Tóm tắt: Ngày 15/5/2026, Chính phủ ban hành Nghị định số 164/2026/NĐ-CP về kiểm soát tài sản, thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn trong cơ quan, tổ chức, đơn vị, thay thế Nghị định số 130/2020/NĐ-CP, có hiệu lực từ ngày 01/7/2026. Một trong những nội dung đổi mới quan trọng của Nghị định là chuyển phương thức xác định đối tượng kê khai tài sản, thu nhập hằng năm từ cách tiếp cận “danh mục rộng” sang cách tiếp cận “trọng tâm, trọng điểm”, phù hợp với quan điểm chỉ đạo của Nghị quyết số 04-NQ/TW ngày 01/4/2026 của Hội nghị lần thứ hai Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV. Bài viết phân tích cơ sở chính trị, pháp lý và những điểm mới của quy định về đối tượng kê khai hằng năm; đánh giá ưu điểm, những vấn đề đặt ra và đề xuất một số kiến nghị nhằm tổ chức thực hiện hiệu quả quy định này trong thực tiễn.
Từ khóa: Kê khai tài sản, thu nhập; kiểm soát tài sản, thu nhập; Nghị định số 164/2026/NĐ-CP; Nghị quyết số 04-NQ/TW; phòng, chống tham nhũng.
I. Đặt vấn đề
Kiểm soát tài sản, thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn là một trong những biện pháp phòng ngừa tham nhũng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, được nhiều quốc gia áp dụng nhằm tăng cường tính minh bạch trong hoạt động công vụ, góp phần phát hiện tài sản có nguồn gốc bất minh, phục vụ công tác quản lý cán bộ và phòng ngừa, phát hiện tham nhũng. Ở Việt Nam, sau hơn 05 năm triển khai Nghị định số 130/2020/NĐ-CP ngày 30/10/2020 của Chính phủ, công tác kê khai và kiểm soát tài sản, thu nhập đã đạt được nhiều kết quả tích cực. Tuy nhiên, thực tiễn cũng cho thấy việc xác định đối tượng có nghĩa vụ kê khai tài sản, thu nhập hằng năm còn bộc lộ nhiều hạn chế: phạm vi đối tượng kê khai được quy định khá rộng, danh mục vị trí phải kê khai mang tính liệt kê, số lượng người kê khai rất lớn trong khi nguồn lực của các cơ quan kiểm soát tài sản, thu nhập còn hạn chế. Điều này dẫn đến tình trạng khối lượng hồ sơ kê khai ngày càng tăng nhưng khả năng theo dõi, phân tích, xác minh và khai thác thông tin chưa tương xứng, ảnh hưởng đến hiệu quả thực chất của hoạt động kiểm soát tài sản, thu nhập.
Trong bối cảnh đó, Hội nghị lần thứ hai Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV đã ban hành Nghị quyết số 04-NQ/TW ngày 01/4/2026 về tiếp tục tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực trong giai đoạn mới. Nghị quyết xác định quan điểm chỉ đạo: đẩy mạnh phòng ngừa, phòng ngừa từ gốc là căn bản, kiểm soát quyền lực là cốt lõi, ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là trọng tâm; kết hợp chặt chẽ phòng ngừa với phát hiện, xử lý kịp thời, đồng bộ, nghiêm minh, có trọng tâm, trọng điểm; đồng thời yêu cầu tăng cường quản lý, giám sát cán bộ gắn với kiểm soát chặt chẽ, thực chất, hiệu quả tài sản, thu nhập của cán bộ.
