Thường trực Ban Bí thư đề nghị Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương cùng các cơ quan, đơn vị liên quan tiếp tục hoàn thiện ứng dụng theo hướng đồng bộ, thống nhất, dễ sử dụng, an toàn, bền vững.
Sáng 16/1, Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương tổ chức lễ ra mắt ứng dụng Tuyên giáo và Dân vận. Thường trực Ban Bí thư Trần Cẩm Tú, Trưởng Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương Trịnh Văn Quyết cùng lãnh đạo ban, bộ, ngành thực hiện nghi thức ra mắt ứng dụng.
Ứng dụng là nền tảng thông tin đa phương tiện phục vụ toàn ngành trên phạm vi cả nước, tạo điều kiện để cán bộ, đảng viên và các tầng lớp Nhân dân dễ dàng tiếp cận thông tin chính thống.

Thường trực Ban Bí thư Trần Cẩm Tú, Trưởng Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương Trịnh Văn Quyết cùng lãnh đạo một số bộ, ngành thực hiện nghi thức ra mắt ứng dụng. Ảnh: TTXVN
Đại diện ban tổ chức giới thiệu về 6 tiện ích trên ứng dụng gồm tin tức, thông tin chính thống; nội dung đa phương tiện, video, hình ảnh; trợ lý AI; thư viện số; phản ánh, góp ý của người dân; nền tảng học tập số. Ứng dụng còn có 2 tiện ích bao gồm tra cứu văn bản chỉ đạo và vấn đề quan tâm.
Phát biểu chỉ đạo, Thường trực Ban Bí thư Trần Cẩm Tú nêu rõ đây không chỉ là sự kiện công nghệ mà còn là minh chứng cụ thể cho việc đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng trong kỷ nguyên số.
Thường trực Ban Bí thư định hướng, đây phải trở thành một kênh thông tin chính thống, tin cậy, góp phần đưa chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đến từng cán bộ, đảng viên, Nhân dân một cách nhanh chóng, trực quan, sinh động, dễ tiếp cận.
Đây cũng là công cụ hỗ trợ đắc lực cho công tác tư tưởng, nắm bắt dư luận xã hội, tâm tư, nguyện vọng của Nhân dân và phát hiện sớm những vấn đề mới, nhạy cảm, phát sinh từ cơ sở để có giải pháp tuyên truyền, vận động, thuyết phục đúng, kịp thời, hiệu quả.
Thường trực Ban Bí thư chỉ rõ việc ra mắt ứng dụng mới chỉ là bước khởi đầu, điều quan trọng là vận hành thế nào để ứng dụng hoạt động thực sự hiệu quả, kịp thời trong thực hiện nhiệm vụ chính trị.
Ông đề nghị Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương cùng các cơ quan, đơn vị liên quan tiếp tục hoàn thiện ứng dụng theo hướng đồng bộ, thống nhất, dễ sử dụng, an toàn, bền vững.

Thường trực Ban Bí thư dự lễ ra mắt ứng dụng di động Tuyên giáo và Dân vận. Ảnh: P.Thắng
“Công nghệ phải phục vụ con người, phục vụ nhiệm vụ chính trị, tuyệt đối không hình thức, không chạy theo phong trào. Mỗi tính năng phải rõ mục tiêu, rõ đối tượng, hiệu quả; đảm bảo nội dung thông tin chính xác, tin cậy, có chiều sâu, sức thuyết phục, gắn chặt với thực tiễn của đất nước và đời sống của Nhân dân. Công tác biên tập, kiểm duyệt thông tin phải được đặt lên hàng đầu và coi đây là yếu tố quyết định uy tín, sức lan tỏa của ứng dụng”, ông Trần Cẩm Tú yêu cầu.
Việc vận hành ứng dụng, theo Thường trực Ban Bí thư, không chỉ để đưa thông tin một chiều mà phải tăng cường tương tác, lắng nghe, đối thoại và phải lấy hiệu quả định hướng tư tưởng, tạo sự đồng thuận xã hội làm mục tiêu cao nhất.
Để ứng dụng hoạt động hiệu quả, ông đề nghị Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương phối hợp với Ban chỉ đạo chuyển đổi số các cơ quan Đảng xây dựng ngay một bộ chỉ số đánh giá hiệu quả định kỳ.
Ông lưu ý, không đánh giá bằng số lượng bài đăng mà phải đánh giá bằng tốc độ phản ánh, phản ứng trước các vấn đề nóng, bằng tỷ lệ hài lòng của người dân khi gửi phản ánh và bằng khả năng định hướng thực tế thông tin trên không gian mạng. Mọi ứng dụng đều phải đem lại hiệu quả thực chất theo đúng tinh thần chỉ đạo của Tổng Bí thư.
Phát biểu tiếp thu ý kiến chỉ đạo, Trưởng Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương Trịnh Văn Quyết cho biết, tiến hành quán triệt, triển khai trong thời gian tới để đảm bảo ứng dụng đạt hiệu quả cao nhất.
Hương Giang
(Nguồn: Thanhtra.com.vn)
Đại hội XIV của Đảng diễn ra từ ngày 19/1 đến 25/1/2026. Đại hội là sự kiện chính trị đặc biệt quan trọng, đánh dấu bước chuyển chiến lược trong tư duy, tầm nhìn và quyết tâm của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân trong hiện thực hóa các mục tiêu phát triển đất nước đến năm 2030, đưa Việt Nam tự tin tiến vào kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
PV
(Nguồn: Thanhtra.com.vn)
Trong Dự thảo văn kiện trình Đại hội XIV của Đảng, một quan điểm được nhấn mạnh với tầm khái quát cao và xuyên suốt: xác lập mô hình tăng trưởng mới, lấy khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số quốc gia là động lực chính. Cách diễn đạt này phản ánh một bước phát triển quan trọng trong tư duy chiến lược về mô hình tăng trưởng, con đường phát triển và năng lực cạnh tranh quốc gia trong bối cảnh mới.
Từ “then chốt”… đến “động lực chính”, lan tỏa
Trong định hướng quan điểm, đường lối trước đây, khoa học – công nghệ thường được xác định là “quốc sách hàng đầu”, là “then chốt”, là “nền tảng” cho công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Tuy nhiên, dự thảo văn kiện Đại hội XIV đã nâng tầm nhận thức khi xác định khoa học – công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số không chỉ là yếu tố hỗ trợ, mà là động lực chính thúc đẩy tăng trưởng, tái cơ cấu nền kinh tế và đổi mới phương thức quản trị xã hội.
Khái niệm “động lực chính” với hàm ý: mọi động lực khác – từ vốn, lao động, tài nguyên… – đều phải được kích hoạt, dẫn dắt và gia tăng hiệu quả thông qua khoa học – công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Đây là bước nâng tầm tư duy từ phát triển dựa vào khai thác nguồn lực truyền thống sang phát triển dựa chủ yếu vào tri thức, công nghệ và năng lực sáng tạo.

