Sửa đổi, bổ sung Quy chế phối hợp trong kiểm tra, giám sát phòng, chống rửa tiền và tài trợ khủng bố
Phó Thủ tướng Thường trực Nguyễn Hòa Bình vừa ký Quyết định số 1338/QĐ-TTg ngày 6/11/2024 sửa đổi, bổ sung Quy chế phối hợp giữa các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ trong công tác phòng, chống tội phạm rửa tiền và tài trợ khủng bố ban hành kèm theo Quyết định số 64/QĐ-TTg ngày 8/2/2023 của Thủ tướng Chính phủ.
Quyết định số 1338/QĐ-TTg ngày 6/11/2024 sửa đổi, bổ sung quy định về phối hợp trong công tác kiểm tra, giám sát các tổ chức trong việc chấp hành các quy định của pháp luật về phòng, chống rửa tiền và tài trợ khủng bố.
Điểm mới của Quyết định số 1338/QĐ-TTg là đã bổ sung quy định cụ thể về nhiệm vụ của Bộ Tư pháp, Bộ Công Thương, Bộ Thông tin và Truyền thông trong công tác kiểm tra, giám sát các tổ chức trong việc chấp hành các quy định của pháp luật về phòng, chống rửa tiền và tài trợ khủng bố.
Nhiệm vụ của các bộ ngành, cơ quan được quy định cụ thể tại Quyết định số 1338/QĐ-TTg như sau:
Một là, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam có nhiệm vụ chủ trì, phối hợp các bộ, ngành liên quan thành lập Đoàn kiểm tra, giám sát liên ngành các đối tượng báo cáo việc chấp hành các quy định của pháp luật về phòng, chống rửa tiền trong phạm vi, lĩnh vực quản lý. Việc thành lập Đoàn kiểm tra, giám sát liên ngành có thể lồng ghép hoặc phối hợp với các đoàn kiểm tra, giám sát liên ngành khác có liên quan do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam chủ trì. Phối hợp tham gia Đoàn kiểm tra, giám sát liên ngành việc chấp hành các quy định của pháp luật về phòng, chống rửa tiền và phòng, chống khủng bố theo đề nghị của Bộ Công an, Bộ Tài chính, Bộ Xây dựng, Bộ Tư pháp, Bộ Công Thương, Bộ Thông tin và Truyền thông; thực hiện các nhiệm vụ được phân công của Trưởng Đoàn kiểm tra, giám sát liên ngành.
Chỉ đạo Ngân hàng Nhà nước chi nhánh tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương chủ trì, phối hợp các sở, ngành địa phương tham mưu cấp có thẩm quyền thành lập Đoàn kiểm tra, giám sát liên ngành các đối tượng báo cáo việc chấp hành các quy định của pháp luật về phòng, chống rửa tiền trong phạm vi, lĩnh vực quản lý tại địa phương. Việc thành lập Đoàn kiểm tra, giám sát liên ngành có thể lồng ghép hoặc phối hợp với các đoàn kiểm tra, giám sát liên ngành khác có liên quan do Ngân hàng Nhà nước chi nhánh tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương chủ trì.
Hai là, Bộ Tài chính có nhiệm vụ chủ trì, phối hợp các bộ, ngành liên quan thành lập Đoàn kiểm tra, giám sát liên ngành các đối tượng báo cáo việc chấp hành các quy định của pháp luật về phòng, chống rửa tiền trong phạm vi, lĩnh vực quản lý. Việc thành lập Đoàn kiểm tra, giám sát liên ngành có thể lồng ghép hoặc phối hợp với các đoàn kiểm tra, giám sát liên ngành khác có liên quan do Bộ Tài chính chủ trì. Phối hợp tham gia Đoàn kiểm tra, giám sát liên ngành việc chấp hành các quy định của pháp luật về phòng, chống rửa tiền và phòng, chống khủng bố theo đề nghị của Bộ Công an, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Bộ Xây dựng, Bộ Tư pháp, Bộ Công Thương, Bộ Thông tin và Truyền thông; thực hiện các nhiệm vụ được phân công của Trưởng Đoàn kiểm tra, giám sát liên ngành.
Ba là, Bộ Xây dựng có nhiệm vụ chủ trì, phối hợp các bộ, ngành liên quan thành lập Đoàn kiểm tra, giám sát liên ngành các đối tượng báo cáo việc chấp hành các quy định của pháp luật về phòng, chống rửa tiền trong phạm vi, lĩnh vực quản lý. Việc thành lập Đoàn kiểm tra, giám sát liên ngành có thể lồng ghép hoặc phối hợp với các đoàn kiểm tra, giám sát liên ngành khác có liên quan do Bộ Xây dựng chủ trì. Phối hợp tham gia Đoàn kiểm tra, giám sát liên ngành việc chấp hành các quy định của pháp luật về phòng, chống rửa tiền và phòng, chống khủng bố theo đề nghị của Bộ Công an, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Bộ Tài chính, Bộ Tư pháp, Bộ Công Thương, Bộ Thông tin và Truyền thông; thực hiện các nhiệm vụ được phân công của Trưởng Đoàn kiểm tra, giám sát liên ngành.
![]() |
| Một hội nghị về phòng chống rửa tiền. (ảnh: ST) |
Chỉ đạo Sở Xây dựng các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương chủ trì, phối hợp các sở, ngành địa phương tham mưu cấp có thẩm quyền thành lập Đoàn kiểm tra, giám sát liên ngành các đối tượng báo cáo việc chấp hành các quy định của pháp luật về phòng, chống rửa tiền trong phạm vi, lĩnh vực quản lý tại địa phương. Việc thành lập Đoàn kiểm tra, giám sát liên ngành có thể lồng ghép hoặc phối hợp với các đoàn kiểm tra, giám sát liên ngành khác có liên quan do Sở Xây dựng tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương chủ trì.
Bốn là, Bộ Tư pháp có nhiệm vụ chủ trì, phối hợp các bộ, ngành liên quan thành lập Đoàn kiểm tra, giám sát liên ngành các đối tượng báo cáo việc chấp hành các quy định của pháp luật về phòng, chống rửa tiền trong phạm vi, lĩnh vực quản lý. Việc thành lập Đoàn kiểm tra, giám sát liên ngành có thể lồng ghép hoặc phối hợp với các đoàn kiểm tra, giám sát liên ngành khác có liên quan do Bộ Tư pháp chủ trì. Phối hợp tham gia Đoàn kiểm tra, giám sát liên ngành việc chấp hành các quy định của pháp luật về phòng, chống rửa tiền và phòng, chống khủng bố theo đề nghị của Bộ Công an, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Bộ Tài chính, Bộ Xây dựng, Bộ Công Thương, Bộ Thông tin và Truyền thông; thực hiện các nhiệm vụ được phân công của Trưởng Đoàn kiểm tra, giám sát liên ngành.