Cụ thể hóa chủ trương của Đảng và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Phòng, chống tham nhũng số 132/2025/QH15, ngày 15/5/2026, Chính phủ ban hành Nghị định số 164/2026/NĐ-CP về kiểm soát tài sản, thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn trong cơ quan, tổ chức, đơn vị, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026, thay thế Nghị định số 130/2020/NĐ-CP. Nghị định đã có sự thay đổi đáng kể trong cách xác định đối tượng có nghĩa vụ kê khai tài sản, thu nhập hằng năm: thay vì tiếp cận theo hướng mở rộng đối tượng và quy định danh mục cứng như trước đây, Nghị định chuyển sang xác định đối tượng theo hướng trọng tâm, trọng điểm, tập trung vào các vị trí có nguy cơ tham nhũng cao, đồng thời tăng cường phân cấp cho các bộ, ngành và địa phương trong việc xác định danh mục người có nghĩa vụ kê khai hằng năm.
Từ những vấn đề trên, bài viết tập trung phân tích cơ sở chính trị, pháp lý của việc thay đổi phương thức xác định đối tượng kê khai tài sản, thu nhập hằng năm; làm rõ những điểm mới của Nghị định số 164/2026/NĐ-CP so với Nghị định số 130/2020/NĐ-CP; đồng thời đánh giá những ưu điểm, vấn đề đặt ra và đề xuất một số kiến nghị nhằm tiếp tục hoàn thiện pháp luật về kiểm soát tài sản, thu nhập theo hướng nâng cao hiệu quả, phù hợp với yêu cầu quản trị quốc gia liêm chính, minh bạch, hiện đại mà Nghị quyết số 04-NQ/TW đã đề ra.
II. Những điểm mới của Nghị định số 164/2026/NĐ-CP về đối tượng kê khai tài sản, thu nhập hằng năm
- Cơ sở chính trị, pháp lý của việc đổi mới phương thức xác định đối tượng kê khai hằng năm
Về cơ sở chính trị, Nghị quyết số 04-NQ/TW đặt mục tiêu kiên quyết, kiên trì phòng ngừa, kiểm soát, ngăn chặn, đẩy lùi tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, hướng tới xây dựng quản trị quốc gia liêm chính, minh bạch, hiện đại. Về nhiệm vụ, giải pháp, Nghị quyết yêu cầu sửa đổi Luật Phòng, chống tham nhũng và pháp luật có liên quan nhằm tăng cường công khai, minh bạch, trách nhiệm giải trình, kiểm soát tài sản, thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn; nghiên cứu xây dựng Luật về đăng ký tài sản; xây dựng, hoàn thiện Cơ sở dữ liệu quốc gia về kiểm soát tài sản, thu nhập; đẩy mạnh thanh toán không dùng tiền mặt và có cơ chế, lộ trình minh bạch tài sản trong toàn xã hội. Quan điểm “có trọng tâm, trọng điểm” được Nghị quyết xác định xuyên suốt cả trong phòng ngừa lẫn phát hiện, xử lý, đòi hỏi các biện pháp phòng ngừa tham nhũng – trong đó có kê khai, kiểm soát tài sản, thu nhập – phải tập trung vào các lĩnh vực then chốt, trọng yếu, các vị trí tiềm ẩn nguy cơ cao xảy ra tham nhũng, lãng phí, tiêu cực.
Về cơ sở pháp lý, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Phòng, chống tham nhũng số 132/2025/QH15 và Nghị định số 164/2026/NĐ-CP cùng có hiệu lực từ ngày 01/7/2026 đã tạo nên khuôn khổ pháp lý đồng bộ, thống nhất cho công tác kiểm soát tài sản, thu nhập. Có thể khẳng định, việc đổi mới quy định về đối tượng kê khai hằng năm trong Nghị định số 164/2026/NĐ-CP chính là bước thể chế hóa kịp thời quan điểm, chủ trương của Nghị quyết số 04-NQ/TW vào pháp luật về phòng, chống tham nhũng.
