Theo đó, ông Nguyễn Thái Học, Phó Trưởng Ban Nội chính Trung ương là thành viên Tổ công tác thay ông Trần Quốc Cường, nguyên Phó Trưởng Ban Nội chính Trung ương được điều động giữ chức Bí thư Tỉnh ủy Điện Biên.
Theo Quyết định số 153/QĐ-TTg ngày 29/1/2022 của Thủ tướng Chính phủ, Tổ công tác có nhiệm vụ chỉ đạo kiểm tra, rà soát khó khăn, vướng mắc liên quan đến các dự án, đất đai trong các kết luận thanh tra, kiểm tra, bản án tại thành phố Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, thành phố Đà Nẵng, tỉnh Khánh Hòa và một số tỉnh, thành phố.
Tổng hợp, báo cáo Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo giải quyết, tháo gỡ khó khăn, vướng mắc liên quan đến các dự án, đất đai trong các kết luận thanh tra, kiểm tra, bản án tại một số tỉnh, thành phố đối với nội dung thuộc thẩm quyền của Thủ tướng Chính phủ.
Tổng hợp, tham mưu Thủ tướng Chính phủ báo cáo cấp có thẩm quyền giải quyết, tháo gỡ khó khăn, vướng mắc liên quan đến các dự án, đất đai trong các kết luận thanh tra, kiểm tra, bản án tại một số tỉnh, thành phố đối với các nội dung vượt thẩm quyền của Thủ tướng Chính phủ.
Đôn đốc, kiểm tra, tổng hợp việc giải quyết, tháo gỡ khó khăn, vướng mắc liên quan đến các dự án, đất đai trong các kết luận thanh tra, kiểm tra, bản án thuộc thẩm quyền của các bộ, ngành, địa phương…
Bộ Thông tin và Truyền thông: Nâng cao hiệu quả công tác tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo

Hàng tháng bố trí lịch tiếp công dân của lãnh đạo Bộ; xử lý, giải quyết rứt, điểm triệt để nhiều vụ việc phức tạp
Thông tin về kết quả tiếp công dân và giải quyết KNTC trong 9 tháng đầu năm 2023, Bộ Thông tin và Truyền thông cho biết, tổng số đơn KNTC nhận được trong 9 kỳ là 760 đơn, số đơn đủ điều kiện xử lý 723 đơn, bao gồm: 32 đơn khiếu nại và 93 đơn tố cáo, 598 đơn kiến nghị phản ánh.
Trong số này có nhiều đơn thư khiếu nại không thuộc thẩm quyền giải quyết của Bộ Thông tin và Truyền thông và các đơn vị thuộc Bộ. Nội dung các đơn khiếu nại không phải là khiếu nại hành chính và không thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật khiếu nại, chủ yếu là các khiếu nại của người sử dụng dịch vụ đối với bên cung cấp dịch vụ trong lĩnh vực thông tin và truyền thông.
Bộ cũng cho biết, nội dung các đơn tố cáo nhận được phần lớn không liên quan đến cơ quan, cá nhân do Bộ Thông tin và Truyền thông trực tiếp quản lý, không thuộc thẩm quyền giải quyết của Bộ Thông tin và Truyền thông. Đơn tố cáo thuộc thẩm quyền giải quyết của Bộ Thông tin và Truyền thông thường là đơn nặc danh, mạo danh; thông tin và nội dung nêu trong đơn không có cơ sở để xác định người vi phạm, hành vi vi phạm pháp luật do vậy đơn được lưu và theo dõi phục vụ công tác quản lý của Bộ Thông tin và Truyền thông.
Đánh giá về nguyên nhân của tình hình KNTC trong lĩnh vực thông tin và truyền thông, Bộ chỉ ra do một số cá nhân không nắm được quy định của pháp luật nên gửi đơn không đúng thẩm quyền; nhiều đối tượng khiếu kiện có nhận thức và ý thức chấp hành pháp luật còn hạn chế, một số đối tượng lợi dụng tự do dân chủ và quyền KNTC hoặc cố chấp gây nên tình trạng khiếu kiện nhằm tìm kiếm lợi ích riêng; và việc giải quyết những tranh chấp giữa người sử dụng dịch vụ và nhà cung cấp dịch vụ không dứt điểm, chưa thoả đáng.
Về công tác tiếp công dân, Bộ Thông tin và Truyền thông cho biết, công tác này được thực hiện đúng theo quy định của Luật Tiếp công dân và quy trình tiếp công dân của Chính phủ. Tại Bộ Thông tin và Truyền thông không có vụ việc khiếu kiện đông người, kéo dài, phức tạp.
Cụ thể, hàng tháng, Bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông đều có lịch trực tiếp công dân 01 ngày/tháng vào ngày thứ sáu tuần thứ 3 hàng tháng. Lịch tiếp công dân của Bộ trưởng được niêm yết công khai tại phòng tiếp công dân và công bố trên Cổng thông tin điện tử của Bộ.
9 tháng đầu năm 2023, Bộ Thông tin và Truyền thông đã tiếp 18 lượt công dân. Trong đó, số lượt tiếp thường xuyên do Thanh tra Bộ chủ trì: 16 lượt, số lượt tiếp thường xuyên của các cơ quan, đơn vị thuộc Bộ: 02 lượt.
Nhìn chung, công tác tiếp công dân và giải quyết KNTC tại Bộ Thông tin và Truyền thông và các cơ quan thuộc Bộ đều được thực hiện tốt theo đúng các quy định của pháp luật, tất các các vụ việc KNTC đều được xử lý dứt điểm, đến nay tại Bộ Thông tin và Truyền thông không có vụ khiếu kiện kéo dài cũng như khiếu kiện đông người.
Công tác tiếp công dân, giải quyết khiếu nại tố cáo luôn được Lãnh đạo Bộ và Lãnh đạo các đơn vị quan tâm, chú trọng: một trong chín mục tiêu chính của Bộ Thông tin và Truyền thông khi xây dựng và áp dụng hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn TCVN ISO 9001:2015 là tập trung làm tốt công tác giải quyết KNTC; nhiệm vụ trọng tâm của công tác thanh tra hàng năm là tập trung làm tốt công tác giải quyết KNTC; thường xuyên kiểm tra, rà soát các vụ KNTC tồn đọng, đề xuất biện pháp để giải quyết dứt điểm vụ việc.
Tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo, kiểm tra, tổ chức tập huấn, bồi dưỡng nghiệp vụ, nâng cao hiệu quả công tác tiếp dân, giải quyết KNTC
Các đơn vị đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục, thời hạn và có trách nhiệm cao trong tiếp công dân và giải quyết KNTC. Những trường hợp không thuộc thẩm quyền giải quyết đều được hướng dẫn cụ thể hoặc chuyển đơn đến đúng cơ quan có thẩm quyền để được giải quyết theo quy định của pháp luật tránh phát sinh khiếu kiện đông người.
Tuy vậy vẫn còn một số khó khăn, vướng mắc trong công tác này như nhận thức về pháp luật của một số người dân còn hạn chế nên nhiều đơn thư gửi đến Bộ Thông tin và Truyền thông nhưng không thuộc thẩm quyền giải quyết của Bộ. Ngoài ra, do lĩnh vực báo chí, viễn thông, công nghệ thông tin là lĩnh vực rộng, có tác động sâu rộng tới kinh tế, xã hội, cuộc sống của người dân do đó phát sinh nhiều vụ việc phức tạp, nội dung có liên quan đến nhiều ngành, lĩnh vực, địa phương.
Và mặc dù trong thời gian qua, lĩnh vực quản lý nhà nước của Bộ Thông tin và Truyền thông có những thay đổi và mở rộng; các lĩnh vực quản lý của Bộ cũng đang là những vấn đề “nóng” và “nhạy cảm” hiện nay. Vì vậy, trong thời gian tới dự báo các vụ việc KNTC vẫn sẽ còn phát sinh và có thể có những vụ việc có nội dung phức tạp.
Theo Bộ Thông tin và Truyền thông, để tiếp tục phát huy hiệu quả trong công tác tiếp công dân, giải quyết KNTC phục vụ cho công tác quản lý nhà nước theo ngành, lĩnh vực của Bộ, đơn vị sẽ tiếp tục phát huy, làm tốt công tác tiếp công dân, giải quyết KNTC, xử lý dứt điểm các vụ việc phát sinh.
Tăng cường giám sát trách nhiệm thực hiện pháp luật về KNTC đối với các đơn vị trực thuộc Bộ Thông tin và Truyền thông. Thường xuyên tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về KNTC đối với các đơn vị trực thuộc Bộ Thông tin và Truyền thông và các doanh nghiệp Thông tin, Truyền thông.
Cùng với đó, tiếp tục chỉ đạo, định hướng thông tin cho các cơ quan báo chí thông tin kịp thời, chính xác, khách quan về công tác tiếp công dân và giải quyết KNTC. Cũng như tăng cường chỉ đạo công tác tuyên truyền phổ biến pháp luật về KNTC thông qua chuyên trang, chuyên mục trên báo, đài và phương tiện thông tin đại chúng.
Bộ Thông tin và Truyền thông sẽ chỉ đạo các cơ quan báo chí chủ động, sáng tạo đổi mới nội dung, hình thức thể hiện trên báo chí, mở nhiều tọa đàm, chuyên trang, chuyên mục phong phú góp phần đa dạng hóa cách thức tiếp cận thông tin đối với công chúng và nâng cao hiệu quả tuyên truyền chính sách, pháp luật trong giải quyết KNTC của công dân.
Bên cạnh việc thường xuyên tập huấn, kiểm tra, đôn đốc các đơn vị, cá nhân có liên quan đến giải quyết KNTC về thủ tục, thời hạn, chất lượng, hiệu quả giải quyết. Và rà soát 02 quy trình “Giải quyết tố cáo” và “Giải quyết khiếu nại hành chính” được xây dựng theo tiêu chuẩn TCVN ISO 9001: 2015 nhằm nâng cao hiệu quả công tác giải quyết KNTC.
Về kiến nghị, đề xuất, Bộ Thông tin và Truyền thông cho rằng để có được đội ngũ cán bộ chuyên viên có đủ trình độ, năng lực, kinh nghiệm để tham mưu trong giải quyết KNTC, đề nghị Thanh tra Chính phủ thường xuyên tổ chức các lớp tập huấn bồi dưỡng chuyên môn, kỹ năng, kinh nghiệm về công tác tiếp dân, giải quyết KNTC của công dân.
Đồng thời, kiến nghị Chính phủ và cơ quan chức năng xây dựng, ban hành Nghị định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tiếp công dân, giải quyết KNTC làm cơ sở xử lý những trường hợp vi phạm pháp luật trong lĩnh vực giải quyết KNTC, tiếp công dân như: trách nhiệm của người KNTC không đúng sự thật; KNTC đã được hướng dẫn và giải quyết đúng quy định pháp luật nhưng vẫn tiếp tục gửi đơn tới nhiều cơ quan, đơn vị; lợi dụng quyền dân chủ, quyền KNTC để kích động, lôi kéo, xúi giục tổ chức khiếu nại đông người, vượt cấp./.
(Nguồn: ThanhtraVietNam)
Ngày 25/9, tại Liên đoàn Lao động tỉnh Hải Dương, Trường Cán bộ Thanh tra đã tổ chức Lễ Khai giảng lớp Bồi dưỡng nghiệp vụ thanh tra – kiểm tra cho cán bộ Công đoàn Việt Nam khóa 05/2023.

Phát biểu khai giảng, TS. Nguyễn Huy Hoàng – Phó Hiệu trưởng Trường Cán bộ Thanh tra nhiệt liệt chào đón các học viên đến tham dự khóa học Bồi dưỡng nghiệp vụ thanh tra – kiểm tra cho cán bộ Công đoàn Việt Nam Khóa 05 năm 2023.

Khóa học thu hút 150 học viên tham gia, với sự giảng dạy của các giảng viên là lãnh đạo Nhà trường, Khoa và các giảng viên là chuyên gia cao cấp trao đổi, kiến thức, học tập gồm những nội dung: Khái quát chung về công tác thanh tra – kiểm tra của tổ chức Công đoàn; phương pháp tiến hành một cuộc thanh tra – kiểm tra; kỹ năng thanh tra – kiểm tra về tài chính, tài sản; kỹ năng soạn thảo văn bản trong hoạt động thanh tra – kiểm tra; những nội dung cơ bản của pháp luật khiếu nại, tố cáo và vai trò, trách nhiệm tổ chức Công đoàn trong giải quyết khiếu nại, tố cáo; quy trình nghiệp vụ tiếp công dân trong tổ chức công đoàn; quy trình giải quyết tố cáo và tham gia giải quyết tố cáo của tổ chức Công đoàn; thực tế công tác kiểm tra, giám sát Công đoàn…

Phó Hiệu trưởng Nhà trường đề nghị các học viên nghiêm chỉnh chấp hành nội quy, quy chế học tập, tham dự đầy đủ, nghiêm túc các giờ giảng trực tuyến; đồng thời, tích cực trao đổi các vướng mắc, tự liên hệ, đối chiếu các nội dung học tập với thực tiễn công việc của mình để đạt được kết quả, hiệu quả tốt nhất./.
Ủy ban nhân dân thành phố Cần Thơ cho biết, trong tháng 8, Thành phố đã triển khai 34 cuộc thanh tra, kiểm tra, có 13 cuộc kỳ trước chuyển sang. Trong đó, có 22 cuộc thanh tra hành chính và 12 cuộc thanh tra, kiểm tra chuyên ngành. Ngoài ra, đã triển khai 490 cuộc kiểm tra thường xuyên đối với 46 tổ chức và 283 cá nhân.
Qua thanh tra, kiểm tra chuyên ngành, đã ban hành 53 quyết định xử phạt vi phạm hành chính với số tiền 198 triệu đồng, đã thu nộp ngân sách Nhà nước 198 triệu đồng. Bên cạnh đó, Thành phố đã tiếp 210 lượt (trong đó Ban Tiếp công dân thành phố tiếp 24 lượt người; các sở, ngành tiếp 08 lượt người và quận, huyện, xã, phường, thị trấn tiếp 178 lượt người) với 219 người (trong đó tiếp thường xuyên là 180 lượt với 188 người, tiếp định kỳ và đột xuất của lãnh đạo là 30 lượt với 31 người).