Sự khẳng định vai trò trung tâm của khoa học – công nghệ và chuyển đổi số xuất phát từ những đòi hỏi khách quan của thực tiễn phát triển đất nước. Sau gần 40 năm đổi mới, mô hình tăng trưởng dựa nhiều vào vốn đầu tư, lao động giá rẻ và khai thác tài nguyên đã bộc lộ rõ những giới hạn. Năng suất lao động tăng chậm, chất lượng tăng trưởng chưa bền vững, nguy cơ rơi vào “bẫy thu nhập trung bình” hiện hữu. Trong khi đó, bối cảnh thế giới đang biến đổi nhanh chóng dưới tác động của cuộc Cách mạng Công nghiệp lần thứ tư, cạnh tranh chiến lược giữa các quốc gia ngày càng xoay quanh công nghệ lõi, dữ liệu, trí tuệ nhân tạo, kinh tế số. Nếu không coi khoa học – công nghệ và đổi mới sáng tạo là động lực trung tâm, Việt Nam sẽ khó có thể bứt phá, thậm chí có nguy cơ tụt hậu xa hơn.
Chính vì vậy, quan điểm trong dự thảo văn kiện Đại hội XIV của Đảng là một khẳng định rõ ràng: phát triển nhanh và bền vững trong giai đoạn tới chỉ có thể đạt được nếu lấy khoa học – công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số làm “đòn bẩy” chủ yếu.
Đáng chú ý là khi khẳng định vai trò của khoa học – công nghệ, không tách rời với đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, mà đặt trong một chỉnh thể thống nhất. Điều này phản ánh một nhận thức đầy đủ, khách quan: khoa học – công nghệ chỉ thực sự trở thành động lực phát triển khi được thương mại hóa thông qua đổi mới sáng tạo và được lan tỏa rộng rãi nhờ chuyển đổi số.
Chuyển đổi số không đơn thuần là ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý, mà là quá trình tái cấu trúc toàn diện hoạt động của Nhà nước, doanh nghiệp và xã hội trên nền tảng số. Khi được triển khai đồng bộ, chuyển đổi số sẽ làm giảm chi phí giao dịch, nâng cao tính minh bạch, mở rộng không gian phát triển và tạo ra những mô hình kinh tế mới. Chính điều này tạo ra hiệu ứng lan tỏa mạnh mẽ, biến khoa học – công nghệ và đổi mới sáng tạo thành động lực trung tâm của toàn bộ nền kinh tế.
Thực sự trở thành sức mạnh hiện thực
Việc xác định khoa học – công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là động lực chính không chỉ nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, mà còn hướng tới đổi mới căn bản phương thức quản trị quốc gia. Nhà nước số, chính phủ số, kinh tế số, công dân số và xã hội số là những cấu phần gắn bó chặt chẽ với quan điểm này.
Trong quản lý nhà nước, chuyển đổi số giúp nâng cao hiệu lực, hiệu quả điều hành, tăng cường kỷ luật, kỷ cương và khả năng phản ứng chính sách. Trong khu vực doanh nghiệp, đổi mới sáng tạo và công nghệ số là “chìa khóa” nâng cao năng suất, chất lượng, sức cạnh tranh và khả năng tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu. Đối với người dân, khoa học – công nghệ và chuyển đổi số mở rộng cơ hội tiếp cận dịch vụ, tri thức và việc làm mới, qua đó nâng cao chất lượng cuộc sống.
Khẳng định khoa học – công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số là động lực chính cũng đồng thời đặt ra yêu cầu đổi mới mạnh mẽ về thể chế phát triển. Muốn động lực này phát huy hiệu quả, cần cơ chế vượt trội để thu hút, trọng dụng nhân tài; chính sách khuyến khích nghiên cứu, phát triển và ứng dụng công nghệ; môi trường pháp lý linh hoạt cho các mô hình kinh doanh mới.
Việc khẳng định mạnh mẽ khoa học – công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số là động lực chính trong Dự thảo văn kiện Đại hội XIV thể hiện tầm nhìn chiến lược và tư duy phát triển hiện đại của Đảng. Đây là sự lựa chọn đúng đắn và tất yếu, phù hợp với xu thế thời đại và yêu cầu phát triển đất nước trong giai đoạn mới. Quan điểm này không chỉ là một định hướng chiến lược, mà còn là lời thúc giục hành động: phải chuyển từ “nhận thức đúng” sang “hành động quyết liệt”, từ chủ trương sang thực thi đồng bộ để động lực trung tâm này thực sự trở thành sức mạnh hiện thực, đưa Việt Nam phát triển nhanh hơn, bền vững hơn và tự tin hơn trên con đường đi tới tương lai.
Nguyễn Ngọc Thái
(Nguồn: daibieunhandan.vn)
Theo đại biểu Quốc hội, việc bổ sung chỉ tiêu hạnh phúc vào bộ chỉ tiêu trong văn kiện trình Đại hội XIV của Đảng chính là cụ thể hóa sinh động nhất quan điểm lấy con người làm trung tâm của sự phát triển.
Dự thảo Báo cáo Chính trị trình Đại hội XIV của Đảng nêu rõ chỉ số xếp hạng hạnh phúc của Việt Nam tăng 33 bậc so với đầu nhiệm kỳ, xếp thứ 46/143 quốc gia.

Chỉ số xếp hạng hạnh phúc của Việt Nam tăng 33 bậc so với đầu nhiệm kỳ, xếp thứ 46/143 quốc gia. Ảnh minh họa. Nguồn ảnh: P.Thắng
Sang giai đoạn mới, một trong những quan điểm, định hướng quan trọng được đề ra trong dự thảo văn kiện là “nâng cao đời sống và hạnh phúc của Nhân dân”; “lấy hạnh phúc, sự hài lòng của Nhân dân làm thước đo và mục tiêu phấn đấu”.
Cụ thể hóa mục tiêu vì “hạnh phúc của Nhân dân”
Đại biểu Quốc hội Huỳnh Thanh Phương (Tây Ninh) góp ý dự thảo văn kiện trình Đại hội XIV của Đảng đề nghị trong bộ chỉ tiêu nhiệm kỳ 5 năm tới cần bổ sung chỉ tiêu về chỉ số hạnh phúc của người dân, phấn đấu đến năm 2030 khoảng 75% dân số Việt Nam cảm thấy hài lòng và hạnh phúc với cuộc sống hiện tại.
Giải thích rõ hơn cho đề xuất này, ông Huỳnh Thanh Phương đưa ra 3 lý do.
Đầu tiên, theo ông Phương, trong các văn kiện của Đảng, đặc biệt dự thảo văn kiện trình Đại hội XIV của Đảng có đề cập vấn đề này nhưng chưa đưa chỉ tiêu thành con số cụ thể. Trong khi, các chỉ tiêu khác đều có mục đích lớn nhất là phục vụ con người.
Vì vậy, đưa chỉ tiêu về chỉ số hạnh phúc vào văn kiện sẽ chuyển hóa tư tưởng nhân văn vì con người, vì hạnh phúc của Nhân dân trở thành mục tiêu có thể đo lường được.
Thứ hai, việc bổ sung chỉ tiêu về chỉ số hạnh phúc cũng phù hợp với xu hướng quản trị thế giới hiện nay.

