<?xml version="1.0" encoding="UTF-8"?><rss version="2.0"
	xmlns:content="http://purl.org/rss/1.0/modules/content/"
	xmlns:wfw="http://wellformedweb.org/CommentAPI/"
	xmlns:dc="http://purl.org/dc/elements/1.1/"
	xmlns:atom="http://www.w3.org/2005/Atom"
	xmlns:sy="http://purl.org/rss/1.0/modules/syndication/"
	xmlns:slash="http://purl.org/rss/1.0/modules/slash/"
	>

<channel>
	<title>Nghiên cứu &#8211; Trao đổi &#8211; Trường cán bộ thanh tra</title>
	<atom:link href="https://thanhtra.edu.vn/category/nghien-cuu-trao-doi-2/feed/" rel="self" type="application/rss+xml" />
	<link>https://thanhtra.edu.vn</link>
	<description></description>
	<lastBuildDate>Mon, 27 Jul 2026 17:28:42 +0000</lastBuildDate>
	<language>vi</language>
	<sy:updatePeriod>
	hourly	</sy:updatePeriod>
	<sy:updateFrequency>
	1	</sy:updateFrequency>
	<generator>https://wordpress.org/?v=6.8.6</generator>

<image>
	<url>https://thanhtra.edu.vn/wp-content/uploads/2021/05/logo.png</url>
	<title>Nghiên cứu &#8211; Trao đổi &#8211; Trường cán bộ thanh tra</title>
	<link>https://thanhtra.edu.vn</link>
	<width>32</width>
	<height>32</height>
</image> 
	<item>
		<title>Đề tài: Thực hiện quyền và nghĩa vụ của các chủ thể trong giải quyết khiếu nại hành chính &#8211; Thực trạng và giải pháp</title>
		<link>https://thanhtra.edu.vn/de-tai-thuc-hien-quyen-va-nghia-vu-cua-cac-chu-the-trong-giai-quyet-khieu-nai-hanh-chinh-thuc-trang-va-giai-phap/</link>
					<comments>https://thanhtra.edu.vn/de-tai-thuc-hien-quyen-va-nghia-vu-cua-cac-chu-the-trong-giai-quyet-khieu-nai-hanh-chinh-thuc-trang-va-giai-phap/#respond</comments>
		
		<dc:creator><![CDATA[Hữu Thắng]]></dc:creator>
		<pubDate>Mon, 27 Jul 2026 17:25:15 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Đề tài Khoa học cấp Trường]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://thanhtra.edu.vn/?p=55431</guid>

					<description><![CDATA[Tên đề tài: Thực hiện quyền và nghĩa vụ của các chủ thể trong giải quyết khiếu nại hành chính &#8211; Thực trạng và giải pháp Loại đề tài: Đề tài khoa học cấp Trường Chủ nhiệm đề tài: ThS.&#8230; <a href="https://thanhtra.edu.vn/de-tai-thuc-hien-quyen-va-nghia-vu-cua-cac-chu-the-trong-giai-quyet-khieu-nai-hanh-chinh-thuc-trang-va-giai-phap/">Đọc Thêm</a>]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: justify;"><strong>Tên đề tài: </strong>Thực hiện quyền và nghĩa vụ của các chủ thể trong giải quyết khiếu nại hành chính &#8211; Thực trạng và giải pháp</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>Loại đề tài: </strong>Đề tài khoa học cấp Trường</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>Chủ nhiệm đề tài: </strong>ThS. Phạm Hồng Lương</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>Tel: </strong>0982.903.497        E-mail: Phamhongluong69@gmail.com</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>Cơ quan chủ trì đề tài: </strong>Trường Cán bộ Thanh tra</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>Cơ quan và cá nhân phối hợp thực hiện: </strong>Khoa Nghiệp vụ 2, Phòng Đào tạo và các thành viên tham gia đề tài</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>Thời gian thực hiện: </strong>07 tháng, năm 2025</p>
<ol style="text-align: justify;">
<li><strong> Mục tiêu:</strong></li>
</ol>
<p style="text-align: justify;">Đề tài hướng tới làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn về việc thực hiện quyền, nghĩa vụ của các chủ thể trong giải quyết khiếu nại hành chính, bao gồm: người khiếu nại, người bị khiếu nại, người giải quyết khiếu nại, luật sư, trợ giúp viên pháp lý, cơ quan, tổ chức, đơn vị và cá nhân có liên quan. Trên cơ sở đó, đề tài đề xuất giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện quyền, nghĩa vụ của các chủ thể, đồng thời phục vụ việc cập nhật, đổi mới bài giảng, giáo trình, tài liệu bồi dưỡng của Trường Cán bộ Thanh tra.</p>
<p style="text-align: justify;">Các mục tiêu cụ thể của đề tài gồm: hệ thống hóa một số vấn đề chung về quyền, nghĩa vụ của các chủ thể trong giải quyết khiếu nại hành chính; đánh giá thực trạng thực hiện quyền, nghĩa vụ của các chủ thể trong thực tiễn; đề xuất các giải pháp, kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả giải quyết khiếu nại hành chính và chất lượng đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ thanh tra.</p>
<ol style="text-align: justify;" start="2">
<li><strong> Nội dung chính:</strong></li>
</ol>
<p style="text-align: justify;">Đề tài được triển khai theo ba nhóm nội dung chính, có mối liên hệ chặt chẽ giữa lý luận, thực tiễn và giải pháp.</p>
<p style="text-align: justify;">&#8211; Nội dung thứ nhất: Nghiên cứu một số vấn đề chung về quyền và nghĩa vụ của các chủ thể trong giải quyết khiếu nại hành chính. Nội dung này tập trung làm rõ quan niệm, đặc điểm, ý nghĩa của việc thực hiện quyền và nghĩa vụ; phân tích quyền, nghĩa vụ của người khiếu nại, người bị khiếu nại, người giải quyết khiếu nại, luật sư, trợ giúp viên pháp lý, cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan; đồng thời xác định các điều kiện bảo đảm thực hiện quyền và nghĩa vụ trong quá trình giải quyết khiếu nại hành chính.</p>
<p style="text-align: justify;">&#8211; Nội dung thứ hai: Đánh giá thực trạng thực hiện quyền và nghĩa vụ của các chủ thể trong giải quyết khiếu nại hành chính. Đề tài phân tích thực tiễn thực hiện quyền, nghĩa vụ của từng nhóm chủ thể; làm rõ kết quả đạt được, hạn chế, vướng mắc và nguyên nhân, nhất là các vấn đề liên quan đến cung cấp thông tin, tài liệu, chứng cứ; giải trình, đối thoại; phối hợp giữa các cơ quan, tổ chức, cá nhân; việc tham gia của luật sư, trợ giúp viên pháp lý và trách nhiệm của người có thẩm quyền giải quyết.</p>
<p style="text-align: justify;">&#8211; Nội dung thứ ba: Đề xuất giải pháp bảo đảm thực hiện quyền và nghĩa vụ của các chủ thể trong giải quyết khiếu nại hành chính. Nhóm giải pháp tập trung vào hoàn thiện pháp luật; nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ tham mưu, cán bộ có thẩm quyền giải quyết; tăng cường tuyên truyền, phổ biến pháp luật; chuẩn hóa quy trình nghiệp vụ; nâng cao chất lượng đối thoại, xác minh, đánh giá chứng cứ; đồng thời cập nhật kết quả nghiên cứu vào bài giảng, giáo trình, tài liệu bồi dưỡng của Trường Cán bộ Thanh tra.</p>
<ol style="text-align: justify;" start="3">
<li><strong> Kết quả chính đạt được </strong></li>
</ol>
<p style="text-align: justify;">Về mặt khoa học, đề tài đã góp phần hệ thống hóa và làm rõ cơ sở lý luận về quyền, nghĩa vụ của các chủ thể trong giải quyết khiếu nại hành chính. Kết quả nghiên cứu khẳng định việc thực hiện đầy đủ, đúng pháp luật quyền và nghĩa vụ của các chủ thể là điều kiện quan trọng để bảo đảm tính khách quan, công khai, minh bạch, dân chủ và hiệu quả của quá trình giải quyết khiếu nại hành chính.</p>
<p style="text-align: justify;">Đề tài đã phân tích, làm rõ mối quan hệ giữa quyền và nghĩa vụ của từng chủ thể trong quá trình giải quyết khiếu nại. Trong đó, quyền của chủ thể này thường gắn với nghĩa vụ tương ứng của chủ thể khác; việc thực hiện không đầy đủ hoặc không đúng nghĩa vụ của một chủ thể có thể ảnh hưởng trực tiếp đến tiến độ, chất lượng, tính khả thi của kết quả giải quyết khiếu nại.</p>
<p style="text-align: justify;">Về thực tiễn, đề tài đã chỉ ra một số hạn chế phổ biến trong quá trình thực hiện quyền và nghĩa vụ của các chủ thể, như: nhận thức pháp luật chưa đầy đủ; việc cung cấp thông tin, tài liệu, chứng cứ còn chậm hoặc chưa đúng yêu cầu; việc giải trình, đối thoại có nơi còn hình thức; sự phối hợp giữa các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan chưa chặt chẽ; vai trò của luật sư, trợ giúp viên pháp lý trong một số trường hợp chưa được phát huy đầy đủ; chế tài và trách nhiệm thực thi có lúc chưa đủ rõ hoặc chưa được áp dụng nghiêm.</p>
<p style="text-align: justify;">Trên cơ sở đánh giá thực trạng, đề tài đề xuất nhóm giải pháp hoàn thiện pháp luật và tổ chức thực hiện, trong đó chú trọng: quy định rõ hơn trách nhiệm của từng chủ thể; nâng cao chất lượng thụ lý, xác minh, đối thoại, ban hành và tổ chức thi hành quyết định giải quyết khiếu nại; tăng cường kiểm tra, đôn đốc, xử lý trách nhiệm đối với hành vi vi phạm; đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý hồ sơ, theo dõi tiến độ và khai thác dữ liệu phục vụ giải quyết khiếu nại.</p>
<p style="text-align: justify;">Về ứng dụng trong đào tạo, kết quả nghiên cứu có thể sử dụng để cập nhật, bổ sung nội dung bài giảng, giáo trình, tài liệu bồi dưỡng các lớp Thanh tra viên, Thanh tra viên chính và các lớp bồi dưỡng ngắn hạn về tiếp công dân, xử lý đơn, giải quyết khiếu nại, tố cáo của Trường Cán bộ Thanh tra. Đề tài cũng có thể làm tài liệu tham khảo cho giảng viên, học viên và cán bộ thực tiễn khi nghiên cứu, trao đổi các tình huống nghiệp vụ về giải quyết khiếu nại hành chính.</p>
<p style="text-align: justify;">Về hiệu quả xã hội và quản lý nhà nước, kết quả nghiên cứu góp phần nâng cao nhận thức về trách nhiệm pháp lý của các chủ thể, bảo vệ tốt hơn quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức; đồng thời tăng cường kỷ luật, kỷ cương hành chính, hạn chế khiếu nại kéo dài, phức tạp và nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác giải quyết khiếu nại hành chính.</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>                                                                                                                                                                                                 </strong></p>
]]></content:encoded>
					
					<wfw:commentRss>https://thanhtra.edu.vn/de-tai-thuc-hien-quyen-va-nghia-vu-cua-cac-chu-the-trong-giai-quyet-khieu-nai-hanh-chinh-thuc-trang-va-giai-phap/feed/</wfw:commentRss>
			<slash:comments>0</slash:comments>
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Đề tài: Xây dựng khung chương trình bồi dưỡng kỹ năng thanh tra, kiểm tra nội bộ, giải quyết đơn và phòng, chống tham nhũng trong doanh nghiệp</title>
		<link>https://thanhtra.edu.vn/de-tai-xay-dung-khung-chuong-trinh-boi-duong-ky-nang-thanh-tra-kiem-tra-noi-bo-giai-quyet-don-va-phong-chong-tham-nhung-trong-doanh-nghiep/</link>
					<comments>https://thanhtra.edu.vn/de-tai-xay-dung-khung-chuong-trinh-boi-duong-ky-nang-thanh-tra-kiem-tra-noi-bo-giai-quyet-don-va-phong-chong-tham-nhung-trong-doanh-nghiep/#respond</comments>
		
		<dc:creator><![CDATA[Hữu Thắng]]></dc:creator>
		<pubDate>Mon, 27 Jul 2026 17:16:45 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Đề tài Khoa học cấp Trường]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://thanhtra.edu.vn/?p=55429</guid>