Đồng thời, tiếp nhận 388 đơn khiếu nại, tố cáo, phản ánh, kiến nghị, qua phân loại, xử lý, có 33 đơn thuộc thẩm quyền (trong đó có 19 đơn kỳ trước chuyển sang), giải quyết 6/33 đơn thuộc thẩm quyền (trong đó đã giải quyết 5/32 đơn khiếu nại, 1/1 đơn tố cáo).
Ngoài ra, công tác xây dựng và kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật được thực hiện đúng quy định. Tiếp tục tiển khai công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, hòa giải ở cơ sở; xây dựng xã, phường, thị trấn đạt chuẩn tiếp cận pháp luật. Trong tháng 8, các tổ hòa giải ở cơ sở tiếp nhận hòa giải là 119 vụ, trong đó đưa ra hòa giải: 119 vụ, hòa giải thành 96 vụ (tỷ lệ 80,6%), không thành 23 vụ (tỷ lệ 19,3 %).
Nhìn chung, trong tháng 8, tình hình kinh tế – xã hội của Thành phố duy trì phát triển và đạt những kết quả khả quan. Các lĩnh vực văn hoá, xã hội được chú trọng, các chính sách đối với người có công với cách mạng, bảo đảm an sinh xã hội và đời sống vật chất, tinh thần của Nhân dân được quan tâm, triển khai thực hiện đầy đủ, kịp thời. Công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí được đẩy mạnh. Công tác quốc phòng, quân sự địa phương bảo đảm tốt các yêu cầu nhiệm vụ. Tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn được giữ vững ổn định.
Trong tháng 9, Chủ tịch Ủy ban nhân dân Thành phố yêu cầu tập trung triển khai các hoạt động công tác, giải pháp hiệu quả, quyết tâm thực hiện hoàn thành đạt và phấn đấu vượt các chỉ tiêu nhiệm vụ năm 2023; theo dõi chặt chẽ hoạt động thu, chi ngân sách nhà nước, kiểm soát chi chặt chẽ, tiết kiệm triệt để các khoản chi thường xuyên; thực hiện quyết liệt, đồng bộ, hiệu quả các nhiệm vụ, giải pháp đấy mạnh giải ngân vốn đầu tư công…
(Nguồn: ThanhtraVietNam)

Triển khai đồng bộ các giải pháp phòng ngừa
Theo Ban Nội chính Tỉnh ủy tỉnh Bình Thuận, thời gian qua, Tỉnh ủy, Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Thường trực Tỉnh ủy luôn quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo triển khai thực hiện các nhiệm vụ về công tác nội chính, PCTNTC và cải cách tư pháp đã được xác định trong Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng và Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XIV.
Tỉnh ủy, Ban Thường vụ Tỉnh ủy đã ban hành 68 văn bản để cụ thể hóa, triển khai thực hiện các chỉ thị, nghị quyết, kết luận của Trung ương, Ban Chỉ đạo Trung ương về nội chính, PCTNTC. Trong đó, tập trung lãnh đạo, chỉ đạo triển khai thực hiện đồng bộ, hiệu quả các giải pháp đảm bảo an ninh trật tự, PCTNTC. Công tác tuyên truyền, phổ biến chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước để nâng cao nhận thức, ý thức chấp hành pháp luật của cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân được đẩy mạnh. Công tác kiểm tra, giám sát, thanh tra về nội chính, PCTNTC được tăng cường.
Từ đầu nhiệm kỳ đến nay, Ban Thường vụ Tỉnh ủy đã tổ chức 7 cuộc kiểm tra, giám sát đối với 40 tổ chức Đảng và 22 đảng viên; các ban của Tỉnh ủy và cấp ủy các cấp đã thực hiện 26 cuộc kiểm tra, giám sát đối với 58 tổ chức Đảng, 68 đảng viên về công tác nội chính, phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí. Ban Chỉ đạo phòng, chống tham nhũng, tiêu cực tỉnh tổ chức 2 cuộc kiểm tra chuyên đề về PCTNTC đối với 6 tổ chức Đảng. Cơ quan hành chính các cấp trong tỉnh đã triển khai 104 cuộc thanh tra hành chính, 185 cuộc thanh tra, kiểm tra chuyên ngành và 2.067 đợt kiểm tra thường xuyên. Qua thanh tra, kiểm tra; phát hiện vi phạm hơn 24 tỷ đồng và hơn 1.197 ha đất; kiến nghị thu hồi nộp ngân sách nhà nước 7,4 tỷ đồng; xử lý khác gần 9,7 tỷ đồng; kiến nghị kiểm điểm trách nhiệm 59 tập thể và 135 cá nhân; chuyển cơ quan điều tra 13 vụ việc.
Ban Nội chính Tỉnh ủy cũng thường xuyên chủ động theo dõi, nắm bắt tình hình để kịp thời tham mưu Ban Thường vụ, Thường trực Tỉnh ủy cho chủ trương, định hướng, chỉ đạo xử lý 14 vụ án, vụ việc về tham nhũng, tiêu cực, an ninh, trật tự nghiêm trọng, dư luận xã hội quan tâm. Trong 1/2 nhiệm kỳ qua, toàn tỉnh đã phát hiện, xử lý 3 vụ/28 người liên quan đến an ninh, trật tự phức tạp, dư luận xã hội quan tâm; phát hiện 17 vụ/31 người có hành vi tham nhũng, tiêu cực với tổng giá trị thiệt hại hơn 38 tỷ đồng, 815.700 m2 đất.
Theo Trưởng Ban Nội chính Tỉnh ủy Nguyễn Văn Tám, công tác nội chính, PCTNTC đã được cả hệ thống chính trị và nhân dân tích cực thực hiện dưới sự lãnh đạo của cấp ủy Đảng bằng nhiều biện pháp hiệu quả. Trong đó, việc quán triệt nâng cao nhận thức được đổi mới; triển khai khá đồng bộ các giải pháp phòng ngừa; tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát và tự kiểm tra nội bộ; nâng cao chất lượng điều tra, truy tố, xét xử các vụ án tham nhũng… là những yếu tố quyết định đến kết quả và hiệu quả của công tác đấu tranh PCTNTC trong thời gian qua.
Tăng cường thanh tra, giám sát các lĩnh vực dễ phát sinh tham nhũng, tiêu cực
Bên cạnh những mặt đạt được, công tác nội chính, PCTNTC thời gian qua vẫn còn những mặt hạn chế. Đó là tình hình an ninh, trật tự có lúc, có nơi còn tiềm ẩn vấn đề phức tạp; tội phạm, vi phạm pháp luật trên không gian mạng phát sinh với nhiều phương thức, thủ đoạn mới, nhất là lừa đảo chiếm đoạt tài sản có chiều hướng gia tăng; tình hình đơn, thư khiếu kiện liên quan đến việc bồi thường, hỗ trợ, bố trí tái định cư, thu hồi đất còn xảy ra nhiều.
Bên cạnh đó, công tác quản lý nhà nước về đất đai chưa chặt chẽ; thực hiện việc giao đất, cho thuê đất, chuyển đổi mục đích sử dụng đất, bồi thường tái định cư một số trường hợp không đúng thẩm quyền, xảy ra vi phạm quy định về đất đai, đầu tư. Công tác tự kiểm tra nội bộ còn ít và hiệu quả thấp. Tiến độ xử lý các vụ án, vụ việc tham nhũng, kinh tế, tiêu cực còn chậm…
Một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng trên là do công tác lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện công tác nội chính, PCTNTC của một số cấp ủy, người đứng đầu cơ quan, đơn vị, địa phương chưa thường xuyên, sâu sát, quyết liệt. Một số chủ trương, nhiệm vụ, giải pháp PCTNTC của Đảng chậm được cụ thể hóa; công tác quản lý nhà nước trên một số lĩnh vực (đất đai, rừng, khoáng sản…) chưa chặt chẽ; việc khắc phục sơ hở, bất cập về quản lý kinh tế – xã hội và PCTNTC trên một số lĩnh vực có lúc, có nơi còn chưa được quan tâm đúng mức, kịp thời. Việc thực hiện dân chủ ở cơ sở có nơi chưa tốt; cơ chế khuyến khích, bảo vệ người dân tham gia phát hiện, đấu tranh với các hành vi tham nhũng, tiêu cực thực hiện chưa hiệu quả; chưa phát huy đúng mức vai trò của nhân dân tham gia đấu tranh PCTNTC.
Thời gian tới, Bình Thuận sẽ phát huy hơn nữa vai trò của Ban Chỉ đạo PCTNTC tỉnh. Theo đó, Tỉnh uỷ sẽ tập trung lãnh đạo, chỉ đạo Ban Chỉ đạo PCTNTC tỉnh thực hiện nghiêm túc quy chế hoạt động; phát huy vai trò tập thể Ban Chỉ đạo tỉnh và từng thành viên Ban Chỉ đạo tỉnh trong việc nắm tình hình, chỉ đạo thực hiện các giải pháp PCTNTC, nhất là kịp thời chỉ đạo xử lý các vụ án tham nhũng, tiêu cực xảy ra.
Chỉ đạo các cơ quan chức năng tiếp tục thực hiện tốt cơ chế phối hợp trong phát hiện, xử lý tham nhũng, tiêu cực qua công tác thanh tra, kiểm tra, điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án; đẩy nhanh tiến độ, sớm kết thúc điều tra, xử lý các vụ án, vụ việc tham nhũng, tiêu cực nghiêm trọng, phức tạp, được dư luận xã hội quan tâm. Tiếp tục chỉ đạo kiểm tra, xử lý nghiêm các tổ chức Đảng, đảng viên khi có dấu hiệu vi phạm liên quan đến một số vụ việc, vụ án tham nhũng, tiêu cực nghiêm trọng, phức tạp, dư luận quan tâm xảy ra trên địa bàn tỉnh.
Ngoài ra, tỉnh cũng sẽ chỉ đạo thực hiện tốt công tác phòng ngừa tham nhũng, tiêu cực; tăng cường thanh tra, kiểm tra, giám sát các lĩnh vực dễ phát sinh tham nhũng, tiêu cực, những vấn đề nổi cộm, gây bức xúc trong xã hội. Chủ động kiểm tra, giám sát thường xuyên, chuyên đề, kịp thời phát hiện, xử lý nghiêm các hành vi vi phạm liên quan tham nhũng, tiêu cực. Nâng cao chất lượng tự kiểm tra nội bộ để kịp thời phát hiện, chấn chỉnh, khắc phục, xử lý vi phạm ngay từ khi mới phát sinh, ngay từ cơ sở, đơn vị; đồng thời xử lý đơn thư phản ánh, kiến nghị, khiếu nại, tố cáo gửi đến Ban Chỉ đạo PCTNTC tỉnh.
(Nguồn: ThanhtraVietNam)
Công khai trong quản lý, sử dụng tài sản công
Pháp luật về quản lý, sử dụng tài sản công đã xác lập rõ đối tượng được giao quản lý, sử dụng đối với mỗi loại tài sản công gắn với quyền và nghĩa vụ của tập thể và cá nhân, người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị trong quản lý, sử dụng tài sản công. Thành phố đã xây dựng hệ thống tiêu chuẩn, định mức sử dụng tài sản công đồng bộ gắn với trách nhiệm kiểm tra việc tuân thủ tiêu chuẩn định mức trong toàn bộ quá trình quản lý tài sản công; nâng cao tính công khai trong quản lý, sử dụng tài sản công; xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu để từng bước nắm chắc, nắm đầy đủ hiện trạng và tình hình biến động của tài sản công.
Theo Ủy ban nhân dân thành phố Cần Thơ, cơ chế phân công, phân cấp quản lý, sử dụng tài sản công phù hợp trình độ phát triển kinh tế – xã hội, tính chất quản lý, sử dụng tài sản công, năng lực quản lý của các cấp, các ngành, địa phương, đơn vị. Quy định về phân cấp quản lý tài sản công được thực hiện xuyên suốt từ khi có Luật Quản lý, sử dụng tài sản nhà nước đến nay theo nguyên tắc tài sản do cấp nào quản lý thì cấp đó quyết định việc đầu tư, mua sắm, sử dụng, khai thác, xử lý tài sản.
Từ khi Luật Quản lý sử dụng tài sản công và Nghị định số 151/2017/NĐ- CP ngày 26 tháng 12 năm 2017 có hiệu lực, thành phố Cần Thơ đã thực hiện việc phân cấp thẩm quyền quyết định đối với tài sản công thuộc địa phương quản lý tại Nghị quyết số 01/2018/NQ-HĐND ngày 11 tháng 7 năm 2018 của Hội đồng nhân dân thành phố.
Gắn thực hành tiết kiệm, chống lãng phí với công tác phòng, chống tham nhũng
Trong quá trình triển khai thực hiện Nghị quyết số 01/2018/NQ-HĐND, Thành phố đã đạt được một số kết quả tích cực. Cụ thể, việc quy định trên tạo lập cơ sở pháp lý tương đối đầy đủ trong công tác quản lý, sử dụng tài sản công theo hướng quản lý chặt chẽ, sử dụng, khai thác có hiệu quả nguồn lực tài chính từ tài sản công.
Việc quyết định trong quản lý, sử dụng, xử lý tài sản công được thông suốt, tạo sự chủ động cho các cơ quan, tổ chức, đơn vị trong quản lý, sử dụng tài sản công. Việc mua sắm, thanh lý, điều chuyển, thu hồi, tiêu hủy, bán tài sản công của các cơ quan, đơn vị đã được thực hiện đúng theo phân cấp của Hội đồng Nhân dân thành phố. Trong quá trình sử dụng tài sản tại các cơ quan, đơn vị được thống nhất, đúng đối tượng, phục vụ thiết thực cho công việc, không vượt định mức tiêu chuẩn, chế độ, đúng trình tự thủ tục và mang lại hiệu quả cao. Chế độ quản lý, sử dụng số tiền từ hoạt động bán, thanh lý tài sản công được quản lý chặt chẽ, sử dụng đúng theo quy định và các văn bản khác của pháp luật.
Mặt khác, việc quản lý, sử dụng tài sản, phương tiện, trang thiết bị làm việc đi vào nề nếp; việc mua sắm, sửa chữa tài sản, trang thiết bị làm việc được thực hiện theo đúng quy định, tiêu chuẩn, định mức. Các đơn vị cũng đã chủ động cắt giảm những hoạt động không cần thiết, lồng ghép những hoạt động có liên quan; tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong xử lý văn bản. Việc đầu tư, mua sắm tài sản công đảm bảo đúng tiêu chuẩn, định mức; thực hiện theo đúng thẩm quyền, đúng trình tự, thủ tục theo quy định hiện hành góp phần tiết kiệm chống lãng phí trong chi tiêu ngân sách.