Đại biểu Quốc hội Huỳnh Thanh Phương (Tây Ninh). Ảnh: P.Thắng
“Rất nhiều quốc gia trên thế giới xem chỉ số hạnh phúc là thước đo của sự phát triển. Năm 2012, Liên Hợp Quốc đã sử dụng chỉ số hạnh phúc để đánh giá mục tiêu phát triển toàn cầu và các quốc gia cũng đang theo xu hướng như vậy”, ông Phương dẫn chứng.
Thứ ba, ông Phương cho rằng chỉ tiêu này sẽ đo được hiệu quả thực chất của các chính sách phát triển, tức là không chỉ tăng trưởng GDP mà còn đo được chất lượng cuộc sống thực chất của người dân.
“Việc xác lập các chỉ tiêu, chỉ số hạnh phúc cũng chính là cụ thể hóa sinh động nhất để chúng ta lấy quan điểm con người làm trung tâm của sự phát triển”, theo đại biểu Quốc hội Huỳnh Thanh Phương.
Chủ đề của Đại hội XIV của Đảng là: Dưới lá cờ vẻ vang của Đảng, chung sức, đồng lòng thực hiện thắng lợi các mục tiêu phát triển đất nước đến năm 2030; tự chủ chiến lược, tự cường, tự tin, tiến mạnh trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc vì hoà bình, độc lập, dân chủ, giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội.
Hạnh phúc là điều chúng ta luôn luôn theo đuổi
Đại biểu Quốc hội Nguyễn Văn Cảnh (Gia Lai) nêu chỉ số hạnh phúc của Việt Nam tăng lên rất nhanh, đây là điều rất phấn khởi.
Bởi, theo ông, không phải quốc gia nào có thu nhập cao nhất, cũng là nước hạnh phúc nhất. Trong khi có những nước “thu nhập không cao nhưng luôn xếp top đầu nhóm hạnh phúc”.
Ông Cảnh nhấn mạnh, rất nhiều văn bản của chúng ta quan tâm tới hạnh phúc, ngay cả trong Tuyên ngôn độc lập cũng nói mọi người có quyền mưu cầu hạnh phúc.
“Hạnh phúc là điều chúng ta luôn luôn theo đuổi”, đại biểu Quốc hội Gia Lai nói và đánh giá, lợi thế thu nhập của Việt Nam không cao nhưng chúng ta đảm bảo các vấn đề an sinh, giữ gìn văn hóa truyền thống và mức độ hạnh phúc của nước ta cao hơn nhiều các nước khác.

Đại biểu Quốc hội Nguyễn Văn Cảnh (Gia Lai). Ảnh: P.Thắng
Dự thảo văn kiện trình Đại hội XIV của Đảng đã đề ra mục tiêu 5 năm tới “chỉ số phát triển con người (HDI) phấn đấu đạt khoảng 0,78”. Nhưng theo ông Cảnh, chỉ số HDI chỉ quan tâm tới trình độ học vấn, thu nhập và tuổi thọ. Trong khi chỉ số hạnh phúc liên quan rất nhiều vấn đề khác.
Cùng với chỉ số phát triển con người (HDI), đại biểu Cảnh đề nghị bổ sung “phấn đấu nâng cao chỉ số hạnh phúc”.
“Nếu thêm điều này, các chủ trương, định hướng hay phát triển của chúng ta sẽ quan tâm hơn đến chỉ số hạnh phúc, giúp người dân sống hạnh phúc hơn”, ông Cảnh nói.
Vấn đề nữa được đại biểu Cảnh quan tâm góp ý là việc phát triển mạnh mẽ, toàn diện văn hóa và con người Việt Nam.
“Phát triển kinh tế chúng ta có các chuyên gia kinh tế. Phát triển khoa học – kỹ thuật chúng ta có đội ngũ các nhà khoa học. Nhưng phát triển văn hóa lại không có đội ngũ chuyên gia văn hóa chính thức”, ông Cảnh nhìn nhận và đề nghị hình thành đội ngũ các chuyên gia văn hóa.
Ông Cảnh nói, bây giờ văn hóa truyền thống như thế nào, văn hóa truyền thống nào giữ lại, văn hóa nào đã lạc hậu. Hay thuần phong mỹ tục, không ai có thể giải thích rõ được.
Khi xảy ra một sự cố liên quan tới văn hóa, phân tích thuần phong mỹ tục, theo ông Cảnh, khi có đội ngũ chuyên gia văn hóa, ít nhất họ sẽ đưa ra các ví dụ để dẫn chứng, từ đó các nhà làm luật hay nhà lãnh đạo, ngay cả tòa án cũng có thể căn cứ vào đó phân xử để hợp lòng dân.
Về kinh tế, văn kiện trình Đại hội XIV của Đảng xác định mục tiêu tăng trưởng 2 con số. Muốn tăng trưởng như vậy, tốc độ tăng năng suất lao động cũng phải đạt khoảng 8,5%/năm. Trong khi đó, theo đại biểu Huỳnh Thanh Phương, giai đoạn 2021-2025, chỉ số này mới đạt 5,1%.
Vì thế, ông đề nghị tập trung vào các dự án trung tâm nghiên cứu và phát triển, chuyển đổi số, đào tạo nghề theo chuẩn quốc tế, đồng thời khuyến khích đổi mới sáng tạo trong khu vực tư nhân.
“Tăng năng suất lao động là con đường ngắn nhất để kéo giảm khoảng cách giữa phát triển kinh tế Việt Nam và các nước trên thế giới, nếu chúng ta không tập trung sẽ rất khó trong phát triển tới đây”, ông Phương nhấn mạnh.
Ông cũng đề nghị thiết kế chính sách từ khuyến khích sang kiến tạo, để doanh nghiệp kinh tế tư nhân phát triển, để hỗ trợ hình thành các tập đoàn doanh nghiệp tư nhân lớn đủ điều kiện, đủ năng lực dẫn dắt chuỗi giá trị.
“Kinh tế tư nhân không chỉ đơn thuần là của tư nhân mà còn là giá trị thương hiệu quốc gia”, đại biểu Quốc hội Tây Ninh nhấn mạnh.
Hương Giang
(Nguồn: Thanhtra.com.vn)
Hướng tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, ngành Y tế đã và đang triển khai đồng bộ các phương án bảo đảm chăm sóc sức khỏe, phòng chống dịch bệnh và cấp cứu y tế, thể hiện quyết tâm chính trị và trách nhiệm cao trước Đảng, Nhà nước và Nhân dân.
Bộ Y tế và ngành Y tế Thủ đô Hà Nội chủ động triển khai đồng bộ các giải pháp y tế, sẵn sàng phục vụ Đại hội XIV của Đảng. Ảnh minh họa: Thanh Lương
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng là dấu mốc có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, mở ra giai đoạn phát triển mới của đất nước với những định hướng chiến lược mang tầm nhìn dài hạn.