					<description><![CDATA[Tên đề tài: Xây dựng khung chương trình bồi dưỡng kỹ năng thanh tra, kiểm tra nội bộ, giải quyết đơn và phòng, chống tham nhũng trong doanh nghiệp Loại đề tài: Đề tài khoa học cấp trường Chủ nhiệm&#8230; <a href="https://thanhtra.edu.vn/de-tai-xay-dung-khung-chuong-trinh-boi-duong-ky-nang-thanh-tra-kiem-tra-noi-bo-giai-quyet-don-va-phong-chong-tham-nhung-trong-doanh-nghiep/">Đọc Thêm</a>]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: justify;">Tên đề tài: Xây dựng khung chương trình bồi dưỡng kỹ năng thanh tra, kiểm tra nội bộ, giải quyết đơn và phòng, chống tham nhũng trong doanh nghiệp</p>
<p style="text-align: justify;">Loại đề tài: Đề tài khoa học cấp trường</p>
<p style="text-align: justify;">Chủ nhiệm đề tài: Phạm Tuấn Anh.</p>
<p style="text-align: justify;">Tel: 0912423524.  E-mail: phamtuananh179@gmail.com</p>
<p style="text-align: justify;">Cơ quan chủ trì đề tài: Trường Cán bộ thanh tra</p>
<p style="text-align: justify;">Cơ quan và cá nhân phối hợp thực hiện:</p>
<p style="text-align: justify;">Thời gian thực hiện: 9 tháng</p>
<ol style="text-align: justify;">
<li><strong> Mục tiêu:</strong></li>
</ol>
<p style="text-align: justify;">        Nghiên cứu làm rõ những vấn đề lý luận về thanh tra, kiểm tra nội bộ, giải quyết đơn và phòng, chống tham nhũng trong doanh nghiệp; Đánh giá thực trạng công tác thanh tra, kiểm tra nội bộ, giải quyết đơn và phòng, chống tham nhũng trong doanh nghiệp và nhu cầu bồi dưỡng về thanh tra, kiểm tra nội bộ, giải quyết đơn và phòng, chống tham nhũng trong doanh nghiệp. Trên cơ sở đó, đưa ra phương hướng, đề xuất khung chương trình bồi dưỡng kỹ năng thanh tra, kiểm tra nội bộ, giải quyết đơn và phòng, chống tham nhũng trong doanh nghiệp. Xác định được các chuyên đề, nội dung cần bồi dưỡng về công tác thanh tra, kiểm tra nội bộ, giải quyết đơn và phòng, chống tham nhũng trong doanh nghiệp, bao gồm: Kỹ năng thanh tra, kiểm tra nội bộ trong doanh nghiệp, kỹ năng phân loại, xử lý, giải quyết đơn khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh trong doanh nghiệp; Kỹ năng tổ chức thực hiện công tác phòng chống tham nhũng, tiêu cực trong doanh nghiệp.</p>
<ol style="text-align: justify;" start="2">
<li><strong> Nội dung chính:</strong></li>
</ol>
<p style="text-align: justify;">Phần 1. Cơ sở lý luận về hoạt động thanh tra, kiểm tra nội bộ, giải quyết đơn và phòng, chống tham nhũng trong doanh nghiệp và khung chương trình bồi dưỡng: Làm rõ những vấn đề lý luận, pháp lý về hoạt động thanh tra, kiểm tra nội bộ, giải quyết đơn và phòng, chống tham nhũng trong doanh nghiệp bao gồm: thanh tra, kiểm tra nội bộ trong doanh nghiệp; giải quyết đơn khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh trong doanh nghiệp; tổ chức thực hiện công tác phòng chống tham nhũng trong doanh nghiệp; khung chương trình bồi dưỡng thanh tra, kiểm tra nội bộ, giải quyết đơn và phòng, chống tham nhũng trong doanh nghiệp.</p>
<p style="text-align: justify;">Phần 2: Thực trạng và nội dung cần bồi dưỡng về thanh tra, kiểm tra nội bộ, giải quyết đơn và phòng, chống tham nhũng trong doanh nghiệp. Nghiên cứu làm rõ thực trạng các hoạt động thanh tra, kiểm tra nội bộ, giải quyết đơn và phòng, chống tham nhũng trong doanh nghiệp; Những hạn chế, khó khăn, vướng mắc. Trên cơ sở đó xác định nhu cầu, nội dung cần bồi dưỡng về thanh tra, kiểm tra nội bộ, giải quyết đơn và phòng, chống tham nhũng trong doanh nghiệp.</p>
<p style="text-align: justify;">Phần 3: Phương hướng và đề xuất khung chương trình bồi dưỡng thanh tra, kiểm tra nội bộ, giải quyết đơn và phòng, chống tham nhũng trong doanh nghiệp. Đề tài xác định phương hướng, khung chương trình, thời lượng, các chuyên đề cần có trong chương trình bồi dưỡng thanh tra, kiểm tra nội bộ, giải quyết đơn và phòng, chống tham nhũng trong doanh nghiệp.</p>
<ol style="text-align: justify;" start="3">
<li><strong> Kết quả chính đạt được</strong> (khoa học, ứng dụng, đào tạo, kinh tế &#8211; xã hội, v.v&#8230;)</li>
</ol>
<p style="text-align: justify;">Đề tài đề xuất khung chương trình bồi dưỡng về thanh tra, kiểm tra nội bộ, giải quyết đơn và phòng, chống tham nhũng trong doanh nghiệp với các nội dung cụ thể.</p>
<p style="text-align: justify;">Bồi dưỡng về thanh tra, kiểm tra nội bộ giúp học viên hiểu rõ vai trò, vị trí, chức năng và nhiệm vụ của thanh tra, kiểm tra nội bộ trong doanh nghiệp; nắm vững các nguyên tắc, chuẩn mực và quy trình nghiệp vụ thanh tra, kiểm tra nội bộ; phát triển kỹ năng lập kế hoạch, thực hiện thanh tra, kiểm tra và lập báo cáo. Đối với việc bồi dưỡng về giải quyết đơn sẽ giúp học viên hiểu rõ quy trình và các nguyên tắc cơ bản trong giải quyết đơn; nâng cao kỹ năng giao tiếp, lắng nghe và thấu hiểu khách hàng; phát triển kỹ năng xử lý các tình huống phức tạp và nhạy cảm; trang bị kiến thức về các phương pháp hòa giải và thương lượng hiệu quả; nâng cao khả năng phân tích và đưa ra các giải pháp thỏa đáng. Bồi dưỡng về phòng, chống tham nhũng giúp học viên nâng cao nhận thức về tác hại của tham nhũng và tầm quan trọng của công tác phòng, chống tham nhũng trong doanh nghiệp; trang bị kiến thức về pháp luật Việt Nam và quốc tế về phòng, chống tham nhũng; hiểu rõ các hành vi tham nhũng phổ biến trong môi trường doanh nghiệp; phát triển kỹ năng nhận diện nguy cơ và phòng ngừa tham nhũng.</p>
<p style="text-align: justify;">Kết quả nghiên cứu của đề tài là cơ sở để biên soạn tài liệu và tổ chức các lớp bồi dưỡng về thanh tra, kiểm tra nội bộ, giải quyết đơn và phòng, chống tham nhũng trong doanh nghiệp.</p>
]]></content:encoded>
					
					<wfw:commentRss>https://thanhtra.edu.vn/de-tai-xay-dung-khung-chuong-trinh-boi-duong-ky-nang-thanh-tra-kiem-tra-noi-bo-giai-quyet-don-va-phong-chong-tham-nhung-trong-doanh-nghiep/feed/</wfw:commentRss>
			<slash:comments>0</slash:comments>
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Nghị định số 164/2026/NĐ-CP hoàn thiện quy định về đối tượng kê khai tài sản, thu nhập hằng năm theo hướng trọng tâm, trọng điểm – bước cụ thể hóa nghị quyết số 04-NQ/TW Hội nghị trung ương 2 Khóa XIV</title>
		<link>https://thanhtra.edu.vn/nghi-dinh-so-164-2026-nd-cp-hoan-thien-quy-dinh-ve-doi-tuong-ke-khai-tai-san-thu-nhap-hang-nam-theo-huong-trong-tam-trong-diem-buoc-cu-the-hoa-nghi-quyet-so-04-nq-tw-hoi-nghi-trung-uong-2/</link>
					<comments>https://thanhtra.edu.vn/nghi-dinh-so-164-2026-nd-cp-hoan-thien-quy-dinh-ve-doi-tuong-ke-khai-tai-san-thu-nhap-hang-nam-theo-huong-trong-tam-trong-diem-buoc-cu-the-hoa-nghi-quyet-so-04-nq-tw-hoi-nghi-trung-uong-2/#respond</comments>
		
		<dc:creator><![CDATA[Hữu Thắng]]></dc:creator>
		<pubDate>Fri, 10 Jul 2026 02:47:39 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Diễn đàn trao đổi]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://thanhtra.edu.vn/?p=55329</guid>

