến năm 2030. Theo đó, không chỉ cơ chế bảo vệ người tố cáo hành vi tham nhũng mà bảo vệ người phản ánh, kiến nghị về hành vi tham nhũng[1] vẫn tiếp tục là nhiệm vụ cần được nghiên cứu, hoàn thiện.
2. Điều 30 Hiến pháp 2013: “1. Mọi người có quyền khiếu nại, tố cáo với cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền về những việc làm trái pháp luật của cơ quan, tổ chức, cá nhân. 2. Cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền phải tiếp nhận, giải quyết khiếu nại, tố cáo. Người bị thiệt hại có quyền được bồi thường về vật chất, tinh thần và phục hồi danh dự theo quy định của pháp luật. 3. Nghiêm cấm việc trả thù người khiếu nại, tố cáo hoặc lợi dụng quyền khiếu nại, tố cáo để vu khống, vu cáo làm hại người khác”. Hiến pháp 2013 đã mở rộng phạm vi chủ thể của quyền tố cáo từ “công dân” sang “mọi người”, theo đó bất cứ ai thực hiện tố cáo theo đúng pháp luật Việt Nam đều được bảo vệ.
Nhìn lại từ giai đoạn 1 thực hiện Chiến lược, trong danh mục 70 nhiệm vụ cụ thể về xây dựng thể chế của Chiến lược quốc gia về phòng, chống tham nhũng, liên quan đến nhiệm vụ này, Kế hoạch thực hiện Chiến lược giai đoạn 1 (2009-2011) đã đề ra nhiệm vụ xây dựng Quy chế bảo vệ người tố cáo, phát hiện hành vi tham nhũng do Bộ Công an chủ trì, phối hợp với Bộ Tư pháp, Thanh tra Chính phủ, Bộ Nội vụ, Văn phòng Chính phủ, Văn phòng Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng.
Luật Tố cáo năm 2011 lần đầu tiên đã dành một chương quy định về bảo vệ người tố cáo. Chế định này bao gồm các quy định cụ thể về phạm vi, đối tượng và thời hạn bảo vệ; quyền và nghĩa vụ của người tố cáo được bảo vệ; bảo vệ bí mật thông tin về người tố cáo; bảo vệ người tố cáo tại nơi công tác, làm việc; bảo vệ người tố cáo tại nơi cư trú; bảo vệ tính mạng, sức khoẻ, tài sản, danh dự, nhân phẩm, uy tín của người tố cáo. Tuy nhiên, pháp luật giai đoạn này (i) chưa quy định rõ về mặt nguyên tắc, hoặc chưa xác định rõ tiêu chí của cơ quan có trách nhiệm bảo vệ người tố cáo; (ii) Quy định về nghĩa vụ của người tố cáo được bảo vệ còn bất cập, thiếu thực tế, khả thi và chưa thể hiện trách nhiệm chính cũng như sự chủ động của nhà nước trong bảo vệ người tố cáo; (iii) chưa đưa ra được nguyên tắc xác định thời điểm mà người tố cáo bắt đầu được bảo vệ; chưa xác định được nhu cầu bảo vệ người tố cáo trong từng giai đoạn; (iv) chưa có quy định cụ thể về các hành vi vi phạm và hướng dẫn việc xử lý các hành vi vi phạm pháp luật về bảo vệ người tố cáo…
Khắc phục những hạn chế đó, sang đến giai đoạn 3 thực hiện Chiến lược, Luật Tố cáo năm 2018 được Quốc hội khóa XIV thông qua tại kỳ họp thứ 5. Luật gồm 09 chương với 67 điều đã dành một chương (Chương VI) quy định về bảo vệ người tố cáo với nhiều điểm mới, cụ thể hơn. Luật Tố cáo năm 2018 đã định nghĩa rõ hơn về đối tượng, phạm vi bảo vệ người tố cáo, quyền của người được bảo vệ, cơ quan có thẩm quyền áp dụng biện pháp bảo vệ và trách nhiệm của các cơ quan này. Từ Điều 50 đến Điều 55 của Luật Tố cáo năm 2018 quy định rất cụ thể về trình tự, thủ tục bảo vệ khi người tố cáo có văn bản đề nghị áp dụng biện pháp bảo vệ. Đây là điểm mới quan trọng, quy định rõ trách nhiệm của người giải quyết tố cáo và cơ quan có thẩm quyền áp dụng biện pháp bảo vệ người tố cáo.