2. Những điểm mới về diện đối tượng kê khai tài sản, thu nhập hằng năm
Kể từ ngày 01/7/2026, diện đối tượng phải kê khai tài sản, thu nhập hằng năm bao gồm: người giữ chức vụ từ Phó Vụ trưởng và tương đương trở lên công tác tại Bộ, cơ quan ngang Bộ và cơ quan, tổ chức, đơn vị khác do Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập; Giám đốc sở và tương đương trở lên công tác tại chính quyền địa phương; người giữ chức vụ từ Trưởng phòng và tương đương có phụ cấp chức vụ từ 0,25 trở lên công tác tại các cơ quan nhà nước; Trưởng phòng và tương đương trở lên công tác tại doanh nghiệp nhà nước ở các vị trí việc làm phụ trách trực tiếp công tác tổ chức cán bộ, quản lý tài chính công, tài sản công, đầu tư công hoặc trực tiếp tiếp xúc và giải quyết công việc của cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân; người đại diện phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp. Ngoài ra, những người thuộc diện cấp ủy cùng cấp quản lý và đảng viên chuyên trách công tác đảng hoặc có vị trí việc làm ở các cơ quan tham mưu, giúp việc của cấp ủy cũng thực hiện việc kê khai hằng năm theo quy định của Đảng và quy định của pháp luật.
Như vậy, theo Nghị định số 164/2026/NĐ-CP, những người giữ các ngạch công chức và chức danh tư pháp như chấp hành viên, kế toán viên, kiểm lâm viên, kiểm sát viên, kiểm soát viên ngân hàng, kiểm soát viên thị trường, kiểm toán viên, kiểm tra viên của Đảng, kiểm tra viên hải quan, kiểm tra viên thuế, thanh tra viên, điều tra viên, thẩm phán sẽ không còn thuộc diện phải kê khai tài sản, thu nhập hằng năm. Người giữ chức vụ Phó Trưởng phòng làm công tác tổ chức cán bộ, quản lý tài chính công, tài sản công, đầu tư công hoặc trực tiếp tiếp xúc và giải quyết công việc của cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân cũng không còn thuộc diện kê khai hằng năm. Điểm mới căn bản là Nghị định số 164/2026/NĐ-CP đã chuyển sang cách tiếp cận “trọng tâm, trọng điểm” khi xác định đối tượng có nghĩa vụ kê khai hằng năm. Khi yêu cầu kiểm soát ngày càng đi vào chiều sâu, việc duy trì diện kê khai quá rộng có thể làm giảm hiệu quả thực chất, bởi cơ quan kiểm soát khó có đủ nguồn lực để phân tích, đối chiếu, xác minh một cách tương xứng. Nghị định đã khắc phục hạn chế đó bằng cách thu hẹp hợp lý diện kê khai hằng năm, gắn nghĩa vụ kê khai với vị trí có nguy cơ tham nhũng cao và giao thẩm quyền cho Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh ban hành danh mục cụ thể. Việc phân cấp này giúp danh mục người kê khai sát hơn với đặc điểm từng ngành, từng lĩnh vực; chẳng hạn, vị trí có nguy cơ tham nhũng trong lĩnh vực tài chính, thuế, hải quan, đất đai, xây dựng, y tế, giáo dục hoặc doanh nghiệp nhà nước có thể rất khác nhau, nếu quy định một danh mục áp dụng chung cho mọi cơ quan, đơn vị thì khó phản ánh hết đặc thù này.
3. Đánh giá việc thu hẹp đối tượng kê khai hằng năm theo hướng trọng tâm, trọng điểm
Việc đổi mới phương thức xác định đối tượng kê khai tài sản, thu nhập hằng năm mang lại nhiều tác động tích cực đối với công tác kiểm soát tài sản, thu nhập.
Thứ nhất, việc thu hẹp đối tượng kê khai giúp sử dụng hiệu quả hơn nguồn lực của cơ quan kiểm soát. Khi số lượng hồ sơ kê khai giảm xuống, cơ quan kiểm soát có điều kiện đầu tư nhiều hơn cho việc theo dõi biến động tài sản, đối chiếu dữ liệu, phân tích thông tin và tổ chức xác minh đối với các trường hợp có dấu hiệu bất thường. Điều này góp phần nâng cao chất lượng kiểm soát thay vì chỉ dừng ở việc tiếp nhận và lưu giữ bản kê khai, đúng với yêu cầu kiểm soát “chặt chẽ, thực chất, hiệu quả” mà Nghị quyết số 04-NQ/TW đã đề ra.