					<description><![CDATA[Tóm tắt: Ngày 15/5/2026, Chính phủ ban hành Nghị định số 164/2026/NĐ-CP về kiểm soát tài sản, thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn trong cơ quan, tổ chức, đơn vị, thay thế Nghị định số 130/2020/NĐ-CP, có&#8230; <a href="https://thanhtra.edu.vn/nghi-dinh-so-164-2026-nd-cp-hoan-thien-quy-dinh-ve-doi-tuong-ke-khai-tai-san-thu-nhap-hang-nam-theo-huong-trong-tam-trong-diem-buoc-cu-the-hoa-nghi-quyet-so-04-nq-tw-hoi-nghi-trung-uong-2/">Đọc Thêm</a>]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: justify;"><strong><em>Tóm tắt: </em></strong><em>Ngày 15/5/2026, Chính phủ ban hành Nghị định số 164/2026/NĐ-CP về kiểm soát tài sản, thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn trong cơ quan, tổ chức, đơn vị, thay thế Nghị định số 130/2020/NĐ-CP, có hiệu lực từ ngày 01/7/2026. Một trong những nội dung đổi mới quan trọng của Nghị định là chuyển phương thức xác định đối tượng kê khai tài sản, thu nhập hằng năm từ cách tiếp cận “danh mục rộng” sang cách tiếp cận “trọng tâm, trọng điểm”, phù hợp với quan điểm chỉ đạo của Nghị quyết số 04-NQ/TW ngày 01/4/2026 của Hội nghị lần thứ hai Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV. Bài viết phân tích cơ sở chính trị, pháp lý và những điểm mới của quy định về đối tượng kê khai hằng năm; đánh giá ưu điểm, những vấn đề đặt ra và đề xuất một số kiến nghị nhằm tổ chức thực hiện hiệu quả quy định này trong thực tiễn.</em></p>
<p style="text-align: justify;"><strong><em>Từ khóa: </em></strong><em>Kê khai tài sản, thu nhập; kiểm soát tài sản, thu nhập; Nghị định số 164/2026/NĐ-CP; Nghị quyết số 04-NQ/TW; phòng, chống tham nhũng.</em></p>
<p style="text-align: justify;"><strong>I. Đặt vấn đề</strong></p>
<p style="text-align: justify;">Kiểm soát tài sản, thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn là một trong những biện pháp phòng ngừa tham nhũng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, được nhiều quốc gia áp dụng nhằm tăng cường tính minh bạch trong hoạt động công vụ, góp phần phát hiện tài sản có nguồn gốc bất minh, phục vụ công tác quản lý cán bộ và phòng ngừa, phát hiện tham nhũng. Ở Việt Nam, sau hơn 05 năm triển khai Nghị định số 130/2020/NĐ-CP ngày 30/10/2020 của Chính phủ, công tác kê khai và kiểm soát tài sản, thu nhập đã đạt được nhiều kết quả tích cực. Tuy nhiên, thực tiễn cũng cho thấy việc xác định đối tượng có nghĩa vụ kê khai tài sản, thu nhập hằng năm còn bộc lộ nhiều hạn chế: phạm vi đối tượng kê khai được quy định khá rộng, danh mục vị trí phải kê khai mang tính liệt kê, số lượng người kê khai rất lớn trong khi nguồn lực của các cơ quan kiểm soát tài sản, thu nhập còn hạn chế. Điều này dẫn đến tình trạng khối lượng hồ sơ kê khai ngày càng tăng nhưng khả năng theo dõi, phân tích, xác minh và khai thác thông tin chưa tương xứng, ảnh hưởng đến hiệu quả thực chất của hoạt động kiểm soát tài sản, thu nhập.</p>
<p style="text-align: justify;">Trong bối cảnh đó, Hội nghị lần thứ hai Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV đã ban hành Nghị quyết số 04-NQ/TW ngày 01/4/2026 về tiếp tục tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực trong giai đoạn mới. Nghị quyết xác định quan điểm chỉ đạo: đẩy mạnh phòng ngừa, phòng ngừa từ gốc là căn bản, kiểm soát quyền lực là cốt lõi, ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là trọng tâm; kết hợp chặt chẽ phòng ngừa với phát hiện, xử lý kịp thời, đồng bộ, nghiêm minh, có trọng tâm, trọng điểm; đồng thời yêu cầu tăng cường quản lý, giám sát cán bộ gắn với kiểm soát chặt chẽ, thực chất, hiệu quả tài sản, thu nhập của cán bộ.</p>
<p style="text-align: justify;">Cụ thể hóa chủ trương của Đảng và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Phòng, chống tham nhũng số 132/2025/QH15, ngày 15/5/2026, Chính phủ ban hành Nghị định số 164/2026/NĐ-CP về kiểm soát tài sản, thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn trong cơ quan, tổ chức, đơn vị, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026, thay thế Nghị định số 130/2020/NĐ-CP. Nghị định đã có sự thay đổi đáng kể trong cách xác định đối tượng có nghĩa vụ kê khai tài sản, thu nhập hằng năm: thay vì tiếp cận theo hướng mở rộng đối tượng và quy định danh mục cứng như trước đây, Nghị định chuyển sang xác định đối tượng theo hướng trọng tâm, trọng điểm, tập trung vào các vị trí có nguy cơ tham nhũng cao, đồng thời tăng cường phân cấp cho các bộ, ngành và địa phương trong việc xác định danh mục người có nghĩa vụ kê khai hằng năm.</p>
<p style="text-align: justify;">Từ những vấn đề trên, bài viết tập trung phân tích cơ sở chính trị, pháp lý của việc thay đổi phương thức xác định đối tượng kê khai tài sản, thu nhập hằng năm; làm rõ những điểm mới của Nghị định số 164/2026/NĐ-CP so với Nghị định số 130/2020/NĐ-CP; đồng thời đánh giá những ưu điểm, vấn đề đặt ra và đề xuất một số kiến nghị nhằm tiếp tục hoàn thiện pháp luật về kiểm soát tài sản, thu nhập theo hướng nâng cao hiệu quả, phù hợp với yêu cầu quản trị quốc gia liêm chính, minh bạch, hiện đại mà Nghị quyết số 04-NQ/TW đã đề ra.</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>II. Những điểm mới của Nghị định số 164/2026/NĐ-CP về đối tượng kê khai tài sản, thu nhập hằng năm</strong></p>
<ol>
<li style="text-align: justify;"><strong><em>Cơ sở chính trị, pháp lý của việc đổi mới phương thức xác định đối tượng kê khai hằng năm</em></strong></li>
</ol>
<p style="text-align: justify;">Về cơ sở chính trị, Nghị quyết số 04-NQ/TW đặt mục tiêu kiên quyết, kiên trì phòng ngừa, kiểm soát, ngăn chặn, đẩy lùi tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, hướng tới xây dựng quản trị quốc gia liêm chính, minh bạch, hiện đại. Về nhiệm vụ, giải pháp, Nghị quyết yêu cầu sửa đổi Luật Phòng, chống tham nhũng và pháp luật có liên quan nhằm tăng cường công khai, minh bạch, trách nhiệm giải trình, kiểm soát tài sản, thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn; nghiên cứu xây dựng Luật về đăng ký tài sản; xây dựng, hoàn thiện Cơ sở dữ liệu quốc gia về kiểm soát tài sản, thu nhập; đẩy mạnh thanh toán không dùng tiền mặt và có cơ chế, lộ trình minh bạch tài sản trong toàn xã hội. Quan điểm “có trọng tâm, trọng điểm” được Nghị quyết xác định xuyên suốt cả trong phòng ngừa lẫn phát hiện, xử lý, đòi hỏi các biện pháp phòng ngừa tham nhũng &#8211; trong đó có kê khai, kiểm soát tài sản, thu nhập &#8211; phải tập trung vào các lĩnh vực then chốt, trọng yếu, các vị trí tiềm ẩn nguy cơ cao xảy ra tham nhũng, lãng phí, tiêu cực.</p>
<p style="text-align: justify;">Về cơ sở pháp lý, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Phòng, chống tham nhũng số 132/2025/QH15 và Nghị định số 164/2026/NĐ-CP cùng có hiệu lực từ ngày 01/7/2026 đã tạo nên khuôn khổ pháp lý đồng bộ, thống nhất cho công tác kiểm soát tài sản, thu nhập. Có thể khẳng định, việc đổi mới quy định về đối tượng kê khai hằng năm trong Nghị định số 164/2026/NĐ-CP chính là bước thể chế hóa kịp thời quan điểm, chủ trương của Nghị quyết số 04-NQ/TW vào pháp luật về phòng, chống tham nhũng.</p>
<p style="text-align: justify;"><strong><em>2. Những điểm mới về diện đối tượng kê khai tài sản, thu nhập hằng năm</em></strong></p>
<p style="text-align: justify;">Kể từ ngày 01/7/2026, diện đối tượng phải kê khai tài sản, thu nhập hằng năm bao gồm: người giữ chức vụ từ Phó Vụ trưởng và tương đương trở lên công tác tại Bộ, cơ quan ngang Bộ và cơ quan, tổ chức, đơn vị khác do Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập; Giám đốc sở và tương đương trở lên công tác tại chính quyền địa phương; người giữ chức vụ từ Trưởng phòng và tương đương có phụ cấp chức vụ từ 0,25 trở lên công tác tại các cơ quan nhà nước; Trưởng phòng và tương đương trở lên công tác tại doanh nghiệp nhà nước ở các vị trí việc làm phụ trách trực tiếp công tác tổ chức cán bộ, quản lý tài chính công, tài sản công, đầu tư công hoặc trực tiếp tiếp xúc và giải quyết công việc của cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân; người đại diện phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp. Ngoài ra, những người thuộc diện cấp ủy cùng cấp quản lý và đảng viên chuyên trách công tác đảng hoặc có vị trí việc làm ở các cơ quan tham mưu, giúp việc của cấp ủy cũng thực hiện việc kê khai hằng năm theo quy định của Đảng và quy định của pháp luật.</p>
<p style="text-align: justify;">Như vậy, theo Nghị định số 164/2026/NĐ-CP, những người giữ các ngạch công chức và chức danh tư pháp như chấp hành viên, kế toán viên, kiểm lâm viên, kiểm sát viên, kiểm soát viên ngân hàng, kiểm soát viên thị trường, kiểm toán viên, kiểm tra viên của Đảng, kiểm tra viên hải quan, kiểm tra viên thuế, thanh tra viên, điều tra viên, thẩm phán sẽ không còn thuộc diện phải kê khai tài sản, thu nhập hằng năm. Người giữ chức vụ Phó Trưởng phòng làm công tác tổ chức cán bộ, quản lý tài chính công, tài sản công, đầu tư công hoặc trực tiếp tiếp xúc và giải quyết công việc của cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân cũng không còn thuộc diện kê khai hằng năm. Điểm mới căn bản là Nghị định số 164/2026/NĐ-CP đã chuyển sang cách tiếp cận “trọng tâm, trọng điểm” khi xác định đối tượng có nghĩa vụ kê khai hằng năm. Khi yêu cầu kiểm soát ngày càng đi vào chiều sâu, việc duy trì diện kê khai quá rộng có thể làm giảm hiệu quả thực chất, bởi cơ quan kiểm soát khó có đủ nguồn lực để phân tích, đối chiếu, xác minh một cách tương xứng. Nghị định đã khắc phục hạn chế đó bằng cách thu hẹp hợp lý diện kê khai hằng năm, gắn nghĩa vụ kê khai với vị trí có nguy cơ tham nhũng cao và giao thẩm quyền cho Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh ban hành danh mục cụ thể. Việc phân cấp này giúp danh mục người kê khai sát hơn với đặc điểm từng ngành, từng lĩnh vực; chẳng hạn, vị trí có nguy cơ tham nhũng trong lĩnh vực tài chính, thuế, hải quan, đất đai, xây dựng, y tế, giáo dục hoặc doanh nghiệp nhà nước có thể rất khác nhau, nếu quy định một danh mục áp dụng chung cho mọi cơ quan, đơn vị thì khó phản ánh hết đặc thù này.</p>
<p style="text-align: justify;"><strong><em>3. Đánh giá việc thu hẹp đối tượng kê khai hằng năm theo hướng trọng tâm, trọng điểm</em></strong></p>
<p style="text-align: justify;">Việc đổi mới phương thức xác định đối tượng kê khai tài sản, thu nhập hằng năm mang lại nhiều tác động tích cực đối với công tác kiểm soát tài sản, thu nhập.</p>
<p style="text-align: justify;"><em>Thứ nhất</em>, việc thu hẹp đối tượng kê khai giúp sử dụng hiệu quả hơn nguồn lực của cơ quan kiểm soát. Khi số lượng hồ sơ kê khai giảm xuống, cơ quan kiểm soát có điều kiện đầu tư nhiều hơn cho việc theo dõi biến động tài sản, đối chiếu dữ liệu, phân tích thông tin và tổ chức xác minh đối với các trường hợp có dấu hiệu bất thường. Điều này góp phần nâng cao chất lượng kiểm soát thay vì chỉ dừng ở việc tiếp nhận và lưu giữ bản kê khai, đúng với yêu cầu kiểm soát “chặt chẽ, thực chất, hiệu quả” mà Nghị quyết số 04-NQ/TW đã đề ra.</p>
<p style="text-align: justify;"><em>Thứ hai</em>, phương thức mới phù hợp với nguyên tắc quản lý theo rủi ro. Các vị trí được lựa chọn đều là những vị trí trực tiếp quản lý nguồn lực công, tham gia quyết định về nhân sự, tài chính, đầu tư hoặc thường xuyên giải quyết công việc của người dân và doanh nghiệp &#8211; những lĩnh vực tiềm ẩn nguy cơ phát sinh tham nhũng, tiêu cực và xung đột lợi ích cao hơn so với nhiều vị trí công tác khác. Cách tiếp cận này thống nhất với quan điểm của Nghị quyết số 04-NQ/TW về chủ động nhận diện, kiểm soát hiệu quả các điều kiện phát sinh tham nhũng, nhất là ở các lĩnh vực then chốt, trọng yếu, lĩnh vực mới tiềm ẩn nguy cơ cao.</p>
<p style="text-align: justify;"><em>Thứ ba</em>, việc phân cấp xác định danh mục người kê khai tạo ra sự linh hoạt, bảo đảm các bộ, ngành và địa phương có thể kịp thời điều chỉnh danh mục khi chức năng, nhiệm vụ hoặc cơ cấu tổ chức thay đổi mà không phải chờ sửa đổi nghị định. Điều này đặc biệt có ý nghĩa trong bối cảnh tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị đang được sắp xếp, tinh gọn mạnh mẽ theo chủ trương của Đảng.</p>
<p style="text-align: justify;">Tuy nhiên, bên cạnh những ưu điểm, quy định mới trong xác định đối tượng kê khai hàng năm cũng đặt ra những yêu cầu  khi tổ chức thực hiện.</p>
<p style="text-align: justify;"><em>Một là</em>, việc giao thẩm quyền cho từng bộ, ngành và địa phương ban hành danh mục người kê khai có thể dẫn đến sự thiếu thống nhất trong áp dụng nếu chưa có tiêu chí chung về xác định vị trí có nguy cơ tham nhũng. Cùng một loại công việc nhưng giữa các địa phương có thể xác định khác nhau, ảnh hưởng đến tính công bằng và thống nhất của pháp luật. Một số nơi có thể xác định danh mục quá rộng để “an toàn”, làm mất ý nghĩa thu hẹp trọng tâm; ngược lại, một số nơi có thể xác định quá hẹp, bỏ sót vị trí có nguy cơ tham nhũng cao.</p>
<p style="text-align: justify;"><em>Hai là</em>, khái niệm “trực tiếp tiếp xúc và giải quyết công việc của cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân” còn mang tính khái quát, có thể dẫn đến nhiều cách hiểu khác nhau. Do đó, cần có hướng dẫn cụ thể hơn về tiêu chí nhận diện để tránh tình trạng mở rộng hoặc thu hẹp quá mức phạm vi người phải kê khai.</p>
<p style="text-align: justify;"><em>Ba là</em>, việc thu hẹp đối tượng kê khai chỉ thực sự phát huy hiệu quả khi đi cùng với việc nâng cao chất lượng xác minh, đẩy mạnh kết nối cơ sở dữ liệu quốc gia về kiểm soát tài sản, thu nhập với các cơ sở dữ liệu về đất đai, thuế, đăng ký tài sản, ngân hàng và các cơ sở dữ liệu chuyên ngành khác. Nếu chỉ giảm số lượng người kê khai mà không tăng cường năng lực phân tích, xác minh thì mục tiêu nâng cao hiệu quả kiểm soát sẽ khó đạt được.</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>III. Một số đề xuất, kiến nghị trong tổ chức thực hiện kê khai tài sản, thu nhập hằng năm</strong></p>
<p style="text-align: justify;"><em>Thứ nhất</em>, cần xây dựng bộ tiêu chí thống nhất xác định vị trí có nguy cơ tham nhũng cao làm căn cứ ban hành danh mục người có nghĩa vụ kê khai hằng năm.</p>
<p style="text-align: justify;">Việc Nghị định số 164/2026/NĐ-CP giao Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ và Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh ban hành danh mục người có nghĩa vụ kê khai hằng năm là phù hợp với chủ trương phân cấp, phân quyền và bảo đảm tính linh hoạt trong quản lý. Tuy nhiên, nếu không có tiêu chí thống nhất để xác định vị trí có nguy cơ tham nhũng thì việc áp dụng giữa các bộ, ngành và địa phương có thể thiếu đồng bộ, dẫn đến tình trạng cùng một loại vị trí nhưng nơi xác định thuộc diện kê khai, nơi lại không, hoặc ngược lại mở rộng phạm vi không cần thiết. Do đó, cần nghiên cứu xây dựng bộ tiêu chí chung về nhận diện vị trí có nguy cơ tham nhũng làm cơ sở cho các cơ quan, đơn vị xác định đối tượng kê khai hằng năm. Việc thống nhất tiêu chí không chỉ bảo đảm sự công bằng, thống nhất trong áp dụng pháp luật mà còn bảo đảm đúng tinh thần của Nghị quyết số 04-NQ/TW và Nghị định số 164/2026/NĐ-CP là tập trung kiểm soát vào những vị trí thực sự có nguy cơ tham nhũng cao, thay vì mở rộng diện kê khai một cách hình thức.</p>
<p style="text-align: justify;"><em>Thứ hai</em>, thiết lập cơ chế rà soát, cập nhật định kỳ danh mục người có nghĩa vụ kê khai hằng năm phù hợp với yêu cầu cải cách tổ chức bộ máy và sự thay đổi của vị trí việc làm.</p>
<p style="text-align: justify;">Một trong những hạn chế của Nghị định số 130/2020/NĐ-CP là danh mục vị trí kê khai được quy định tương đối cứng, trong khi tổ chức bộ máy nhà nước luôn có sự thay đổi theo yêu cầu cải cách hành chính, sắp xếp đơn vị hành chính, phân cấp, phân quyền và điều chỉnh chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan, đơn vị. Nhiều vị trí mới phát sinh hoặc có sự thay đổi về chức năng nhưng chưa được cập nhật kịp thời, làm giảm hiệu quả của cơ chế kiểm soát. Mặc dù Nghị định số 164/2026/NĐ-CP đã trao quyền chủ động cho các bộ, ngành và địa phương trong việc ban hành danh mục người kê khai, song để bảo đảm tính cập nhật và phù hợp với thực tiễn, cần quy định cơ chế rà soát định kỳ đối với danh mục này.</p>
<p style="text-align: justify;"><em>Thứ ba</em>, đẩy mạnh ứng dụng chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo và phân tích dữ liệu lớn trong kiểm soát tài sản, thu nhập; tăng cường kết nối, chia sẻ dữ liệu giữa cơ quan kiểm soát tài sản, thu nhập với các cơ quan quản lý chuyên ngành.</p>
<p style="text-align: justify;">Việc thu hẹp đối tượng kê khai hằng năm theo hướng trọng tâm, trọng điểm sẽ chỉ phát huy hiệu quả khi cơ quan kiểm soát tài sản, thu nhập có khả năng khai thác hiệu quả dữ liệu kê khai. Trong bối cảnh chuyển đổi số hiện nay, việc quản lý hàng chục nghìn bản kê khai bằng phương pháp thủ công sẽ không đáp ứng yêu cầu phân tích, theo dõi biến động và phát hiện dấu hiệu bất thường. Đây cũng chính là định hướng lớn của Nghị quyết số 04-NQ/TW khi xác định ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là trọng tâm của công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực trong giai đoạn mới.</p>
<p style="text-align: justify;">Do đó, cần đẩy nhanh việc xây dựng và hoàn thiện Cơ sở dữ liệu quốc gia về kiểm soát tài sản, thu nhập theo hướng đồng bộ, hiện đại, cho phép quản lý tập trung, cập nhật thường xuyên và hỗ trợ phân tích dữ liệu tự động. Trên nền tảng đó, cần nghiên cứu ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI), dữ liệu lớn (Big Data) và các công cụ phân tích rủi ro để sàng lọc, cảnh báo những trường hợp có biến động tài sản, thu nhập bất thường, hỗ trợ cơ quan kiểm soát trong việc lựa chọn đối tượng xác minh theo kế hoạch hằng năm. Về lâu dài, cần triển khai đồng bộ các giải pháp mà Nghị quyết số 04-NQ/TW đã đề ra như đẩy mạnh thanh toán không dùng tiền mặt, xây dựng cơ chế, lộ trình minh bạch tài sản trong toàn xã hội và nghiên cứu xây dựng Luật về đăng ký tài sản, tạo nền tảng dữ liệu đầy đủ, tin cậy phục vụ công tác kiểm soát tài sản, thu nhập.</p>
<p style="text-align: justify;">Có thể nói, việc sửa đổi quy định về đối tượng kê khai tài sản, thu nhập hằng năm trong Nghị định số 164/2026/NĐ-CP thể hiện sự thay đổi quan trọng trong tư duy lập pháp về kiểm soát tài sản, thu nhập, đồng thời là bước cụ thể hóa kịp thời quan điểm chỉ đạo “có trọng tâm, trọng điểm” của Nghị quyết số 04-NQ/TW Hội nghị Trung ương 2 khóa XIV. Thay vì mở rộng phạm vi đối tượng kê khai theo hướng bao quát, pháp luật đã chuyển sang lựa chọn các nhóm đối tượng có nguy cơ tham nhũng cao để tập trung nguồn lực kiểm soát &#8211; sự chuyển dịch từ mô hình quản lý đại trà sang quản lý dựa trên đánh giá rủi ro, phù hợp với yêu cầu nâng cao hiệu quả phòng, chống tham nhũng trong điều kiện nguồn lực kiểm soát còn hạn chế và quá trình chuyển đổi số đang được đẩy mạnh.</p>
<p style="text-align: justify;">Trong thời gian tới, để mô hình này phát huy hiệu quả, cần tiếp tục hoàn thiện các tiêu chí xác định đối tượng kê khai, bảo đảm tính thống nhất trong áp dụng giữa các bộ, ngành và địa phương; đồng thời nâng cao năng lực của cơ quan kiểm soát thông qua hoàn thiện cơ sở dữ liệu, tăng cường kết nối thông tin và đổi mới phương thức xác minh tài sản, thu nhập. Chỉ khi kết hợp đồng bộ giữa việc xác định đúng đối tượng với việc kiểm soát hiệu quả, cơ chế kê khai tài sản, thu nhập mới thực sự trở thành công cụ hữu hiệu trong phòng ngừa tham nhũng, kiểm soát quyền lực và xây dựng nền hành chính liêm chính, minh bạch theo tinh thần Nghị quyết số 04-NQ/TW./.</p>
<p style="text-align: right;"><strong><em>TS. Nguyễn Thị Hồng Thúy</em></strong></p>
<p style="text-align: right;"><em>Trưởng khoa, Khoa Nghiệp vụ II, Trường Cán bộ Thanh tra</em></p>
<p style="text-align: right;"><strong><em>Nguyễn Hoàng Nguyên</em></strong></p>
<p style="text-align: right;"><em>Chuyên viên, Khoa Nghiệp vụ II, Trường Cán bộ Thanh tra</em></p>
<p>&nbsp;</p>
<p><strong>TÀI LIỆU THAM KHẢO</strong></p>
<ol>
<li>Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam (2026), <em>Nghị quyết số 04-NQ/TW ngày 01/4/2026 Hội nghị lần thứ hai Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV về tiếp tục tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực trong giai đoạn mới</em>, Hà Nội.</li>
<li>Quốc hội (2018), <em>Luật Phòng, chống tham nhũng số 36/2018/QH14 ngày 20/11/2018</em>, Hà Nội.</li>
<li>Quốc hội (2025), <em>Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Phòng, chống tham nhũng số 132/2025/QH15 ngày 01/7/2026</em>, Hà Nội.</li>
<li>Chính phủ (2020), <em>Nghị định số 130/2020/NĐ-CP ngày 30/10/2020 về kiểm soát tài sản, thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn trong cơ quan, tổ chức, đơn vị</em>, Hà Nội.</li>
<li>Chính phủ (2026), <em>Nghị định số 164/2026/NĐ-CP ngày 15/5/2026 về kiểm soát tài sản, thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn trong cơ quan, tổ chức, đơn vị</em>, Hà Nội.</li>
</ol>
]]></content:encoded>
					