Công tác thực hành tiết kiệm, chống lãng phí đã tạo được chuyển biến tích cực trong nhận thức, trách nhiệm của đội ngũ cán bộ, công chức. Đề cao trách nhiệm người đứng đầu của đơn vị, gắn việc thực hành tiết kiệm, chống lãng phí với ngăn chặn tham nhũng. Công tác quản lý đã được cụ thể hóa thành các quy định, quy chế để lãnh đạo, chỉ đạo quá trình thực hành tiết kiệm chống lãng phí trên các lĩnh vực. Việc sử dụng và chi tiêu ngân sách đúng mục đích, hiệu quả hơn, ý thức của cán bộ công chức, viên chức trong chống tham nhũng, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí ngày càng cao và dần đi vào nề nếp.
Đẩy mạnh việc phân cấp, phân quyền trong quản lý tài sản công
Qua 04 năm triển khai thực hiện, hiện nay Nghị quyết số 01/2018/NQ- HĐND đã bộc lộ hạn chế như việc quy định mức giá dự toán, giá trị tài sản phân cấp thẩm quyền quyết định mua sắm, thuê, xử lý tài sản công của cơ quan, tổ chức, đơn vị trong Nghị quyết số 01/2018/NQ-HĐND còn thấp, chưa phù hợp với tình hình thực tiễn phát triển kinh tế – xã hội của thành phố như hiện nay và một số quy định của Bộ, ngành quy định việc mua sắm các tài sản chuyên ngành thay đổi, cũng như đẩy mạnh việc phân cấp, phân quyền theo chỉ đạo của Chính phủ.
Mức độ phân cấp cho sở, ngành, quận, huyện còn hạn chế, chưa tương xứng với năng lực, thực tế chỉ được trao quyền quản lý đối với một số loại tài sản có giá trị thấp điều này làm tăng thủ tục hành chính trong quản lý tài sản công do phải trình cấp trên ra quyết định đầu tư, mua sắm hay xử lý tài sản. Đồng thời, việc phân cấp hạn chế còn làm giảm tính trách nhiệm của người đứng đầu tổ chức, cơ quan, đơn vị trong quản lý tài sản công.
Qua đánh giá việc thực hiện Nghị quyết số 01/2018/NQ- HĐND ngày 11 tháng 7 năm 2018 của Hội đồng nhân dân quy định phân cấp thẩm quyền quyết định đối với tài sản công thuộc địa phương quản lý, Ủy ban nhân dân thành phố Cần Thơ đề xuất việc phân cấp cần đảm bảo phân định rõ về quyền hạn, trách nhiệm của từng cơ quan, tổ chức, đơn vị trong quản lý và sử dụng tài sản công, hạn chế việc chia sẻ trách nhiệm và phát sinh thủ tục hành chính. Theo đó, cần trao thẩm quyền nhiều hơn cho cơ quan, tổ chức, đơn vị đối với các tài sản được giao quản lý.
Mặt khác, phân cấp quản lý tài sản công cần gắn với phân cấp quản lý ngân sách nhà nước cho cơ quan, tổ chức, đơn vị. Ngân sách nhà nước là nguồn lực tài chính chủ yếu hình thành nên các tài sản công. Việc phân cấp quản lý tài sản công gắn với phân cấp quản lý ngân sách nhà nước hàm ý việc phân cấp quyền hạn, trách nhiệm phù hợp với nhiệm vụ chi ngân sách nhà nước giao cho cơ quan, tổ chức, đơn vị.
Theo Ủy ban nhân dân thành phố, cần tăng cường kiểm tra, giám sát đối với phân cấp của chính quyền cấp tỉnh. Việc tăng cường phân cấp quản lý tài sản công, có cơ chế kiểm soát chặt chẽ phân cấp bằng cách tăng cường trách nhiệm của các chủ thể có thẩm quyền thanh tra, kiểm tra và giám sát đối với việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn nhằm bảo đảm thực hiện chính sách, pháp luật về quản lý, sử dụng tài sản công, không để xảy ra tiêu cực, thất thoát tài sản công.
(Nguồn: ThanhtraVietNam)
Theo đó, thủ tục hành chính nội bộ giữa các cơ quan hành chính nhà nước thuộc phạm vi, chức năng quản lý của Thanh tra Chính phủ gồm:
1. Thủ tục xây dựng, phê duyệt kế hoạch xác minh tài sản, thu nhập hằng năm
a) Trình tự thực hiện:
– Bước 1: Căn cứ tình hình tham nhũng và công tác phòng, chống tham nhũng ở các ngành, lĩnh vực và địa phương và yêu cầu, chỉ đạo của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền trong công tác phòng, chống tham nhũng thì Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ chỉ đạo cơ quan thanh tra (nơi không có cơ quan thanh tra thì chỉ đạo đơn vị phụ trách công tác cán bộ) xây dựng kế hoạch xác minh tài sản, thu nhập hằng năm.
– Bước 2: Trước ngày 31 tháng 01 hằng năm, người đứng đầu Cơ quan kiểm soát tài sản thu nhập quy định tại Khoản 1,3,4,5,6,7,8 Điều 30 Luật Phòng chống tham nhũng phê duyệt nội dung và ban hành kế hoạch xác minh; Chánh Thanh tra tỉnh ban hành kế hoạch xác minh hằng năm sau khi trình Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh phê duyệt.
– Bước 3: Trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày kế hoạch xác minh được ban hành, cơ quan kiểm soát tài sản thu nhập tổ chức lựa chọn ngẫu nhiên người được xác minh. Việc lựa chọn được thực hiện công khai bằng hình thức bốc thăm hoặc sử dụng phần mềm máy tính. Số lượng người được lựa chọn để xác minh ngẫu nhiên phải bảo đảm tối thiểu 10% số người có nghĩa vụ kê khai hàng năm tại cơ quan, trong đó có ít nhất 01 người là người đứng đầu hoặc cấp phó của người đứng đầu cục, vụ, đơn vị.
b) Cách thức thực hiện: Trực tiếp tại các cơ quan, đơn vị.
c) Thành phần số lượng hồ sơ: Không quy định.
d) Thời hạn giải quyết: Không quy định
đ) Đối tượng thực hiện: Cơ quan Kiểm soát tài sản thu nhập.
e) Cơ quan giải quyết thủ tục hành chính: Thủ trưởng Cơ quan Kiểm soát tài sản thu nhập.
g) Kết quả thực hiện thủ tục hành chính: Kế hoạch xác minh tài sản, thu nhập được ban hành.
h) Phí, lệ phí: không quy định.
i) Tên mẫu đơn, tờ khai: không quy định
k) Yêu cầu điều kiện thực hiện thủ tục hành chính: Kế hoạch xác minh phải có các nội dung sau: Mục đích, yêu cầu của kế hoạch xác minh; Số lượng và tên cơ quan, đơn vị được xác minh; Tổng số người được xác minh, số lượng người được xác minh phân bổ theo cơ quan, tổ chức, đơn vị trực thuộc; Việc tổ chức thực hiện kế hoạch xác minh, người được phân công chỉ đạo việc thực hiện, đơn vị được phân công tiến hành xác minh, nguồn lực để thực hiện xác minh.
l) Căn cứ pháp lý của thủ tục hành chính: Luật Phòng chống tham nhũng 2018; Nghị định số 130/2020/NĐ-CP ngày 30/10/2020 về kiểm soát tài sản, thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn trong cơ quan, tổ chức, đơn vị; Công văn số 252/TTCP-C.IV ngày 19/02/2021 của Thanh tra Chính phủ.
2. Tạm đình chỉ việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ được giao của người có xung đột lợi ích; tạm thời chuyển người có xung đột lợi ích sang vị trí công tác khác
a) Trình tự thực hiện:
– Việc tạm đình chỉ thực hiện nhiệm vụ, công vụ của người có xung đột lợi ích; việc tạm thời chuyển người có xung đột lợi ích sang vị trí công tác khác được thực hiện khi có căn cứ cho rằng nếu để người đó thực hiện nhiệm vụ, công vụ hoặc tiếp tục giữ vị trí công tác đó sẽ không đảm bảo tính khách quan, minh bạch trong hoạt động của cơ quan, tổ chức, đơn vị.
– Việc tạm đình chỉ việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ và tạm thời chuyển người có xung đột lợi ích sang vị trí công tác khác được thực hiện theo quy định tại Mục 3 Chương VI của Nghị định số 59/2019/NĐ-CP và những quy định khác của pháp luật về cán bộ, công chức, viên chức và pháp luật về lao động.
b) Cách thức thực hiện: Không quy định.
c) Thành phần, số lượng hồ sơ: Không quy định.
d) Thời hạn giải quyết: Không quy định.
đ) Đối tượng thực hiện thủ tục hành chính: Cơ quan, tổ chức, đơn vị khu vực nhà nước, bao gồm: cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân, đơn vị sự nghiệp công lập, doanh nghiệp nhà nước và tổ chức, đơn vị khác do Nhà nước thành lập, đầu tư cơ sở vật chất, cấp phát toàn bộ hoặc một phần kinh phí hoạt động, do Nhà nước trực tiếp quản lý hoặc tham gia quản lý; người có chức vụ, quyền hạn công tác tại cơ quan, tổ chức, đơn vị khu vực nhà nước và cơ quan, tổ chức, cá nhân khác có liên quan trong phòng, chống tham nhũng.
e) Cơ quan giải quyết thủ tục hành chính: Thủ trưởng cơ quan, tổ chức, đơn vị khu vực nhà nước, bao gồm: cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân, đơn vị sự nghiệp công lập, doanh nghiệp nhà nước và tổ chức, đơn vị khác do Nhà nước thành lập, đầu tư cơ sở vật chất, cấp phát toàn bộ hoặc một phần kinh phí hoạt động, do Nhà nước trực tiếp quản lý hoặc tham gia quản lý; người có chức vụ, quyền hạn công tác tại cơ quan, tổ chức, đơn vị khu vực nhà nước và cơ quan, tổ chức, cá nhân khác có liên quan trong phòng, chống tham nhũng.
g) Kết quả thực hiện thủ tục hành chính: Quyết định tạm đình chỉ việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ được giao của người có xung đột lợi ích; tạm thời chuyển người có xung đột lợi ích sang vị trí công tác khác.
h) Phí, lệ phí: Không quy định.
i) Tên mẫu đơn, mẫu tờ khai: Không quy định.
k) Yêu cầu, điều kiện thực hiện thủ tục hành chính:
Người có chức vụ, quyền hạn được xác định là có xung đột lợi ích khi có dấu hiệu rõ ràng cho rằng người đó thuộc hoặc sẽ thuộc một trong các trường hợp sau đây:
– Nhận tiền, tài sản hoặc lợi ích khác của cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân liên quan đến công việc do mình giải quyết hoặc thuộc phạm vi quản lý của mình;
– Thành lập, tham gia quản lý, điều hành doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, công ty hợp danh, hợp tác xã, trừ trường hợp luật có quy định khác;
– Tư vấn cho doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân khác ở trong nước và nước ngoài về công việc có liên quan đến bí mật nhà nước, bí mật công tác, công việc thuộc thẩm quyền giải quyết hoặc tham gia giải quyết;
– Sử dụng những thông tin có được nhờ chức vụ, quyền hạn của mình để vụ lợi hoặc để phục vụ lợi ích của tổ chức hoặc cá nhân khác;
– Bố trí vợ hoặc chồng, bố, mẹ, con, anh, chị, em ruột của mình giữ chức vụ quản lý về tổ chức nhân sự, kế toán, làm thủ quỹ, thủ kho trong cơ quan, tổ chức, đơn vị hoặc giao dịch, mua bán hàng hóa, dịch vụ, ký kết hợp đồng cho cơ quan, tổ chức, đơn vị do mình là người đứng đầu hoặc cấp phó của người đứng đầu;
– Góp vốn vào doanh nghiệp hoạt động trong phạm vi ngành, nghề do mình trực tiếp thực hiện việc quản lý nhà nước hoặc để vợ hoặc chồng, bố, mẹ, con kinh doanh trong phạm vi ngành, nghề do mình trực tiếp thực hiện việc quản lý nhà nước;
– Ký kết hợp đồng với doanh nghiệp thuộc sở hữu của vợ hoặc chồng, bố, mẹ, con, anh, chị, em ruột hoặc để doanh nghiệp thuộc sở hữu của vợ hoặc chồng, bố, mẹ, con, anh, chị, em ruột tham dự các gói thầu của cơ quan, tổ chức, đơn vị mình khi được giao thực hiện các giao dịch, mua bán hàng hóa, dịch vụ, ký kết hợp đồng cho cơ quan, tổ chức, đơn vị đó;
– Có vợ hoặc chồng, bố, mẹ, con, anh, chị, em ruột là người có quyền, lợi ích trực tiếp liên quan đến việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ của mình;
– Can thiệp hoặc tác động không đúng đến hoạt động của cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân có thẩm quyền vì vụ lợi.
l) Căn cứ pháp lý của thủ tục hành chính: Nghị định số 59/2019/NĐ-CP ngày 01/7/2019 của Chính phủ Quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Phòng, chống tham nhũng; Nghị định số 134/2021/NĐ-CP ngày 30/12/2021 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 59/2019/NĐ-CP ngày 01/7/2019.
3. Đình chỉ việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ được giao của người có xung đột lợi ích
a) Trình tự thực hiện:
– Việc đình chỉ thực hiện nhiệm vụ, công vụ của người có xung đột lợi ích được thực hiện khi có căn cứ rõ ràng về việc người đó có hành vi vi phạm pháp luật hoặc có tác động không đúng đắn, gây khó khăn, cản trở đến hoạt động của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
– Trong thời hạn 05 ngày, kể từ ngày có căn cứ được quy định trên thì người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị quyết định hoặc đề nghị người có thẩm quyền quản lý người có chức vụ, quyền hạn quyết định đình chỉ việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ đối với người có chức vụ, quyền hạn.
– Quyết định đình chỉ việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ phải ghi rõ họ và tên của người có chức vụ, quyền hạn; thời gian đình chỉ; lý do đình chỉ; quyền và nghĩa vụ của người có chức vụ, quyền hạn bị đình chỉ; hiệu lực thi hành.