Trong tổng thể các nhiệm vụ phục vụ Đại hội, công tác bảo đảm y tế giữ vai trò then chốt, không chỉ góp phần trực tiếp bảo đảm an toàn tuyệt đối về sức khỏe cho các đại biểu, khách mời, lực lượng phục vụ mà còn thể hiện năng lực tổ chức, điều hành và tinh thần trách nhiệm của ngành Y tế trước sự kiện chính trị trọng đại của quốc gia.
Trên tinh thần đó, Bộ Y tế cùng ngành Y tế Thủ đô Hà Nội đã chủ động xây dựng các kế hoạch tổng thể, huy động tối đa nguồn lực, tổ chức triển khai đồng bộ các giải pháp y tế với tinh thần chủ động, khoa học, chặt chẽ và trách nhiệm cao.
Việc chuẩn bị y tế cho Đại hội được đặt trong tổng thể yêu cầu bảo đảm an ninh, an toàn tuyệt đối, không để xảy ra bất kỳ sơ suất nào dù là nhỏ nhất.
Chủ động phòng bệnh an toàn
Một trong những yêu cầu xuyên suốt trong công tác y tế phục vụ Đại hội là bảo đảm môi trường an toàn, kiểm soát chặt chẽ nguy cơ dịch bệnh. Theo định hướng chung của Bộ Y tế, công tác phòng, chống dịch được triển khai theo phương châm chủ động, từ sớm, từ xa, không để bị động, bất ngờ trong mọi tình huống.
Sở Y tế Hà Nội vừa ban hành Kế hoạch số 65/KH-SYT về việc đáp ứng y tế phục vụ Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng.
Kế hoạch đã phân công nhiệm vụ của Bộ Y tế và Thành uỷ trong thời gian phục vụ Đại hội từ ngày 19 – 25/1; địa điểm tổ chức Đại hội tại Trung tâm Hội nghị quốc gia (Đại lộ Thăng Long, phường Từ Liêm, Thành phố Hà Nội).
Theo đó, ngành Y tế Hà Nội đã tăng cường giám sát dịch tễ, tổ chức thực hiện đồng bộ các biện pháp vệ sinh môi trường, kiểm soát chất lượng nước sạch, bảo đảm an toàn tại khu vực tổ chức Đại hội cũng như các địa điểm lưu trú của đại biểu; các hoạt động theo dõi, giám sát y tế được thực hiện chặt chẽ, tuân thủ hướng dẫn chuyên môn, nhằm phát hiện sớm và xử lý kịp thời các nguy cơ phát sinh.
Song song với đó, công tác bảo đảm an toàn thực phẩm được đặt ở mức ưu tiên cao. Các lực lượng chức năng tăng cường kiểm tra, giám sát các cơ sở cung ứng thực phẩm, nhà hàng, khách sạn phục vụ Đại hội, bảo đảm các điều kiện về vệ sinh, nguồn gốc nguyên liệu và quy trình chế biến.
Việc tổ chức giám sát thường trực, kiểm thực, lưu mẫu thực phẩm được triển khai nghiêm túc, góp phần phòng ngừa nguy cơ ngộ độc thực phẩm, bảo vệ sức khỏe đại biểu và lực lượng phục vụ.
Sẵn sàng cấp cứu 24/24 giờ
Công tác cấp cứu, khám chữa bệnh phục vụ Đại hội được chuẩn bị toàn diện, với sự tham gia của nhiều cơ sở y tế tuyến Trung ương và thành phố. Ngành Y tế bố trí đầy đủ nhân lực, phương tiện, thuốc men và trang thiết bị cần thiết, bảo đảm sẵn sàng xử lý kịp thời mọi tình huống y tế phát sinh trong suốt thời gian diễn ra Đại hội.
Theo TS Hà Anh Đức, Cục trưởng Cục Quản lý Khám chữa bệnh (Bộ Y tế), bảo đảm công tác y tế phục vụ Đại hội XIV là nhiệm vụ chính trị đặc biệt quan trọng, đồng thời là vinh dự lớn của ngành Y tế.
Với tính chất là sự kiện trọng đại của đất nước, mọi khâu chuẩn bị y tế phải được triển khai ở mức cao nhất, từ nhân lực, cơ sở vật chất đến các phương án chuyên môn, nhằm bảo đảm an toàn tuyệt đối cho Đại hội, theo TS Hà Anh Đức.
Được biết, Cục trưởng Cục Quản lý Khám chữa bệnh sẽ đóng vai trò điều phối chung, phối hợp chặt chẽ với các bệnh viện Trung ương và ngành Y tế Hà Nội trong việc tổ chức thường trực cấp cứu, chuẩn bị cơ số giường bệnh, phân công cán bộ y tế trực 24/24 giờ, sẵn sàng đáp ứng mọi tình huống phát sinh.
Với sự chỉ đạo sát sao của Bộ Y tế, sự vào cuộc chủ động của ngành Y tế Thủ đô và sự phối hợp chặt chẽ của các đơn vị liên quan, công tác chuẩn bị y tế phục vụ Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng đang được triển khai nghiêm túc, bài bản và đúng định hướng.
Thanh Lương
(Nguồn: Thanhtra.com.vn)
Việc hoàn thiện hệ thống pháp luật và tổ chức thực hiện hiệu quả các quy định về bảo vệ Tổ quốc trên không gian mạng mang ý nghĩa chiến lược lâu dài, gắn trực tiếp với yêu cầu bảo vệ chủ quyền quốc gia, giữ vững ổn định chính trị – xã hội và thúc đẩy phát triển bền vững.

Tác động toàn diện của hệ thống pháp luật
Việc ban hành và triển khai các văn bản pháp luật điều chỉnh hoạt động bảo vệ Tổ quốc trên không gian mạng đã tạo lập khuôn khổ pháp lý tương đối đầy đủ, góp phần bảo đảm an ninh thông tin, an toàn hệ thống và dữ liệu của các cơ quan, tổ chức. Đây là nền tảng quan trọng để phòng ngừa, phát hiện và xử lý kịp thời các hành vi xâm phạm an ninh mạng, phá hoại hệ thống thông tin và chiếm đoạt dữ liệu.
Các quy định pháp luật cũng đóng vai trò quan trọng trong việc ngăn chặn, xử lý các hành vi xuyên tạc, chống phá Đảng, Nhà nước; kích động bạo lực, chia rẽ dân tộc hoặc phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc trên không gian mạng. Thông qua việc xác lập rõ thẩm quyền, trách nhiệm và cơ chế phối hợp, pháp luật đã hỗ trợ hiệu quả cho lực lượng chức năng trong đấu tranh với tội phạm mạng, chiến tranh thông tin và các hoạt động can thiệp từ bên ngoài.
Một tác động đáng kể khác là việc giảm thiểu tác hại của tin giả, tin sai sự thật. Trong bối cảnh thông tin lan truyền nhanh, khó kiểm soát, các quy định pháp luật đã góp phần định hình môi trường thông tin lành mạnh hơn, hạn chế hoang mang xã hội, bảo vệ đời sống tinh thần và an toàn của người dân. Đồng thời, việc kiểm soát, xử lý các hành vi lừa đảo, gian lận trực tuyến cũng giúp giảm thiểu thiệt hại kinh tế, tạo điều kiện cho kinh tế số phát triển ổn định.