					<wfw:commentRss>https://thanhtra.edu.vn/nghi-dinh-so-164-2026-nd-cp-hoan-thien-quy-dinh-ve-doi-tuong-ke-khai-tai-san-thu-nhap-hang-nam-theo-huong-trong-tam-trong-diem-buoc-cu-the-hoa-nghi-quyet-so-04-nq-tw-hoi-nghi-trung-uong-2/feed/</wfw:commentRss>
			<slash:comments>0</slash:comments>
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Định hướng nghiên cứu khoa học của ngành thanh tra trong bối cảnh sắp xếp tổ chức bộ máy và chuyển đổi mô hình hoạt động</title>
		<link>https://thanhtra.edu.vn/dinh-huong-nghien-cuu-khoa-hoc-cua-nganh-thanh-tra-trong-boi-canh-sap-xep-to-chuc-bo-may-va-chuyen-doi-mo-hinh-hoat-dong/</link>
					<comments>https://thanhtra.edu.vn/dinh-huong-nghien-cuu-khoa-hoc-cua-nganh-thanh-tra-trong-boi-canh-sap-xep-to-chuc-bo-may-va-chuyen-doi-mo-hinh-hoat-dong/#respond</comments>
		
		<dc:creator><![CDATA[Hữu Thắng]]></dc:creator>
		<pubDate>Thu, 21 May 2026 15:10:55 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Diễn đàn trao đổi]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://thanhtra.edu.vn/?p=54925</guid>