Chỉ đạo Sở Tư pháp các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương chủ trì, phối hợp các sở, ngành địa phương tham mưu cấp có thẩm quyền thành lập Đoàn kiểm tra, giám sát liên ngành các đối tượng báo cáo việc chấp hành các quy định của pháp luật về phòng, chống rửa tiền trong phạm vi, lĩnh vực quản lý tại địa phương. Việc thành lập Đoàn kiểm tra, giám sát liên ngành có thể lồng ghép hoặc phối hợp với các đoàn kiểm tra, giám sát liên ngành khác có liên quan do Sở Tư pháp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương chủ trì.
Năm là, Bộ Công Thương có nhiệm vụ chủ trì, phối hợp các bộ, ngành liên quan thành lập Đoàn kiểm tra, giám sát liên ngành các đối tượng báo cáo việc chấp hành các quy định của pháp luật về phòng, chống rửa tiền trong phạm vi, lĩnh vực quản lý. Việc thành lập Đoàn kiểm tra, giám sát liên ngành có thể lồng ghép hoặc phối hợp với các đoàn kiểm tra, giám sát liên ngành khác có liên quan do Bộ Công Thương chủ trì. Phối hợp tham gia Đoàn kiểm tra, giám sát liên ngành việc chấp hành các quy định của pháp luật về phòng, chống rửa tiền và phòng, chống khủng bố theo đề nghị của Bộ Công an, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Bộ Tài chính, Bộ Xây dựng, Bộ Tư pháp, Bộ Thông tin và Truyền thông; thực hiện các nhiệm vụ được phân công của Trưởng Đoàn kiểm tra, giám sát liên ngành.
Chỉ đạo Sở Công Thương các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương chủ trì, phối hợp các sở, ngành địa phương tham mưu cấp có thẩm quyền thành lập Đoàn kiểm tra, giám sát liên ngành các đối tượng báo cáo việc chấp hành các quy định của pháp luật về phòng, chống rửa tiền trong phạm vi, lĩnh vực quản lý tại địa phương. Việc thành lập Đoàn kiểm tra, giám sát liên ngành có thể lồng ghép hoặc phối hợp với các đoàn kiểm tra, giám sát liên ngành khác có liên quan do Sở Công Thương tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương chủ trì.
Sáu là, Bộ Thông tin và Truyền thông có nhiệm vụ chủ trì, phối hợp các bộ, ngành liên quan thành lập Đoàn kiểm tra, giám sát liên ngành các đối tượng báo cáo việc chấp hành các quy định của pháp luật về phòng, chống rửa tiền trong phạm vi, lĩnh vực quản lý. Việc thành lập Đoàn kiểm tra, giám sát liên ngành có thể lồng ghép hoặc phối hợp với các đoàn kiểm tra, giám sát liên ngành khác có liên quan do Bộ Thông tin và Truyền thông chủ trì. Phối hợp tham gia Đoàn kiểm tra, giám sát liên ngành việc chấp hành các quy định của pháp luật về phòng, chống rửa tiền và phòng, chống khủng bố theo đề nghị của Bộ Công an, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Bộ Tài chính, Bộ Xây dựng, Bộ Tư pháp, Bộ Công Thương; thực hiện các nhiệm vụ được phân công của Trưởng Đoàn kiểm tra, giám sát liên ngành.
Bảy là, Bộ Công an có nhiệm vụ chủ trì, phối hợp các bộ, ngành liên quan thành lập Đoàn kiểm tra, giám sát liên ngành việc chấp hành các quy định của pháp luật về phòng, chống khủng bố theo quy định của Luật Phòng, chống khủng bố tại các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và các tổ chức tài chính, tổ chức kinh doanh ngành nghề phi tài chính có liên quan theo quy định của pháp luật. Việc thành lập Đoàn kiểm tra, giám sát liên ngành có thể lồng ghép hoặc phối hợp với các đoàn kiểm tra, giám sát liên ngành khác có liên quan do Bộ Công an chủ trì. Phối hợp tham gia Đoàn kiểm tra, giám sát liên ngành việc chấp hành các quy định của pháp luật về phòng, chống rửa tiền theo đề nghị của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Bộ Tài chính, Bộ Xây dựng, Bộ Tư pháp, Bộ Công Thương, Bộ Thông tin và Truyền thông; thực hiện các nhiệm vụ được phân công của Trưởng Đoàn kiểm tra, giám sát liên ngành.
Chỉ đạo Công an các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương chủ trì, phối hợp các sở, ngành liên quan tại địa phương tham mưu cấp có thẩm quyền thành lập Đoàn kiểm tra, giám sát liên ngành việc chấp hành các quy định của pháp luật phòng, chống khủng bố theo quy định của Luật Phòng, chống khủng bố tại các sở, ngành và các tổ chức tài chính, tổ chức kinh doanh ngành nghề phi tài chính có liên quan trong phạm vi, lĩnh vực quản lý tại địa phương theo quy định của pháp luật. Việc thành lập Đoàn kiểm tra, giám sát liên ngành có thể lồng ghép hoặc phối hợp với các đoàn kiểm tra, giám sát liên ngành khác có liên quan do Công an các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương chủ trì.
Tám là, các bộ, cơ quan ngang bộ có nhiệm vụ phối hợp Bộ Công an, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Bộ Tài chính, Bộ Xây dựng, Bộ Tư pháp, Bộ Công Thương, Bộ Thông tin và Truyền thông rà soát các lĩnh vực, tổ chức có rủi ro rửa tiền và tài trợ khủng bố; phối hợp xây dựng kế hoạch kiểm tra, giám sát liên ngành. Tham gia Đoàn kiểm tra, giám sát liên ngành theo đề nghị của Bộ Công an, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Bộ Tài chính, Bộ Xây dựng, Bộ Tư pháp, Bộ Công Thương, Bộ Thông tin và Truyền thông; thực hiện các nhiệm vụ được phân công của Trưởng Đoàn kiểm tra, giám sát liên ngành. Chỉ đạo các sở, ngành theo thẩm quyền tại các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương phối hợp chặt chẽ Công an cấp tỉnh, Ngân hàng Nhà nước cấp tỉnh, Sở Xây dựng, Sở Tư pháp, Sở Công Thương trong tham mưu cấp có thẩm quyền thành lập Đoàn kiểm tra, giám sát liên ngành.
Chín là, đơn vị chủ trì thành lập Đoàn kiểm tra, giám sát liên ngành có nhiệm vụ chủ trì ban hành quyết định thành lập Đoàn kiểm tra, giám sát liên ngành do 01 đồng chí lãnh đạo thuộc đơn vị chủ trì làm Trưởng Đoàn kiểm tra, giám sát. Việc thành lập Đoàn kiểm tra, giám sát liên ngành các đối tượng báo cáo theo quy định của Luật Phòng, chống rửa tiền trong chấp hành các quy định của pháp luật về phòng, chống rửa tiền phải có thành viên thuộc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (cơ quan chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước về phòng, chống rửa tiền) và Bộ Công an (cơ quan chủ trì trong công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm rửa tiền và tài trợ khủng bố). Phải căn cứ vào yêu cầu kiểm tra, giám sát để cử các thành viên phù hợp, đảm bảo thực hiện hiệu quả.