Về các biện pháp bảo vệ, so với Luật Tố cáo năm 2011, Luật Tố cáo năm 2018 quy định 03 biện pháp bảo vệ đó là: Biện pháp bảo vệ bí mật thông tin (Điều 56); Biện pháp bảo vệ vị trí công tác, việc làm (Điều 57); Biện pháp bảo vệ tính mạng, sức khoẻ, tài sản, danh dự, nhân phẩm (Điều 58). Trong đó, nội dung bảo vệ của từng biện pháp được quy định bổ sung thêm để đảm bảo người tố cáo được bảo vệ tốt nhất về quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của mình như: lược bỏ họ tên, địa chỉ, bút tích, các thông tin cá nhân khác của người tố cáo ra khỏi đơn tố cáo và các tài liệu, chứng cứ kèm theo để quản lý theo chế độ mật khi giao cơ quan, tổ chức, cá nhân xác minh nội dung tố cáo; Xem xét bố trí công tác khác cho người được bảo vệ nếu có sự đồng ý của họ để tránh bị trù dập, phân biệt đối xử;…
Nghị định số 31/2019/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp tổ chức thi hành Luật Tố cáo năm 2018 đã quy định cụ thể hơn trách nhiệm của người giải quyết tố cáo khi nhận được văn bản đề nghị áp dụng các biện pháp bảo vệ; hướng dẫn việc xử lý các hành vi vi phạm pháp luật về bảo vệ người tố cáo.
Tuy nhiên, Luật Tố cáo năm 2018 không được coi là bộ công cụ chung để điều chỉnh các quan hệ về cung cấp thông tin về hành vi tham nhũng ở Việt Nam[2]. Quy định về áp dụng pháp luật về bảo vệ người tố cáo còn có sự “khu biệt” giữa pháp luật về tố cáo với pháp luật hình sự. Việc này cho thấy vấn đề bảo vệ người cung cấp thông tin về hành vi tham nhũng trong pháp luật Việt Nam còn khá phức tạp, khi có sự tách biệt giữa tố cáo, tố giác, tin báo tội phạm, phản ánh, kiến nghị, báo cáo… về hành vi tham nhũng.
Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018 đã đề cập đến nội dung bảo vệ người tố cáo tham nhũng tại mục III chương 3 “Phản ánh, tố cáo, báo cáo về hành vi tham nhũng”. Theo đó, việc cung cấp thông tin về hành vi tham nhũng không chỉ được thực hiện dưới hình thức tố cáo mà còn được thực hiện dưới hình thức phản ánh, báo cáo và người phản ánh, báo cáo, tố cáo về hành vi tham nhũng sẽ được bảo vệ. Điều 67 Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018 quy định: Việc bảo vệ người tố cáo hành vi tham nhũng được thực hiện theo quy định của pháp luật về tố cáo; Người phản ánh, báo cáo về hành vi tham nhũng được áp dụng các biện pháp bảo vệ như bảo vệ người tố cáo. Do trình tự, thủ tục giải quyết được áp dụng như giải quyết tố cáo, phản ánh nói chung nên việc bảo vệ người tố cáo về hành vi tham nhũng cũng áp dụng theo các quy định về bảo vệ người tố cáo nói chung.