					<description><![CDATA[Tóm tắt: Thanh tra có vai trò quan trọng, góp phần vào cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước, qua hoạt động thanh tra góp phần phát hiện sơ hở trong cơ chế, chính sách, pháp luật để kiến&#8230; <a href="https://thanhtra.edu.vn/dinh-huong-nghien-cuu-khoa-hoc-cua-nganh-thanh-tra-trong-boi-canh-sap-xep-to-chuc-bo-may-va-chuyen-doi-mo-hinh-hoat-dong/">Đọc Thêm</a>]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: justify;"><strong>Tóm tắt:</strong> Thanh tra có vai trò quan trọng, góp phần vào cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước, qua hoạt động thanh tra góp phần phát hiện sơ hở trong cơ chế, chính sách, pháp luật để kiến nghị cấp có thẩm quyền sửa đổi, bổ sung, phòng ngừa, phát hiện và xử lý các hành vi vi phạm pháp luật, giúp cơ quan, tổ chức, cá nhân thực hiện đúng pháp luật, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức. Vì vậy, bài tham luận này đi sâu phân tích thực tiễn hoạt động thanh tra và những yêu cầu đặt ra trong bối cảnh sắp xếp tổ chức bộ máy, từ đó đề xuất các định hướng nghiên cứu khoa học trọng tâm nhằm đổi mới toàn diện phương thức hoạt động, thích ứng với kỷ nguyên số và nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước của ngành Thanh tra.</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>Từ khóa: </strong>thanh tra, kiểm tra; định hướng nghiên cứu khoa học</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>I. ĐẶT VẤN ĐỀ</strong></p>
<p style="text-align: justify;">Trong bối cảnh đất nước ta đang đẩy mạnh cải cách tổ chức bộ máy nhà nước theo hướng tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả theo tinh thần Nghị quyết 18-NQ/TW ngày 25/10/2017 của Ban Chấp hành Trung ương về <em>“Một số vấn đề về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị, tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả”</em>, đồng thời thúc đẩy chuyển đổi số quốc gia, đổi mới sáng tạo và phát triển khoa học, công nghệ trở thành động lực tăng trưởng mới, ngành Thanh tra đang đứng trước yêu cầu đổi mới toàn diện cả về tổ chức, phương thức hoạt động và tư duy quản lý.</p>
<p style="text-align: justify;">Cùng với đó là việc triển khai Luật Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo năm 2025 cùng với các chủ trương lớn của Đảng, Nhà nước về xây dựng nền hành chính hiện đại, liêm chính, phục vụ nhân dân đã mở ra những điều kiện thuận lợi để hoạt động nghiên cứu khoa học trong ngành Thanh tra chuyển mạnh từ tư duy “quản lý” sang “kiến tạo”, từ nghiên cứu nặng về lý luận sang nghiên cứu gắn với thực tiễn, phục vụ trực tiếp cho công tác quản lý nhà nước, thanh tra, tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo và phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực.</p>
<p style="text-align: justify;">Đặc biệt, trong bối cảnh sắp xếp tổ chức bộ máy và chuyển đổi mô hình hoạt động của ngành Thanh tra theo hướng tinh gọn, chuyên sâu, hiện đại và ứng dụng mạnh mẽ công nghệ số, nghiên cứu khoa học không còn là hoạt động mang tính bổ trợ mà cần trở thành nền tảng tri thức, công cụ dự báo và động lực đổi mới của toàn ngành. Thực tiễn hiện nay cho thấy, nhiều vấn đề mới đang đặt ra đối với hoạt động thanh tra như: thanh tra trên môi trường điện tử; quản trị dữ liệu số; kiểm soát quyền lực trong điều kiện phân cấp, phân quyền mạnh mẽ; xử lý khiếu nại, tố cáo trên không gian mạng; phòng, chống tham nhũng trong các lĩnh vực công nghệ cao; ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong phân tích rủi ro và cảnh báo sai phạm… Những vấn đề này đòi hỏi hoạt động nghiên cứu khoa học phải đi trước một bước, cung cấp luận cứ khoa học và thực tiễn cho quá trình đổi mới tổ chức và hoạt động của ngành.</p>
<p style="text-align: justify;">Do đó, việc xác định đúng định hướng nghiên cứu khoa học của ngành Thanh tra trong tình hình mới có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, không chỉ phục vụ nâng cao hiệu quả hoạt động của ngành mà còn góp phần xây dựng nền hành chính minh bạch, hiện đại, đáp ứng yêu cầu phát triển nhanh và bền vững của đất nước trong kỷ nguyên số.</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>II. THỰC TIỄN HOẠT ĐỘNG THANH TRA THỜI GIAN QUA VÀ NHỮNG YÊU CẦU ĐẶT RA ĐỐI VỚI NGÀNH THANH TRA TRONG BỐI CẢNH SẮP XẾP TỔ CHỨC BỘ MÁY VÀ CHUYỂN ĐỔI MÔ HÌNH HOẠT ĐỘNG</strong></p>
<p style="text-align: justify;"><strong>1. Thực tiễn hoạt động thanh tra thời gian qua</strong></p>
<p style="text-align: justify;">Hoạt động thanh tra thời gian qua đã đạt được nhiều kết quả quan trọng, góp phần cụ thể hóa chủ trương kiểm soát quyền lực, phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực. Trong giai đoạn 2021-2025, toàn ngành Thanh tra đã triển khai hàng nghìn cuộc thanh tra, qua đó phát hiện vi phạm về kinh tế lên tới hàng trăm nghìn tỷ đồng và hàng trăm héc-ta đất, kiến nghị thu hồi, xuất toán, xử lý khác số tiền rất lớn và diện tích đất đáng kể.</p>
<p style="text-align: justify;">Từ kết quả thanh tra, cơ quan thanh tra đã kiến nghị xử lý hành chính hàng nghìn tổ chức, cá nhân; chuyển nhiều vụ việc có dấu hiệu tội phạm sang cơ quan điều tra, góp phần quan trọng vào việc phát hiện, xử lý các vụ án tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, nhất là các vụ việc, vụ án nghiêm trọng, phức tạp, dư luận xã hội quan tâm. Công tác đôn đốc, kiểm tra việc thực hiện kết luận thanh tra tiếp tục được tăng cường, tỷ lệ kiến nghị về kinh tế và xử lý hành chính được thực hiện dứt điểm qua các năm tăng lên, qua đó nâng cao kỷ luật, kỷ cương hành chính, chấn chỉnh công tác quản lý, hoàn thiện cơ chế, chính sách, pháp luật trên nhiều lĩnh vực. Tuy nhiên, trước yêu cầu ngày càng cao của công tác thanh tra, phòng, chống tham  nhũng lãng phí, kiểm soát quyền lực, công tác thanh tra đã bộc lộ một số hạn chế, bất cập, cụ thể:</p>
<p style="text-align: justify;">Một là, chất lượng một số cuộc thanh tra chưa thật sự đáp ứng yêu cầu đặt ra; ở một số nơi, việc lựa chọn nội dung, phương thức thanh tra còn dàn trải, nặng về kiểm tra việc chấp hành, xử lý sai phạm vụ việc, chưa tập trung đúng mức vào việc phát hiện những sơ hở, bất cập trong cơ chế, chính sách, pháp luật và những biểu hiện sai phạm có tính chất hệ thống để kiến nghị hoàn thiện thể chế, khắc phục từ gốc. Năng lực chuyên môn, bản lĩnh chính trị, ý thức trách nhiệm của một bộ phận cán bộ, công chức thanh tra chưa đồng đều; trình độ phân tích, dự báo, khả năng nhận diện các thủ đoạn tham nhũng tinh vi, gắn với lợi ích nhóm, “sân sau” còn hạn chế, làm cho kết luận thanh tra ở một số trường hợp chưa thật sự sâu sắc, thuyết phục, sức nặng kiến nghị chưa tương xứng với yêu cầu tăng cường kiểm soát quyền lực nhà nước .</p>
<p style="text-align: justify;">Hai là, việc phát hiện tham nhũng, lãng phí, tiêu cực thông qua hoạt động thanh tra chưa tương xứng với diễn biến phức tạp của tham nhũng trong thực tiễn và với vai trò, vị trí của cơ quan thanh tra được Đảng, Nhà nước giao phó. Các báo cáo của Chính phủ và cơ quan có thẩm quyền gần đây cho thấy, mặc dù số vụ án, vụ việc tham nhũng, lãng phí, tiêu cực được phát hiện, xử lý tăng lên, nhiều vụ việc đặc biệt nghiêm trọng, phức tạp, dư luận xã hội quan tâm đã được đưa ra xử lý nghiêm minh, nhưng số vụ tham nhũng được phát hiện qua thanh tra vẫn chiếm tỷ lệ chưa cao, chủ yếu vẫn dựa vào tố giác, tin báo của nhân dân, báo chí và kết quả điều tra chuyên ngành.</p>
<p style="text-align: justify;">Ba là, việc thực hiện kết luận, kiến nghị, quyết định xử lý sau thanh tra ở một số nơi còn chậm, chưa nghiêm, chưa được coi là tiêu chí quan trọng để đánh giá mức độ hoàn thành nhiệm vụ, trách nhiệm người đứng đầu. Thực tế cho thấy, vẫn còn những vụ việc kết luận thanh tra đã ban hành nhưng kéo dài trong việc tổ chức thực hiện; tỷ lệ thu hồi tiền, tài sản, đất đai theo kiến nghị của cơ quan thanh tra còn chưa đáp ứng yêu cầu; có nơi còn biểu hiện né tránh, nể nang, thiếu kiên quyết trong xử lý trách nhiệm tổ chức, cá nhân vi phạm, nhất là trường hợp liên quan đến cán bộ lãnh đạo, quản lý.</p>
<p style="text-align: justify;">Bốn là, cơ chế phối hợp giữa các cơ quan, lực lượng có chức năng kiểm soát quyền lực (thanh tra, kiểm toán, kiểm tra của Đảng, điều tra, kiểm sát, tòa án…) còn những bất cập, chưa thực sự chặt chẽ, hiệu quả. Tình trạng chồng chéo, trùng lặp về phạm vi, đối tượng, nội dung thanh tra, kiểm tra, kiểm toán tuy đã được nhận diện, có nhiều giải pháp khắc phục, song vẫn chưa được xử lý dứt điểm; ở nhiều nơi, doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân vẫn phải tiếp nhiều đoàn thanh tra, kiểm tra, kiểm toán trong cùng một khoảng thời gian, trong khi vẫn còn “khoảng trống” giám sát ở một số lĩnh vực, địa bàn, khâu giải quyết công việc dễ phát sinh tham nhũng, lãng phí, tiêu cực.</p>
<p style="text-align: justify;">Trong bối cảnh hiện nay, việc tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị theo hướng tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả đang được Đảng và Nhà nước ta đặc biệt quan tâm. Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và các chủ trương của Trung ương về kiểm soát quyền lực trong bộ máy nhà nước đặt ra yêu cầu nâng cao hiệu quả hoạt động của các cơ quan kiểm tra, giám sát, thanh tra nhằm phòng ngừa và phát hiện kịp thời các hành vi tham nhũng, lãng phí, tiêu cực. Trong quá trình đó, ngành Thanh tra cũng đang được rà soát, kiện toàn tổ chức bộ máy, hoàn thiện chức năng, nhiệm vụ và đổi mới phương thức hoạt động để phù hợp với yêu cầu quản lý nhà nước trong tình hình mới. Hoạt động thanh tra cần tập trung hơn vào những lĩnh vực dễ phát sinh tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, nâng cao chất lượng các cuộc thanh tra, thanh tra không chỉ phát hiện để xử lý mà còn nhằm phòng ngừa sai phạm từ sớm, từ xa, tăng cường hiệu quả thực hiện kết luận thanh tra và đẩy mạnh phối hợp với các cơ quan kiểm tra của Đảng, kiểm toán nhà nước và cơ quan điều tra.</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>2. Những yêu cầu đặt ra đối với ngành thanh tra trong bối cảnh sắp xếp tổ chức bộ máy và chuyển đổi mô hình hoạt động</strong></p>
<p style="text-align: justify;"><strong>2.1. Đổi mới tư duy hoạt động thanh tra.</strong></p>
<p style="text-align: justify;">Ngày 28/3/2025, Bộ Chính trị, Ban Bí thư đã ban hành Kết luận số 134-KL/TW về Đề án sắp xếp hệ thống cơ quan thanh tra tinh, gọn, mạnh, hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả, theo đó: “<em>Bộ Chính trị, Ban Bí thư đồng ý chủ trương sắp xếp, tinh gọn tổ chức bộ máy hệ thống cơ quan thanh tra theo 2 cấp ở Trung ương và địa phương. Ở Trung ương, kết thúc hoạt động của thanh tra các bộ để sắp xếp, tổ chức lại thành các cục thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo, phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực theo lĩnh vực thuộc Thanh tra Chính phủ.</em></p>
<p style="text-align: justify;"><em>Tiếp tục duy trì tổ chức và hoạt động đối với: </em><em>Thanh tra Bộ Quốc phòng, Thanh tra Bộ Công an, Thanh tra Ngân hàng Nhà nước, Thanh tra Cơ yếu, Thanh tra Cục An toàn bức xạ và hạt nhân, Thanh tra Cục Hàng hải Việt Nam, Thanh tra Cục Hàng không Việt Nam, Thanh tra Ủy ban Chứng khoán Nhà nước… Ở địa phương, kết thúc hoạt động của Thanh tra huyện và Thanh tra sở, tổ chức lại thành các tổ chức thuộc thanh tra tỉnh”</em>.</p>
<p style="text-align: justify;">Kết luận số 134 cũng nêu rõ, sau khi sắp xếp, các cơ quan không còn tổ chức thanh tra thì thực hiện chức năng, nhiệm vụ kiểm tra trong phạm vi quản lý nhà nước. Người đứng đầu có trách nhiệm giao đơn vị trực thuộc tham mưu thực hiện chức năng, nhiệm vụ kiểm tra, tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo và phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực theo quy định của pháp luật.</p>
<p style="text-align: justify;">Quá trình sắp xếp tổ chức bộ máy theo tinh thần Kết luận 134 nêu trên đặt ra yêu cầu ngành Thanh tra phải chuyển mạnh từ mô hình quản lý mang tính hành chính, kiểm soát truyền thống sang mô hình quản trị hiện đại, dựa trên dữ liệu, công nghệ và đánh giá rủi ro. Hoạt động thanh tra không chỉ dừng lại ở phát hiện và xử lý vi phạm, mà phải hướng mạnh hơn tới phòng ngừa từ sớm, từ xa; nâng cao năng lực dự báo, cảnh báo nguy cơ sai phạm; kiến nghị hoàn thiện thể chế, chính sách và cơ chế quản lý nhà nước. Điều này đòi hỏi nghiên cứu khoa học phải trở thành công cụ hỗ trợ hoạch định chính sách, đổi mới phương thức quản lý và nâng cao hiệu quả thực thi công vụ của ngành Thanh tra.</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>2.2. Yêu cầu thích ứng với chuyển đổi số và môi trường quản trị mới</strong></p>
<p style="text-align: justify;">Chuyển đổi số đang làm thay đổi căn bản phương thức quản lý nhà nước và hoạt động thanh tra. Dữ liệu lớn, trí tuệ nhân tạo, điện toán đám mây, nền tảng số và các hệ thống quản trị thông minh đang tạo ra cả cơ hội và thách thức đối với ngành Thanh tra. Trong bối cảnh đó, ngành Thanh tra cần nhanh chóng xây dựng mô hình “thanh tra số”, từng bước hình thành hệ sinh thái quản trị, giám sát và xử lý thông tin trên môi trường điện tử.</p>
<p style="text-align: justify;">Yêu cầu này đặt ra nhiệm vụ cấp thiết đối với hoạt động nghiên cứu khoa học là phải tập trung nghiên cứu các mô hình thanh tra điện tử, hệ thống cảnh báo sớm sai phạm, ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong phân tích dữ liệu, quản lý hồ sơ số, xây dựng cơ sở dữ liệu liên thông và các công cụ hỗ trợ ra quyết định.</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>2.3. Nâng cao chất lượng tham mưu, hoàn thiện thể chế</strong></p>
<p style="text-align: justify;">Trong bối cảnh tổ chức bộ máy được tinh gọn, yêu cầu nâng cao chất lượng tham mưu chiến lược của ngành Thanh tra ngày càng trở nên quan trọng. Hoạt động nghiên cứu khoa học cần hướng mạnh vào việc tổng kết thực tiễn, phát hiện những khoảng trống, bất cập trong cơ chế, chính sách và pháp luật; từ đó đề xuất giải pháp hoàn thiện thể chế, nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước.</p>
<p style="text-align: justify;">Đây cũng là yêu cầu nhằm chuyển hóa kết quả hoạt động thanh tra thành nguồn dữ liệu và tri thức phục vụ công tác hoạch định chính sách, thay vì chỉ dừng lại ở xử lý vụ việc cụ thể.</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>2.4. Yêu cầu phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao</strong></p>
<p style="text-align: justify;">Quá trình chuyển đổi mô hình hoạt động đặt ra yêu cầu xây dựng đội ngũ cán bộ thanh tra có tư duy đổi mới, năng lực số, khả năng nghiên cứu và thích ứng với môi trường quản trị hiện đại. Đối với hoạt động nghiên cứu khoa học, yêu cầu này đòi hỏi phải hình thành đội ngũ nghiên cứu có kiến thức liên ngành, kết hợp giữa pháp luật, quản trị công, công nghệ thông tin, phân tích dữ liệu và khoa học quản lý.</p>
<p style="text-align: justify;">Đồng thời, cần đổi mới cơ chế quản lý nghiên cứu theo hướng tăng quyền tự chủ, khuyến khích sáng tạo, chấp nhận rủi ro trong nghiên cứu khoa học và thúc đẩy hợp tác với các cơ sở đào tạo, viện nghiên cứu, chuyên gia trong và ngoài nước.</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>III. ĐỊNH HƯỚNG NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CỦA NGÀNH THANH TRA TRONG TÌNH HÌNH MỚI</strong></p>
<p style="text-align: justify;">Luật Khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo năm 2025 cùng với việc mở rộng không gian sáng tạo, đặt ra những yêu cầu cao hơn đối với công tác quản lý nghiên cứu khoa học trong ngành Thanh tra. Với vai trò cơ quan quản lý nhà nước về công tác thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, Thanh tra Chính phủ cần chủ động xây dựng chiến lược nghiên cứu khoa học dài hạn, xác định rõ các lĩnh vực ưu tiên gắn với yêu cầu đổi mới hoạt động thanh tra trong bối cảnh chuyển đổi số và hội nhập quốc tế.</p>
<p style="text-align: justify;">Nhìn lại hoạt động nghiên cứu khoa học của Thanh tra Chính phủ trong năm 2026, cho thấy có sự đánh dấu bước chuyển rõ nét trong hoạt động nghiên cứu khoa học khi một loạt đề tài được phê duyệt theo định hướng mới. Với 16 đề tài cấp bộ và 12 đề tài cấp cơ sở, tập trung vào những lĩnh vực then chốt. Trong số các đề tài cấp bộ, có thể thấy rõ tính chiến lược và tầm nhìn dài hạn. Đề tài “<em>Cơ sở khoa học xây dựng Chiến lược phát triển ngành Thanh tra đến năm 2035, tầm nhìn đến năm 2045</em>” không chỉ phục vụ công tác hoạch định chính sách mà còn giúp định hướng toàn diện cho sự phát triển của ngành. Đề tài “<em>Hoạt động thanh tra trên môi trường điện tử</em>” phản ánh xu hướng tất yếu của chuyển đổi số, mở ra hướng đi mới cho hoạt động thanh tra trong bối cảnh công nghệ phát triển mạnh mẽ. Một số đề tài khác mang tính thực tiễn cao, hướng vào giải quyết những vấn đề nóng khi thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp như “<em>Giải quyết khiếu nại, tố cáo của chính quyền địa phương trong giai đoạn hiện nay</em>” hay “<em>Giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh của đơn vị sự nghiệp công lập</em>” trực tiếp đáp ứng nhu cầu cấp thiết trong quản lý nhà nước. Đây là những lĩnh vực thường xuyên phát sinh vướng mắc, đòi hỏi phải có nghiên cứu chuyên sâu để nâng cao hiệu quả xử lý.</p>
<p style="text-align: justify;">Đáng chú ý, các Đề tài như “Kiểm soát quyền lực của chính quyền cấp cơ sở nhằm phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực” hay “Đổi mới cơ chế kiểm soát tài sản, thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn” thể hiện rõ sự gắn kết giữa nghiên cứu khoa học và nhiệm vụ trọng tâm của ngành Thanh tra trong công cuộc phòng, chống tham nhũng, tiêu cực. Những nghiên cứu này không chỉ có ý nghĩa về mặt lý luận mà còn góp phần hoàn thiện cơ chế kiểm soát quyền lực, tăng cường minh bạch và trách nhiệm giải trình.</p>
<p style="text-align: justify;">Tiếp tục phát huy những thành tựu trong công tác nghiên cứu khoa học những năm qua, trong thời gian tới, hoạt động nghiên cứu khoa học của ngành thanh tra cần tập trung vào một số vấn đề lớn như sau:</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>1.Đổi mới tư duy nghiên cứu khoa học của ngành thanh tra theo hướng phục vụ thực tiễn hoạt động thanh tra và kiến tạo sự phát triển</strong></p>
<p style="text-align: justify;">Trong giai đoạn tới, hoạt động nghiên cứu khoa học của ngành Thanh tra cần chuyển mạnh từ tư duy nghiên cứu mang tính hàn lâm sang nghiên cứu phục vụ trực tiếp yêu cầu thực tiễn. Các đề tài nghiên cứu phải xuất phát từ những vấn đề đặt ra trong quá trình đổi mới tổ chức và hoạt động của ngành; gắn với yêu cầu nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và phục vụ người dân, doanh nghiệp.</p>
<p style="text-align: justify;">Tại Lễ kỷ niệm 80 năm ngày thành lập Ngành Thanh tra Việt Nam (23/11/1945-23/11/2025), Tổng Bí thư Tô Lâm cũng đặc biệt nhấn mạnh đến vai trò của ngành thanh tra trong tình hình mới, Một trong những thông điệp xuyên suốt trong chỉ đạo của Tổng Bí thư là yêu cầu chuyển đổi mạnh mẽ tư duy hoạt động thanh tra: từ “xử lý vi phạm” sang “phòng ngừa từ xa, từ sớm”; kết hợp giữa thanh tra hành chính với thanh tra chuyên đề, giữa kiểm tra hiện trường với phân tích dữ liệu số. Thanh tra phải đi trước một bước, dự báo, cảnh báo sớm những nguy cơ, không để vi phạm nhỏ tích tụ thành sai phạm lớn<a href="#_ftn1" name="_ftnref1">[1]</a>.</p>
<p style="text-align: justify;">Đặc thù của ngành Thanh tra đòi hỏi nghiên cứu phải “đi trước một bước”, không chỉ tổng kết thực tiễn mà còn dự báo xu hướng, nhận diện phương thức vi phạm mới. Khi cơ chế quản lý được nới lỏng theo hướng kiến tạo, các đề tài nghiên cứu có điều kiện tiếp cận sâu hơn với thực tiễn, từ đó đưa ra những giải pháp sát với yêu cầu quản lý. Đáng chú ý, Luật Khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo mở ra khả năng thúc đẩy mạnh mẽ các nghiên cứu ứng dụng công nghệ trong hoạt động thanh tra. Các hướng nghiên cứu như phân tích dữ liệu lớn, xây dựng hệ thống cảnh báo sớm sai phạm hay phát triển mô hình thanh tra dựa trên đánh giá rủi ro đang trở nên khả thi hơn trong bối cảnh cơ chế được tháo gỡ. Đây là những lĩnh vực có ý nghĩa quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả hoạt động thanh tra, giúp chuyển từ phương thức xử lý bị động sang chủ động phòng ngừa, phát hiện sớm vi phạm.</p>
<p style="text-align: justify;">Chính vì vậy, sự chuyển đổi của ngành thanh tra này, không thể thực hiện nếu thiếu nền tảng tri thức khoa học vững chắc. Hoạt động nghiên cứu khoa học không còn là hoạt động bổ trợ mà trở thành động lực cốt lõi giúp ngành Thanh tra thực hiện vai trò mới. Thay vì chỉ tổng kết các vụ việc đã xảy ra, nghiên cứu khoa học cần hướng tới việc phân tích xu hướng, nhận diện nguy cơ và dự báo sớm các dạng thức vi phạm. Điều này hoàn toàn phù hợp với yêu cầu “phòng ngừa từ sớm, từ xa” mà Tổng Bí thư đã nhấn mạnh. Có thể thấy rõ, chỉ đạo này tạo sự tương thích mạnh mẽ với tinh thần của Luật Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo 2025, nơi nghiên cứu khoa học được đặt trong mối liên hệ chặt chẽ với thực tiễn và phát triển.</p>
<p style="text-align: justify;">Nghiên cứu khoa học cần trở thành công cụ hỗ trợ dự báo, cảnh báo và kiến tạo chính sách; góp phần tháo gỡ các “điểm nghẽn” về thể chế, nâng cao tính minh bạch, trách nhiệm giải trình và hiệu quả quản trị công.</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>2. Ưu tiên nghiên cứu các lĩnh vực gắn với chuyển đổi số ngành Thanh tra</strong></p>
<p style="text-align: justify;">Một điểm nhấn quan trọng trong chỉ đạo của Tổng Bí thư  nữa là yêu cầu đẩy mạnh ứng dụng công nghệ và chuyển đổi số trong hoạt động thanh tra. Trong bối cảnh đó, nghiên cứu khoa học cần đóng vai trò tiên phong trong việc phát triển các mô hình, công cụ và giải pháp công nghệ phục vụ hoạt động thanh tra. Các hướng nghiên cứu như phân tích dữ liệu lớn, trí tuệ nhân tạo, hệ thống cảnh báo sớm sai phạm hay xây dựng cơ sở dữ liệu liên thông không chỉ là xu hướng, mà đã trở thành yêu cầu cấp thiết. Để hiện thực hóa mục tiêu “thanh tra trên môi trường số”, ngành Thanh tra cần một hệ sinh thái nghiên cứu khoa học đủ mạnh, có khả năng tích hợp kiến thức liên ngành giữa pháp luật, công nghệ và quản trị công. Điều này cũng đồng nghĩa với việc phải thay đổi cách tổ chức nghiên cứu, tăng cường hợp tác với các viện nghiên cứu, trường đại học và chuyên gia công nghệ, thay vì chỉ giới hạn trong phạm vi nội bộ ngành.</p>
<p style="text-align: justify;">Những định hướng trọng tâm là đẩy mạnh nghiên cứu ứng dụng công nghệ số trong hoạt động thanh tra. Các hướng nghiên cứu cần ưu tiên gồm:</p>
<ul style="text-align: justify;">
<li>Xây dựng mô hình thanh tra trên môi trường điện tử;</li>
<li>Ứng dụng trí tuệ nhân tạo và dữ liệu lớn trong phát hiện, phân tích và dự báo sai phạm;</li>
<li>Xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu dùng chung của ngành Thanh tra;</li>
<li>Phát triển hệ thống giám sát, cảnh báo sớm rủi ro trong quản lý nhà nước;</li>
<li>Chuyển đổi số trong quản lý hồ sơ, tiếp công dân và giải quyết khiếu nại, tố cáo;</li>
<li>Nghiên cứu mô hình quản trị dữ liệu phục vụ phòng, chống tham nhũng, tiêu cực.</li>
</ul>
<p style="text-align: justify;">Đây không chỉ là yêu cầu của chuyển đổi số quốc gia mà còn là điều kiện để ngành Thanh tra chuyển từ phương thức xử lý bị động sang quản trị chủ động, dựa trên dữ liệu và phân tích rủi ro.</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>3. Đẩy mạnh nghiên cứu liên ngành và nghiên cứu dự báo</strong></p>
<p style="text-align: justify;">Các vấn đề quản lý hiện nay ngày càng phức tạp, liên quan đến nhiều lĩnh vực khác nhau. Vì vậy, nghiên cứu khoa học của ngành Thanh tra cần tăng cường tính liên ngành, kết hợp giữa pháp luật, công nghệ, quản trị công, kinh tế học và khoa học dữ liệu.</p>
<p style="text-align: justify;">Đồng thời, cần chú trọng hơn tới nghiên cứu dự báo, nghiên cứu chiến lược nhằm nhận diện xu hướng mới, các nguy cơ phát sinh trong quản lý nhà nước về công tác thanh tra, tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo và phòng, chống tham nhũng, tiêu cực. Các nghiên cứu không chỉ dừng ở tổng kết thực tiễn mà phải hướng tới phát hiện quy luật, xây dựng mô hình quản trị hiện đại và đề xuất giải pháp mang tính dài hạn.</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>4. Gắn kết chặt chẽ giữa nội dung nghiên cứu khoa học với hoạt động thực tiễn của ngành thanh tra</strong></p>
<p style="text-align: justify;">Một yêu cầu quan trọng là khắc phục tình trạng “nghiên cứu để nghiệm thu”, nâng cao khả năng ứng dụng thực tiễn của các đề tài khoa học. Cần xây dựng cơ chế lựa chọn đề tài xuất phát từ yêu cầu thực tiễn của ngành; đồng thời hoàn thiện cơ chế chuyển giao, ứng dụng kết quả nghiên cứu vào hoạt động nghiệp vụ.</p>
<p style="text-align: justify;">Kết quả nghiên cứu cần được sử dụng hiệu quả trong xây dựng chính sách, hoàn thiện quy trình thanh tra, đào tạo cán bộ và hỗ trợ ra quyết định quản lý. Ngành Thanh tra có chức năng đặc thù trong hệ thống quản lý nhà nước, với nhiệm vụ phát hiện, xử lý vi phạm và kiến nghị hoàn thiện cơ chế, chính sách, pháp luật. Vì vậy, hoạt động nghiên cứu khoa học trong ngành phải bám sát thực tiễn, phục vụ trực tiếp cho công tác chuyên môn.</p>
<p style="text-align: justify;">Trong bối cảnh các vấn đề quản lý ngày càng phức tạp, nghiên cứu khoa học cần đi trước một bước, cung cấp cơ sở lý luận và thực tiễn cho việc hoạch định chính sách. Các đề tài nghiên cứu cần tập trung vào những vấn đề đang đặt ra trong thực tiễn như hoàn thiện cơ chế phòng, chống tham nhũng, nâng cao hiệu quả giải quyết khiếu nại, tố cáo, hay đổi mới phương thức thanh tra trong điều kiện chuyển đổi số. Đặc biệt, xu hướng ứng dụng công nghệ trong hoạt động thanh tra đang ngày càng rõ nét. Vì vậy, các nghiên cứu liên quan đến xây dựng hệ thống dữ liệu, ứng dụng trí tuệ nhân tạo, hay phát triển các công cụ hỗ trợ ra quyết định cần được ưu tiên. Việc gắn kết chặt chẽ giữa nghiên cứu và thực tiễn không chỉ giúp nâng cao chất lượng đề tài, mà còn bảo đảm các kết quả nghiên cứu có thể được triển khai ngay trong hoạt động nghiệp vụ.</p>
<p style="text-align: justify;">5. Hoàn thiện cơ chế tổ chức và tổ chức ứng dụng có hiệu quả kết quả nghiên cứu vào thực tiễn hoạt động thanh tra</p>
<p style="text-align: justify;">Để đáp ứng yêu cầu phát triển trong tình hình mới, ngành Thanh tra cần từng bước thực hiện các giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động nghiên cứu khoa học của ngành thanh tra, bao gồm:</p>
<ul style="text-align: justify;">
<li>Hoàn thiện chiến lược phát triển khoa học và công nghệ của ngành;</li>
<li>Xây dựng các nhóm nghiên cứu mạnh, trung tâm nghiên cứu chuyên sâu;</li>
<li>Đẩy mạnh hợp tác với các trường đại học, viện nghiên cứu và tổ chức quốc tế;</li>
<li>Đổi mới cơ chế quản lý đề tài theo hướng linh hoạt, minh bạch và hiệu quả;</li>
<li>Có chính sách khuyến khích, thu hút đội ngũ chuyên gia, nhà khoa học chất lượng cao tham gia nghiên cứu.</li>
</ul>
<p style="text-align: justify;">Đồng thời, cần tạo môi trường nghiên cứu cởi mở, khuyến khích đổi mới sáng tạo và chấp nhận rủi ro trong nghiên cứu khoa học, phù hợp với tinh thần của Luật Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo năm 2025.</p>
<p style="text-align: justify;">Tại Lễ kỷ niệm 80 năm ngày thành lập ngành thanh tra, Tổng Bí thư Tô Lâm cũng nhấn mạnh yêu cầu, phải xây dựng cho được đội ngũ cán bộ thanh tra “liêm chính, bản lĩnh, trí tuệ, tinh thông”. Đây cũng chính là yêu cầu cốt lõi đặt ra đối với đội ngũ làm công tác nghiên cứu khoa học trong ngành. Trong bối cảnh các vấn đề quản lý ngày càng phức tạp, liên ngành và gắn với công nghệ, đội ngũ cán bộ nghiên cứu không chỉ cần kiến thức pháp luật mà còn phải có khả năng phân tích dữ liệu, tư duy hệ thống và kỹ năng nghiên cứu hiện đại. Do đó, ngành Thanh tra cần chú trọng hơn nữa công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ nghiên cứu, đồng thời xây dựng cơ chế thu hút chuyên gia giỏi từ bên ngoài. Việc hình thành các nhóm nghiên cứu mạnh, các trung tâm nghiên cứu chuyên sâu cũng là hướng đi cần được xem xét nhằm nâng cao năng lực nghiên cứu của toàn ngành.</p>
<p style="text-align: justify;">Để bảo đảm hoạt động nghiên cứu khoa học đi đúng hướng, cần phát huy vai trò định hướng và tổ chức của cơ quan quản lý ngành trong việc xây dựng chiến lược nghiên cứu khoa học. Một trong những yêu cầu quan trọng là thiết lập cơ chế lựa chọn đề tài theo nhu cầu thực tiễn, tránh tình trạng dàn trải, thiếu trọng tâm. Các đề tài cần xuất phát từ yêu cầu cụ thể của công tác quản lý, thay vì từ nhu cầu nội tại của đơn vị nghiên cứu. Bên cạnh đó, cần xây dựng quy trình chuyển giao và ứng dụng kết quả nghiên cứu vào hoạt động nghiệp vụ. Đây là khâu còn yếu trong thời gian qua, dẫn đến việc nhiều kết quả nghiên cứu không được khai thác hiệu quả.</p>
<p style="text-align: justify;">Cần coi kết quả nghiên cứu là một nguồn lực quan trọng phục vụ công tác quản lý nhà nước. Do đó, phải có cơ chế rõ ràng để đưa các kết quả này vào thực tiễn, từ việc ban hành chính sách, hoàn thiện quy trình nghiệp vụ đến hỗ trợ ra quyết định.</p>
<p style="text-align: justify;">Ngoài ra, việc tăng cường phối hợp giữa các đơn vị trong và ngoài ngành, đặc biệt với các cơ sở đào tạo, viện nghiên cứu, cũng là yếu tố quan trọng nhằm nâng cao chất lượng nghiên cứu.</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>Kết luận</strong></p>
<p style="text-align: justify;">Trong bối cảnh sắp xếp tổ chức bộ máy và chuyển đổi mô hình hoạt động, ngành Thanh tra đang đứng trước yêu cầu đổi mới toàn diện nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên số. Để thực hiện thành công quá trình chuyển đổi này, nghiên cứu khoa học cần được xác định là nền tảng tri thức, động lực đổi mới và công cụ kiến tạo phát triển của ngành Thanh tra. Việc đổi mới tư duy nghiên cứu, thúc đẩy nghiên cứu ứng dụng, tăng cường chuyển đổi số, phát triển nghiên cứu liên ngành và gắn kết chặt chẽ giữa nghiên cứu với thực tiễn sẽ góp phần nâng cao chất lượng tham mưu, hoàn thiện thể chế và nâng cao hiệu quả hoạt động của ngành Thanh tra.</p>
<p style="text-align: justify;">Trong thời gian tới, nếu tận dụng tốt những cơ hội từ chuyển đổi số, đổi mới sáng tạo và cải cách thể chế, hoạt động nghiên cứu khoa học của ngành Thanh tra sẽ không chỉ phục vụ hiệu quả công tác chuyên môn mà còn góp phần xây dựng nền hành chính minh bạch, hiện đại, liêm chính, vì nhân dân phục vụ./.</p>
<p style="text-align: right;"><strong>GVCC Nguyễn Huy Hoàng</strong></p>
<p style="text-align: right;">Phó Hiệu trưởng, Trường Cán bộ Thanh tra</p>
<p><strong>TÀI LIỆU THAM KHẢO</strong></p>
<p>[1] Nghị quyết 18-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Khóa XII về “Một số vấn đề về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả.</p>
<p>[2] Ban Chấp hành Trung ương Đảng Khóa XIII. <em>Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phát khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số quốc gia</em>.</p>
<p>[3] Bộ Chính trị, Ban Bí thư (2025). <em>Kết luận số 134-KL/TW ngày 28/3/2025 về Đề án sắp xếp hệ thống cơ quan thanh tra tinh, gọn, mạnh, hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả</em>.</p>
<p>[4] Bài phát biểu của Đồng chí Tô Lâm, Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam tại Lễ kỷ niệm 80 năm ngày thành lập ngành thanh tra Việt Nam (23/11/1945-23/11/2025)</p>
<p>[5] Quốc hội (2025). <em>Luật Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo năm 2025</em>.</p>
<p>[6] Thanh tra Chính phủ. <em>Đề án “Đẩy mạnh chuyển đổi số trong hoạt động của Thanh tra Chính phủ và ngành thanh tra”</em>.</p>
<p>[7] Thanh tra Chính phủ. <em>Báo cáo tổng kết công tác thanh tra năm 2021, 2022, 2023, 2024 và năm 2025</em>.</p>
<p><a href="#_ftnref1" name="_ftn1">[1]</a> Bài phát biểu của Tổng Bí thư Tô Lâm tại Lễ kỷ niệm 80 năm ngày thành lập Ngành Thanh tra Việt Nam</p>
]]></content:encoded>
					