Thứ hai, phương thức mới phù hợp với nguyên tắc quản lý theo rủi ro. Các vị trí được lựa chọn đều là những vị trí trực tiếp quản lý nguồn lực công, tham gia quyết định về nhân sự, tài chính, đầu tư hoặc thường xuyên giải quyết công việc của người dân và doanh nghiệp – những lĩnh vực tiềm ẩn nguy cơ phát sinh tham nhũng, tiêu cực và xung đột lợi ích cao hơn so với nhiều vị trí công tác khác. Cách tiếp cận này thống nhất với quan điểm của Nghị quyết số 04-NQ/TW về chủ động nhận diện, kiểm soát hiệu quả các điều kiện phát sinh tham nhũng, nhất là ở các lĩnh vực then chốt, trọng yếu, lĩnh vực mới tiềm ẩn nguy cơ cao.
Thứ ba, việc phân cấp xác định danh mục người kê khai tạo ra sự linh hoạt, bảo đảm các bộ, ngành và địa phương có thể kịp thời điều chỉnh danh mục khi chức năng, nhiệm vụ hoặc cơ cấu tổ chức thay đổi mà không phải chờ sửa đổi nghị định. Điều này đặc biệt có ý nghĩa trong bối cảnh tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị đang được sắp xếp, tinh gọn mạnh mẽ theo chủ trương của Đảng.
Tuy nhiên, bên cạnh những ưu điểm, quy định mới trong xác định đối tượng kê khai hàng năm cũng đặt ra những yêu cầu khi tổ chức thực hiện.
Một là, việc giao thẩm quyền cho từng bộ, ngành và địa phương ban hành danh mục người kê khai có thể dẫn đến sự thiếu thống nhất trong áp dụng nếu chưa có tiêu chí chung về xác định vị trí có nguy cơ tham nhũng. Cùng một loại công việc nhưng giữa các địa phương có thể xác định khác nhau, ảnh hưởng đến tính công bằng và thống nhất của pháp luật. Một số nơi có thể xác định danh mục quá rộng để “an toàn”, làm mất ý nghĩa thu hẹp trọng tâm; ngược lại, một số nơi có thể xác định quá hẹp, bỏ sót vị trí có nguy cơ tham nhũng cao.
Hai là, khái niệm “trực tiếp tiếp xúc và giải quyết công việc của cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân” còn mang tính khái quát, có thể dẫn đến nhiều cách hiểu khác nhau. Do đó, cần có hướng dẫn cụ thể hơn về tiêu chí nhận diện để tránh tình trạng mở rộng hoặc thu hẹp quá mức phạm vi người phải kê khai.
Ba là, việc thu hẹp đối tượng kê khai chỉ thực sự phát huy hiệu quả khi đi cùng với việc nâng cao chất lượng xác minh, đẩy mạnh kết nối cơ sở dữ liệu quốc gia về kiểm soát tài sản, thu nhập với các cơ sở dữ liệu về đất đai, thuế, đăng ký tài sản, ngân hàng và các cơ sở dữ liệu chuyên ngành khác. Nếu chỉ giảm số lượng người kê khai mà không tăng cường năng lực phân tích, xác minh thì mục tiêu nâng cao hiệu quả kiểm soát sẽ khó đạt được.
III. Một số đề xuất, kiến nghị trong tổ chức thực hiện kê khai tài sản, thu nhập hằng năm
Thứ nhất, cần xây dựng bộ tiêu chí thống nhất xác định vị trí có nguy cơ tham nhũng cao làm căn cứ ban hành danh mục người có nghĩa vụ kê khai hằng năm.