Mặc dù, các quy định về bảo vệ người tố cáo đã được sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện, song vẫn còn những bất cập hạn chế, “tình trạng để lộ lọt thông tin của người tố cáo; không ít trường hợp người tố cáo không được bảo vệ, bị trả thù, trù dập; các hành vi trả thù, trù dập chưa được phát hiện, xử lý nghiêm”…. “Cán bộ, đảng viên và người dân còn chưa an tâm, ngại đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, góp ý, phê bình cán bộ, đảng viên vi phạm”[3]. Cụ thể như sau:
Một là, hiện chưa có văn bản pháp luật riêng quy định về bảo vệ người phản ánh, kiến nghị về hành vi có dấu hiệu tham nhũng, tiêu cực của cán bộ, công chức. Vấn đề bảo vệ người phản ánh tham nhũng được quy định lần đầu tiên trong Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018. Theo đó, việc bảo vệ người báo cáo, phản ánh tham nhũng được thực hiện theo Luật Tố cáo. Trong khi đó, kiến nghị cũng là một hình thức cung cấp thông tin về hành vi có dấu hiệu tham nhũng, tiêu cực của cán bộ, công chức thì chưa có cơ sở pháp lý bảo vệ người đó.
Hai là, pháp luật hiện hành không phân biệt hay đưa ra những điều kiện để một người tố cáo được bảo vệ. Theo quy định thì mọi người tố cáo đều có thể được bảo vệ. Điều này đảm bảo quyền con người, quyền công dân nhưng khó có tính khả thi trên thực tế. Hiện nay, tố cáo là vì động cơ cá nhân, thậm chí tố cáo không có cơ sở, chuyển từ khiếu nại sang tố cáo khá nhiều… Thực tiễn cho thấy ngoài nhóm đối tượng nêu trên còn có một số đối tượng cũng cần nhận được sự bảo vệ nhưng chưa được pháp luật quy định, đó là người bị nghi ngờ tố cáo, người cung cấp chứng cứ, thông tin cho người tố cáo thực hiện hành vi tố cáo (có thể gọi là người đồng tố cáo), người cung cấp thông tin, hỗ trợ tích cực cho các cơ quan thực thi pháp luật trong đấu tranh chống tội phạm và người phản ánh (tố cáo nặc danh, nhà báo …)
Ba là, Luật Tố cáo hiện nay chưa quy định cụ thể các biện pháp bảo vệ người tố cáo và việc triển khai các biện pháp bảo vệ trong từng giai đoạn của quá trình giải quyết tố cáo khi có hành động trả thù diễn ra trong mỗi thời kỳ này (giai đoạn tiếp nhận thông tin, nội dung tố cáo; giai đoạn thụ lý giải quyết tố cáo; giai đoạn sau khi có kết luận và thực hiện kết luận nội dung tố cáo). Về cơ bản, các quy định pháp luật hiện hành về những vấn đề này mới chỉ mang tính nguyên tắc và mới tập trung bảo vệ nhằm chống lại hành động trả thù của người bị tố cáo đối với người tố cáo mà chưa có quy định về bảo vệ trách nhiệm pháp lý cho họ.
Bốn là, pháp luật hiện hành cũng chưa có quy định cụ thể về cơ chế bảo đảm bí mật danh tính người tố cáo và nội dung tố cáo. Quy trình giải quyết tố cáo trải qua nhiều công đoạn khác nhau, với nhiều cơ quan, cá nhân tham gia vào việc tham mưu, giải quyết dẫn đến việc không bảo đảm bí mật về danh tính cho người tố cáo; thiếu sự ràng buộc về trách nhiệm trong việc thực thi các biện pháp bảo vệ người tố cáo. Người có trách nhiệm giải quyết tố cáo thì không trực tiếp tham gia vào quá trình tiếp nhận, thẩm tra, xác minh nội dung tố cáo. Người trực tiếp thẩm tra, xác minh nội dung tố cáo thì không có quyền ra kết luận nội dung tố cáo, dẫn đến chất lượng giải quyết tố cáo hạn chế và ảnh hưởng đến sự an toàn của người tố cáo.