Xây dựng kế hoạch kiểm tra, giám sát; phân công nhiệm vụ cho các thành viên Đoàn kiểm tra, giám sát liên ngành. Chuẩn bị các điều kiện hậu cần, kỹ thuật đảm bảo thực hiện hiệu quả kế hoạch kiểm tra, giám sát theo yêu cầu, mục đích đặt ra. Quyết định nêu rõ: Đoàn kiểm tra, giám sát liên ngành các tổ chức việc chấp hành các quy định của pháp luật về phòng, chống rửa tiền và tài trợ khủng bố hoạt động theo chế độ kiêm nhiệm, tự giải thể khi hoàn thành yêu cầu, nhiệm vụ theo kế hoạch./.
(Nguồn: ThanhtraVietNam)
Sáng ngày 6/11, tại trụ sở cơ quan Thanh tra Chính phủ, Phó Tổng Thanh tra Chính phủ Lê Sỹ Bảy chủ trì Toạ đàm giới thiếu Đề án “Phát triển ứng dụng dữ liệu về dân cư, định danh và xác thực điện tử phục vụ chuyển đổi số quốc gia giai đoạn 2022 – 2025, tầm nhìn đến năm 2030” (gọi tắt là Đề án 06/CP) và ứng dụng định danh điện tử (VNeID) trong thực hiện thủ tục hành chính.
Nâng cấp cơ sở dữ liệu quốc gia về khiếu nại, tố cáo và phòng, chống tham nhũng đáp ứng các quy định mới
Tại cơ quan Thanh tra Chính phủ, Đại tá Vũ Văn Tấn, Phó Cục trưởng Cục Cảnh sát Quản lý hành chính về Trật tự xã hội, Bộ Công an (C06) cho biết để thực hiện chiến lược quốc gia phòng, chống tham nhũng, tiêu cực đến năm 2030, C06 đề xuất Thanh tra Chính phủ thúc đẩy triển khai Đề án 06, thực hiện chống tham nhũng, tiết kiệm, chống lãng phí; triển khai 100% bộ công chức Thanh tra Chính phủ cài đặt VNeID, gương mẫu sử dụng dịch vụ công trực tuyến và tuyên truyền gia đình người thân thực hiện…
Phát biểu tại toạ đàm, Phó Tổng Thanh tra Chính phủ Lê Sỹ Bảy cho biết, để thực hiện Quyết định số 06/QĐ – TTg ngày 6/1/2022 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án phát triển ứng dụng dữ liệu dân cư, định danh và xác thực điện tử phục vụ chuyển đổi số quốc gia giai đoạn 2022 – 2025, tầm nhìn đến năm 2030, Thanh tra Chính phủ đã ban hành nhiều kế hoạch triển khai thực hiện trong đó yêu cầu kết nối, chia sẻ dữ liệu giữa Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư với Cơ sở dữ liệu quốc gia về khiếu nại tố cáo bảo đảm yêu cầu an toàn thông tin theo quy định của Bộ Công an, Bộ Thông tin và Truyền thông. Đồng thời giao Trung tâm Thông tin, Vụ Pháp chế, Văn phòng và Vụ Kế hoạch – Tổng hợp chủ trì thực hiện các nhiệm vụ được giao.
Phó Tổng Thanh tra Chính Phủ Lê Sỹ Bảy đề nghị các cục, vụ, đơn vị tiếp tục quan tâm hơn nữa trong việc thực hiện Đề án 06/CP và tuyên truyền để cán bộ công chức, viên chức, người lao động thực hiện ứng dụng VNeID trong cơ quan cũng như bản thân và gia đình.
Trung tâm Thông tin chủ trì, phối hợp với Ban Tiếp công dân Trung ương và các cục, vụ, đơn vị có liên quan thực hiện nâng cấp cơ sở dữ liệu quốc gia về khiếu nại, tố cáo và phòng, chống tham nhũng đáp ứng các quy định mới ban hành; thực hiện kết nối, chia sẻ dữ liệu giữa Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư với Cơ sở dữ liệu quốc gia về khiếu nại, tố cáo và phòng, chống tham nhũng…
“Trong quá trình thực hiện, nếu có ý kiến có thể tổng hợp gửi Văn phòng để tiếp tục được giải đáp. Cải cách hành chính không chỉ cải cách tại cơ quan mà cải cách ngay từ bản thân để thực hiện nhiệm vụ được tốt hơn”, Phó Tổng Thanh tra Chính phủ Lê Sỹ Bảy nhấn mạnh.
![]() |
| Phó Tổng Thanh tra Chính phủ Lê Sỹ Bảy chủ trì buổi Toạ đàm. Ảnh: PV |
Tiết kiệm 2.505 tỷ đồng, hạn chế “tham nhũng vặt”
Trong khuôn khổ toạ đàm, Đại tá Vũ Văn Tấn cũng chia sẻ, từ những thành công, kết quả bước đầu mang lại từ 2 hệ thống Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư và hệ thống sản xuất, cấp và quản lý Căn cước công dân cùng với sự ra đời của ứng dụng VNeID là tiền đề để Thủ tướng Chính phủ ký, ban hành Quyết định số 06/QĐ- TTg ngày 6/1/2022 phê duyệt Đề án 06/CP với 7 quan điểm chỉ đạo lớn có tính chất xuyên suốt trong quá trình thực hiện để triển khai 5 nhóm tiện ích.
Đến nay, sau gần 3 năm triển khai Đề án 06 đã đi vào ngóc ngách của 4 cấp Bộ, tỉnh, huyện, xã; phục vụ văn minh xã hội, phát triển kinh tế và phòng, chống tội phạm; để thực hiện được phải nhận thức đúng và có giải pháp sáng tạo; vấn đề quan trọng nhất là sự quyết tâm, quyết liệt của người đứng đầu các bộ, ngành, địa phương.
Thực tế, với sự vào cuộc quyết liệt từ Trung ương đến cơ sở, đã và đang mang lại hiệu quả thiết thực trên cả 3 khía cạnh làm cho xã hội văn minh hơn, đóng góp trực tiếp vào phát triển kinh tế và nâng cao hiệu quả quản trị xã hội, phòng chống tội phạm, được người dân, doanh nghiệp đồng tình, ủng hộ, đánh giá cao.
Đáng chú ý, 44/76 dịch vụ công thiết yếu đã được cung cấp trên Cổng dịch vụ công quốc gia, tiết kiệm cho nhà nước 2.505 tỷ đồng. Việc thực hiện thủ tục hành chính trên môi trường điện tử, không tiếp xúc trực tiếp với cơ quan nhà nước, cắt giảm giấy tờ, chi phí đi lại, góp phần hạn chế “tham nhũng vặt”.