– Quyết định đình chỉ việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ phải được gửi cho người bị đình chỉ và cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân có thông tin, báo cáo về xung đột lợi ích.
b) Cách thức thực hiện: Không quy định.
c) Thành phần, số lượng hồ sơ: Không quy định.
d) Thời hạn giải quyết: Không quy định.
đ) Đối tượng thực hiện thủ tục hành chính: Cơ quan, tổ chức, đơn vị khu vực nhà nước, bao gồm: cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân, đơn vị sự nghiệp công lập, doanh nghiệp nhà nước và tổ chức, đơn vị khác do Nhà nước thành lập, đầu tư cơ sở vật chất, cấp phát toàn bộ hoặc một phần kinh phí hoạt động, do Nhà nước trực tiếp quản lý hoặc tham gia quản lý; người có chức vụ, quyền hạn công tác tại cơ quan, tổ chức, đơn vị khu vực nhà nước và cơ quan, tổ chức, cá nhân khác có liên quan trong phòng, chống tham nhũng
e) Cơ quan giải quyết thủ tục hành chính: Thủ trưởng cơ quan, tổ chức, đơn vị khu vực nhà nước, bao gồm: cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân, đơn vị sự nghiệp công lập, doanh nghiệp nhà nước và tổ chức, đơn vị khác do Nhà nước thành lập, đầu tư cơ sở vật chất, cấp phát toàn bộ hoặc một phần kinh phí hoạt động, do Nhà nước trực tiếp quản lý hoặc tham gia quản lý; người có chức vụ, quyền hạn công tác tại cơ quan, tổ chức, đơn vị khu vực nhà nước và cơ quan, tổ chức, cá nhân khác có liên quan trong phòng, chống tham nhũng.
g) Kết quả thực hiện thủ tục hành chính: Quyết định đình chỉ việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ được giao của người có xung đột lợi ích.
h) Phí, lệ phí: Không quy định.
i) Tên mẫu đơn, mẫu tờ khai: Không quy định.
k) Yêu cầu, điều kiện thực hiện thủ tục hành chính:
Người có chức vụ, quyền hạn được xác định là có xung đột lợi ích khi có dấu hiệu rõ ràng cho rằng người đó thuộc hoặc sẽ thuộc một trong các trường hợp sau đây:
– Nhận tiền, tài sản hoặc lợi ích khác của cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân liên quan đến công việc do mình giải quyết hoặc thuộc phạm vi quản lý của mình;
– Thành lập, tham gia quản lý, điều hành doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, công ty hợp danh, hợp tác xã, trừ trường hợp luật có quy định khác;
– Tư vấn cho doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân khác ở trong nước và nước ngoài về công việc có liên quan đến bí mật nhà nước, bí mật công tác, công việc thuộc thẩm quyền giải quyết hoặc tham gia giải quyết;
– Sử dụng những thông tin có được nhờ chức vụ, quyền hạn của mình để vụ lợi hoặc để phục vụ lợi ích của tổ chức hoặc cá nhân khác;
– Bố trí vợ hoặc chồng, bố, mẹ, con, anh, chị, em ruột của mình giữ chức vụ quản lý về tổ chức nhân sự, kế toán, làm thủ quỹ, thủ kho trong cơ quan, tổ chức, đơn vị hoặc giao dịch, mua bán hàng hóa, dịch vụ, ký kết hợp đồng cho cơ quan, tổ chức, đơn vị do mình là người đứng đầu hoặc cấp phó của người đứng đầu;
– Góp vốn vào doanh nghiệp hoạt động trong phạm vi ngành, nghề do mình trực tiếp thực hiện việc quản lý nhà nước hoặc để vợ hoặc chồng, bố, mẹ, con kinh doanh trong phạm vi ngành, nghề do mình trực tiếp thực hiện việc quản lý nhà nước;
– Ký kết hợp đồng với doanh nghiệp thuộc sở hữu của vợ hoặc chồng, bố, mẹ, con, anh, chị, em ruột hoặc để doanh nghiệp thuộc sở hữu của vợ hoặc chồng, bố, mẹ, con, anh, chị, em ruột tham dự các gói thầu của cơ quan, tổ chức, đơn vị mình khi được giao thực hiện các giao dịch, mua bán hàng hóa, dịch vụ, ký kết hợp đồng cho cơ quan, tổ chức, đơn vị đó;
– Có vợ hoặc chồng, bố, mẹ, con, anh, chị, em ruột là người có quyền, lợi ích trực tiếp liên quan đến việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ của mình;
– Can thiệp hoặc tác động không đúng đến hoạt động của cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân có thẩm quyền vì vụ lợi.
l) Căn cứ pháp lý của thủ tục hành chính: Nghị định số 59/2019/NĐ-CP ngày 01/7/2019 của Chính phủ Quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Phòng, chống tham nhũng; Nghị định số 134/2021/NĐ-CP ngày 30/12/2021 của Chính phủ Sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 59/2019/NĐ-CP ngày 01/7/2019.
4. Ra quyết định tạm đình chỉ công tác, tạm thời chuyển vị trí công tác khác đối với người có chức vụ, quyền hạn
a) Trình tự thực hiện:
– Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày có căn cứ được quy định tại Điều 43 của Nghị định số 59/2019/NĐ-CP thì người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị quyết định hoặc đề nghị người có thẩm quyền quản lý người có chức vụ, quyền hạn quyết định tạm đình chỉ công tác, tạm thời chuyển vị trí công tác khác đối với người có chức vụ, quyền hạn.
– Việc lựa chọn áp dụng biện pháp tạm đình chỉ công tác hoặc tạm thời chuyển vị trí công tác đối với người có chức vụ, quyền hạn do người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị hoặc người có thẩm quyền quản lý cán bộ, công chức, viên chức quyết định căn cứ vào tính chất, mức độ của từng vụ việc cụ thể và yêu cầu bố trí, sử dụng cán bộ, công chức, viên chức trong cơ quan, tổ chức, đơn vị đó.
– Quyết định tạm đình chỉ công tác, tạm thời chuyển vị trí công tác khác phải ghi rõ họ và tên của người có chức vụ, quyền hạn; thời gian tạm đình chỉ công tác, tạm thời chuyển vị trí công tác khác; lý do tạm đình chỉ công tác, tạm thời chuyển vị trí công tác khác; quyền và nghĩa vụ của người có chức vụ, quyền hạn bị tạm đình chỉ công tác, tạm thời chuyển vị trí công tác khác; hiệu lực thi hành.
– Quyết định tạm đình chỉ công tác, tạm thời chuyển vị trí công tác khác đối với người có chức vụ, quyền hạn phải được gửi cho người bị tạm đình chỉ , người bị tạm thời chuyển vị trí công tác khác, cơ quan, tổ chức, đơn vị nơi người đó dang công tác và nơi tiếp nhận người tạm thời chuyển vị trí công tác đến làm việc.
– Trong trường hợp pháp luật khác có quy định về trình tự, thủ tục tạm đình chỉ công tác, tạm thời chuyển vị trí công tác khác thi áp dụng quy định của pháp luật đó.
b) Cách thức thực hiện: Không quy định.
c) Thành phần, số lượng hồ sơ: Không quy định.
d) Thời hạn giải quyết: 05 ngày làm việc.
đ) Đối tượng thực hiện thủ tục hành chính: Cơ quan, tổ chức, đơn vị khu vực nhà nước, bao gồm: cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân, đơn vị sự nghiệp công lập, doanh nghiệp nhà nước và tổ chức, đơn vị khác do Nhà nước thành lập, đầu tư cơ sở vật chất, cấp phát toàn bộ hoặc một phần kinh phí hoạt động, do Nhà nước trực tiếp quản lý hoặc tham gia quản lý; người có chức vụ, quyền hạn công tác tại cơ quan, tổ chức, đơn vị khu vực nhà nước và cơ quan, tổ chức, cá nhân khác có liên quan trong phòng, chống tham nhũng.
e) Cơ quan giải quyết thủ tục hành chính: Thủ trưởng cơ quan, tổ chức, đơn vị khu vực nhà nước, bao gồm: cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân, đơn vị sự nghiệp công lập, doanh nghiệp nhà nước và tổ chức, đơn vị khác do Nhà nước thành lập, đầu tư cơ sở vật chất, cấp phát toàn bộ hoặc một phần kinh phí hoạt động, do Nhà nước trực tiếp quản lý hoặc tham gia quản lý; người có chức vụ, quyền hạn công tác tại cơ quan, tổ chức, đơn vị khu vực nhà nước và cơ quan, tổ chức, cá nhân khác có liên quan trong phòng, chống tham nhũng.
g) Kết quả thực hiện thủ tục hành chính: Quyết định tạm đình chỉ công tác, tạm thời chuyển vị trí công tác khác.
h) Phí, lệ phí: Không quy định.
i) Tên mẫu đơn, mẫu tờ khai: Không quy định.
k) Yêu cầu, điều kiện thực hiện thủ tục hành chính:
Căn cứ ra quyết định tạm đình chỉ công tác, tạm thời chuyển vị trí công tác khác:
– Việc quyết định tạm đình chỉ công tác, tạm thời chuyển vị trí công tác khác đối với người có chức vụ, quyền hạn chỉ được thực hiện khi có căn cứ cho rằng người đó có hành vi vi phạm pháp luật liên quan đến tham nhũng và có thể gây khó khăn cho việc xem xét, xử lý nếu vẫn tiếp tục làm việc.
– Căn cứ cho rằng người có chức vụ, quyền hạn có hành vi vi phạm pháp luật liên quan đến tham nhũng khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:
+ Có văn bản yêu cầu của Cơ quan thanh tra, Kiểm toán nhà nước, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát nhân dân, Tòa án nhân dân;
+ Qua xác minh, làm rõ nội dung theo đơn tố cáo phát hiện người có chức vụ, quyền hạn thực hiện hành vi có dấu hiệu tham nhũng;
+ Qua công tác tự kiểm tra trong cơ quan, tổ chức, đơn vị phát hiện người có chức vụ, quyền hạn thực hiện hành vi có dấu hiệu tham nhũng;
+ Qua công tác quản lý, chỉ đạo, điều hành phát hiện người có chức vụ, quyền hạn thực hiện hành vi vi phạm pháp luật liên quan đến việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ, quản lý, sử dụng tài chính công, tài sản công.
+ Người có chức vụ, quyền hạn được coi là có thể gây khó khăn cho việc xem xét, xử lý của cơ quan nhà nước có thẩm quyền khi người đó có một trong các hành vi sau đây:
+ Từ chối cung cấp thông tin, tài liệu hoặc cung cấp thông tin, tài liệu không đầy đủ, sai sự thật;
+ Cố ý trì hoãn, trốn tránh không thực hiện yêu cầu của người có thẩm quyền trong quá trình xác minh, làm rõ hành vi tham nhũng;
+ Tự ý tháo gỡ niêm phong tài liệu, tiêu hủy thông tin, tài liệu, chứng cứ; tẩu tán tài sản có liên quan đến hành vi vi phạm pháp luật;
+ Lợi dụng chức vụ, quyền hạn, ảnh hưởng của mình, của người khác hoặc dùng hình thức khác để che giấu hành vi vi phạm pháp luật, gây khó khăn cho việc xác minh, làm rõ.
l) Căn cứ pháp lý của thủ tục hành chính: Nghị định số 59/2019/NĐ-CP ngày 01/7/2019 của Chính phủ Quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Phòng, chống tham nhũng; Nghị định số 134/2021/NĐ-CP ngày 30/12/2021 của Chính phủ Sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 59/2019/NĐ-CP ngày 01/7/2019.
5. Hủy bỏ quyết định tạm đình chỉ công tác, tạm thời chuyển vị trí công tác khác
a) Trình tự thực hiện:
+ Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày cơ quan, tổ chức có thẩm quyền kết luận người có chức vụ, quyền hạn không có hành vi tham nhũng thì người đã ra quyết định phải hủy bỏ quyết định tạm đình chỉ công tác, tạm thời chuyển vị trí công tác khác đối với người có chức vụ, quyền hạn.
+ Quyết định hủy bỏ việc tạm đình chỉ công tác, tạm thời chuyển vị trí công tác khác được gửi cho người có chức vụ, quyền hạn bị tạm đình chỉ công tác, tạm thời chuyển vị trí công tác khác, cơ quan, tổ chức, đơn vị nơi người đó đang công tác và nơi tiếp nhận người tạm thời chuyển vị trí công tác đến làm việc.
+ Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày ban hành quyết định hủy bỏ việc tạm đình chỉ công tác, tạm thời chuyển vị trí công tác khác, người ra quyết định có trách nhiệm công khai bằng một trong các hình thức sau đây:
Công bố tại cuộc họp toàn thể của cơ quan, tổ chức, đơn vị nơi người bị tạm đình chỉ công tác, tạm thời chuyển vị trí công tác khác làm việc;
Niêm yết tại trụ sở làm việc của cơ quan, tổ chức, đơn vị nơi người bị tạm đình chỉ công tác, tạm thời chuyển vị trí công tác khác đó làm việc trong thời hạn 15 ngày liên tục, kể từ ngày niêm yết.
b) Cách thức thực hiện: Không quy định.
c) Thành phần, số lượng hồ sơ: Không quy định.
d) Thời hạn giải quyết: 05 ngày làm việc.