Ở tầm vĩ mô, một môi trường pháp lý minh bạch, ổn định về an ninh mạng còn góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, củng cố niềm tin của nhà đầu tư, nhất là trong các lĩnh vực công nghệ số, đổi mới sáng tạo và dịch vụ số xuyên biên giới.
Không chỉ dừng lại ở phòng ngừa và xử lý vi phạm, các quy định pháp luật về bảo vệ Tổ quốc trên không gian mạng còn góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý Nhà nước. Việc xác định rõ trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, cá nhân đã tăng cường tính răn đe, phòng ngừa, đồng thời tạo cơ sở cho công tác kiểm tra, giám sát và xử lý vi phạm một cách thống nhất.
Cùng với đó, quá trình hoàn thiện pháp luật về an ninh mạng cũng thúc đẩy sự điều chỉnh, hài hòa với thông lệ quốc tế, mở ra cơ hội tăng cường hợp tác trong phòng, chống tội phạm mạng, chia sẻ thông tin, kinh nghiệm và công nghệ, nhất là trong bối cảnh các mối đe dọa an ninh mạng mang tính xuyên biên giới.
Mặc dù đạt được nhiều kết quả tích cực, thực tiễn thi hành pháp luật về bảo vệ Tổ quốc trên không gian mạng vẫn còn không ít khó khăn. Trong phạm vi quản lý của Thanh tra Chính phủ, cơ chế, chính sách và chế độ đối với tập thể, cá nhân làm nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trên không gian mạng còn hạn chế, chưa tương xứng với yêu cầu nhiệm vụ ngày càng cao.
Đáng chú ý, cơ chế thu hút, giữ chân nhân lực có trình độ cao trong lĩnh vực an toàn, an ninh mạng chưa thực sự hiệu quả. Trong khi đó, yêu cầu triển khai các quy định pháp luật ngày càng phức tạp, đòi hỏi đội ngũ cán bộ không chỉ vững chuyên môn kỹ thuật mà còn am hiểu sâu pháp luật và nghiệp vụ quản lý Nhà nước. Khoảng cách giữa yêu cầu pháp lý và nguồn lực thực tế đang là thách thức lớn cần sớm được tháo gỡ.

Ông Lê Viết Thắng, Phó Chánh Văn phòng Thanh tra Chính phủ. Ảnh: NVCC
Góc nhìn chính sách từ thực tiễn
Thời gian tới, tình hình an ninh mạng được dự báo tiếp tục diễn biến phức tạp với sự gia tăng cả về quy mô, tần suất và mức độ tinh vi của các cuộc tấn công mạng, chiến tranh thông tin và hoạt động can thiệp từ các thế lực thù địch. Không gian mạng sẽ tiếp tục là địa bàn trọng điểm của các hoạt động tuyên truyền chống phá, xuyên tạc lịch sử, kích động chia rẽ dân tộc, cũng như xâm nhập, chiếm đoạt dữ liệu cá nhân và phá hoại hạ tầng số trọng yếu.
Các hình thức lừa đảo công nghệ cao, phát tán tin giả, tin sai sự thật ngày càng tinh vi, khó nhận diện, tác động trực tiếp đến an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội và niềm tin của Nhân dân. Bối cảnh đó đặt ra yêu cầu cấp thiết phải nâng cao năng lực phòng thủ mạng, bảo vệ chủ quyền số và chủ động ứng phó với các nguy cơ an ninh phi truyền thống.
Theo ông Lê Viết Thắng, Phó Chánh Văn phòng Thanh tra Chính phủ, trước những thách thức nêu trên, phương hướng bảo vệ Tổ quốc trên không gian mạng trong giai đoạn tới cần được xác định theo hướng toàn diện, chủ động và hiện đại. Trọng tâm là xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân và an ninh Nhân dân trên không gian mạng, gắn với quá trình xây dựng Chính phủ số, kinh tế số và xã hội số an toàn, lành mạnh.
Ông Lê Viết Thắng cho rằng, để hiện thực hóa phương hướng đó, cần triển khai đồng bộ nhiều giải pháp, trong đó trước hết là tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách về an ninh mạng và bảo vệ chủ quyền số, bảo đảm tính khả thi, thống nhất và theo kịp sự phát triển nhanh của khoa học – công nghệ.
Cùng với hoàn thiện thể chế, việc tăng cường đầu tư cho hạ tầng an ninh mạng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Các hệ thống giám sát, cảnh báo sớm và ứng cứu sự cố cần được xây dựng theo hướng hiện đại, đồng bộ, đủ khả năng phát hiện và xử lý kịp thời các nguy cơ đối với hệ thống thông tin, dữ liệu quan trọng.
Tuy nhiên, theo ông Lê Viết Thắng, bảo vệ Tổ quốc trên không gian mạng không thể chỉ dựa vào giải pháp kỹ thuật. Song song với đầu tư công nghệ, cần đẩy mạnh tuyên truyền, giáo dục để nâng cao nhận thức, hình thành “sức đề kháng số” cho cán bộ, đảng viên, người dân và doanh nghiệp. Đây là nền tảng quan trọng để bảo vệ Tổ quốc trên không gian mạng một cách bền vững.
Ông cũng nhấn mạnh, trong bối cảnh môi trường số toàn cầu hóa sâu rộng, việc chủ động tham gia xây dựng các chuẩn mực ứng xử có trách nhiệm trên không gian mạng, tăng cường hợp tác quốc tế là yêu cầu tất yếu. Đồng thời, mỗi cơ quan, đơn vị cần cụ thể hóa các quy định pháp luật thành quy trình, quy chế nội bộ phù hợp, bảo đảm pháp luật đi vào cuộc sống và phát huy hiệu quả thực chất.
Từ góc nhìn chính sách, ông Lê Viết Thắng khẳng định, bảo vệ Tổ quốc trên không gian mạng không chỉ là nhiệm vụ của các cơ quan chuyên trách, mà là trách nhiệm chung của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội, nhằm bảo vệ vững chắc Tổ quốc trong môi trường số đang không ngừng biến đổi.
Trang Anh
(Nguồn: Thanhtra.com.vn)
Trong bối cảnh chuyển đổi số diễn ra mạnh mẽ trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, không gian mạng đã trở thành một không gian chiến lược gắn liền với nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc. Bên cạnh các thách thức truyền thống về quốc phòng, an ninh, những nguy cơ trên môi trường số ngày càng hiện hữu, tác động trực tiếp đến chủ quyền quốc gia, trật tự, an toàn xã hội và hoạt động của bộ máy Nhà nước.
Bảo vệ Tổ quốc trên không gian mạng không chỉ là yêu cầu về kỹ thuật an toàn thông tin, mà còn gắn chặt với kỷ luật công vụ. Đồ họa: TA
Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin gắn với yêu cầu công khai, minh bạch
Đối với các cơ quan Trung ương, trong đó có Thanh tra Chính phủ, bảo vệ Tổ quốc trên không gian mạng không chỉ là yêu cầu về kỹ thuật an toàn thông tin, mà còn gắn chặt với kỷ luật công vụ, hiệu lực quản lý Nhà nước và uy tín của cơ quan trước Nhân dân. Nhìn lại giai đoạn 2015-2025 cho thấy, công tác này đã có những chuyển biến quan trọng, từng bước hình thành nền tảng cần thiết để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới.