![]() |
| Toàn cảnh buổi toạ đàm. Ảnh: PV |
Việc triển khai Đề án 06/CP cũng có nhiều điểm sáng thể hiện trên nhiều số liệu ấn tượng như từ ngày 1/7/2024 đến nay, Bộ Công an đã cấp hơn 4 triệu thẻ Căn cước cho công dân. 12 tiện ích trên ứng dụng VNeID với hơn 246,3 triệu lượt truy cập. Cấp Phiếu lý lịch tư pháp trên VNeID với hơn 24 nghìn hồ sơ. Hơn 65.786 doanh nghiệp, hộ kinh doanh đăng ký sử dụng với hơn 489,6 triệu hóa đơn điện tử, truy thu thuế cho cơ quan nhà nước hơn 1.900 tỷ đồng…
Triển khai thanh toán không dùng tiền mặt được đẩy mạnh, nổi bật là, 63/63 địa phương thực hiện chi trả an sinh xã hội không dùng tiền mặt cho 1.960.749 người với số tiền trên 8.280 tỷ đồng. 72% số người hưởng nhận các chế độ bảo hiểm tra xã hội, trợ cấp thất nghiệp qua tài khoản cá nhân tại khu vực đô thị.
Ngày 1/7/2024, Bộ Công an đã chính thức đưa vào vận hành Trung tâm xác thực điện tử. Đến ngày 31/10/2024, thực hiện xác thực thông tin trong thẻ Căn cước: Tổng số 20.900.536 lượt, đã tiếp nhận 923.667 yêu cầu xác thực sinh trắc học với Vietcombank. Thời gian tới, Bộ Công an sẽ tiếp tục phối hợp, triển khai cung cấp dịch vụ xác thực cho một số ngân hàng lớn như BIDV, Viettinbank. Việc đối chiếu dữ liệu sinh trắc, xác định đúng tài khoản, đúng người có căn cước được Bộ Công an cấp, loại bỏ tài khoản sử dụng giấy tờ giả, tài khoản không chính chủ.
Về hệ thống định danh và xác thực điện tử, ông Tấn cho biết trong năm 2024, 47 nhiệm vụ đã được triển khai về xây dựng, phát triển VNeID. Với 4 đợt cao điểm mang lại 5 đột phá gắn với 5 nhóm tiện ích của Đề án 06 góp phần thúc đẩy chuyển đổi số quốc gia, mang lại các giá trị thực tế bằng các con số cụ thể cho người dân, doanh nghiệp và cơ quan quản lý nhà nước.
Thực hiện Kế hoạch công tác năm 2024 đã đượcTổng Thanh tra Chính phủ phê duyệt, Trường Cán bộ Thanh tra đã cử Đoàn công tác đi trao đổi kinh nghiệm về công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ thanh tra tại Vương quốc Campuchia và Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào từ ngày 27/10 đến ngày 02/11/2024.

Đoàn công tác gồm 14 cán bộ, giảng viên và 01 chuyên viên của Vụ Hợp tác quốc tế, Thanh tra Chính phủ do bà Phạm Thị Thu Hiền, Phó Hiệu trưởng Trường Cán bộ Thanh tra làm Trưởng đoàn.
Tại Vương quốc Campuchia. Đoàn đã đến chào xã giao Ngài HE. Sok SOKEN, Bộ trưởng Bộ Thanh tra Campuchia. Sau chương trình chào xã giao, Đoàn công tác làm việc tại Học viện Quốc gia Thanh tra, Giám đốc Học viện chủ trì tiếp đoàn. Sau đó, đoàn tiếp tục đến thăm và làm việc tại Sở Thanh tra Thành phố Phnôm Pênh và Ngân hàng Phát triển và Đầu tư Campuchia (BIDC).
Tại Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào, Đoàn đã đến chào xã giao Đồng chí Đao Bua La Pha BAVONGPHET – Phó Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra, Phó Tổng Thanh tra Nhà nước Lào và Đồng chí Si Li Phon SUPHANTHONG – Phó Chủ tịch tỉnh Luông Pha Băng. Tiếp đó, Đoàn có buổi làm việc tại Ủy ban Kiểm tra, Thanh tra Nhà nước Lào do Đồng chí KhamVan SAYVONGSAK – Vụ trưởng Vụ Nghiên cứu và Tạp chí Thanh tra chủ trì; thăm và làm việc tại Ban Kiểm tra, Thanh tra tỉnh Luông Pha Băng (Đồng chí Khăm La LIENPHADIT – Chủ nhiệm Ban Kiểm tra, Chánh Thanh tra tỉnh chủ trì) và Ngân hàng Liên doanh Lào – Việt.
Nội dung làm việc chủ yếu tập trung trao đổi kinh nghiệm về xây dựng, hoàn thiện nội dung, chương trình đào tạo, bồi dưỡng cán bộ thanh tra; về nâng cao năng lực giảng dạy cho đội ngũ giảng viên; việc triển khai nghiên cứu các đề tài khoa học, đồng thời cũng dành thời gian trao đổi, thảo luận về công tác thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và phòng, chống tham nhũng. Các cơ quan thanh tra của hai nước đã ghi nhận và đánh giá cao mục đích, ý nghĩa của chuyến đi. Kết quả làm việc sẽ giúp cho Trường Cán bộ Thanh tra tiếp tục hoàn thiện chương trình, nội dung đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ cho cán bộ thanh tra Vương quốc Campuchia và Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào trong thời gian tới.
Sau các buổi làm việc, Đoàn cũng đã đến thămmột số di tích lịch sử, văn hóa, danh lam thắng cảnh tại Vương quốc Campuchia và Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào.

Kết thúc chương trình trao đổi kinh nghiệm, đại diện lãnh đạo cơ quan Thanh tra hai nước gửi lời cảm ơn trân trọng đến Tổng Thanh tra Chính phủ Việt Nam với mong muốn tiếp thu được nhiều kinh nghiệm thực tế từ Thanh tra Chính phủ Việt Nam. Đồng thời thường xuyên được cử cán bộ đến Việt Nam tham dự các khóa đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ theo những cam kết tại Bản Ghi nhớ hợp tác giữa ngành Thanh tra hai nước.
Một số hình ảnh về các buổi thăm và làm việc tại một số cơ quan của Vương quốc Campuchia và Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào:
TS. Triệu Thị Thu – Khoa Nghiệp vụ Thanh tra
Thông qua hoạt động tiếp công dân, Nhà nước và các cơ quan, tổ chức tiếp nhận được các vụ việc khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh của nhân dân liên quan đến việc thực hiện chủ trương, đường lối, chính sách, pháp luật để có các biện pháp xử lý, khắc phục kịp thời. Để làm tốt công tác này, chúng ta cần đề xuất đưa ra một số giải pháp đổi mới tổ chức và hoạt động tiếp công dân để khắc phục được những bất cập còn tồn tại trong thời gian qua.