đ) Đối tượng thực hiện thủ tục hành chính: Cơ quan, tổ chức, đơn vị khu vực nhà nước, bao gồm: cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân, đơn vị sự nghiệp công lập, doanh nghiệp nhà nước và tổ chức, đơn vị khác do Nhà nước thành lập, đầu tư cơ sở vật chất, cấp phát toàn bộ hoặc một phần kinh phí hoạt động, do Nhà nước trực tiếp quản lý hoặc tham gia quản lý; người có chức vụ, quyền hạn công tác tại cơ quan, tổ chức, đơn vị khu vực nhà nước và cơ quan, tổ chức, cá nhân khác có liên quan trong phòng, chống tham nhũng.
e) Cơ quan giải quyết thủ tục hành chính: Thủ trưởng cơ quan, tổ chức, đơn vị khu vực nhà nước, bao gồm: cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân, đơn vị sự nghiệp công lập, doanh nghiệp nhà nước và tổ chức, đơn vị khác do Nhà nước thành lập, đầu tư cơ sở vật chất, cấp phát toàn bộ hoặc một phần kinh phí hoạt động, do Nhà nước trực tiếp quản lý hoặc tham gia quản lý; người có chức vụ, quyền hạn công tác tại cơ quan, tổ chức, đơn vị khu vực nhà nước và cơ quan, tổ chức, cá nhân khác có liên quan trong phòng, chống tham nhũng.
g) Kết quả thực hiện thủ tục hành chính: Quyết định hủy bỏ quyết định tạm đình chỉ công tác, tạm thời chuyển vị trí công tác khác.
h) Phí, lệ phí: Không quy định.
i) Tên mẫu đơn, mẫu tờ khai: Không quy định.
k) Yêu cầu, điều kiện thực hiện thủ tục hành chính: Không quy định.
l) Căn cứ pháp lý của thủ tục hành chính: Nghị định số 59/2019/NĐ-CP ngày 01/7/2019 của Chính phủ Quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Phòng, chống tham nhũng; Nghị định số 134/2021/NĐ-CP ngày 30/12/2021 của Chính phủ Sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 59/2019/NĐ-CP ngày 01/7/2019.
a) Trình tự thực hiện:
– Bước 1:
+ Đối với quà tặng bằng tiền, giấy tờ có giá thì Thủ trưởng cơ quan, tổ chức, đơn vị tổ chức tiếp nhận, bảo quản và làm thủ tục nộp vào ngân sách nhà nước theo quy định của pháp luật.
+ Đối với quà tặng bằng hiện vật, Thủ trưởng cơ quan, tổ chức, đơn vị tiếp nhận, bảo quản và xử lý như sau:
Xác định giá trị của quà tặng trên cơ sở giá của quà tặng do cơ quan, đơn vị, cá nhân tặng quà cung cấp (nếu có) hoặc giá trị của quà tặng tương tự được bán trên thị trường. Trong trường hợp không xác định được giá trị của quà tặng bằng hiện vật thì có thể đề nghị cơ quan có chức năng xác định giá;
Quyết định bán quà tặng và tổ chức công khai bán quà tặng theo quy định của pháp luật;
Nộp vào ngân sách nhà nước số tiền thu được sau khi trừ đi chi phí liên quan đến việc xử lý quà tặng trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày bán quà tặng.
+ Đối với quà tặng là dịch vụ thăm quan, du lịch, y tế, giáo dục – đào tạo, thực tập, bồi dưỡng trong nước hoặc ngoài nước, dịch vụ khác thì Thủ trưởng cơ quan, tổ chức, đơn vị phải thông báo đến cơ quan, tổ chức, đơn vị cung cấp dịch vụ về việc không sử dụng dịch vụ đó.
+ Đối với quà tặng là động vật, thực vật, thực phẩm tươi, sống và hiện vật khác khó bảo quản thì Thủ trưởng cơ quan, tổ chức, đơn vị căn cứ tình hình cụ thể và quy định của pháp luật về xử lý tang vật trong các vụ việc vi phạm hành chính để quyết định xử lý theo thẩm quyền hoặc báo cáo Cấp có thẩm quyền xem xét, quyết định xử lý.
– Bước 2: Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày xử lý quà tặng, cơ quan, tổ chức, đơn vị xử lý quà tặng có trách nhiệm thông báo bằng văn bản cho cơ quan, tổ chức, đơn vị quản lý người tặng quà hoặc Cấp trên trực tiếp của cơ quan, tổ chức, đơn vị đã tặng quà để xem xét, xử lý theo thẩm quyền.
b) Cách thức thực hiện: Tại cơ quan, đơn vị.
c) Thành phần, số lượng hồ sơ: Không quy định.
d) Thời hạn giải quyết: 05 ngày làm việc.
đ) Đối tượng thực hiện thủ tục hành chính: Cơ quan, tổ chức, đơn vị khu vực nhà nước, bao gồm: cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân, đơn vị sự nghiệp công lập, doanh nghiệp nhà nước và tổ chức, đơn vị khác do Nhà nước thành lập, đầu tư cơ sở vật chất, cấp phát toàn bộ hoặc một phần kinh phí hoạt động, do Nhà nước trực tiếp quản lý hoặc tham gia quản lý; người có chức vụ, quyền hạn công tác tại cơ quan, tổ chức, đơn vị khu vực nhà nước và cơ quan, tổ chức, cá nhân khác có liên quan trong phòng, chống tham nhũng.
e) Cơ quan giải quyết thủ tục hành chính: Thủ trưởng Cơ quan, tổ chức, đơn vị khu vực nhà nước, bao gồm: cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân, đơn vị sự nghiệp công lập, doanh nghiệp nhà nước và tổ chức, đơn vị khác do Nhà nước thành lập, đầu tư cơ sở vật chất, cấp phát toàn bộ hoặc một phần kinh phí hoạt động, do Nhà nước trực tiếp quản lý hoặc tham gia quản lý; người có chức vụ, quyền hạn công tác tại cơ quan, tổ chức, đơn vị khu vực nhà nước và cơ quan, tổ chức, cá nhân khác có liên quan trong phòng, chống tham nhũng.
g) Kết quả thực hiện thủ tục hành chính: Văn bản thông báo.
h) Phí, lệ phí: Không.
i) Tên mẫu đơn, mẫu tờ khai: Không quy định.
k) Yêu cầu, điều kiện thực hiện thủ tục hành chính: Không quy định.
l) Căn cứ pháp lý của thủ tục hành chính: Nghị định số 59/2019/NĐ-CP ngày 01/7/2019 của Chính phủ Quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật PCTN
7. Xử lý thông tin, báo cáo về xung đột lợi ích
a) Trình tự thực hiện:
– Bước 1: Xác định các trường hợp xung đột lợi ích
Người có chức vụ, quyền hạn được xác định là có xung đột lợi ích khi có dấu hiệu rõ ràng cho rằng người đó thuộc hoặc sẽ thuộc một trong các trường hợp sau đây:
+ Nhận tiền, tài sản hoặc lợi ích khác của cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân liên quan đến công việc do mình giải quyết hoặc thuộc phạm vi quản lý của mình;
+ Thành lập, tham gia quản lý, điều hành doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, công ty hợp danh, hợp tác xã, trừ trường hợp luật có quy định khác;
+ Tư vấn cho doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân khác ở trong nước và nước ngoài về công việc có liên quan đến bí mật nhà nước, bí mật công tác, công việc thuộc thẩm quyền giải quyết hoặc tham gia giải quyết;
+ Sử dụng những thông tin có được nhờ chức vụ, quyền hạn của mình để vụ lợi hoặc để phục vụ lợi ích của tổ chức hoặc cá nhân khác;
+ Bố trí vợ hoặc chồng, bố, mẹ, con, anh, chị, em ruột của mình giữ chức vụ quản lý về tổ chức nhân sự, kế toán, làm thủ quỹ, thủ kho trong cơ quan, tổ chức, đơn vị hoặc giao dịch, mua bán hàng hóa, dịch vụ, ký kết hợp đồng cho cơ quan, tổ chức, đơn vị do mình là người đứng đầu hoặc cấp phó của người đứng đầu;
+ Góp vốn vào doanh nghiệp hoạt động trong phạm vi ngành, nghề do mình trực tiếp thực hiện việc quản lý nhà nước hoặc để vợ hoặc chồng, bố, mẹ, con kinh doanh trong phạm vi ngành, nghề do mình trực tiếp thực hiện việc quản lý nhà nước;
+ Ký kết hợp đồng với doanh nghiệp thuộc sở hữu của vợ hoặc chồng, bố, mẹ, con, anh, chị, em ruột hoặc để doanh nghiệp thuộc sở hữu của vợ hoặc chồng, bố, mẹ, con, anh, chị, em ruột tham dự các gói thầu của cơ quan, tổ chức, đơn vị mình khi được giao thực hiện các giao dịch, mua bán hàng hóa, dịch vụ, ký kết hợp đồng cho cơ quan, tổ chức, đơn vị đó;
+ Có vợ hoặc chồng, bố, mẹ, con, anh, chị, em ruột là người có quyền, lợi ích trực tiếp liên quan đến việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ của mình;
+ Can thiệp hoặc tác động không đúng đến hoạt động của cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân có thẩm quyền vì vụ lợi.
– Bước 2: Thông tin, báo cáo về xung đột lợi ích
+ Người có chức vụ, quyền hạn khi được phân công công việc hoặc trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, công vụ nếu biết hoặc buộc phải biết nhiệm vụ, công vụ được giao có xung đột lợi ích thì phải báo cáo bằng văn bản với người trực tiếp quản lý, sử dụng để xem xét, xử lý theo quy định.
+ Cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân khi phát hiện xung đột lợi ích của người có chức vụ, quyền hạn thì phải thông tin, báo cáo bằng văn bản cho người trực tiếp quản lý, sử dụng người đó để xem xét, xử lý.
+ Thông tin, báo cáo về xung đột lợi ích được thực hiện trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày biết được hoặc phát hiện được nhiệm vụ, công vụ được giao có xung đột lợi ích với người được giao nhiệm vụ, công vụ. Thông tin, báo cáo về xung đột lợi ích được thể hiện bằng văn bản và làm rõ các nội dung sau: Tình huống có xung đột lợi ích; Thời điểm diễn ra và biết được hoặc phát hiện được xung đột lợi ích; Mức độ ảnh hưởng hoặc sẽ ảnh hưởng không đúng đến việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ của người có chức vụ, quyền hạn; Đề nghị hoặc kiến nghị biện pháp kiểm soát xung đột lợi ích.
– Bước 3: Xử lý thông tin, báo cáo về xung đột lợi ích
+ Người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị quản lý, sử dụng người có chức vụ, quyền hạn có thẩm quyền tiếp nhận, xử lý thông tin, báo cáo về xung đột lợi ích. Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được thông tin, báo cáo thì người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị quyết định hoặc đề nghị người có thẩm quyền quản lý người đó áp dụng một trong các biện pháp kiểm soát xung đột lợi ích quy định tại các Điều 32, 33 và 34 của Nghị định 59 hoặc xử lý theo quy định của pháp luật.
+ Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày xử lý thông tin, báo cáo về xung đột lợi ích, cơ quan, tổ chức, đơn vị xử lý thông tin, báo cáo xung đột lợi ích phải thông báo bằng văn bản tới người có xung đột lợi ích và cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân có thông tin, báo cáo về xung đột lợi ích.
b) Cách thức thực hiện: Tại cơ quan, đơn vị.
c) Thành phần, số lượng hồ sơ: Không quy định.
d) Thời hạn giải quyết: Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày xử lý thông tin, báo cáo về xung đột lợi ích, cơ quan, tổ chức, đơn vị xử lý thông tin, báo cáo xung đột lợi ích phải thông báo bằng văn bản tới người có xung đột lợi ích và cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân có thông tin, báo cáo về xung đột lợi ích.
đ) Đối tượng thực hiện thủ tục hành chính: Cơ quan, tổ chức, đơn vị khu vực nhà nước, bao gồm: cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân, đơn vị sự nghiệp công lập, doanh nghiệp nhà nước và tổ chức, đơn vị khác do Nhà nước thành lập, đầu tư cơ sở vật chất, cấp phát toàn bộ hoặc một phần kinh phí hoạt động, do Nhà nước trực tiếp quản lý hoặc tham gia quản lý; người có chức vụ, quyền hạn công tác tại cơ quan, tổ chức, đơn vị khu vực nhà nước và cơ quan, tổ chức, cá nhân khác có liên quan trong phòng, chống tham nhũng.
e) Cơ quan giải quyết thủ tục hành chính: Thủ trưởng cơ quan, tổ chức, đơn vị khu vực nhà nước, bao gồm: cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân, đơn vị sự nghiệp công lập, doanh nghiệp nhà nước và tổ chức, đơn vị khác do Nhà nước thành lập, đầu tư cơ sở vật chất, cấp phát toàn bộ hoặc một phần kinh phí hoạt động, do Nhà nước trực tiếp quản lý hoặc tham gia quản lý; người có chức vụ, quyền hạn công tác tại cơ quan, tổ chức, đơn vị khu vực nhà nước và cơ quan, tổ chức, cá nhân khác có liên quan trong phòng, chống tham nhũng.
g) Kết quả thực hiện thủ tục hành chính: Văn bản thông tin, báo cáo về xung đột lợi ích.
h) Phí, lệ phí: Không.
i) Tên mẫu đơn, mẫu tờ khai: Không quy định.
k) Yêu cầu, điều kiện thực hiện thủ tục hành chính:
Người có chức vụ, quyền hạn được xác định là có xung đột lợi ích khi có dấu hiệu rõ ràng cho rằng người đó thuộc hoặc sẽ thuộc một trong các trường hợp sau đây:
– Nhận tiền, tài sản hoặc lợi ích khác của cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân liên quan đến công việc do mình giải quyết hoặc thuộc phạm vi quản lý của mình;
– Thành lập, tham gia quản lý, điều hành doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, công ty hợp danh, hợp tác xã, trừ trường hợp luật có quy định khác;
– Tư vấn cho doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân khác ở trong nước và nước ngoài về công việc có liên quan đến bí mật nhà nước, bí mật công tác, công việc thuộc thẩm quyền giải quyết hoặc tham gia giải quyết;
– Sử dụng những thông tin có được nhờ chức vụ, quyền hạn của mình để vụ lợi hoặc để phục vụ lợi ích của tổ chức hoặc cá nhân khác;
– Bố trí vợ hoặc chồng, bố, mẹ, con, anh, chị, em ruột của mình giữ chức vụ quản lý về tổ chức nhân sự, kế toán, làm thủ quỹ, thủ kho trong cơ quan, tổ chức, đơn vị hoặc giao dịch, mua bán hàng hóa, dịch vụ, ký kết hợp đồng cho cơ quan, tổ chức, đơn vị do mình là người đứng đầu hoặc cấp phó của người đứng đầu;
– Góp vốn vào doanh nghiệp hoạt động trong phạm vi ngành, nghề do mình trực tiếp thực hiện việc quản lý nhà nước hoặc để vợ hoặc chồng, bố, mẹ, con kinh doanh trong phạm vi ngành, nghề do mình trực tiếp thực hiện việc quản lý nhà nước;
– Ký kết hợp đồng với doanh nghiệp thuộc sở hữu của vợ hoặc chồng, bố, mẹ, con, anh, chị, em ruột hoặc để doanh nghiệp thuộc sở hữu của vợ hoặc chồng, bố, mẹ, con, anh, chị, em ruột tham dự các gói thầu của cơ quan, tổ chức, đơn vị mình khi được giao thực hiện các giao dịch, mua bán hàng hóa, dịch vụ, ký kết hợp đồng cho cơ quan, tổ chức, đơn vị đó;
– Có vợ hoặc chồng, bố, mẹ, con, anh, chị, em ruột là người có quyền, lợi ích trực tiếp liên quan đến việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ của mình;
– Can thiệp hoặc tác động không đúng đến hoạt động của cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân có thẩm quyền vì vụ lợi.
l) Căn cứ pháp lý của thủ tục hành chính: Nghị định số 59/2019/NĐ-CP ngày 01/7/2019 của Chính phủ Quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Phòng, chống tham nhũng.