Năm là, pháp luật hiện hành chưa minh định về cơ chế phối hợp cũng như trách nhiệm cụ thể của các cơ quan trong việc chủ trì, phối hợp triển khai, thực hiện các biện pháp bảo vệ. Thêm vào đó, cũng chưa có quy định bắt buộc cá nhân, cơ quan có thẩm quyền phải thực hiện các trách nhiệm của người bảo vệ, hoặc phải khôi phục những quyền lợi hay vị trí công tác, việc làm cho người tố cáo bị trả thù; chưa có cơ chế giải quyết các tranh chấp, bất đồng giữa người đề nghị, yêu cầu bảo vệ với người có trách nhiệm bảo vệ; giữa người có trách nhiệm, thẩm quyền bảo vệ với người bị cáo buộc trả thù, trù dập người tố cáo.
Sáu là, Luật Tố cáo hiện cũng chưa có các quy định về theo dõi, báo cáo, đánh giá tình hình bảo vệ người tố cáo; quy định về việc giám sát, kiểm tra công tác bảo vệ người tố cáo; quy định về cơ chế giải quyết tranh chấp phát sinh trong quá trình tiếp nhận, áp dụng các biện pháp; quy định về cơ chế khôi phục hậu quả và bồi thường thiệt hại.
3. Ở giai đoạn 2 thực hiện Chiến lược, theo tổng kết 05 năm thực hiện Luật Tố cáo năm 2011, các cơ quan có thẩm quyền đã tiếp nhận 699 đơn yêu cầu bảo vệ của người tố cáo. Trong đó, có tổng số 524 yêu cầu đề nghị bảo vệ danh tính; 63 người tố cáo yêu cầu bảo vệ tính mạng, sức khỏe; 27 người tố cáo yêu cầu bảo vệ tài sản; 55 người tổ cáo yêu cầu bảo vệ uy tín, danh dự, nhân phẩm và các quyền nhân thân khác; 30 người tố cáo yêu cầu bảo vệ vị trí công tác, việc làm. Các cơ quan hành chính nhà nước đã xử lý được tổng số 221 yêu cầu. Trong đó, 201 yêu cầu được tiếp nhận tiến hành bảo vệ theo thẩm quyền; 20 yêu cầu đã chuyển cơ quan có thẩm quyền bảo vệ. Số yêu cầu, đề nghị bảo vệ của người tố cáo được các cơ quan xử lý và bảo vệ tương đối ít so với yêu cầu bảo vệ (221/669). Công tác phối hợp thực hiện các biện pháp bảo vệ của các cơ quan có thẩm quyền còn lúng túng[4].
Liên quan đến bảo vệ người phản ánh, kiến nghị về hành vi tham nhũng, trong quá trình xử lý đơn yêu cầu của người phản ánh, kiến nghị, theo báo cáo của các bộ, ngành, địa phương[5] thì chưa ghi nhận được đơn yêu cầu bảo vệ nào của người phản ánh, kiến nghị đối với vụ việc thuộc thẩm quyền.
4. Để khắc phục những hạn chế, bất cập trong công tác bảo vệ người phát hiện, tố giác, người đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, ngày 10/01/2019, Bộ Chính trị ban hành Chỉ thị số 27-CT/TW về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác bảo vệ người phát hiện, tố giác, người đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực. Chỉ thị nêu rõ “Ban cán sự đảng Chính phủ, ban cán sự đảng các bộ, ngành liên quan chỉ đạo ban hành quy định và hướng dẫn thi hành Luật Tố cáo năm 2018 một cách cụ thể, chi tiết, đồng bộ, phân rõ trách nhiệm cho tổ chức, cá nhân bảo vệ người tố cáo; tạo điều kiện thuận lợi trong việc tiếp nhận, xử lý, giải quyết yêu cầu được bảo vệ của người tố cáo và có chế tài xử lý. Ban hành quy định về bảo vệ người phản ánh, kiến nghị, cung cấp thông tin về những hành vi có dấu hiệu tham nhũng, lãng phí, tiêu cực của cán bộ, công chức mà Luật Tố cáo năm 2018 chưa quy định”.