Đổi mới về tổ chức bộ máy, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Ban tiếp công dân
Thứ nhất là, đổi mới tổ chức bộ máy, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Ban tiếp công dân trung ương:
Về vị trí, chức năng: Ban Tiếp công dân Trung ương trực thuộc Thanh tra Chính phủ quản lý; Trưởng ban tiếp công dân tương đương vụ trưởng và do Tổng Thanh tra Chính phủ quản lý trực tiếp; Ban tiếp công dân trung ương có chức năng tham mưu cho Tổng Thanh tra Chính phủ về công tác tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh.
Về nhiệm vụ, quyền hạn cần đổi mới: Tổ chức việc tiếp công dân đến khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh tại Trụ sở tiếp công dân trung ương phù hợp với tình hình thực tế và phù hợp với pháp luật liên quan; đổi mới công tác theo dõi, đôn đốc việc giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh đúng thời gian quy định và hiệu quả; đổi mới việc tổ chức tiếp, xử lý trường hợp nhiều người khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh về cùng một nội dung hiệu quả.
Thứ hai là, đổi mới tổ chức bộ máy, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Ban tiếp công dân cấp tỉnh:
Về vị trí, chức năng: Ban tiếp công dân cấp tỉnh trực thuộc Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh quản lý trực tiếp; Trưởng ban tiếp công dân cấp tỉnh tương đương Giám đốc sở. Ban tiếp công dân cấp tỉnh có chức năng tham mưu cho Chủ tịch tỉnh về công tác tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh.
Về nhiệm vụ, quyền hạn cần đổi mới: Đổi mới tổ chức việc tiếp công dân đến khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh tại Trụ sở tiếp công dân cấp tỉnh; đổi mới công tác theo dõi, đôn đốc việc giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh; đổi mới trong tổ chức tiếp, xử lý trường hợp nhiều người khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh về cùng một nội dung; đổi mới hoạt động phối hợp với Thanh tra tỉnh tham mưu giúp Chủ tịch Ủy ban nhân dân cùng cấp trong việc.
Thứ ba là, đổi mới tổ chức bộ máy, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Ban tiếp công dân cấp huyện:
Về vị trí, chức năng: Ban tiếp công dân cấp huyện trực thuộc Uỷ ban nhân dân cấp huyện quản lý trực tiếp; Trưởng ban tiếp công dân cấp huyện tương đương Trưởng phòng. Ban tiếp công dân cấp huyện có chức năng tham mưu cho Chủ tịch huyện về công tác tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh.
Về nhiệm vụ, quyền hạn cần đổi mới: Đổi mới tổ chức việc tiếp công dân đến khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh tại Trụ sở tiếp công dân cấp huyện; đổi mới hoạt động theo dõi, đôn đốc việc giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh; đổi mới cơ chế tổ chức tiếp, xử lý trường hợp nhiều người khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh về cùng một nội dung.
![]() |
| Tổ công tác Thanh tra Chính phủ làm việc với tỉnh Đắk Nông về việc kiểm tra công tác phối hợp tiếp công dân phục vụ Đại hội Đảng. Ảnh: LA |
Đổi mới về quy chế phối hợp hoạt động tiếp công dân từ Trung ương đến địa phương
Đổi mới về phối hợp tiếp nhận, xử lý khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh còn nhiều hạn chế; đổi mới về phối hợp tiếp công dân, cử người đại diện của cơ quan, tổ chức tham gia tiếp công dân thường xuyên tại Trụ sở tiếp công dân còn nhiều bất cập; đổi mới về phối hợp trong việc quản lý, điều hành hoạt động tiếp công dân tại Trụ sở tiếp công dân còn bất cập; đổi mới về phối hợp trong việc đón tiếp, hướng dẫn công dân; đổi mới về phối hợp trong việc theo dõi, đôn đốc; đổi mới về phối hợp trong việc bảo vệ Trụ sở tiếp công dân, người tiếp công dân, bảo vệ người khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh; đổi mới về phối hợp trong việc xử lý trường hợp nhiều người cùng khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh về một nội dung.
Đổi mới về lịch tiếp công dân của người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị
Đổi mới về lịch tiếp công dân của người đứng đầu tại Trụ sở tiếp công dân ở trung ương: Tổng Thanh tra Chính phủ, Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ trực tiếp tiếp công dân tại Trụ sở tiếp công dân ở trung ương đầy đủ và đảm bảo 02 ngày trong 01 tháng và thực hiện đầy đủ việc tiếp công dân đột xuất theo quy định. Do công dân đến khiếu kiện ngày càng nhiều; do số vụ việc khiếu kiện còn tồn đọng, phức tạp, kéo dài, do vậy người đứng đầu cần tăng số ngày tiếp công dân tại Trụ sở tiếp công dân trung ương.
Đổi mới lịch tiếp công dân của người đứng đầu tại Trụ sở tiếp công dân cấp tỉnh: Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trực tiếp tiếp công dân tại Trụ sở tiếp công dân cấp tỉnh ít nhất 02 ngày trong 01 tháng và thực hiện việc tiếp công dân đột xuất theo quy định. Do công dân đến khiếu kiện ngày càng nhiều; do số vụ việc khiếu kiện còn tồn đọng, phức tạp, kéo dài, do vậy người đứng đầu cần tăng số ngày tiếp công dân tại Trụ sở tiếp công dân cấp tỉnh.
Đổi mới lịch tiếp công dân của người đứng đầu tại Trụ sở tiếp công dân cấp huyện: Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện trực tiếp tiếp công dân tại Trụ sở tiếp công dân cấp huyện ít nhất 03 ngày trong 01 tháng và thực hiện việc tiếp công dân đột xuất theo quy định. Do công dân đến khiếu kiện ngày càng nhiều; do số vụ việc khiếu kiện còn tồn đọng, phức tạp, kéo dài, do vậy người đứng đầu cần tăng số ngày tiếp công dân tại Trụ sở tiếp công dân cấp huyện.
Đổi mới lịch tiếp công dân của người đứng đầu tại xã, phường, thị trấn: Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã trực tiếp phụ trách công tác tiếp công dân ở cấp xã. Việc trực tiếp tiếp công dân tại trụ sở Ủy ban nhân dân cấp xã ít nhất 04 ngày trong 01 tháng và thực hiện việc tiếp công dân đột xuất theo quy định. Do công dân đến khiếu kiện ngày càng nhiều; do số vụ việc khiếu kiện còn tồn đọng, phức tạp, kéo dài, do vậy người đứng đầu cần tăng số ngày tiếp công dân tại xã, phường, thị trấn.