8. Thủ tục xét tặng Kỷ niệm chương “Vì sự nghiệp Thanh tra”
a) Trình tự thực hiện:
– Bước 1: Lập hồ sơ, đề nghị xét tặng kỷ niệm chương
+ Thủ trưởng các đơn vị thuộc Thanh tra Chính phủ, Chánh thanh tra bộ, Chánh Thanh tra tỉnh có trách nhiệm lập hồ sơ, đề nghị xét tặng kỷ niệm chương cho các cá nhân đủ điều kiện.
+ Gửi công văn kèm theo danh sách đề nghị xét tặng kỷ niệm chương về Vụ Tổ chức cán bộ, Thanh tra Chính phủ trước ngày 01/9 hằng năm.
– Bước 2: Tổng hợp hồ sơ, đề nghị xét tặng kỷ niệm chương
Vụ tổ chức Cán bộ – Thanh tra Chính phủ có trách nhiệm tổng hợp hồ sơ đề nghị tặng kỷ niệm chương để trình Hội đồng Thi đua – Khen thưởng ngành Thanh tra thẩm định trước ngày 30/10 hằng năm.
– Bước 3: Rà soát, thẩm định hồ sơ đề nghị xét tặng kỷ niệm chương
Thường trực Hội đồng thi đua khen thưởng ngành Thanh tra có trách nhiệm rà soát, thẩm định hồ sơ và đề nghị Hội đồng thi đua khen thưởng ngành Thanh tra xem xét, trình Tổng Thanh tra Chính phủ xét, quyết định tặng Kỷ niệm chương cho cá nhân đủ điều kiện, tiêu chuẩn.
– Bước 4: Ban hành quyết định tặng kỷ niệm chương
Tổng Thanh tra Chính phủ ký quyết định tặng kỷ niệm chương cho cá nhân đủ điều kiện, tiêu chuẩn và tổ chức trao tặng vào đợt kỷ niệm Ngày truyền thống ngành Thanh tra Việt Nam (23/11 hàng năm).
b) Cách thức thực hiện: Gửi hồ sơ trực tiếp đến Vụ Tổ chức cán bộ của Thanh tra Chính phủ hoặc gửi theo đường bưu điện.
c) Thành phần, số lượng hồ sơ:
– Công văn đề nghị xét tặng kỷ niệm chương;
– Danh sách trích ngang;
– Bản tóm tắt quá trình công tác;
– Bản sao các quyết định khen thưởng và hồ sơ liên quan có xác nhận của cơ quan quản lý (nếu có) đối với các trường hợp ưu tiên xét tặng.
– Báo cáo thành tích, sáng kiến, công trình khoa học đối với các trường hợp được xét tặng quy định tại khoản 4 Điều 4 Thông tư số 01/2017/TT-TTCP ngày 10/4/2017.
– Số lượng: 01 bộ.
d) Thời hạn giải quyết: Từ 01/9 đến 30/10 hàng năm.
đ) Đối tượng thực hiện thủ tục hành chính: Cá nhân công tác trong các cơ quan Thanh tra nhà nước các cấp và cá nhân theo quy định tại khoản 2,3,4 Điều 4 Thông tư số 01/2017/TT-TTCP ngày 10/4/2017 của Thanh tra Chính phủ.
e) Cơ quan giải quyết thủ tục hành chính:
– Cơ quan có thẩm quyền quyết định: Tổng Thanh tra Chính phủ.
– Đơn vị trực tiếp thực hiện: Vụ Tổ chức Cán bộ.
g) Kết quả thực hiện thủ tục hành chính: Quyết định tặng kỷ niệm chương “Vì sự nghiệp thanh tra” của Tổng Thanh tra Chính phủ.
h) Phí, lệ phí: Không quy định.
i) Tên mẫu đơn, mẫu tờ khai: Không quy định.
k) Yêu cầu, điều kiện thực hiện thủ tục hành chính:
Theo quy định tại Điều 4, Điều 5, Điều 6 của Thông tư số 01/2017/TT- TTCP ngày 10/4/2017 của Thanh tra Chính phủ quy định xét tặng kỷ niệm chương “Vì sự nghiệp thanh tra”.
l) Căn cứ pháp lý của thủ tục hành chính: Thông tư số 01/2017/TT-TTCP ngày 10/4/2017 của Thanh tra Chính phủ quy định xét tặng kỷ niệm chương “Vì sự nghiệp thanh tra”.
9. Thủ tục tặng thưởng cờ thi đua của Thanh tra Chính phủ
a) Trình tự thực hiện
– Bước 1: Đăng ký thi đua.
+ Các tập thể Thanh tra bộ, Thanh tra tỉnh; cục, vụ, đơn vị thuộc Thanh tra Chính phủ đăng ký thi đua;
+ Cụm trưởng, Khối trưởng; Chánh Thanh tra các bộ, ngành, tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; Thủ trưởng các cục, vụ, đơn vị thuộc Thanh tra Chính phủ có trách nhiệm gửi đăng ký thi đua, giao ước thi đua trước ngày 25 tháng 3 hàng năm về Thường trực Hội đồng Thi đua – Khen thưởng ngành Thanh tra (Vụ Tổ chức cán bộ – Thanh tra Chính phủ).
– Bước 2: Gửi hồ sơ đề nghị tặng thưởng Cờ thi đua của Thanh tra Chính phủ.
Hồ sơ đề nghị tặng thưởng Cờ thi đua của Thanh tra Chính phủ gửi về Thường trực Hội đồng Thi đua – Khen thưởng ngành Thanh tra (Vụ Tổ chức cán bộ – Thanh tra Chính phủ) theo thời gian quy định như sau:
+ Đối với Thanh tra bộ; Thanh tra tỉnh; các cục, vụ, đơn vị thuộc Thanh tra Chính phủ gửi hồ sơ trước ngày 25 tháng 12 hàng năm, trừ trường hợp Thanh tra Chính phủ có hướng dẫn khác;
+ Đối với các cụm, khối thi đua gửi hồ sơ trước ngày 20 tháng 12 hàng năm.
– Bước 3: Thẩm định hồ sơ đề nghị tặng thưởng Cờ thi đua của Thanh tra Chính phủ.
Sau khi nhận được hồ sơ, Thường trực Hội đồng Thi đua – Khen thưởng ngành Thanh tra (Vụ Tổ chức cán bộ – Thanh tra Chính phủ) rà soát tính pháp lý của hồ sơ, thẩm định thành tích và tổng hợp trình Hội đồng Thi đua – Khen thưởng ngành Thanh tra họp, xem xét, thống nhất trình Tổng Thanh tra Chính phủ quyết định.
– Bước 4: Ban hành quyết định tặng thưởng Cờ thi đua của Thanh tra Chính phủ.
Tổng Thanh tra Chính phủ ký quyết định tặng thưởng Cờ thi đua của Thanh tra Chính phủ đối với tập thể đủ điều kiện, tiêu chuẩn.
b) Cách thức thực hiện: Gửi hồ sơ trực tiếp đến Vụ Tổ chức cán bộ – Thanh tra Chính phủ hoặc gửi qua đường bưu điện.
c) Thành phần, số lượng hồ sơ: gồm có:
– Tờ trình đề nghị khen thưởng của Chánh Thanh tra bộ, Chánh Thanh tra tỉnh; Thủ trưởng các cục, vụ, đơn vị thuộc Thanh tra Chính phủ;
– Báo cáo thành tích của tập thể được đề nghị khen thưởng có xác nhận của Thủ trưởng đơn vị cấp trên trực tiếp;
– Biên bản họp Hội đồng Thi đua – Khen thưởng của cấp trình khen hoặc Biên bản bình xét thi đua, đề nghị khen thưởng của cục, vụ, đơn vị thuộc Thanh tra Chính phủ; Biên bản họp bình xét thi đua, đề nghị khen thưởng của các cụm, khối thi đua (đối với các tập thể Thanh tra bộ, Thanh tra tỉnh, các cục, vụ, đơn vị thuộc Thanh tra Chính phủ);
– Ý kiến của Lãnh đạo Bộ, cơ quan ngang Bộ, Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương đối với Thanh tra tỉnh, Thanh tra bộ được đề nghị xét tặng Cờ Thi đua của Thanh tra Chính phủ.
– Số lượng: 01 bộ hồ sơ.
d)Thời hạn giải quyết: Trong Quý I năm tiếp theo.
đ) Đối tượng thực hiện thủ tục hành chính: Thanh tra các bộ ngành, tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, các cục vụ đơn vị thuộc Thanh tra Chính phủ.
e) Cơ quan giải quyết thủ tục hành chính:
– Cơ quan có thẩm quyền quyết định: Tổng Thanh tra Chính phủ.
– Đơn vị trực tiếp thực hiện: Vụ Tổ chức cán bộ – Thanh tra Chính phủ.
g) Kết quả thực hiện thủ tục hành chính: Quyết định tặng Cờ thi đua của
Thanh tra chính phủ.
h) Phí, lệ phí: không quy định.
i) Tên mẫu đơn, mẫu tờ khai: Không quy định
k) Yêu cầu điều kiện thực hiện thủ tục hành chính:
Cờ thi đua của Thanh tra Chính phủ là danh hiệu thi đua được xét tặng cho các tập thể Thanh tra bộ, Thanh tra tỉnh; cục, vụ, đơn vị thuộc Thanh tra Chính phủ đạt các điều kiện, tiêu chuẩn sau:
– Tập thể được xét tặng Cờ Thi đua của Thanh tra Chính phủ phải là tập thể tiêu biểu, hoàn thành xuất sắc, toàn diện nhiệm vụ công tác, các chỉ tiêu thi đua trong các phong trào thi đua do Thanh tra Chính phủ phát động, có nhân tố mới, mô hình mới để các tập thể khác trong ngành Thanh tra học tập; nội bộ đoàn kết, tích cực thực hành tiết kiệm, chống tham nhũng, lãng phí.
– Được các đơn vị trong cùng cụm, khối thi đua bình xét, suy tôn là đơn vị dẫn đầu cụm, khối thi đua.
l) Căn cứ pháp lý của thủ tục hành chính: Luật Thi đua, khen thưởng năm 2003; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi đua, khen thưởng năm 2005, 2013; Thông tư số 01/2016/TT-TTCP ngày 06 tháng 10 năm 2016 của Tổng Thanh tra Chính phủ quy định công tác thi đua, khen thưởng trong ngành Thanh tra.
10. Thủ tục tặng thưởng bằng khen của Tổng Thanh tra Chính phủ đối với tập thể
a) Trình tự thực hiện
– Bước 1: Đăng ký thi đua.
+ Các tập thể Thanh tra bộ, Thanh tra tỉnh; các tập thể thuộc Thanh tra bộ, Thanh tra tỉnh; Thanh tra huyện; các tập thể thuộc Thanh tra Chính phủ đăng ký thi đua;
+ Cụm trưởng, Khối trưởng; Chánh Thanh tra các bộ, ngành, tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; Thủ trưởng các cục, vụ, đơn vị thuộc Thanh tra Chính phủ có trách nhiệm gửi đăng ký thi đua, giao ước thi đua trước ngày 25 tháng 3 hàng năm về Thường trực Hội đồng Thi đua – Khen thưởng ngành Thanh tra (Vụ Tổ chức cán bộ – Thanh tra Chính phủ).
– Bước 2: Gửi hồ sơ đề nghị tặng thưởng Bằng khen của Tổng Thanh tra Chính phủ đối với tập thể.
Hồ sơ đề nghị tặng thưởng Bằng khen của Tổng Thanh tra Chính phủ đối với tập thể gửi về Thường trực Hội đồng Thi đua – Khen thưởng ngành Thanh tra (Vụ Tổ chức cán bộ – Thanh tra Chính phủ) theo thời gian quy định như sau:
+ Đối với Thanh tra bộ; Thanh tra tỉnh; các cục, vụ, đơn vị thuộc Thanh tra Chính phủ gửi hồ sơ trước ngày 25 tháng 12 hàng năm, trừ trường hợp Thanh tra Chính phủ có hướng dẫn khác;
+ Đối với các cụm, khối thi đua gửi hồ sơ trước ngày 20 tháng 12 hàng năm.
– Bước 3: Thẩm định hồ sơ đề nghị tặng thưởng Bằng khen của Tổng Thanh tra Chính phủ đối với tập thể.
Sau khi nhận được hồ sơ, Thường trực Hội đồng Thi đua – Khen thưởng ngành Thanh tra (Vụ Tổ chức cán bộ – Thanh tra Chính phủ) rà soát tính pháp lý của hồ sơ, thẩm định thành tích và tổng hợp trình Hội đồng Thi đua – Khen thưởng ngành Thanh tra họp, xem xét, thống nhất trình Tổng Thanh tra Chính phủ quyết định.
– Bước 4: Ban hành quyết định tặng thưởng Bằng khen của Tổng Thanh tra Chính phủ đối với tập thể.
Tổng Thanh tra Chính phủ ký quyết định tặng thưởng Bằng khen đối với tập thể đủ điều kiện, tiêu chuẩn.
b) Cách thức thực hiện: Gửi hồ sơ trực tiếp đến Vụ Tổ chức cán bộ – Thanh tra Chính phủ hoặc gửi qua đường bưu điện. c) Thành phần, số lượng hồ sơ:
– Tờ trình đề nghị khen thưởng của Chánh Thanh tra bộ, Chánh Thanh tra tỉnh; Thủ trưởng các cục, vụ, đơn vị thuộc Thanh tra Chính phủ;
– Báo cáo thành tích của tập thể được đề nghị khen thưởng có xác nhận của Thủ trưởng đơn vị cấp trên trực tiếp;
– Biên bản họp Hội đồng Thi đua – Khen thưởng của cấp trình khen hoặc Biên bản bình xét thi đua, đề nghị khen thưởng của cục, vụ, đơn vị thuộc Thanh tra Chính phủ; Biên bản họp bình xét thi đua, đề nghị khen thưởng của các cụm, khối thi đua (đối với các tập thể Thanh tra bộ, Thanh tra tỉnh, các cục, vụ, đơn vị thuộc Thanh tra Chính phủ);
– Số lượng: 01 bộ
d) Thời hạn giải quyết: Trong Quý I năm tiếp theo .