					<wfw:commentRss>https://thanhtra.edu.vn/dinh-huong-nghien-cuu-khoa-hoc-cua-nganh-thanh-tra-trong-boi-canh-sap-xep-to-chuc-bo-may-va-chuyen-doi-mo-hinh-hoat-dong/feed/</wfw:commentRss>
			<slash:comments>0</slash:comments>
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Nâng cao chất lượng công tác thu thập, kiểm tra, đánh giá chứng cứ: yếu tố then chốt bảo đảm tính khách quan trong hoạt động thanh tra</title>
		<link>https://thanhtra.edu.vn/nang-cao-chat-luong-cong-tac-thu-thap-kiem-tra-danh-gia-chung-cu-yeu-to-then-chot-bao-dam-tinh-khach-quan-trong-hoat-dong-thanh-tra/</link>
					<comments>https://thanhtra.edu.vn/nang-cao-chat-luong-cong-tac-thu-thap-kiem-tra-danh-gia-chung-cu-yeu-to-then-chot-bao-dam-tinh-khach-quan-trong-hoat-dong-thanh-tra/#respond</comments>
		
		<dc:creator><![CDATA[Hữu Thắng]]></dc:creator>
		<pubDate>Wed, 04 Feb 2026 08:36:35 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Diễn đàn trao đổi]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://thanhtra.edu.vn/?p=54173</guid>