Đổi mới lịch tiếp công dân của người đứng đầu cơ quan hành chính cơ quan hành chính nhà nước, Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm toán nhà nước hầu như cũng chưa đáp ứng theo quy định là trực tiếp thực hiện việc tiếp công dân ít nhất 02 ngày trong 01 tháng tại địa điểm tiếp công dân của cơ quan mình. Cần đổi mới việc thực hiện tiếp công dân đột xuất trong các trường hợp: Vụ việc gay gắt, phức tạp, có nhiều người tham gia, liên quan đến trách nhiệm của nhiều cơ quan, tổ chức, đơn vị hoặc ý kiến của các cơ quan, tổ chức, đơn vị còn khác nhau; Vụ việc nếu không chỉ đạo, xem xét kịp thời có thể gây ra hậu quả nghiêm trọng hoặc có thể dẫn đến hủy hoại tài sản của Nhà nước, của tập thể, xâm hại đến tính mạng, tài sản của nhân dân, ảnh hưởng đến an ninh, chính trị, trật tự, an toàn xã hội.
Đổi mới về hoạt động tiếp công dân tại các cơ quan hành chính nhà nước, Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm toán nhà nước
Đổi mới công tác tiếp công dân tại một số bộ, ngành, địa phương về tiếp công dân trực tiếp của thủ trưởng các cơ quan; xử lý nghiêm các trường hợp ủy quyền cho cấp phó thực hiện việc tiếp công dân định kỳ; cần kết hợp việc tiếp công dân với giải quyết khiếu nại, tố cáo để người dân tin tưởng vào kết quả giải quyết; giải quyết dứt điểm đơn thư khiếu nại, tố cáo tồn dọng, kéo dài; nâng cao chất lượng tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo các vụ việc phức tạp, kéo dài.
Đổi mới công tác tiếp công dân tại Tòa án nhân dân theo hướng cần sửa đổi, bổ sung Quyết định số 308/QĐ-TANDTC về nội quy tiếp công dân của Tòa án nhân dân tối cao quy định về đã được ban hành từ năm 2020;
Đổi mới công tác tiếp công dân tại Viện Kiểm sát nhân dân vừa phù hợp với pháp luật tiếp công dân nhưng phải phù hợp với quy định đặc thù của Viện kiểm sát nhân dân các cấp; sửa đổi, bổ sung Quyết định số 222/QĐ-VKSTC về quy chế tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo và kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo trong hoạt động tư pháp để phục vụ công tác tiếp công dân phù hợp với pháp luật tiếp công dân và pháp luật liên quan;
Đổi mới công tác tiếp công dân tại Kiểm toán nhà nước theo hướng sửa đổi, bổ sung Quyết định số 10/QĐ-KTNN về việc quy định khiếu nại, kiến nghị và khởi kiện trong hoạt động kiểm toán nhà nước phù hợp với pháp luật tiếp công dân và pháp luật liên quan.
Đổi mới về hoạt động tiếp công dân của các cơ quan của quốc hội, đại biểu quốc hội, hội đồng nhân dân và đại biểu hội đồng nhân dân các cấp
Đổi mới theo hướng sửa đổi, bổ sung Nghị quyết số 759/2014/UBTVQH13 ngày 15 tháng 5 năm 2014 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định chi tiết về hoạt động tiếp công dân của các cơ quan của Quốc hội, đại biểu Quốc hội, Hội đồng nhân dân và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp để đáp ứng phù hợp với tình hình thực tế hiện nay.
Đổi mới hoạt động tiếp công dân của các cơ quan của Quốc hội, đại biểu Quốc hội như: Trách nhiệm tiếp công dân và tổ chức việc tiếp công dân; Nơi tiếp công dân; Tiếp công dân của các cơ quan của Quốc hội; Trách nhiệm của Ban dân nguyện trong việc tiếp công dân và tổ chức việc tiếp công dân; Tiếp công dân của đại biểu Quốc hội; Trách nhiệm tổ chức việc tiếp công dân của Đoàn đại biểu Quốc hội; Tiếp công dân trong kỳ họp Quốc hội.
Đổi mới hoạt động tiếp công dân của hội đồng nhân dân và đại biểu hội đồng nhân dân các cấp như: Trách nhiệm tiếp công dân và tổ chức việc tiếp công dân; Nơi tiếp công dân; Tiếp công dân của đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp; Tiếp công dân của Hội đồng nhân dân các cấp; Trách nhiệm tổ chức việc tiếp công dân của Hội đồng nhân dân; Quan hệ phối hợp trong việc tiếp công dân của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh.
![]() |
| Toàn cảnh Hội nghị Bồi dưỡng công tác tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo năm 2024 do tỉnh Lạng Sơn tổ chức. Ảnh: |
Đổi mới về hoạt động tiếp công dân tại Trụ sở tiếp công dân các cấp
Đổi mới công tác tiếp công dân, giải quyết đơn thư, khiếu nại, tố cáo, phản ánh, kiến nghị của cả hệ thống chính trị; đổi mới công tác tiếp công dân, giải quyết đơn thư, khiếu nại, tố cáo bằng cải cách thủ tục hành chính; đổi mới công tác tiếp công dân, giải quyết đơn thư, khiếu nại, tố cáo bằng ứng dụng công nghệ thông tin;
Đổi mới theo hướng Thanh tra Chính phủ cần phải xây dựng “CSDL quốc gia về khiếu nại, tố cáo” và triển khai đến cấp xã: Việc xây dựng CSDL quốc gia về khiếu nại, tố cáo phải đạt các tiêu chí: đáp ứng mô hình nghiệp vụ theo pháp luật tiếp công dân, giải quyết khiếu nại tố cáo; đáp ứng mô hình nghiệp vụ đặc thù riêng của từng đơn vị tiếp công dân từ Trung ương đến địa phương; mỗi vụ việc phải tạo được thành một hồ sơ vụ việc điện tử và duy nhất; khử trùng đơn thư chồng chéo, trùng lắp, gửi lòng vòng; kết xuất được báo cáo theo quy định của pháp luật tiếp công dân, giải quyết khiếu nại tố cáo và các quy định của Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Tổng Thanh tra Chính phủ, ngành thanh tra và các cơ quan liên quan cần báo cáo.
Đổi mới cơ chế chính sách thông thoáng cho các tổ chức, công dân tham gia hoạt động tiếp công dân, giải quyết đơn thư, khiếu nại, tố cáo: Đảm bảo tốt, đúng quy định về các chế độ chính sách cho cán bộ, công chức thực hiện nhiệm vụ tiếp công dân và giải quyết đơn thư; nâng cao chất lượng giải quyết đơn thư, khiếu nại, tố cáo và thực hiện việc bảo vệ người khiếu nại, tố cáo đúng quy định của pháp luật được đề cập ở nội dung trên cũng chính là tạo ra chính sách thông thoáng cho cá nhân, tổ chức tham gia tốt hoạt động giải quyết khiếu nại, tố cáo.