Phòng, chống tham nhũng phải gắn với vấn đề bảo đảm, bảo vệ quyền con người, quyền công dân và các quyền Hiến định khác. Bảo vệ người tố cáo, kiến nghị, phản ánh là trách nhiệm chung của toàn xã hội, trong đó nhà nước có vai trò và trách nhiệm chính. Trong nhà nước pháp quyền, bên cạnh việc tố cáo, các phản ánh, kiến nghị mang tính xây dựng của người dân dưới mọi hình thức cần phải được các cơ quan nhà nước tôn trọng, tiếp nhận, xem xét, giải quyết và bảo vệ. Việc tiếp nhận, xem xét và giải quyết các phản ánh, kiến nghị của người dân không chỉ đơn thuần là trách nhiệm phúc đáp của chính quyền mà còn là cơ hội để cơ quan và cán bộ, công chức nhà nước phát hiện các hành vi tham nhũng, tiêu cực và nhìn nhận, đánh giá lại năng lực, hiệu quả quản lý điều hành và đạo đức công vụ, qua đó có giải pháp hoàn thiện, nâng cao chất lượng hoạt động của mình. Theo đó, bảo vệ người tố cáo, phản ánh, kiến nghị một mặt thể hiện trách nhiệm của Nhà nước phải bảo đảm quyền bất khả xâm phạm về tính mạng, danh dự, tài sản của công dân, mặt khác thể hiện cách tiếp cận mang tính chiến lược trong quản lý nhà nước, đó là khuyến khích công dân tham gia tích cực vào cuộc chiến chống lại những biểu hiện sai trái, nguy hại cho sự an toàn và phát triển của xã hội.
Trong thời đại công nghệ thông tin (4.0), các tố cáo, phản ánh, kiến nghị của công dân về những hiện tượng tiêu cực, sai trái, tham nhũng sẽ ngày càng nhiều và đa dạng, đây là một nguồn thông tin rất hữu ích cho công cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, lãng phí của Đảng và Nhà nước ta. Vì thế, để khuyến khích mọi công dân tham gia vào việc phát hiện, phản ánh các hành vi vi phạm pháp luật nói chung và hành vi vi phạm pháp luật về tham nhũng, tiêu cực của cán bộ công chức nói riêng, trong thời gian tới, Nhà nước cần hoàn thiện, sửa đổi, bổ sung các quy định pháp luật về bảo vệ người tố cáo, cũng như bảo vệ người phản ánh, kiến nghị về hành vi có dấu hiệu tham nhũng, tiêu cực.
Chiến lược quốc gia về phòng, chống tham nhũng với 03 giai đoạn đã khép lại. Việc tổng kết Chiến lược quốc gia phòng, chống tham nhũng đến năm 2020 và Kế hoạch thực hiện UNCAC cũng đã được thực hiện nhằm đánh giá toàn diện việc tổ chức triển khai thực hiện; đánh giá mức độ đạt được mục tiêu; việc thực hiện các nhiệm vụ, giải pháp đã đề ra trong Chiến lược và Kế hoạch thực thi UNCAC trên phạm vi cả nước kể từ khi ban hành Chiến lược đến nay; làm rõ những kết quả đạt được, ưu điểm, khuyết điểm, hạn chế, yếu kém, vướng mắc, khó khăn và nguyên nhân và bài học kinh nghiệm; từ đó kiến nghị các nguyên tắc mục tiêu, giải pháp, biện pháp tổ chức thực hiện cho giai đoạn 2030. Với nhiệm vụ bảo vệ người tố cáo, phản ánh, kiến nghị về hành vi có dấu hiệu tham nhũng, tiêu cực thì những phương án được đưa ra cần cân nhắc đảm bảo có lộ trình, tính khả thi, phù hợp:
Phương án 1. Trước mắt, ban hành văn bản tầm Nghị định quy định về thẩm quyền, trình tự, thủ tục giải quyết phản ánh, kiến nghị[6]. Văn bản này quy định thống nhất về tiếp nhận, giải quyết tất cả các đối tượng của phản ánh, kiến nghị nói chung, trong đó có phản ánh, kiến nghị về hành vi có dấu hiệu tham nhũng, tiêu cực. Lồng ghép trong văn bản này có phần quy định về bảo vệ người phản ánh, kiến nghị về hành vi có dấu hiệu tham nhũng, tiêu cực.