Một trong những kết quả rõ nét là việc đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin gắn với yêu cầu công khai, minh bạch trong hoạt động quản lý, điều hành. Các văn bản không thuộc diện mật được công bố toàn văn đến toàn thể cán bộ, công chức, viên chức và người lao động thông qua hệ thống quản lý văn bản và điều hành tác nghiệp. Đây là giải pháp vừa phục vụ cải cách hành chính, vừa góp phần nâng cao nhận thức, trách nhiệm của đội ngũ cán bộ trong sử dụng và bảo vệ thông tin trên môi trường số.
Cùng với đó, Thanh tra Chính phủ đã ban hành Quyết định số 2472/QĐ-TTCP ngày 4/10/2017 về việc thành lập đội ứng cứu sự cố bảo đảm an toàn thông tin mạng. Việc hình thành lực lượng ứng cứu sự cố thể hiện bước chuyển quan trọng trong tư duy bảo vệ an toàn thông tin, từ bị động sang chủ động, sẵn sàng ứng phó với các nguy cơ tấn công mạng ngày càng tinh vi, phức tạp.
Trên cơ sở tổ chức lực lượng, các hệ thống công nghệ thông tin của Thanh tra Chính phủ đã được phê duyệt cấp độ an toàn thông tin theo quy định. Đáng chú ý, hằng năm, Thanh tra Chính phủ đều ban hành kế hoạch chuyển đổi số gắn với bảo đảm an toàn thông tin.
Đây là căn cứ quan trọng để xây dựng, triển khai các phương án bảo đảm an toàn thông tin phù hợp với tính chất, mức độ quan trọng của từng hệ thống, góp phần bảo vệ dữ liệu phục vụ hoạt động thanh tra, tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo và các nhiệm vụ quản lý Nhà nước khác.
Phối hợp chuyên ngành và đầu tư cho nền tảng an toàn thông tin
Bên cạnh các giải pháp nội bộ, Thanh tra Chính phủ đã chủ động phối hợp với Cục Cơ yếu Đảng, Chính quyền triển khai các sản phẩm mật mã và giải pháp bảo mật theo quy định. Việc ứng dụng các giải pháp mật mã chuyên dùng góp phần nâng cao mức độ an toàn đối với các hệ thống thông tin và dữ liệu quan trọng, đáp ứng yêu cầu bảo vệ bí mật Nhà nước trong môi trường số.
Nhận thức rõ vai trò then chốt của yếu tố con người, Thanh tra Chính phủ đã xây dựng và triển khai đề án đào tạo và phát triển nguồn nhân lực an toàn thông tin giai đoạn 2021-2025. Đề án tập trung nâng cao trình độ chuyên môn, kỹ năng nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ làm công tác công nghệ thông tin và an toàn thông tin, từng bước hình thành lực lượng có khả năng đáp ứng yêu cầu bảo vệ Tổ quốc trên không gian mạng trong bối cảnh mới.
Những kết quả đạt được cho thấy, dù nguồn lực còn hạn chế, Thanh tra Chính phủ đã có những bước đi bài bản, có lộ trình trong xây dựng nền tảng bảo vệ an toàn thông tin, góp phần giữ vững ổn định hoạt động của cơ quan trên môi trường số.
Bên cạnh những kết quả tích cực, thực tiễn triển khai cũng bộc lộ một số hạn chế. Việc xây dựng kế hoạch, tổ chức lực lượng, đào tạo, huấn luyện trong bảo vệ an toàn thông tin đã được quan tâm nhưng triển khai chưa thật sự đồng bộ. Nguyên nhân xuất phát từ hạn chế về kinh phí, trong khi đội ngũ cán bộ làm công tác an toàn thông tin còn mỏng, chủ yếu kiêm nhiệm nhiều nhiệm vụ chuyên môn khác.
Cùng với đó, cơ chế, chính sách và điều kiện bảo đảm cho hoạt động bảo vệ Tổ quốc trên không gian mạng còn chưa tương xứng với yêu cầu nhiệm vụ. Đây là khó khăn chung của nhiều cơ quan Nhà nước, nhất là trong bối cảnh cạnh tranh thu hút nhân lực chất lượng cao trong lĩnh vực an toàn thông tin ngày càng gay gắt.

Ông Lê Viết Thắng, Phó Chánh Văn phòng Thanh tra Chính phủ. Ảnh: NVCC
Cần được xác định là nhiệm vụ chính trị thường xuyên, gắn chặt với kỷ luật
Trao đổi về vấn đề này, ông Lê Viết Thắng, Phó Chánh Văn phòng Thanh tra Chính phủ, cho rằng bảo vệ Tổ quốc trên không gian mạng cần được xác định là nhiệm vụ chính trị thường xuyên, gắn chặt với kỷ luật, kỷ cương hành chính và hiệu lực quản lý Nhà nước.
Theo ông Lê Viết Thắng, trong môi trường số, mỗi cán bộ, công chức không chỉ là người sử dụng hệ thống thông tin mà còn là một “mắt xích” trong bảo vệ an toàn, an ninh mạng của cơ quan. Mỗi thao tác nghiệp vụ, mỗi hành vi khai thác, chia sẻ thông tin đều có thể tác động trực tiếp đến an toàn dữ liệu và uy tín của cơ quan Nhà nước.
Từ thực tiễn giai đoạn 2015 – 2025, ông Lê Viết Thắng nhấn mạnh bài học quan trọng là phải kết hợp chặt chẽ giữa giải pháp kỹ thuật với giải pháp tổ chức và con người. Đầu tư hạ tầng công nghệ là cần thiết, nhưng nếu không song hành với nâng cao ý thức trách nhiệm, tuân thủ nghiêm quy trình, quy định về bảo vệ thông tin thì hiệu quả bảo vệ Tổ quốc trên không gian mạng sẽ khó bền vững.
Bên cạnh đó, yêu cầu đặt ra là cần tiếp tục hoàn thiện cơ chế, chính sách và bảo đảm điều kiện cho lực lượng làm công tác an toàn thông tin. Khi nhiệm vụ ngày càng nặng nề, nguy cơ ngày càng phức tạp, thì việc xây dựng đội ngũ đủ năng lực, ổn định, yên tâm công tác chính là yếu tố quyết định để nâng cao năng lực phòng thủ mạng và bảo vệ chủ quyền số của cơ quan.
Có thể khẳng định, những kết quả đạt được trong giai đoạn 2015 – 2025 là nền tảng quan trọng để Thanh tra Chính phủ tiếp tục củng cố và nâng cao hiệu quả bảo vệ Tổ quốc trên không gian mạng, góp phần giữ vững an ninh, trật tự, bảo đảm hoạt động thông suốt của bộ máy Nhà nước và phục vụ hiệu quả Nhân dân trong kỷ nguyên số.