Đổi mới về quy trình tiếp công dân của các cơ quan trong Đảng
Đổi mới theo hướng sửa đổi, bổ sung Quy định số 11-QĐi/TW ngày 18 tháng 09 năm 2019 của Ban Chấp hành Trung ương về tiếp nhận, xử lý đơn thư, tiếp đảng viên và công dân. Cụ thể cần đổi mới về: tiếp nhận, xử lý đơn thư quy định: Về tiếp nhận đơn thư; nghiên cứu và phân loại đơn thư; điều kiện xử lý, xếp lưu và tiêu hủy đơn thư; các bước xử lý đơn khiếu nại kỷ luật đảng; các bước xử lý đơn tố cáo; xử lý đơn thư kiến nghị, phản ánh, khiếu nại khác; thời gian xử lý đơn thư; tiếp đảng viên và công dân; nơi tiếp đảng viên và công dân; xử lý nội dung đơn thư khi tiếp đảng viên và công dân; trách nhiệm tiếp đảng viên và công dân; quan hệ phối hợp, chế độ thông tin, báo cáo, kiểm tra, giám sát và tổ chức thực hiện quy định: Trách nhiệm và mối quan hệ phối hợp giữa các vụ, đơn vị; chế độ thông tin; chế độ báo cáo; kiểm tra, giám sát việc tiếp nhận, xử lý đơn thư, tiếp đảng viên và công dân.
Đổi mới theo hướng sửa đổi, bổ sung Quy định số 11-QĐi/TW ngày 18 tháng 02 năm 2019 của Ban Chấp hành Trung ương về trách nhiệm của người đứng đầu cấp ủy trong việc tiếp dân, đối thoại trực tiếp với dân và xử lý những phản ánh, kiến nghị của dân. Cụ thể cần đổi mới về: trách nhiệm của người đứng đầu cấp ủy trong việc tiếp dân, đối thoại, xử lý, giải quyết phản ánh, kiến nghị, khiếu nại, tố cáo của dân; Về thời gian tiếp dân; tiếp nhận, xử lý phản ánh, kiến nghị, khiếu nại, tố cáo của người đứng đầu cấp ủy; thời hạn xử lý, giải quyết phản ánh, kiến nghị, khiếu nại, tố cáo; Về xử lý đơn, thư phản ánh, kiến nghị, khiếu nại, tố cáo gửi đến cơ quan, đơn vị của người đứng đầu cấp ủy; xử lý trách nhiệm.
Đổi mới theo hướng tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong hoạt động tiếp công dân theo Chỉ thị số 35/CT-TW 26/05/2014 về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo và Quy định số 11-QĐi/TW quy định về trách nhiệm của người đứng đầu cấp ủy trong việc tiếp dân, đối thoại trực tiếp với dân và xử lý những phản ánh, kiến nghị của dân. Ngoài ra, các cấp ủy Đảng và lãnh đạo các cơ quan nhà nước cần quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện nghiêm túc các quy định của pháp luật và đã từng bước đưa công tác tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo đi vào nền nếp, chuyên nghiệp.
Đổi mới cơ chế phát huy vai trò giám sát công tác tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo của Quốc hội, Hội đồng nhân dân, Mặt trận tổ quốc Việt Nam, các tổ chức Đảng….; các cấp, các ngành cần triển khai đồng bộ, hiệu quả, chất lượng trong công tác tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo. Hệ thống tiếp công dân từ trung ương đến địa phương cần được kiện toàn đồng bộ, vận hành hiệu quả, đáp ứng được yêu cầu cần thiết trong công tác tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo, đồng thời là cầu nối giữa người dân với Đảng và Nhà nước, góp phần ổn định tình hình chung và sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước. Tăng cường đề cao hơn nữa việc thực hiện trách nhiệm tiếp công dân định kỳ, đột xuất của người đứng đầu cơ quan hành chính các cấp; cần thay đổi phương pháp, số lần tiếp công dân để đảm bảo hiệu quả công tác tiếp công dân trong tình hình hiện nay.
Đổi mới theo hướng tăng cường kiểm tra, giám sát, việc tiếp nhận, thụ lý giải quyết khiếu nại, tố cáo, phản ánh, kiến nghị của công dân cần được thực hiện theo đúng trình tự, thủ tục và thẩm quyền quy định của pháp luật. Các bộ ban ngành, địa phương cần sớm ban hành và áp dụng hệ thống quản lý chất lượng trong việc tiếp nhận, xử lý, giải quyết đơn khiếu nại, tố cáo, phản ánh, kiến nghị thuộc thẩm quyền. Các cấp ủy đảng và lãnh đạo các cơ quan nhà nước cần chỉ đạo thực hiện chỉ đạo ngay từ khi tiếp nhận, thụ lý, tiến hành xác minh, ban hành quyết định, kết luận giải quyết khiếu nại, tố cáo, phản ánh, kiến nghị đúng thời gian theo quy định.
Xử ký nghiêm minh và kịp thời đối với trách nhiệm người đứng đầu cấp ủy đảng và thủ trưởng các cơ quan nhà nước trong tiếp công dân, giải quyết đơn thư nhằm tao ra cơ chế cho cán bộ lãnh đạo của các cơ quan nhà nước và người đứng đầu cấp ủy có trách nhiệm cao hơn trong việc chỉ đạo tiếp công dân, xử lý đơn thư nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả trong công tác tiếp công dân và giải quyết đơn thư. Cần xác định rõ tầm quan trọng lãnh đạo, chỉ đạo, tiếp công dân thường xuyên của Thủ trưởng các cơ quan nhà nước và người đứng đầu cấp ủy đối với công tác tiếp công dân và giải quyết đơn thư.
(Nguồn: ThanhtraVietNam)
Công tác tiếp công dân là vấn đề được cả xã hội quan tâm, là công tác quan trọng trong các hoạt động của cả Hệ thống chính trị Việt Nam. Làm tốt công tác tiếp công dân là thể hiện bản chất Nhà nước của dân, do dân và vì dân, tăng cường mối quan hệ giữa nhân dân với Đảng và Nhà nước; giúp cho Đảng, Nhà nước tiếp nhận được những thông tin phản hồi từ thực tế, những vấn đề nảy sinh từ cuộc sống, từ đó đề ra những chủ trương, quyết sách đúng đắn, hợp lòng dân. Tuy nhiên bên cạnh đó vẫn còn nhiều tồn tại, hạn chế, vướng mắc cần khắc phục.
Thực trạng tổ chức và hoạt động tiếp công dân của hệ thống chính trị Việt Nam
Thực trạng công tác tiếp công dân của hệ thống chính trị Việt Nam trong thời gian qua đã đạt được những kết quả nhất định, song thực tiễn vẫn còn nhiều bất cập, tồn tại, hạn chế, vướng mắc. Cụ thể như sau:
Thứ nhất là, bất cập về các quy định về tên gọi, mô hình tổ chức, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ chế hoạt động của Tổ chức tiếp công dân từ Trung ương đến địa phương còn thiếu thống nhất. Nhiệm vụ, quyền hạn của người phụ trách Trụ sở tiếp công dân, người làm công tác tiếp công dân chưa được quy định đầy đủ và rõ ràng. Phạm vi trách nhiệm, sự phối hợp giữa các cơ quan, tổ chức thường trực tại Trụ sở tiếp công dân của Trung ương Đảng, của Trụ sở tiếp công dân các cấp chưa rõ ràng. Mối quan hệ giữa Trụ sở tiếp công dân ở Trung ương với cơ quan thường trực tiếp dân ở địa phương và mối quan hệ giữa Trụ sở tiếp công dân với cơ quan thanh tra, cơ quan, tổ chức có thẩm quyền chưa đầy đủ.