đ) Đối tượng thực hiện thủ tục hành chính: Thanh tra bộ, Thanh tra tỉnh; các tập thể thuộc Thanh tra bộ, Thanh tra tỉnh; Thanh tra huyện; các tập thể thuộc Thanh tra Chính phủ.
e) Cơ quan giải quyết thủ tục hành chính:
– Cơ quan có thẩm quyền quyết định: Tổng Thanh tra Chính phủ
– Đơn vị trực tiếp thực hiện: Vụ Tổ chức cán bộ – Thanh tra Chính phủ.
g) Kết quả thực hiện thủ tục hành chính: Quyết định tặng Bằng khen của Tổng Thanh tra Chính phủ đối với tập thể.
h) Phí, lệ phí: Không quy định.
i) Tên mẫu đơn, mẫu tờ khai: Không quy định.
k) Yêu cầu, điều kiện thực hiện thủ tục hành chính:
– Điều kiện, tiêu chuẩn tặng Bằng khen của Tổng Thanh tra Chính phủ đối với các tập thể Thanh tra bộ, Thanh tra tỉnh; các tập thể thuộc Thanh tra bộ, Thanh tra tỉnh; Thanh tra huyện:
+ Có 02 năm liên tục đủ tiêu chuẩn được công nhận là “Tập thể lao động xuất sắc”;
+ Nội bộ đoàn kết, thực hiện tốt quy chế dân chủ ở cơ sở, tổ chức tốt các phong trào thi đua; chăm lo đời sống vật chất, tinh thần trong tập thể; thực hành tiết kiệm; thực hiện đầy đủ các chế độ, chính sách đối với mọi thành viên trong tập thể.
+ Đối với tập thể Thanh tra bộ, Thanh tra tỉnh phải là tập thể tiêu biểu, hoàn thành tốt nhiệm vụ công tác, các chỉ tiêu thi đua trong phong trào thi đua do Thanh tra Chính phủ phát động; được các đơn vị trong cùng cụm, khối thi đua bình xét, suy tôn; có nhân tố mới, mô hình mới để các tập thể khác trong ngành Thanh tra học tập; nội bộ đoàn kết, tích cực thực hành tiết kiệm, chống tham nhũng, lãng phí.
– Điều kiện, tiêu chuẩn tặng Bằng khen của Tổng Thanh tra Chính phủ đối với các tập thể thuộc Thanh tra Chính phủ:
+ Có 02 năm liên tục được công nhận là “Tập thể lao động xuất sắc”;
+ Nội bộ đoàn kết, thực hiện tốt quy chế dân chủ ở cơ sở, tổ chức tốt các phong trào thi đua; chăm lo đời sống vật chất, tinh thần trong tập thể; thực hành tiết kiệm; thực hiện đầy đủ các chế độ, chính sách đối với mọi thành viên trong tập thể;
+ Các cục, vụ, đơn vị thuộc Thanh tra Chính phủ phải được các đơn vị trong cùng Khối thi đua bình xét, suy tôn; có nhân tố mới, mô hình mới để các tập thể khác trong ngành Thanh tra học tập; nội bộ đoàn kết, tích cực thực hành tiết kiệm, chống tham nhũng, lãng phí.
l) Căn cứ pháp lý của thủ tục hành chính: Luật Thi đua, khen thưởng năm 2003; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi đua, khen thưởng năm 2005, 2013; Thông tư số 01/2016/TT-TTCP ngày 06 tháng 10 năm 2016 của Tổng Thanh tra Chính phủ quy định công tác thi đua, khen thưởng trong ngành Thanh tra.
11. Thủ tục tặng thưởng bằng khen của Tổng Thanh tra Chính phủ đối với cá nhân
a) Trình tự thực hiện:
– Bước 1: Đăng ký thi đua.
– Các cá nhân thuộc Thanh tra bộ, Thanh tra tỉnh, Thanh tra huyện; các cá nhân thuộc Thanh tra Chính phủ đăng ký thi đua.
– Chánh Thanh tra các bộ, ngành, tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; Thủ trưởng các cục, vụ, đơn vị thuộc Thanh tra Chính phủ có trách nhiệm gửi đăng ký thi đua trước ngày 25 tháng 3 hàng năm về Thường trực Hội đồng Thi đua – Khen thưởng ngành Thanh tra (Vụ Tổ chức cán bộ – Thanh tra Chính phủ).
– Bước 2: Gửi hồ sơ đề nghị tặng thưởng Bằng khen của Tổng Thanh tra Chính phủ.
Thanh tra bộ, Thanh tra tỉnh, các cục, vụ, đơn vị thuộc Thanh tra Chính phủ gửi hồ sơ đề nghị tặng thưởng Bằng khen của Tổng Thanh tra Chính phủ đối với cá nhân về Thường trực Hội đồng Thi đua – Khen thưởng ngành Thanh tra (Vụ Tổ chức cán bộ) trước ngày 25 tháng 12 hàng năm, trừ trường hợp Thanh tra Chính phủ có hướng dẫn khác.
– Bước 3: Thẩm định hồ sơ đề nghị tặng thưởng Bằng khen của Tổng Thanh tra Chính phủ đối với cá nhân.
Sau khi nhận được hồ sơ, Thường trực Hội đồng Thi đua – Khen thưởng ngành Thanh tra (Vụ Tổ chức cán bộ – Thanh tra Chính phủ) rà soát tính pháp lý của hồ sơ, thẩm định thành tích và tổng hợp trình Hội đồng Thi đua – Khen thưởng ngành Thanh tra họp, xem xét, thống nhất trình Tổng Thanh tra Chính phủ quyết định.
– Bước 4: Ban hành quyết định tặng thưởng Bằng khen của Tổng Thanh tra Chính phủ đối với cá nhân.
Tổng Thanh tra Chính phủ ký quyết định tặng thưởng Bằng khen đối với cá nhân đủ điều kiện, tiêu chuẩn.
b) Cách thức thực hiện: Gửi hồ sơ trực tiếp đến Vụ Tổ chức cán bộ – Thanh tra Chính phủ hoặc gửi qua đường bưu điện.
c) Thành phần, số lượng hồ sơ:
– Tờ trình đề nghị khen thưởng của Chánh Thanh tra bộ, Chánh Thanh tra tỉnh; Thủ trưởng các cục, vụ, đơn vị thuộc Thanh tra Chính phủ;
– Báo cáo thành tích của cá nhân được đề nghị khen thưởng có xác nhận của Thủ trưởng đơn vị cấp trên trực tiếp;
– Biên bản họp Hội đồng Thi đua – Khen thưởng của cấp trình khen hoặc Biên bản bình xét thi đua, đề nghị khen thưởng của cục, vụ, đơn vị thuộc Thanh tra Chính phủ.
– Số lượng hồ sơ: 01 bộ.
d) Thời hạn giải quyết: Trong Quý I năm tiếp theo.
đ) Đối tượng thực hiện thủ tục hành chính: Thanh tra bộ, Thanh tra tỉnh, các cục, vụ, đơn vị thuộc Thanh tra Chính phủ.
e) Cơ quan giải quyết thủ tục hành chính:
– Cơ quan có thẩm quyền quyết định: Tổng Thanh tra Chính phủ
– Đơn vị trực tiếp thực hiện: Vụ Tổ chức cán bộ – Thanh tra Chính phủ.
g) Kết quả thực hiện thủ tục hành chính: Quyết định tặng Bằng khen của Tổng Thanh tra Chính phủ đối với cá nhân.
h) Phí, lệ phí: Không quy định.
i) Tên mẫu đơn, mẫu tờ khai: Không quy định.
k) Yêu cầu điều kiện thực hiện thủ tục hành chính:
– Điều kiện, tiêu chuẩn tặng Bằng khen của Tổng Thanh tra Chính phủ đối với các cá nhân thuộc Thanh tra bộ, Thanh tra tỉnh, Thanh tra huyện:
+ Có thành tích xuất sắc được bình xét trong phong trào thi đua do Thanh tra Chính phủ phát động;
+ Có 02 năm liên tục được bình xét, công nhận là hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ.
– Điều kiện, tiêu chuẩn tặng Bằng khen của Tổng Thanh tra Chính phủ đối với các cá nhân thuộc Thanh tra Chính phủ:
+ Là cá nhân có thành tích xuất sắc trong phong trào thi đua, được lựa chọn trong số cá nhân có 02 năm liên tục được đánh giá, nhận xét hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao trong bình xét cán bộ, công chức, viên chức;
+ Trong thời gian đó có 02 sáng kiến được công nhận ở cấp cơ sở trở lên hoặc có đề tài nghiên cứu khoa học đã nghiệm thu.
l) Căn cứ pháp lý thủ tục hành chính: Luật Thi đua, khen thưởng năm 2003; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi đua, khen thưởng năm 2005, 2013; Thông tư số 01/2016/TT-TTCP ngày 06 tháng 10 năm 2016 của Tổng Thanh tra Chính phủ quy định công tác thi đua, khen thưởng trong ngành Thanh tra./.
(Nguồn: ThanhtraVietNam)
Trước đó, ngày 06/7/2023, Thanh tra Chính phủ ban hành Kết luận thanh tra số 1522/KL-TTCP về việc chấp hành pháp luật trong công tác thanh tra, tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo và phòng, chống tham nhũng; công tác quản lý, sử dụng đất đai và đầu tư xây dựng cơ bản; công tác cấp giấy phép khai thác cát trên địa bàn tỉnh An Giang giai đoạn 2015- 2020.
Thanh tra Chính phủ yêu cầu tỉnh An Giang tổ chức kiểm điểm trách nhiệm, xử lý trách nhiệm của các tập thể, cá nhân có liên quan để xảy ra những hạn chế, vi phạm trong việc chỉ đạo, tổ chức thực hiện pháp luật thanh tra, tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo và phòng, chống tham nhũng; công tác quản lý, sử dụng đất đai và đầu tư xây dựng cơ bản; công tác cấp giấy phép khai thác cát trên địa bàn tỉnh.
Ngày 22/8/2023, Thanh tra Chính phủ tiếp tục có Công văn 1880/TTCP-GSTĐXLSTT, đôn đốc tỉnh An Giang thực hiện và báo cáo kết quả thực hiện Kết luận thanh tra 1522/KL-TTCP.

Chủ tịch UBND tỉnh An Giang Nguyễn Thanh Bình cho biết, tỉnh luôn thực hiện nghiêm túc, khẩn trương các nội dung này. Theo đó, ngày 20/7/2023, UBND tỉnh đã ban hành Kế hoạch 630/KH-UBND, giao nhiệm vụ cho từng ngành chủ trì, xây dựng kế hoạch cụ thể để tham mưu tổ chức thực hiện kịp thời, có hiệu quả, đầy đủ tất cả các nội dung kiến nghị của Kết luận thanh tra. Ngày 28/8/2023, UBND tỉnh ban hành Quyết định 1376/QĐ-UBND, thành lập Ban Chỉ đạo thực hiện Kết luận thanh tra 1522/KL-TTCP để tập trung chỉ đạo, kiểm tra, đôn đốc thực hiện.
Thu hồi 6 giấy phép khai thác khoáng sản
Từ ngày 24/7 đến ngày 26/7/2023, UBND tỉnh An Giang đã ban hành các quyết định thu hồi các giấy phép khai thác khoáng sản là cát sông đã cấp phép cho 4 doanh nghiệp, gồm: Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên Tân Lê Quang; Công ty cổ phần Xây lắp An Giang; Doanh nghiệp tư nhân Thái Bình; Công ty trách nhiệm hữu hạn Xây dựng Dịch vụ Thương mại Hải Toàn và Hợp tác xã khai thác cát Chợ Mới.
Đối với Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên Tân Lê Quang, tỉnh An Giang có 02 quyết định thu hồi giấy phép khai thác khoáng sản tại khu mỏ trên sông Hậu thuộc xã Bình Thủy, huyện Châu Phú và xã Mỹ Hội Đông, huyện Chợ Mới; thu hồi giấy phép khai thác tại khu mỏ trên sông Hậu thuộc xã Bình Thạnh, huyện Châu Phú và xã Mỹ Hội Đông, huyện Chợ Mới.
Đối với Công ty cổ phần Xây lắp An Giang, thu hồi giấy phép khai thác khoáng sản đã cấp tại khu mỏ trên sông Tiền thuộc xã Vĩnh Xương, thị xã Tân Châu khai thác cát sông làm vật liệu xây dựng thông thường.
Đối với Doanh nghiệp tư nhân Thái Bình, thu hồi giấy phép khai thác khoáng sản tại khu mỏ trên sông Hậu thuộc xã Bình Thạnh, huyện Châu Thành và xã Mỹ Hội Đông, huyện Chợ Mới.
Đối với Công ty trách nhiệm hữu hạn Xây dựng Dịch vụ Thương mại Hải Toàn, thu hồi giấy phép đã cấp phép khai thác cát sông làm vật liệu xây dựng thông thường tại khu mỏ trên sông Tiền thuộc xã Tấn Mỹ, huyện Chợ Mới.
Đối với Hợp tác xã khai thác cát Chợ Mới, thu hồi giấy phép khai thác khoáng sản đã cấp khai thác tại khu mỏ trên sông Tiền thuộc xã Tấn Mỹ và xã Mỹ Hiệp, huyện Chợ Mới.
Như vậy, UBND tỉnh An Giang đã thu hồi tất cả các giấy phép khai thác cát đã cấp mới sau ngày 01/7/2011 đang còn hiệu lực hoạt động; các giấy phép được cấp từ trước ngày 1/7/2011 nhưng được gia hạn sau ngày 01/7/2011 còn hiệu lực hoạt động theo Kết luận của Thanh tra Chính phủ.