Bài 2: Hoàn thiện pháp luật và thế trận bảo vệ Tổ quốc trên không gian mạng trong kỷ nguyên số
Trang Anh
(Nguồn: Thanhtra.com.vn)
Một trong những định hướng quan trọng được đề ra trong dự thảo văn kiện trình Đại hội XIV của Đảng là tập trung xây dựng, hoàn thiện toàn diện, đồng bộ thể chế phát triển nhanh và bền vững đất nước.
Dự thảo Báo cáo Chính trị trình Đại hội XIV của Đảng nhận diện hệ thống thể chế phát triển chưa đồng bộ, trở thành “điểm nghẽn của điểm nghẽn”.
Vì vậy, một trong những định hướng quan trọng được đưa ra trong dự thảo văn kiện là tập trung xây dựng, hoàn thiện toàn diện, đồng bộ thể chế phát triển nhanh và bền vững đất nước, trong đó thể chế chính trị là then chốt, thể chế kinh tế là trọng tâm và các thể chế khác là rất quan trọng.
Cần “một đường cao tốc số” cho hệ thống pháp luật
Khi góp ý, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật và Tư pháp Nguyễn Phương Thủy đồng tình với dự thảo Báo cáo Chính trị khi xác định xây dựng và hoàn thiện thể chế là một trong ba đột phá chiến lược trong giai đoạn mới.

Phó Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật và Tư pháp Nguyễn Phương Thủy. Ảnh: P.Thắng
Theo bà, tư duy coi thể chế là nền tảng của phát triển, thể hiện tầm nhìn chiến lược của Đảng vì chỉ khi thể chế thông suốt, quản trị quốc gia mới hiệu quả và niềm tin xã hội mới được củng cố.
Những năm gần đây, bà Thủy đánh giá hệ thống pháp luật đã có rất nhiều bước tiến quan trọng, đổi mới về tư duy lập pháp. Song một trong những điểm nghẽn lớn nhất hiện nay là tình trạng chồng chéo, mâu thuẫn, thiếu đồng bộ giữa các văn bản pháp luật khiến việc thực thi vừa khó khăn, vừa dễ phát sinh rủi ro pháp lý.
“Người dân, doanh nghiệp, thậm chí cả các cơ quan Nhà nước cũng hết sức lúng túng khi không biết văn bản nào còn hiệu lực và những điều khoản nào đã được sửa đổi, bổ sung”, bà Thủy nêu.
Từ thực tế đó, bà Thủy đề nghị bổ sung nhiệm vụ xây dựng và phát triển hệ thống pháp luật máy đọc vào mục tiêu đột phá chiến lược về thể chế.
Theo bà, đây không chỉ là cải tiến về mặt kỹ thuật, mà là bước đột phá giúp hệ thống pháp luật Việt Nam minh bạch, thống nhất, dễ tiếp cận và tự phát hiện mâu thuẫn.
“Nền kinh tế muốn cất cánh cần phải có nhiều đường cao tốc, đường sắt tốc độ cao. Hệ thống pháp luật – nền tảng của quản trị quốc gia cũng cần một đường cao tốc số để vận hành thông suốt, tránh ách tắc và lỗi kết nối, đường cao tốc đó chính là luật máy đọc”, bà Thủy nói và đề nghị xác lập chuẩn dữ liệu quốc gia về pháp luật.
Cùng với đó, theo bà Thủy, cần đẩy mạnh công khai, minh bạch và phản biện xã hội trong quá trình lập pháp.
“Cải cách pháp luật trong giai đoạn tới không nên chỉ dừng ở việc ban hành mới hay sửa đổi, bổ sung các luật mà cần tái thiết toàn bộ hệ thống điều hành pháp luật quốc gia”, bà Thủy góp ý và nhấn mạnh “pháp luật phải trở thành hạ tầng của phát triển chứ không còn là rào cản”.
Thể chế là trụ cột chính kiến tạo phát triển trong kỷ nguyên mới
Đại biểu Quốc hội Mai Văn Hải (Thanh Hóa) nhận định Quốc hội, Chính phủ vừa qua rất nỗ lực để xây dựng, hoàn thiện pháp luật, tạo điều kiện cho thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội.
Song theo ông Hải, thực tế vẫn có một số dự án luật khi ban hành bị “mắc” và rất khó thực hiện. Vì vậy, ông đề nghị, Đại hội XIV của Đảng cần tiếp tục nghiên cứu để có quan điểm, sự lãnh đạo với công tác xây dựng pháp luật, làm sao đổi mới tư duy trong công tác lập pháp và tính khả thi, tổ chức thực hiện trong thực tiễn, tránh tình trạng luật vừa ban hành đã vướng.

Đại biểu Quốc hội Vũ Xuân Hùng (Ủy ban Quốc phòng, An ninh và Đối ngoại). Ảnh: P.Thắng
Đại biểu Quốc hội Vũ Xuân Hùng (Ủy ban Quốc phòng, An ninh và Đối ngoại) cũng tán thành với quan điểm “thể chế là đột phá chiến lược và là trụ cột chính kiến tạo phát triển trong kỷ nguyên mới”.
Nhấn mạnh vấn đề cốt lõi là phải chuyển từ cơ chế “quản lý” sang “kiến tạo phát triển”, ông Hùng cho rằng muốn kiến tạo phát triển được phải thể chế rõ vai trò của Nhà nước và chính quyền số, thể chế hóa dữ liệu quốc gia và coi dữ liệu quốc gia là tài nguyên chiến lược, là mạch máu, xương sống trong kiến tạo.
Trong thời kỳ hội nhập với chuyển đổi số, theo ông Hùng, nếu không triển khai được việc này từ trên xuống dưới sẽ rất khó phát triển.
Đại biểu Đỗ Ngọc Thịnh (Khánh Hòa) đồng tình với nhận định thể chế là một trong những đột phá chiến lược, nhưng cũng đang là “điểm nghẽn của điểm nghẽn” nên cần quyết tâm tháo gỡ.
Về nguyên nhân của điểm nghẽn, ông Thịnh chỉ ra phần khách quan khi các mối quan hệ xã hội hiện nay phát triển rất nhanh và mạnh mẽ, cùng rất nhiều yếu tố mới xuất hiện về khoa học, công nghệ, trí tuệ nhân tạo… nên hệ thống pháp luật có phần chưa theo kịp.
Bên cạnh đó, ông cho rằng có phần nguyên nhân do “cài cắm lợi ích” trong công tác xây dựng pháp luật. Điều này dẫn đến luật ban hành đúng trình tự, thủ tục nhưng khi đi vào thực tiễn lại khó triển khai do “tầng lợi ích cài cắm”.
Nhấn mạnh cần nhìn nhận đúng nguyên nhân để tháo gỡ điểm nghẽn, ông Thịnh đề xuất lập một Ban Chỉ đạo về xây dựng thể chế, kiểm soát tình trạng “cài cắm lợi ích” trong làm luật.
Cùng với nỗ lực xây dựng thể chế tốt, theo đại biểu Quốc hội Khánh Hòa, cần kiên quyết xử lý những trường hợp văn bản pháp luật không đảm bảo chất lượng.