Phương án 2. Sửa đổi, bổ sung Luật Tố cáo năm 2018 và Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018. Trong đó, sửa đổi, bổ sung đối tượng và phạm vi bảo vệ (Điều 47) theo hướng quy định rạch ròi đối tượng được bảo vệ và phạm vi bảo vệ. Đối tượng được bảo vệ ngoài các đối tượng như Luật Tố cáo năm 2018 đã quy định cần bổ sung thêm người (1) phản ánh, (2) kiến nghị về các hành vi có dấu hiệu tham nhũng, tiêu cực. Đây là giải pháp có thể thực hiện trong khoảng 5 năm tới.
Phương án 3. Ban hành văn bản quy phạm pháp luật quy định riêng về bảo vệ người tố cáo tham nhũng, tiêu cực (trong đó có người phản ánh, kiến nghị về hành vi có dấu hiệu tham nhũng, tiêu cực). Đây là giải pháp lâu dài.
Phó trưởng phòng, Viện Chiến lược và Khoa học thanh tra
[1] Theo tinh thần của Chỉ thị số 27-CT/TƯ ngày 10/01/2019 của Bộ Chính trị về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác bảo vệ người phát hiện, tố giác, người đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực
[2] Khoản 2. Điều 3 Luật Tố cáo năm 2018 quy định: “2. Việc tiếp nhận, giải quyết tố giác và tin báo về tội phạm được thực hiện theo quy định của pháp luật về tố tụng hình sự”.
[3] Chỉ thị số 27-CT/TW ngày 10/01/2019 của Bộ Chính trị về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác bảo vệ người phát hiện, tố giác, người đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực.
[4] Thanh tra Chính phủ (2015), Báo cáo số 180/BC-TH ngày 28/9/2015 về tổng kết 05 năm thực hiện Luật Tố cáo năm 2011
[5] Kết quả từ khảo sát (2020) do Viện Chiến lược và Khoa học thanh tra thực hiện trong khuôn khổ nhiệm vụ nghiên cứu tham mưu xây dựng văn bản quy định về bảo vệ người phản ánh, kiến nghị, cung cấp thông tin về hành vi có dấu hiệu tham nhũng, lãng phí, tiêu cực của cán bộ, công chức; hoàn thiện văn bản quy định về thẩm quyền, trình tự, thủ tục phản ánh, kiến nghị (theo Thông báo số 46/TB-BCS của Ban Cán sự đảng Thanh tra Chính phủ)
[6] Nhằm quy định thống nhất các quy định về tiếp công dân, tiếp nhận, xử lý đơn kiến nghị phản ánh đang nằm rải rác tại nhiều văn bản khác nhau như Luật Tiếp công dân năm 2013, Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018, Thông tư số 04/2021/TT-TTCP của Thanh tra Chính phủ ngày 01/10/2021 quy định về quy trình tiếp công dân; Thông tư số 05/2021/TT-TTCP của Thanh tra Chính phủ ngày 01/10/2021 quy định về quy trình xử lý đơn khiếu nại, đơn tố cáo, đơn kiến nghị, phản ánh. Ngoài ra còn có Nghị định 20/2008/NĐ-CP của Chính phủ ngày 14/02/2008 về việc tiếp nhận, xử lý phản ánh, kiến nghị của cá nhân, tổ chức về quy định hành chính trong đó quy định rõ về nội dung, hình thức, quy trình tiếp nhận và xử lý các phản ánh, kiến nghị riêng về quy định hành chính. Nghị định số 2071/VBHN-VPCP ngày 27/9/2019 của Văn phòng Chính phủ về tiếp nhận, xử lý phản ánh, kiến nghị của cá nhân, tổ chức về quy định hành chính.