Khẩn trương thu nộp ngân sách theo Kết luận thanh tra
Cũng theo kiến nghị của Thanh tra Chính phủ, tổng số nợ tiền sử dụng đất, tiền thuê đất tính đến ngày 31/12/2020 của 14 doanh nghiệp (DN) cần thu hồi là hơn 119,85 tỷ đồng; tỉnh đã thu được của 3 DN nộp hết nợ với tổng số tiền gần 4,28 tỷ đồng (Công ty Cổ phần Du lịch An Giang hơn 4 tỷ đồng, Trường Đại học Tôn Đức Thắng 227 triệu đồng, Công ty TNHH Thực phẩm Chang Woo Jin Vina 42 triệu đồng); tiếp tục đôn đốc thu của 11 DN còn lại.
Sở Tài chính An Giang đã rà soát hồ sơ, số liệu để xác định lại số tiền được trừ vào tiền sử dụng đất, tiền thuê đất phải nộp của các tổ chức kinh tế trên địa bàn tỉnh giai đoạn 2015 – 2020 theo số liệu làm việc với đoàn Thanh tra Chính phủ để chuyển Cục Thuế tỉnh. Sau khi rà soát, xác định tổng số tiền DN được miễn, giảm tiền sử dụng đất, tiền thuê đất của 98 tổ chức, với 114 dự án gần 48,29 tỷ đồng, số tiền còn lại phải thu bổ sung vào ngân sách nhà nước gần 127,7 tỷ đồng.
Cục Thuế tỉnh An Giang đã phát hành thông báo và làm việc trực tiếp đối với các tổ chức có phát sinh số tiền sử dụng đất, tiền thuê đất phải nộp bổ sung theo số liệu làm việc với đoàn Thanh tra Chính phủ. Đến ngày 18/8/2023, đã thu nộp gần 50,9 tỷ đồng (đạt 39,86%), tiếp tục thu nộp hơn 76,8 tỷ đồng (trong đó, có 53 DN đồng ý, cam kết nộp với tổng số tiền gần 45,1 tỷ đồng).
Đối với việc đôn đốc các nhà đầu tư, tổ chức kinh tế nộp tiền bảo vệ phát triển đất trồng lúa còn nợ để khắc phục theo kiến nghị của Thanh tra Chính phủ, qua chỉ đạo của UBND tỉnh An Giang, đến nay, đã xử lý thu được gần 1,7 tỷ đồng, tiếp tục thực hiện thu hơn 3,12 tỷ đồng số tiền còn lại.
Đối với kiến nghị thu hồi về ngân sách nhà nước số tiền hơn 1,26 tỷ đồng và giảm trừ khi quyết toán dự án với số tiền hơn 7,39 tỷ đồng do vi phạm về đầu tư xây dựng cơ bản, Sở Tài chính An Giang đang đôn đốc các chủ đầu tư thu hồi nộp ngân sách và phối hợp với các huyện, thị xã, thành phố rà soát giảm trừ khi quyết toán dự án. Đồng thời, đang đôn đốc các chủ đầu tư phối hợp với Kho bạc Nhà nước khẩn trương thu hồi giá trị đã thanh toán vượt quyết toán, tất toán dự án với số tiền hơn 5,25 tỷ đồng.
Đến nay, Hợp tác xã khai thác cát Chợ Mới đã nộp ngân sách nhà nước đủ số tiền hơn 981,48 triệu đồng (nợ thuế tài nguyên và phí bảo vệ môi trường 755,76 triệu đồng, còn lại là các khoản nợ thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập DN, thuế thu nhập cá nhân); UBND tỉnh giao Sở Tài nguyên và Môi trường chủ trì, phối hợp xác định và thu nộp bổ sung vào ngân sách nhà nước số tiền hơn 3,62 tỷ đồng, là tiền cấp quyền khai thác khoáng sản chưa được xác định hoặc xác định chưa đúng và tiền nợ thuế tài nguyên, phí bảo vệ môi trường của các tổ chức, đơn vị.
Cùng với đó, Công ty TNHH Xây dựng Dịch vụ Thương mại Hải Toàn đã tự tính và tạm nộp các khoản thuế tài nguyên, phí bảo vệ môi trường, thuế giá trị gia tăng và thuế thu nhập DN tương ứng với khối lượng 102.822m3 cát theo kết luận Thanh tra Chính phủ, với tổng số tiền tạm nộp gần 3,2 tỷ đồng.
Nghiêm túc chấn chỉnh, khắc phục hạn chế trong quản lý, sử dụng đất đai
Chủ tịch UBND tỉnh An Giang Nguyễn Thanh Bình cũng cho biết, đối với các kiến nghị về quản lý, sử dụng đất đai, tỉnh đã thực hiện xong một số nội dung, đang triển khai thực hiện các nội dung còn lại. Trong đó, đã hoàn thành các thủ tục thu hồi đất đối với Công ty TNHH Giống – Chăn nuôi Việt Thắng An Giang tại Dự án trại heo giống công nghệ cao Việt Thắng An Giang để đưa đất vào quản lý, sử dụng theo đúng quy định.
UBND tỉnh An Giang giao Sở Tài nguyên và Môi trường phối hợp rà soát, xác định lại đơn giá đất cụ thể của 5 dự án để làm căn cứ thu tiền sử dụng đất, tiền thuê đất theo đúng quy định; rà soát, điều chỉnh lại thời hạn sử dụng đất ghi tại các giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho 6 tổ chức kinh tế tại 8 dự án…
Kiểm điểm 43 cơ quan, đơn vị liên quan theo kết luận của Thanh tra Chính phủ
Thực hiện Quyết định 1376/QĐ-UBND, ngày 28/8/2023 của UBND tỉnh thành lập Ban chỉ đạo tập trung chỉ đạo, kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện kết luận liên quan đến 43 cơ quan, đơn vị, gồm 20 đơn vị cấp tỉnh và 23 đơn vị cấp huyện. Trong đó, 43 cơ quan đơn vị, gồm: Ủy ban nhân dân tỉnh, Văn phòng Ủy ban nhân dân tỉnh, Ban Tiếp công dân tỉnh, Hội đồng thẩm định giá đất tỉnh, Cục Thuế tỉnh, Thanh tra tỉnh, Ban Quản lý dự án đầu tư xây dựng và khu vực phát triển đô thị tỉnh, Ban Quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình giao thông và nông nghiệp tỉnh.
11 sở gồm các sở: Tài chính, Văn hóa Thể thao và Du lịch, Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Tài nguyên và Môi trường, Giao thông vận tải, Kế hoạch và Đầu tư, Giáo dục và Đào tạo, Lao động – Thương binh và Xã hội, Xây dựng, Y tế, Nội vụ, Công thương.
11 cơ quan gồm: Ủy ban nhân dân các huyện, thị xã, thành phố gồm thành phố Long Xuyên, thành phố Châu Đốc, thị xã Tân Châu, thị xã Tịnh Biên và các huyện Thoại Sơn, Châu Thành, Châu Phú, Phú Tân, Chợ Mới, An Phú, Tri Tôn.
Các phòng ban gồm Phòng Tài chính – Kế hoạch huyện Châu Thành và 11 Phòng Tài nguyên và Môi trường thuộc 11 huyện, thị xã, thành phố.
Tính đến ngày 13/9/2023, Sở Nội vụ đã nhận đầy đủ văn bản của 43 cơ quan, đơn vị báo cáo danh sách tập thể, cá nhân thuộc cơ quan, đơn vị, địa phương có liên quan hạn chế, vi phạm theo kết luận số 1522/KL-TTCP của Thanh tra Chính phủ.
Đối với kiểm điểm trách nhiệm tại Cục Thuế tỉnh, UBND tỉnh có công văn đề nghị Bộ Tài chính chỉ đạo hoàn thành tổ chức kiểm điểm, xử lý trách nhiệm đối với tập thể, cá nhân thuộc Cục Thuế tỉnh trước ngày 23/9/2023 và phối hợp gửi hồ sơ minh chứng kết quả tổ chức kiểm điểm để UBND tỉnh tổng hợp chung báo cáo Thanh tra Chính phủ đúng quy định.
Ngày 14/9/2023, Sở Nội vụ có tờ trình báo cáo UBND tỉnh xem xét quyết định về việc xem xét ban hành văn bản chỉ đạo tổ chức kiểm điểm, xử lý trách nhiệm tập thể, cá nhân liên quan kết luận của Thanh tra Chính phủ.
Theo nội dung tờ trình, bản kiểm điểm tập thể, cá nhân hạn chế, vi phạm (đối với đối tượng do Ban Thường vụ Tỉnh ủy quản lý) gửi về UBND tỉnh (thông qua Sở Nội vụ) trước ngày 22/9/2023 để UBND tỉnh xem xét, chủ trì tổ chức kiểm điểm tại từng cơ quan, đơn vị, địa phương theo quy định.
Về việc tổ chức họp kiểm điểm trách nhiệm: Đối với Chủ tịch, Phó Chủ tịch UBND tỉnh (gồm cả đương chức, nguyên lãnh đạo là Chủ tịch, Phó Chủ tịch UBND tỉnh thời kỳ 2015-2020 đã nghỉ hưu hoặc chuyển công tác): Thực hiện theo ý kiến của Ban Thường vụ Tỉnh ủy.
Đối với Giám đốc, Phó Giám đốc các sở, ngành: Kiểm điểm tại cơ quan, đơn vị công tác, cuộc họp kiểm điểm do lãnh đạo UBND tỉnh chủ trì, thành phần tham dự gồm lãnh đạo Sở Nội vụ, lãnh đạo Thanh tra tỉnh, Giám đốc, các Phó Giám đốc Sở, ngành; Trưởng, phó các phòng chuyên môn, đơn vị trực thuộc Sở, ngành và Trưởng các tổ chức đoàn thể.
Đối với Chủ tịch, Phó Chủ tịch UBND huyện, thị xã, thành phố: Kiểm điểm tại UBND huyện, thị xã, thành phố nơi công tác do lãnh đạo UBND tỉnh chủ trì, thành phần tham dự gồm lãnh đạo Sở Nội vụ, lãnh đạo Thanh tra tỉnh và thành viên UBND huyện, thị xã, thành phố.
Đối với kiểm điểm về trách nhiệm tham mưu đối với tập thể (các phòng, ban chuyên môn) và cá nhân có liên quan thuộc diện quản lý của cơ quan, đơn vị, địa phương: Giao Giám đốc các Sở, ban ngành, Chủ tịch UBND các huyện, thị xã, thành phố chịu trách nhiệm tổ chức kiểm điểm.
Sau khi hoàn thành kiểm điểm, các cơ quan, đơn vị, địa phương sẽ báo cáo UBND tỉnh, chậm nhất ngày 29/9/2023 để tổng hợp chung về kết quả tổ chức kiểm điểm gồm: Bản kiểm điểm tập thể hạn chế, vi phạm; bản kiểm điểm cá nhân hạn chế, vi phạm; biên bản cuộc họp kiểm điểm; quyết định xử lý trách nhiệm (nếu có).
Trường hợp người kiểm điểm đã nghỉ hưu hoặc chuyển công tác đến cơ quan, đơn vị khác thì thực hiện theo nguyên tắc: “Hạn chế, vi phạm trước đây tại cơ quan, đơn vị, địa phương nào thì Thủ trưởng hiện tại của cơ quan, đơn vị, địa phương đó” có trách nhiệm triển khai việc viết kiểm điểm và có giấy mời triệu tập họp kiểm điểm…
(Nguồn: ThanhtraVietNam)
Hiện nay, theo thống kê của Sở Nội vụ tỉnh Thanh Hóa, trong quý III/2023 có 43 cán bộ, công chức, viên chức ở nhiều đơn vị trên địa bàn tỉnh bị xử lý kỷ luật, kiểm điểm trách nhiệm.

Thực hiện chỉ thị của Chủ tịch UBND tỉnh về việc tăng cường kỷ luật, kỷ cương trong các cơ quan hành chính Nhà nước trên địa bàn tỉnh và các quy định liên quan, Sở Nội vụ Thanh Hóa đã tổ chức kiểm tra cải cách hành chính gắn với kiểm tra kỷ luật kỷ cương tại một số đơn vị cấp huyện, kiểm tra đột xuất tại một số đơn vị cấp xã.
Kết quả theo dõi, kiểm tra cho thấy, hầu hết các sở, ngành cấp tỉnh, UBND các huyện, thị xã, thành phố thường xuyên chỉ đạo, đôn đốc, kiểm tra các phòng, ban, bộ phận chuyên môn, UBND cấp xã và cán bộ, công chức, viên chức thuộc quyền quản lý. Các đơn vị cơ bản thực hiện nghiêm việc báo cáo định kỳ kỷ luật, kỷ cương hành chính.
Cụ thể, kết quả xử lý, kỷ luật cán bộ, công chức, viên chức theo báo cáo của các đơn vị, trong quý III/2023 có 43 cán bộ, công chức, viên chức thuộc 14 đơn vị có sai phạm, bị xử lý kỷ luật, kiểm điểm trách nhiệm gồm: Khiển trách 1 người ở Văn phòng UBND tỉnh, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn 9 người bị khiển trách và 2 người bị cảnh cáo; Sở Tài nguyên và Môi trường 1 người bị buộc thôi việc; Sở Thông tin và Truyền thông 1 người bị khiển trách; Sở Tư pháp 1 người buộc thôi việc; Sở Y tế khiển trách 5 người và 1 cách chức; TP Thanh Hoá 1 khiển trách; huyện Mường Lát 1 người buộc thôi việc; huyện Ngọc Lặc có 2 người khiển trách; huyện Như Xuân 1 khiển trách; huyện quan Hoá 1 khiển trách, huyện Thọ Xuân 4 khiển trách; huyện Vĩnh Lộc có 9 kiểm điểm trách nhiệm; huyện Yên Định có 3 khiển trách.
Người đứng đầu các sở, ban, ngành cấp tỉnh, UBND cấp huyện đã tăng cường chỉ đạo, quản lý, điều hành cơ quan, đơn vị thuộc thẩm quyền quản lý: Quán triệt việc chấp hành nghiêm kỷ luật, kỷ cương hành chính, văn hoá công vụ đối với cán bộ, công chức, viên chức, người lao động; yêu cầu sử dụng có hiệu quả thời giờ làm việc; rà soát, bổ sung nội quy, quy chế, quy trình làm việc của cơ quan, đơn vị; cụ thể hóa trách nhiệm của từng cá nhân, đơn vị trong việc thực hiện nhiệm vụ được giao.
(Nguồn: Thanhtra.com.vn)