Hương Giang
(Nguồn: Thanhtra.com.vn)
Trong bối cảnh yêu cầu đối với hoạt động thanh tra ngày càng cao, phạm vi nhiệm vụ ngày càng rộng và tính chất ngày càng phức tạp, đổi mới tư duy nghiên cứu khoa học được xác định là yêu cầu tất yếu, mang tính chiến lược đối với sự phát triển của ngành Thanh tra.

Nghiên cứu khoa học phải đi cùng thực tiễn, giải quyết những vấn đề thực tiễn đặt ra
Theo TS Nguyễn Huy Hoàng, Phó Hiệu trưởng Trường Cán bộ Thanh tra, nghiên cứu khoa học của ngành phải bám sát thực tiễn hoạt động thanh tra, tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo, phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực; từ đó phục vụ trực tiếp cho công tác đào tạo, bồi dưỡng và tham mưu hoàn thiện thể chế.
Trong năm 2025, mặc dù trong điều kiện công tác nghiên cứu khoa học còn gặp nhiều khó khăn về nguồn lực, đặc biệt là việc chưa được bố trí kinh phí cho các đề tài nghiên cứu, nhưng Trường Cán bộ Thanh tra vẫn chủ động, linh hoạt triển khai nhiệm vụ và đạt được nhiều kết quả tích cực.
Nổi bật là việc từng bước đổi mới tư duy nghiên cứu, chuyển mạnh từ nghiên cứu thiên về lý luận sang nghiên cứu gắn chặt với tổng kết thực tiễn, coi đây là nền tảng để phục vụ xây dựng, hoàn thiện thể chế của ngành Thanh tra.
Trên cơ sở đó, Trường tập trung củng cố các luận cứ khoa học và thực tiễn để đề xuất hoàn thiện cơ chế, chính sách; đồng thời xây dựng các tài liệu hướng dẫn chuyên môn, nghiệp vụ, góp phần trực tiếp nâng cao kỹ năng thực thi pháp luật cho đội ngũ công chức, viên chức ngành Thanh tra.
Theo Phó Hiệu trưởng Nguyễn Huy Hoàng, đổi mới tư duy nghiên cứu khoa học không chỉ là yêu cầu khách quan mà còn là điều kiện để nghiên cứu khoa học thực sự phát huy vai trò phục vụ nhiệm vụ chính trị của ngành.
“Nghiên cứu khoa học phải đi cùng thực tiễn, giải quyết những vấn đề thực tiễn đang đặt ra trong hoạt động thanh tra, tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo và phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực”, ông nhấn mạnh.
Khảo sát thực tế, biên soạn tài liệu “cầm tay chỉ việc”
Ông Hoàng cho biết, thực hiện chủ trương trên, trong năm 2025, Trường Cán bộ Thanh tra đã thành lập 3 tổ khảo sát trực tiếp xuống cơ sở để nắm bắt tình hình thực hiện nhiệm vụ, những khó khăn, vướng mắc của các bộ, ngành, địa phương.
Nội dung khảo sát tập trung vào các lĩnh vực trọng tâm như: tiếp công dân, xử lý đơn, giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh; công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực.
Từ kết quả khảo sát thực tiễn, Trường đã chủ động đề xuất việc triển khai nghiên cứu, khảo sát trong năm 2026 là tập trung vào các mảng lĩnh vực thanh tra trọng điểm do Thanh tra Chính phủ triển khai trong thời gian qua.
“Đây được xem là bước đi quan trọng nhằm hệ thống hóa thực tiễn, phát hiện những vấn đề còn bất cập, từ đó đề xuất giải pháp mang tính khả thi cao”, ông Hoàng nói.
Đặc biệt, trên cơ sở tổng hợp kết quả nghiên cứu, khảo sát và tổng kết thực tiễn, Trường đã lựa chọn các cuộc thanh tra điển hình để biên soạn sách chuyên sâu về kỹ năng, phương pháp và kinh nghiệm tiến hành hoạt động thanh tra.
Các ấn phẩm này được xác định có giá trị như những “cẩm nang cầm tay chỉ việc”, giúp công chức, thanh tra viên có thể nghiên cứu, vận dụng trực tiếp vào quá trình thực thi nhiệm vụ, thay vì chỉ dừng lại ở tham khảo lý luận chung, ông Hoàng nhấn mạnh.
Tiếp tục nâng cao tính ứng dụng, gắn nghiên cứu khoa học với hoàn thiện thể chế
Song song với hoạt động khảo sát, tổng kết thực tiễn, công tác triển khai nghiên cứu và quản lý các đề tài khoa học tiếp tục được Trường Cán bộ Thanh tra thực hiện nghiêm túc, đúng quy định.

Một buổi nghiệm thu đề tài khoa học năm 2025 tại Trường Cán bộ Thanh tra.
Phó Hiệu trưởng Trường Cán bộ Thanh tra Nguyễn Huy Hoàng cho biết, năm 2026, công tác nghiên cứu khoa học và quản lý khoa học sẽ tập trung triển khai hiệu quả các nhiệm vụ đã được Tổng Thanh tra Chính phủ phê duyệt, gồm 18 đề tài cấp bộ, 12 đề tài cấp cơ sở, 6 nhiệm vụ khảo sát, tổng kết thực tiễn, 12 hoạt động phát triển sự nghiệp, 8 tọa đàm khoa học và các nhiệm vụ nghiên cứu độc lập.
Trong đó, lãnh đạo Nhà trường đặc biệt chú trọng nâng cao tính ứng dụng, khả thi của kết quả nghiên cứu, gắn chặt nghiên cứu khoa học với yêu cầu xây dựng, hoàn thiện thể chế của ngành Thanh tra.
“Nội dung nghiên cứu sẽ tập trung vào các vấn đề mới như thanh tra trực tuyến, thanh tra từ xa; chuyển trọng tâm từ xử lý vi phạm sang phòng ngừa từ sớm, từ xa; ứng dụng dữ liệu số, dữ liệu điện tử; tiếp công dân trực tuyến; xác minh tài sản, thu nhập trong môi trường số”, ông Hoàng cho biết.
Phó Hiệu trưởng Nguyễn Huy Hoàng cho biết thêm, Trường sẽ tham mưu xây dựng định hướng, kế hoạch nghiên cứu khoa học năm 2027 phù hợp với chiến lược phát triển của ngành Thanh tra; tổ chức tuyển chọn đề tài, ký hợp đồng nghiên cứu, tăng cường quản lý tiến độ, tổ chức nghiệm thu khoa học đúng thời hạn, khắc phục triệt để tình trạng dồn nghiệm thu vào cuối năm.
Song song với đó, Trường Cán bộ Thanh tra tiếp tục mở rộng hợp tác với các cơ quan nghiên cứu, bộ, ngành, địa phương và các tổ chức trong và ngoài nước, nhằm nâng cao chất lượng nghiên cứu khoa học, đào tạo, bồi dưỡng và góp phần xây dựng ngành Thanh tra ngày càng chuyên nghiệp, hiện đại và hiệu quả.
Văn Hùng