					<description><![CDATA[Đặt vấn đề Trong hoạt động thanh tra, chứng cứ giữ vai trò trung tâm, quyết định trực tiếp đến tính khách quan, chính xác và thuyết phục của kết luận thanh tra. Mọi nhận định, kiến nghị xử lý&#8230; <a href="https://thanhtra.edu.vn/nang-cao-chat-luong-cong-tac-thu-thap-kiem-tra-danh-gia-chung-cu-yeu-to-then-chot-bao-dam-tinh-khach-quan-trong-hoat-dong-thanh-tra/">Đọc Thêm</a>]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<ol>
<li><strong> Đặt vấn đề</strong></li>
</ol>
<p style="text-align: justify;">Trong hoạt động thanh tra, chứng cứ giữ vai trò trung tâm, quyết định trực tiếp đến tính khách quan, chính xác và thuyết phục của kết luận thanh tra. Mọi nhận định, kiến nghị xử lý nếu không được xây dựng trên cơ sở chứng cứ đầy đủ, hợp pháp và được đánh giá đúng bản chất đều tiềm ẩn nguy cơ sai lệch, gây ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân cũng như uy tín của cơ quan thanh tra. Thực tiễn cho thấy, trong bối cảnh các hành vi vi phạm ngày càng tinh vi, có xu hướng che giấu bằng nhiều thủ đoạn hợp thức hóa hồ sơ, tài liệu, yêu cầu nâng cao chất lượng công tác thu thập, kiểm tra và đánh giá chứng cứ trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết. Đây không chỉ là vấn đề kỹ thuật nghiệp vụ, mà còn là thước đo năng lực, bản lĩnh và đạo đức nghề nghiệp của đội ngũ cán bộ làm công tác thanh tra.</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>2. Thực trạng công tác thu thập, kiểm tra, đánh giá chứng cứ trong hoạt động thanh tra</strong></p>
<p style="text-align: justify;">Thực tiễn hoạt động thanh tra trong thời gian qua cho thấy, công tác thu thập, kiểm tra và đánh giá chứng cứ đã có những chuyển biến tích cực, từng bước được thực hiện theo quy định của pháp luật và quy trình nghiệp vụ. Nhiều cuộc thanh tra đã chú trọng xây dựng hồ sơ chứng cứ tương đối đầy đủ, làm cơ sở cho việc ban hành kết luận và kiến nghị xử lý. Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, tại <strong>một số đoàn thanh tra và ở một vài địa phương</strong><strong>,</strong> công tác thu thập, kiểm tra và đánh giá chứng cứ vẫn còn bộc lộ những tồn tại, hạn chế nhất định.</p>
<p style="text-align: justify;">Trước hết, ở khâu thu thập chứng cứ, tại một số cuộc thanh tra vẫn còn tình trạng thu thập tài liệu mang tính dàn trải, chưa thật sự bám sát trọng tâm, trọng điểm nội dung cần làm rõ. Nguồn chứng cứ trong những trường hợp này chủ yếu dựa vào hồ sơ, tài liệu do đối tượng thanh tra cung cấp, trong khi việc chủ động khai thác thông tin từ các nguồn độc lập, bên thứ ba hoặc dữ liệu điện tử còn hạn chế. Nguyên nhân của tình trạng này xuất phát từ cả yếu tố chủ quan và khách quan, trong đó có việc tư duy nghiệp vụ của một bộ phận thanh tra viên chưa được đổi mới đầy đủ, còn tâm lý “an toàn”, ngại va chạm; đồng thời, điều kiện bảo đảm cho hoạt động xác minh, thu thập thông tin ngoài hồ sơ còn gặp khó khăn, nhất là đối với các lĩnh vực chuyên môn sâu, có tính kỹ thuật cao. Bên cạnh đó, ở một số cuộc thanh tra, việc thu thập chứng cứ chưa bảo đảm tính kịp thời, làm phát sinh nguy cơ tài liệu bị chỉnh sửa, bổ sung hoặc hợp thức hóa, dẫn đến giảm giá trị chứng minh của chứng cứ, nguyên nhân chủ yếu do công tác lập kế hoạch và tổ chức thực hiện thanh tra còn lúng túng, thiếu tính khoa học.</p>
<p style="text-align: justify;">Ở khâu kiểm tra chứng cứ, trong một số trường hợp, việc đối chiếu, xác minh còn mang tính hình thức, chưa đi sâu kiểm tra thực tế. Một số thanh tra viên còn nặng về việc tiếp nhận và tin tưởng báo cáo, giải trình bằng văn bản của đối tượng thanh tra, chưa chú trọng đúng mức đến kiểm tra hiện trường, tiếp xúc trực tiếp với người có liên quan hoặc trưng cầu giám định khi có dấu hiệu nghi vấn. Hạn chế này có nguyên nhân từ sự chưa đồng đều về năng lực chuyên môn, kỹ năng nghiệp vụ của đội ngũ cán bộ thanh tra, trong khi khối lượng công việc lớn, thời gian thanh tra có hạn, dễ dẫn đến tâm lý làm nhanh, làm gọn, thiếu chiều sâu xác minh. Ngoài ra, ở một số địa phương, sự phối hợp giữa các cơ quan, đơn vị có liên quan trong quá trình xác minh chứng cứ chưa thật sự chặt chẽ, làm ảnh hưởng đến hiệu quả kiểm tra, xác thực thông tin, tài liệu.</p>
<p style="text-align: justify;">Đối với công tác đánh giá chứng cứ, hạn chế ở một số cuộc thanh tra là việc xem xét chứng cứ còn mang tính đơn lẻ, thiếu sự liên kết tổng thể để làm rõ mối quan hệ nhân quả và bản chất của hành vi vi phạm. Trong một số trường hợp, việc đánh giá chứng cứ chưa thật sự khách quan, còn chịu ảnh hưởng nhất định của nhận định chủ quan hoặc định hướng có sẵn, dẫn đến kết luận thanh tra chưa đủ sức thuyết phục. Nguyên nhân chủ yếu là do kỹ năng phân tích, tổng hợp chứng cứ của một bộ phận thanh tra viên còn hạn chế, chưa được đào tạo bài bản về tư duy logic và phương pháp đánh giá chứng cứ theo chuỗi; đồng thời, áp lực về tiến độ, yêu cầu hoàn thành kết luận đúng thời hạn cũng tác động không nhỏ đến việc xem xét đánh giá chứng cứ một cách thận trọng, toàn diện.</p>
<p style="text-align: justify;">Những tồn tại, hạn chế nêu trên cho thấy, mặc dù đã có nhiều chuyển biến tích cực, công tác thu thập, kiểm tra và đánh giá chứng cứ trong hoạt động thanh tra ở một số nơi vẫn còn khoảng cách nhất định so với yêu cầu bảo đảm tính khách quan, minh bạch và hiệu lực của kết luận thanh tra trong tình hình mới. Việc nhận diện đúng thực trạng và nguyên nhân của những hạn chế này là cơ sở quan trọng để đề xuất các giải pháp phù hợp, khả thi, góp phần nâng cao chất lượng và uy tín của hoạt động thanh tra trong thời gian tới.</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>3. Giải pháp nâng cao chất lượng công tác thu thập, kiểm tra, đánh giá chứng cứ trong hoạt động thanh tra</strong></p>
<p style="text-align: justify;">Xuất phát từ những hạn chế và nguyên nhân đã phân tích ở trên, việc nâng cao chất lượng công tác thu thập, kiểm tra và đánh giá chứng cứ trong hoạt động thanh tra cần được thực hiện đồng bộ, có trọng tâm, trọng điểm, gắn chặt với đổi mới tư duy nghiệp vụ, nâng cao năng lực đội ngũ và hoàn thiện điều kiện bảo đảm thực hiện.</p>
<p style="text-align: justify;">Trước hết, để khắc phục tình trạng thu thập chứng cứ dàn trải, phụ thuộc chủ yếu vào hồ sơ do đối tượng thanh tra cung cấp, cần đổi mới tư duy và phương pháp thu thập chứng cứ theo hướng chủ động, có chọn lọc. Ngay từ khâu xây dựng kế hoạch thanh tra, phải xác định rõ mục tiêu, trọng tâm nội dung cần làm rõ, trên cơ sở đó định hướng cụ thể loại chứng cứ cần thu thập và nguồn thu thập phù hợp. Việc đa dạng hóa nguồn chứng cứ cần được coi là yêu cầu bắt buộc, trong đó chú trọng khai thác thông tin từ các cơ quan quản lý nhà nước có liên quan, bên thứ ba, dữ liệu điện tử, cơ sở dữ liệu chuyên ngành và phản ánh của quần chúng nhân dân. Đồng thời, cần tăng cường kỷ luật, kỷ cương trong việc thu thập chứng cứ kịp thời, hạn chế tối đa tình trạng chậm trễ làm phát sinh nguy cơ chỉnh sửa, hợp thức hóa hồ sơ từ phía đối tượng thanh tra.</p>
<p style="text-align: justify;">Thứ hai, nhằm khắc phục những hạn chế trong công tác kiểm tra, xác minh chứng cứ do năng lực nghiệp vụ chưa đồng đều và áp lực về thời gian, cần tăng cường các biện pháp kiểm tra chéo và xác minh thực tế một cách thực chất. Việc đối chiếu giữa hồ sơ, tài liệu với thực tế tại hiện trường, giữa số liệu báo cáo với kết quả kiểm tra độc lập phải trở thành quy trình bắt buộc trong hoạt động thanh tra. Đối với những lĩnh vực chuyên môn sâu, có dấu hiệu vi phạm phức tạp, cần chủ động phối hợp với các cơ quan chuyên môn, tổ chức giám định để bảo đảm tính xác thực của chứng cứ. Cùng với đó, cần bố trí thời gian thanh tra hợp lý, tránh tình trạng dồn ép tiến độ làm ảnh hưởng đến chất lượng kiểm tra, xác minh.</p>
<p style="text-align: justify;">Thứ ba, để nâng cao chất lượng đánh giá chứng cứ và khắc phục tình trạng xem xét chứng cứ rời rạc, thiếu tính hệ thống, cần chú trọng bồi dưỡng kỹ năng phân tích, tổng hợp và đánh giá chứng cứ cho đội ngũ thanh tra viên. Việc đánh giá chứng cứ phải được thực hiện trên cơ sở xem xét mối quan hệ logic giữa các chứng cứ, làm rõ chuỗi hành vi vi phạm, nguyên nhân và mức độ trách nhiệm của từng tổ chức, cá nhân có liên quan. Đồng thời, cần quán triệt và thực hiện nghiêm nguyên tắc khách quan, công tâm, suy đoán vô tội trong đánh giá chứng cứ, hạn chế tối đa tác động của định kiến chủ quan hoặc áp lực hành chính đối với kết luận thanh tra.</p>
<p style="text-align: justify;">Thứ tư, xuất phát từ nguyên nhân về hạn chế trong điều kiện bảo đảm và phương tiện nghiệp vụ, cần đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, từng bước số hóa hoạt động thanh tra. Việc xây dựng và khai thác hiệu quả các cơ sở dữ liệu dùng chung, hệ thống quản lý hồ sơ thanh tra điện tử sẽ giúp nâng cao khả năng thu thập, lưu trữ, đối chiếu và phân tích chứng cứ, đặc biệt là chứng cứ điện tử. Đây là giải pháp quan trọng nhằm đáp ứng yêu cầu thanh tra trong bối cảnh chuyển đổi số hiện nay.</p>
<p style="text-align: justify;">Cuối cùng, để khắc phục các nguyên nhân mang tính chủ quan, liên quan đến bản lĩnh và đạo đức nghề nghiệp của một bộ phận cán bộ thanh tra, cần đặc biệt coi trọng công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, rèn luyện đạo đức công vụ. Mỗi cán bộ, thanh tra viên phải nhận thức sâu sắc rằng chứng cứ chỉ thực sự có giá trị khi được thu thập, kiểm tra và đánh giá bởi những người có tâm trong sáng, bản lĩnh vững vàng, dám chịu trách nhiệm và kiên quyết đấu tranh với mọi hành vi làm sai lệch hồ sơ, chứng cứ vì động cơ cá nhân. Đây là yếu tố nền tảng, quyết định sự thành công của mọi giải pháp nghiệp vụ.</p>
<p style="text-align: justify;">Có thể khẳng định rằng, trong toàn bộ quy trình thanh tra, công tác thu thập, kiểm tra và đánh giá chứng cứ giữ vai trò then chốt, quyết định trực tiếp đến tính khách quan, chính xác và tính thuyết phục của kết luận thanh tra. Chứng cứ không chỉ là cơ sở pháp lý cho việc xử lý vi phạm mà còn là “thước đo” phản ánh năng lực, bản lĩnh và đạo đức nghề nghiệp của đội ngũ cán bộ làm công tác thanh tra.</p>
<p style="text-align: justify;">Thực tiễn cho thấy, những hạn chế trong công tác thu thập, kiểm tra và đánh giá chứng cứ, dù xuất phát từ nguyên nhân chủ quan hay khách quan, đều có thể dẫn đến hệ quả là kết luận thanh tra chưa đủ sức thuyết phục, thậm chí phát sinh khiếu nại, tố cáo kéo dài, ảnh hưởng đến uy tín của cơ quan thanh tra và hiệu lực quản lý nhà nước. Vì vậy, việc nhận diện đúng thực trạng, làm rõ nguyên nhân và đề xuất các giải pháp phù hợp, khả thi là yêu cầu cấp thiết trong bối cảnh triển khai Luật Thanh tra hiện hành và đẩy mạnh cải cách, chuyển đổi số trong hoạt động thanh tra.</p>
<p style="text-align: justify;">Nâng cao chất lượng công tác thu thập, kiểm tra và đánh giá chứng cứ không phải là nhiệm vụ nhất thời mà là quá trình lâu dài, đòi hỏi sự đổi mới đồng bộ từ tư duy nghiệp vụ, hoàn thiện cơ chế, tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin đến xây dựng đội ngũ thanh tra viên có trình độ chuyên môn vững vàng, bản lĩnh chính trị kiên định và đạo đức công vụ trong sáng. Chỉ khi hệ thống chứng cứ được xây dựng một cách đầy đủ, khách quan và khoa học, hoạt động thanh tra mới thực sự phát huy vai trò là công cụ sắc bén, hiệu lực, hiệu quả trong quản lý nhà nước, góp phần giữ vững kỷ cương pháp luật và củng cố niềm tin của xã hội.</p>
<p>&nbsp;</p>
<p style="text-align: right;"><strong>Lê Văn Chưởng</strong></p>
<p style="text-align: right;"><strong>Khoa Nghiệp vụ 1</strong></p>
]]></content:encoded>
					
					<wfw:commentRss>https://thanhtra.edu.vn/nang-cao-chat-luong-cong-tac-thu-thap-kiem-tra-danh-gia-chung-cu-yeu-to-then-chot-bao-dam-tinh-khach-quan-trong-hoat-dong-thanh-tra/feed/</wfw:commentRss>
			<slash:comments>0</slash:comments>
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Đề tài: &#8220;Xây dựng khung chương trình bồi dưỡng kỹ năng tham mưu giải quyết khiếu nại và tham gia tố tụng hành chính&#8221;</title>
		<link>https://thanhtra.edu.vn/tom-tat-de-tai-xay-dung-khung-chuong-trinh-boi-duong-ky-nang-tham-muu-giai-quyet-khieu-nai-va-tham-gia-to-tung-hanh-chinh/</link>
					<comments>https://thanhtra.edu.vn/tom-tat-de-tai-xay-dung-khung-chuong-trinh-boi-duong-ky-nang-tham-muu-giai-quyet-khieu-nai-va-tham-gia-to-tung-hanh-chinh/#respond</comments>
		
		<dc:creator><![CDATA[Hữu Thắng]]></dc:creator>
		<pubDate>Wed, 24 Dec 2025 08:05:45 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Đề tài Khoa học cấp Trường]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://thanhtra.edu.vn/?p=53462</guid>

					<description><![CDATA[Tên đề tài: Xây dựng khung chương trình bồi dưỡng kỹ năng tham mưu giải quyết khiếu nại và tham gia tố tụng hành chính Loại đề tài: Đề tài cấp trường Chủ nhiệm đề tài : Phạm Thị Hường;   &#8230; <a href="https://thanhtra.edu.vn/tom-tat-de-tai-xay-dung-khung-chuong-trinh-boi-duong-ky-nang-tham-muu-giai-quyet-khieu-nai-va-tham-gia-to-tung-hanh-chinh/">Đọc Thêm</a>]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<p>Tên đề tài: Xây dựng khung chương trình bồi dưỡng kỹ năng tham mưu giải quyết khiếu nại và tham gia tố tụng hành chính</p>
<p>Loại đề tài: Đề tài cấp trường</p>
<p>Chủ nhiệm đề tài : Phạm Thị Hường;    Tel: 0965914582;</p>
<p>E-mail: huongta82@gmail.com</p>
<p>Thời gian thực hiện: 9 tháng</p>
<p>Cơ quan chủ trì đề tài: Trường cán bộ Thanh tra</p>
<p>Cơ quan và cá nhân phối hợp thực hiện: Giảng viên, viên chức nhà trường, học viên các lớp Thanh tra viên, Thanh tra viên chính tại Trường Cán bộ Thanh tra.</p>
<ol>
<li>Mục tiêu: Đề xuất khung chương trình bồi dưỡng kỹ năng tham mưu giải quyết khiếu nại và tham gia tố tụng hành chính</li>
</ol>
<p>Gồm 3 chuyên đề; 01 buổi thảo luận, giải đáp thắc mắc, tương ứng với 24 tiết thực giảng, cụ thể như sau:</p>
<table width="0">
<tbody>
<tr>
<td width="66"><strong>TT</strong></td>
<td width="437"><strong>Chuyên đề</strong></td>
<td width="113"><strong>Thời lượng</strong></td>
</tr>
<tr>
<td width="66">1</td>
<td width="437">Chuyên đề 1. Khái quát về khiếu nại hành chính và vụ kiện hành chính</td>
<td width="113">4</td>
</tr>
<tr>
<td width="66">2</td>
<td width="437">Chuyên đề 2.  Kỹ năng tham mưu giải quyết vụ việc khiếu nại</td>
<td width="113">8</td>
</tr>
<tr>
<td width="66">3</td>
<td width="437">Chuyên đề 3. Kỹ năng tham mưu cho người bị kiện khi</p>
<p>tham gia tố tụng hành chính</td>
<td width="113">8</td>
</tr>
<tr>
<td width="66">4</td>
<td width="437">Trao đổi, thảo luận, giải đáp vướng mắc</td>
<td width="113">4</td>
</tr>
<tr>
<td width="66"><strong>Tổng</strong></td>
<td width="437"><strong>3 chuyên đề và trao đổi vướng mắc</strong></td>
<td width="113"><strong> 24 tiết</strong></td>
</tr>
</tbody>
</table>
<ol start="2">
<li>Lĩnh vực ứng dụng kết quả đề tài: Đề tài được áp dụng trong lĩnh vực: đào tạo, giảng dạy; nghiên cứu khoa học;</li>
<li>Kết quả chính đạt được (khoa học, ứng dụng, đào tạo, kinh tế &#8211; xã hội)</li>
</ol>
<p>&#8211; Kết quả nghiên cứu là cơ sở để Nhà trường mở các lớp ngắn hạn về kỹ năng tham mưu giải quyết khiếu nại và tham gia tố tụng hành chính</p>
<p>&#8211; Đề tài cũng là nguồn tài liệu tham khảo đối với giảng viên nhà trường trong việc xây dựng bài giảng đối với các lớp Thanh tra viên, Thanh tra viên chính tại Trường Cán bộ thanh tra. Ngoài ra còn là nguồn trích dẫn nghiên cứu khoa học</p>
<p>&#8211; Thông qua việc tham gia đề tài cá nhân giảng viên, viên chức nhằm nâng cao khả năng nghiên cứu khoa học, tự nghiên cứu học tập để nâng cao chất lượng bài giảng đáp ứng yêu cầu đổi mới phương pháp giảng dạy trong giai đoạn hiện nay.</p>
<p style="text-align: right;">                                                                                                                                                                                                                                                          <strong>Chủ nhiệm đề tài</strong></p>
<p style="text-align: right;"><strong> </strong></p>
<p style="text-align: right;"><strong> </strong></p>
<p style="text-align: right;"><strong>                                                                       Phạm Thị Hường</strong></p>
]]></content:encoded>
					
					<wfw:commentRss>https://thanhtra.edu.vn/tom-tat-de-tai-xay-dung-khung-chuong-trinh-boi-duong-ky-nang-tham-muu-giai-quyet-khieu-nai-va-tham-gia-to-tung-hanh-chinh/feed/</wfw:commentRss>
			<slash:comments>0</slash:comments>
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Đề tài: &#8220;Hoạt động thông tin và truyền thông của Trường Cán bộ Thanh tra &#8211; Thực trạng và giải pháp”</title>
		<link>https://thanhtra.edu.vn/tom-tat-de-tai-hoat-dong-thong-tin-va-truyen-thong-cua-truong-can-bo-thanh-tra-thuc-trang-va-giai-phap/</link>
					<comments>https://thanhtra.edu.vn/tom-tat-de-tai-hoat-dong-thong-tin-va-truyen-thong-cua-truong-can-bo-thanh-tra-thuc-trang-va-giai-phap/#respond</comments>
		