Việc Nghị định số 164/2026/NĐ-CP giao Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ và Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh ban hành danh mục người có nghĩa vụ kê khai hằng năm là phù hợp với chủ trương phân cấp, phân quyền và bảo đảm tính linh hoạt trong quản lý. Tuy nhiên, nếu không có tiêu chí thống nhất để xác định vị trí có nguy cơ tham nhũng thì việc áp dụng giữa các bộ, ngành và địa phương có thể thiếu đồng bộ, dẫn đến tình trạng cùng một loại vị trí nhưng nơi xác định thuộc diện kê khai, nơi lại không, hoặc ngược lại mở rộng phạm vi không cần thiết. Do đó, cần nghiên cứu xây dựng bộ tiêu chí chung về nhận diện vị trí có nguy cơ tham nhũng làm cơ sở cho các cơ quan, đơn vị xác định đối tượng kê khai hằng năm. Việc thống nhất tiêu chí không chỉ bảo đảm sự công bằng, thống nhất trong áp dụng pháp luật mà còn bảo đảm đúng tinh thần của Nghị quyết số 04-NQ/TW và Nghị định số 164/2026/NĐ-CP là tập trung kiểm soát vào những vị trí thực sự có nguy cơ tham nhũng cao, thay vì mở rộng diện kê khai một cách hình thức.
Thứ hai, thiết lập cơ chế rà soát, cập nhật định kỳ danh mục người có nghĩa vụ kê khai hằng năm phù hợp với yêu cầu cải cách tổ chức bộ máy và sự thay đổi của vị trí việc làm.
Một trong những hạn chế của Nghị định số 130/2020/NĐ-CP là danh mục vị trí kê khai được quy định tương đối cứng, trong khi tổ chức bộ máy nhà nước luôn có sự thay đổi theo yêu cầu cải cách hành chính, sắp xếp đơn vị hành chính, phân cấp, phân quyền và điều chỉnh chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan, đơn vị. Nhiều vị trí mới phát sinh hoặc có sự thay đổi về chức năng nhưng chưa được cập nhật kịp thời, làm giảm hiệu quả của cơ chế kiểm soát. Mặc dù Nghị định số 164/2026/NĐ-CP đã trao quyền chủ động cho các bộ, ngành và địa phương trong việc ban hành danh mục người kê khai, song để bảo đảm tính cập nhật và phù hợp với thực tiễn, cần quy định cơ chế rà soát định kỳ đối với danh mục này.
Thứ ba, đẩy mạnh ứng dụng chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo và phân tích dữ liệu lớn trong kiểm soát tài sản, thu nhập; tăng cường kết nối, chia sẻ dữ liệu giữa cơ quan kiểm soát tài sản, thu nhập với các cơ quan quản lý chuyên ngành.
Việc thu hẹp đối tượng kê khai hằng năm theo hướng trọng tâm, trọng điểm sẽ chỉ phát huy hiệu quả khi cơ quan kiểm soát tài sản, thu nhập có khả năng khai thác hiệu quả dữ liệu kê khai. Trong bối cảnh chuyển đổi số hiện nay, việc quản lý hàng chục nghìn bản kê khai bằng phương pháp thủ công sẽ không đáp ứng yêu cầu phân tích, theo dõi biến động và phát hiện dấu hiệu bất thường. Đây cũng chính là định hướng lớn của Nghị quyết số 04-NQ/TW khi xác định ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là trọng tâm của công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực trong giai đoạn mới.