		<dc:creator><![CDATA[Hữu Thắng]]></dc:creator>
		<pubDate>Wed, 24 Dec 2025 08:02:41 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Đề tài Khoa học cấp Trường]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://thanhtra.edu.vn/?p=53460</guid>

					<description><![CDATA[Tên đề tài: “Hoạt động thông tin và truyền thông của Trường Cán bộ Thanh tra &#8211; Thực trạng và giải pháp” Loại đề tài: Đề tài khoa học cấp Trường Chủ nhiệm đề tài: ThS. Nguyễn Thị Thùy Trang&#8230; <a href="https://thanhtra.edu.vn/tom-tat-de-tai-hoat-dong-thong-tin-va-truyen-thong-cua-truong-can-bo-thanh-tra-thuc-trang-va-giai-phap/">Đọc Thêm</a>]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<p>Tên đề tài: “Hoạt động thông tin và truyền thông của Trường Cán bộ Thanh tra &#8211; Thực trạng và giải pháp”</p>
<p style="text-align: justify;">Loại đề tài: Đề tài khoa học cấp Trường</p>
<p style="text-align: justify;">Chủ nhiệm đề tài: ThS. Nguyễn Thị Thùy Trang</p>
<p style="text-align: justify;">Tel: 0976 177 133            E-mail: thuytrangtcbtt@gmail.com</p>
<p style="text-align: justify;">Cơ quan chủ trì đề tài: Trường Cán bộ Thanh tra</p>
<p style="text-align: justify;">Cơ quan và cá nhân phối hợp thực hiện:</p>
<p style="text-align: justify;">Thời gian thực hiện: tháng 4/2025 &#8211; tháng 11/2025</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>1. Mục tiêu:</strong></p>
<p style="text-align: justify;">Đánh giá thực trạng hoạt động thông tin và truyền thông của Trường Cán bộ Thanh tra, từ đó chỉ ra các tồn tại, hạn chế và đề ra hướng khắc phục, đổi mới hoạt động thông tin và truyền thông, góp phần phục vụ hiệu quả cho hoạt động đào tạo, bồi dưỡng của Nhà trường.</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>2. Nội dung chính:</strong></p>
<p style="text-align: justify;">Đề tài tập trung vào 03 nội dung chính:</p>
<p style="text-align: justify;">&#8211; Những vấn đề chung về hoạt động thông tin và truyền thông của Trường Cán bộ Thanh tra.</p>
<p style="text-align: justify;">&#8211; Thực trạng hoạt động thông tin và truyền thông của Trường Cán bộ Thanh tra.</p>
<p style="text-align: justify;">&#8211; Định hướng và giải pháp tăng cường hoạt động thông tin và truyền thông của Trường Cán bộ thanh tra.</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>3. Kết quả chính đạt được (khoa học, ứng dụng, đào tạo, kinh tế &#8211; xã hội, v.v&#8230;)</strong></p>
<p style="text-align: justify;">Nghiên cứu đã hệ thống hóa một cách đầy đủ cơ sở lý luận về hoạt động thông tin và truyền thông trong lĩnh vực công, qua đó làm rõ khái niệm, chức năng, vai trò và các yếu tố bảo đảm trong bối cảnh đặc thù của một cơ sở đào tạo công vụ như Trường Cán bộ Thanh tra. Trên nền tảng đó, khung pháp lý liên quan đến hoạt động truyền thông cũng được phân tích toàn diện, giúp định vị rõ vai trò thiết yếu của truyền thông trong quản trị công hiện đại.</p>
<p style="text-align: justify;">Ở phương diện thực tiễn, nghiên cứu đã khảo sát sâu ba mảng trọng tâm: truyền thông về hoạt động của Trường và ngành Thanh tra, truyền thông cho công tác đào tạo bồi dưỡng, và truyền thông chính sách &#8211; pháp luật gắn với giải đáp nghiệp vụ. Kết quả đánh giá cho thấy Nhà trường đã bước đầu hình thành hệ thống kênh truyền thông đa dạng và xây dựng hình ảnh chuyên nghiệp, nhưng vẫn tồn tại những hạn chế mang tính hệ thống về nội dung, nhân lực, công nghệ và chiến lược. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất chuyển đổi tư duy từ “truyền thông hành chính &#8211; sự vụ” sang “truyền thông chiến lược &#8211; kiến tạo tri thức” nhằm nâng cao hiệu quả và vị thế truyền thông của Nhà trường.</p>
<p style="text-align: justify;">Bốn nhóm giải pháp đồng bộ được khuyến nghị, gồm đổi mới nội dung &#8211; hình thức truyền thông; hiện đại hóa truyền thông phục vụ đào tạo; phát triển chuyên sâu kênh nghiệp vụ; và kiện toàn nguồn lực. Các giải pháp này không chỉ hướng đến cải thiện kỹ thuật truyền thông mà còn thúc đẩy sự thay đổi trong mô hình quản trị và cơ chế phối hợp nội bộ. Đặc biệt, việc phát triển kênh truyền thông nghiệp vụ được đánh giá là đột phá khi có khả năng lan tỏa tri thức và tăng tính tương tác với học viên cũng như công chúng.</p>
<p style="text-align: justify;">Cuối cùng, các kết quả nghiên cứu có tính ứng dụng cao và có thể được sử dụng như tài liệu tham khảo cho quá trình hoạch định chiến lược, xây dựng quy chế và triển khai hoạt động truyền thông tại Trường Cán bộ Thanh tra cũng như các cơ sở đào tạo công vụ khác./.</p>
<p>&nbsp;</p>
<p style="text-align: right;"><strong>                                                                         CHỦ NHIỆM ĐỀ TÀI</strong></p>
<p style="text-align: right;"><strong> </strong></p>
<p style="text-align: right;"><strong> </strong></p>
<p style="text-align: right;"><strong> </strong></p>
<p style="text-align: right;"><strong>                                                                        Nguyễn Thị Thùy Trang</strong></p>
]]></content:encoded>
					
					<wfw:commentRss>https://thanhtra.edu.vn/tom-tat-de-tai-hoat-dong-thong-tin-va-truyen-thong-cua-truong-can-bo-thanh-tra-thuc-trang-va-giai-phap/feed/</wfw:commentRss>
			<slash:comments>0</slash:comments>
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Tăng cường hoạt động thông tin và truyền thông tại Trường Cán bộ thanh tra: Nhìn từ thực trạng và yêu cầu đổi mới</title>
		<link>https://thanhtra.edu.vn/tang-cuong-hoat-dong-thong-tin-va-truyen-thong-tai-truong-can-bo-thanh-tra-nhin-tu-thuc-trang-va-yeu-cau-doi-moi/</link>
					<comments>https://thanhtra.edu.vn/tang-cuong-hoat-dong-thong-tin-va-truyen-thong-tai-truong-can-bo-thanh-tra-nhin-tu-thuc-trang-va-yeu-cau-doi-moi/#respond</comments>
		
		<dc:creator><![CDATA[Hữu Thắng]]></dc:creator>
		<pubDate>Thu, 18 Dec 2025 06:54:29 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Diễn đàn trao đổi]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://thanhtra.edu.vn/?p=53363</guid>

					<description><![CDATA[Trong bối cảnh chuyển đổi số mạnh mẽ và yêu cầu ngày càng cao đối với công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức ngành Thanh tra, hoạt động thông tin và truyền thông tại Trường Cán bộ&#8230; <a href="https://thanhtra.edu.vn/tang-cuong-hoat-dong-thong-tin-va-truyen-thong-tai-truong-can-bo-thanh-tra-nhin-tu-thuc-trang-va-yeu-cau-doi-moi/">Đọc Thêm</a>]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: justify;">Trong bối cảnh chuyển đổi số mạnh mẽ và yêu cầu ngày càng cao đối với công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức ngành Thanh tra, hoạt động thông tin và truyền thông tại Trường Cán bộ Thanh tra đang trở thành một bộ phận thiết yếu trong quản trị nhà trường hiện đại. Một nghiên cứu chuyên sâu mới đây đã cho thấy hoạt động truyền thông của Nhà trường không chỉ dừng lại ở việc cung cấp thông tin về đào tạo hay các sự kiện chuyên môn, mà còn là quá trình kiến tạo tri thức, lan tỏa giá trị, nâng cao nhận thức và góp phần định hình hình ảnh của Nhà trường trong hệ thống cơ sở đào tạo công vụ.</p>
<p style="text-align: justify;">Nghiên cứu đã hệ thống hóa đầy đủ cơ sở lý luận liên quan đến hoạt động thông tin và truyền thông trong lĩnh vực công, làm rõ khái niệm, đặc điểm, chức năng, vai trò cũng như các yếu tố bảo đảm hiệu quả truyền thông trong môi trường đặc thù của một cơ sở đào tạo công lập. Trên phương diện pháp lý, các quy định về chuyển đổi số, truyền thông chính sách, cung cấp thông tin cho báo chí và công chúng được phân tích toàn diện, qua đó khẳng định rằng truyền thông ngày nay không chỉ đơn thuần là nhiệm vụ hành chính &#8211; sự vụ mà là yếu tố quan trọng trong nâng cao hiệu lực quản trị tổ chức.</p>
<p style="text-align: justify;">Từ cơ sở lý luận đó, nghiên cứu tập trung khảo sát thực trạng hoạt động truyền thông của Trường Cán bộ Thanh tra trên ba phương diện: truyền thông về hoạt động của Nhà trường và ngành Thanh tra; truyền thông phục vụ nhiệm vụ đào tạo, bồi dưỡng; và truyền thông chính sách &#8211; pháp luật gắn với giải đáp nghiệp vụ. Kết quả khảo sát cho thấy Nhà trường đã từng bước hình thành hệ thống kênh truyền thông đa dạng, từ trang Thông tin điện tử, bản tin nội bộ, ấn phẩm đào tạo cho đến phối hợp truyền thông với các cơ quan báo chí. Đáng chú ý, Trường đã tiến hành đăng ký cấp mới trang Thông tin điện tử tổng hợp nhằm bảo đảm hoạt động theo đúng quy định, nâng cấp giao diện, cấu trúc và thuật toán quản trị, đồng thời mở rộng hợp tác với nhiều cơ quan báo chí, tạp chí điện tử uy tín như Tạp chí Điện tử Luật sư Việt Nam, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, Tạp chí Đại biểu Nhân dân… nhằm tạo nguồn thông tin phong phú, chính thống và lan tỏa rộng rãi hơn.</p>
<p style="text-align: justify;">Song song với đó, công tác thư viện số được chú trọng với việc đồng bộ hóa và tích hợp nguồn học liệu của Viện Chiến lược và Khoa học Thanh tra vào hệ thống thư viện điện tử của Nhà trường, xây dựng kho dữ liệu thống nhất, giúp học viên và giảng viên có điều kiện thuận lợi hơn trong nghiên cứu và giảng dạy. Sau khi thực hiện sáp nhập và kiện toàn một số đơn vị chuyên môn, Trường cũng đã kịp thời cập nhật cơ cấu tổ chức, chức năng và nhiệm vụ của từng đơn vị trên trang thông tin điện tử tổng hợp, bảo đảm minh bạch, đầy đủ và đúng quy định, phục vụ hiệu quả cho công tác quản trị và cung cấp thông tin đến công chúng.</p>
<p style="text-align: justify;">Bên cạnh những kết quả đạt được, nghiên cứu cũng chỉ ra những hạn chế mang tính hệ thống như nội dung truyền thông chưa phong phú và chuyên sâu, chưa chú trọng vào phân tích nghiệp vụ; nhân sự phụ trách truyền thông còn mỏng và chủ yếu kiêm nhiệm; công nghệ phục vụ truyền thông chậm được đổi mới; và đặc biệt là chưa hình thành chiến lược truyền thông dài hạn gắn với sứ mệnh, tầm nhìn và nhiệm vụ đào tạo, bồi dưỡng của Trường. Nhận diện những tồn tại này cũng đồng nghĩa với việc xác định rõ các yêu cầu cần thay đổi trong giai đoạn tới.</p>
<p style="text-align: justify;">Từ thực trạng đó, nghiên cứu đề xuất chuyển từ mô hình “truyền thông hành chính &#8211; sự vụ” sang “truyền thông chiến lược &#8211; kiến tạo tri thức”. Truyền thông phải hướng tới việc tạo ra giá trị tri thức, phân tích sâu các vấn đề về nghiệp vụ thanh tra, tiếp công dân, giải quyết khiếu nại &#8211; tố cáo và phòng, chống tham nhũng, tiêu cực; phải lan tỏa kinh nghiệm, mô hình hay, bài học thực tiễn; đồng thời góp phần định hướng nhận thức cho học viên và công chức ngành Thanh tra. Đặc biệt, việc xây dựng và phát triển một kênh truyền thông nghiệp vụ chuyên sâu được xem là giải pháp đột phá, giúp Nhà trường tạo dấu ấn riêng và nâng cao tầm ảnh hưởng trong hệ thống đào tạo công vụ.</p>
<p style="text-align: justify;">Trên nền đó, bốn nhóm giải pháp được đề xuất nhằm tăng cường hiệu quả công tác thông tin, truyền thông của Trường Cán bộ Thanh tra, bao gồm đổi mới nội dung và hình thức thông tin; hiện đại hóa truyền thông phục vụ đào tạo, bồi dưỡng; phát triển chuyên sâu kênh truyền thông nghiệp vụ; và kiện toàn nhân lực, cơ chế phối hợp nội bộ. Các giải pháp không chỉ chú trọng tới kỹ thuật truyền thông mà còn đề cập đến đổi mới mô hình quản trị, cải thiện cơ chế phối hợp giữa các đơn vị, khuyến khích ứng dụng công nghệ số và tăng cường trách nhiệm của từng khoa, phòng trong việc cung cấp thông tin.</p>
<p style="text-align: justify;">Nhìn chung, nghiên cứu đã đóng góp nhiều giá trị về mặt khoa học lẫn thực tiễn. Kết quả nghiên cứu có thể được sử dụng như tài liệu tham khảo quan trọng cho việc hoạch định chiến lược thông tin &#8211; truyền thông, xây dựng quy chế, tổ chức bộ máy và triển khai hoạt động thông tin, truyền thông của Nhà trường thời gian tới. Điều này có ý nghĩa đặc biệt khi ngành Thanh tra đang đẩy mạnh cải cách, hiện đại hóa, tăng cường minh bạch và liêm chính, trong đó truyền thông đóng vai trò không thể thiếu trong việc lan tỏa tri thức, củng cố niềm tin của công chúng và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực ngành./.</p>
<p style="text-align: right;"><strong>ThS. Nguyễn Thị Thùy Trang</strong></p>
<p style="text-align: right;"><strong>Phó Giám đốc Điều hành, Trung tâm TT-TL&amp;DV</strong></p>
]]></content:encoded>
					
					<wfw:commentRss>https://thanhtra.edu.vn/tang-cuong-hoat-dong-thong-tin-va-truyen-thong-tai-truong-can-bo-thanh-tra-nhin-tu-thuc-trang-va-yeu-cau-doi-moi/feed/</wfw:commentRss>
			<slash:comments>0</slash:comments>
		
		
			</item>
	</channel>
</rss>