Do đó, cần đẩy nhanh việc xây dựng và hoàn thiện Cơ sở dữ liệu quốc gia về kiểm soát tài sản, thu nhập theo hướng đồng bộ, hiện đại, cho phép quản lý tập trung, cập nhật thường xuyên và hỗ trợ phân tích dữ liệu tự động. Trên nền tảng đó, cần nghiên cứu ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI), dữ liệu lớn (Big Data) và các công cụ phân tích rủi ro để sàng lọc, cảnh báo những trường hợp có biến động tài sản, thu nhập bất thường, hỗ trợ cơ quan kiểm soát trong việc lựa chọn đối tượng xác minh theo kế hoạch hằng năm. Về lâu dài, cần triển khai đồng bộ các giải pháp mà Nghị quyết số 04-NQ/TW đã đề ra như đẩy mạnh thanh toán không dùng tiền mặt, xây dựng cơ chế, lộ trình minh bạch tài sản trong toàn xã hội và nghiên cứu xây dựng Luật về đăng ký tài sản, tạo nền tảng dữ liệu đầy đủ, tin cậy phục vụ công tác kiểm soát tài sản, thu nhập.
Có thể nói, việc sửa đổi quy định về đối tượng kê khai tài sản, thu nhập hằng năm trong Nghị định số 164/2026/NĐ-CP thể hiện sự thay đổi quan trọng trong tư duy lập pháp về kiểm soát tài sản, thu nhập, đồng thời là bước cụ thể hóa kịp thời quan điểm chỉ đạo “có trọng tâm, trọng điểm” của Nghị quyết số 04-NQ/TW Hội nghị Trung ương 2 khóa XIV. Thay vì mở rộng phạm vi đối tượng kê khai theo hướng bao quát, pháp luật đã chuyển sang lựa chọn các nhóm đối tượng có nguy cơ tham nhũng cao để tập trung nguồn lực kiểm soát – sự chuyển dịch từ mô hình quản lý đại trà sang quản lý dựa trên đánh giá rủi ro, phù hợp với yêu cầu nâng cao hiệu quả phòng, chống tham nhũng trong điều kiện nguồn lực kiểm soát còn hạn chế và quá trình chuyển đổi số đang được đẩy mạnh.
Trong thời gian tới, để mô hình này phát huy hiệu quả, cần tiếp tục hoàn thiện các tiêu chí xác định đối tượng kê khai, bảo đảm tính thống nhất trong áp dụng giữa các bộ, ngành và địa phương; đồng thời nâng cao năng lực của cơ quan kiểm soát thông qua hoàn thiện cơ sở dữ liệu, tăng cường kết nối thông tin và đổi mới phương thức xác minh tài sản, thu nhập. Chỉ khi kết hợp đồng bộ giữa việc xác định đúng đối tượng với việc kiểm soát hiệu quả, cơ chế kê khai tài sản, thu nhập mới thực sự trở thành công cụ hữu hiệu trong phòng ngừa tham nhũng, kiểm soát quyền lực và xây dựng nền hành chính liêm chính, minh bạch theo tinh thần Nghị quyết số 04-NQ/TW./.
TS. Nguyễn Thị Hồng Thúy
Trưởng khoa, Khoa Nghiệp vụ II, Trường Cán bộ Thanh tra
Nguyễn Hoàng Nguyên
Chuyên viên, Khoa Nghiệp vụ II, Trường Cán bộ Thanh tra
TÀI LIỆU THAM KHẢO
- Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam (2026), Nghị quyết số 04-NQ/TW ngày 01/4/2026 Hội nghị lần thứ hai Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV về tiếp tục tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực trong giai đoạn mới, Hà Nội.
- Quốc hội (2018), Luật Phòng, chống tham nhũng số 36/2018/QH14 ngày 20/11/2018, Hà Nội.
- Quốc hội (2025), Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Phòng, chống tham nhũng số 132/2025/QH15 ngày 01/7/2026, Hà Nội.
- Chính phủ (2020), Nghị định số 130/2020/NĐ-CP ngày 30/10/2020 về kiểm soát tài sản, thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn trong cơ quan, tổ chức, đơn vị, Hà Nội.
- Chính phủ (2026), Nghị định số 164/2026/NĐ-CP ngày 15/5/2026 về kiểm soát tài sản, thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn trong cơ quan, tổ chức, đơn vị, Hà Nội.