Tiêu chuẩn, chế độ chính sách đối với người tiếp công dân; trình tự, thủ tục tiếp công dân, công tác quản lý về tiếp công dân… chưa được quy định đầy đủ và cụ thể. Việc tiếp công dân còn hình thức, chưa hiệu quả, có tình trạng khoán trắng cho công chức tiếp công dân hoặc cơ quan chức năng; có nơi còn biểu hiện thiếu tinh thần trách nhiệm, thái độ không đúng mực đối với người dân đến khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh; tình trạng né tránh trách nhiệm, hướng dẫn công dân không đúng quy định vẫn còn xảy ra. Chế độ thông tin về tình hình khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh tại Trụ sở tiếp công dân, cơ quan, tổ chức, đơn vị chưa được đầy đủ, kịp thời; công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về khiếu nại, tố cáo và tiếp công dân chưa được quan tâm đúng mức.
![]() |
| Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Bình chủ trì Phiên tiếp công dân định kỳ tháng 9/2024. (Ảnh: quangbinh.gov.vn) |
Thứ hai là, bất cập về hoạt động tiếp công dân trong các cấp ủy đảng, chính quyền, đoàn thể chưa nhận thức đầy đủ về trách nhiệm tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo và chưa coi đây là một trong những nhiệm vụ chính trị của mình. Nhiều đồng chí lãnh đạo chưa trực tiếp tiếp công dân đầy đủ theo quy định, còn có tư tưởng khoán trắng cho một số cơ quan chuyên môn; chưa tổ chức đối thoại, chỉ đạo giải quyết các vụ việc phức tạp ngay từ nơi phát sinh; chưa chấn chỉnh những việc làm sai trái của cán bộ, cơ quan cấp dưới; còn yếu trong hướng dẫn công dân thực hiện chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước. Nhiều nơi chưa ban hành nội quy, quy chế tiếp công dân; việc bố trí công chức làm nhiệm vụ tiếp công dân, đầu tư cơ sở, trang thiết bị cho Trụ sở, công tác tiếp công dân chưa hợp lý. Một số địa phương chưa chủ động tổ chức các lớp bồi dưỡng, tập huấn nghiệp vụ tiếp công dân cho đội ngũ cán bộ làm nhiệm vụ tiếp công dân ở các cấp, các ngành
Thứ ba là, tình hình khiếu nại, tố cáo của công dân diễn biến phức tạp, tình trạng khiếu kiện đông người vượt cấp tiếp tục gia tăng, phát sinh nhiều điểm nóng gây mất ổn định xã hội. Phần lớn những khiếu kiện của công dân liên quan đến đất đai: Giải phóng mặt bằng, đền bù đất, đòi lại đất cũ, tranh chấp đất…hoặc liên quan đến việc giải quyết các chính sách chế độ về nhà ở, chế độ trợ cấp xã hội, tố cáo cán bộ lợi dụng chức quyền tham nhũng…
Mặc dù vậy, công tác tiếp công dân ở các cấp các ngành trong thời gian qua còn nhiều hạn chế, bất cập làm ảnh hưởng đến hiệu quả, chất lượng tiếp công dân. Sự yếu kém bất cập thể hiện trên nhiều mặt: Bất cập về thể chế, tổ chức và quản lý công tác tiếp công dân, việc phối kết hợp giữa các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền với các cơ quan Đảng, đoàn thể còn gặp nhiều khó khăn, đào tạo bồi dưỡng cán bộ làm công tác tiếp công dân, cơ sở vật chất…hạn chế này đang là rào cản cần sớm có giải pháp khắc phục.
Những nguyên nhân chủ yếu
Một là, do nhận thức của một số lãnh đạo bộ, ngành, địa phương chưa đúng mức, chưa thực sự coi công tác tiếp dân là một trong những nhiệm vụ quan trọng nhằm nâng cao hiệu quả giải quyết khiếu nại, tố cáo, góp phần ổn định chính trị, xã hội, phát huy quyền dân chủ của công dân.
Hai là, pháp luật tiếp công dân còn nhiều hạn chế, bất cập, thiếu đồng bộ nên chưa đáp ứng được yêu cầu một số công việc cụ thể trong hoạt động tiếp công dân; chưa phân định rõ việc tiếp công dân đến khiếu nại, tố cáo với kiến nghị, phản ánh; chưa quy định rõ việc tiếp công dân của người đứng đầu với việc tiếp công dân của công chức; giữa việc tiếp công dân thường xuyên với việc tiếp công dân theo yêu cầu cần thiết đối với vụ việc phức tạp, có nhiều người tham gia.
Ba là, công tác tiếp công dân là hoạt động phức tạp, đòi hỏi vừa linh hoạt, mềm dẻo vừa đúng nguyên tắc, đúng quy định pháp luật; trong khi năng lực, trình độ và kỹ năng của một bộ phận cán bộ tiếp công dân còn yếu, chưa đáp ứng được yêu cầu thực tiễn. Mặt khác, nhiều vấn đề do lịch sử để lại hoặc chính sách, pháp luật về các lĩnh vực nhạy cảm như nhà ở, đất đai, đền bù, giải phóng mặt bằng… còn nhiều bất cập nên việc giải thích, trả lời cho công dân gặp nhiều vướng mắc.
Bốn là, việc tiếp công dân chưa gắn với việc xem xét, giải quyết vụ việc của các cơ quan nhà nước. Việc tiếp công dân của các Trụ sở chưa gắn với việc theo dõi, kiểm tra, đôn đốc, giải quyết của các cấp, các ngành; vì vậy, hiệu quả công tác tiếp công dân chưa cao.
Năm là, việc triển khai cơ chế, chính sách đến các cơ sở chưa tốt; ý thức người dân chưa cao; có sự kích động của các nhóm phản động; việc tiếp công dân của người đúng đầu chưa đầy đủ; quy chế phối hợp không đồng bộ từ Trung ương đến địa phương; các cơ quan tiếp công dân địa phương phối hợp còn mang tính hình thức; chưa có sự chỉ đạo thống nhất từ Trung ương đến địa phương trong hoạt động tiếp công dân; chưa có sự phối hợp các cơ quan tiếp công dân thống nhất từ Trung ương đến địa phương.
Sáu là, do chưa giải quyết dứt điểm các vụ việc khiếu nại, tố cáo phức tạp, kéo dài; do chưa có “cơ sở dữ liệu quốc gia về khiếu nại, tố cáo”; do các cơ quan tiếp dân chỉ có chức năng tiếp công dân, không có chức năng giải quyết.
Bảy là, nhận thức của một số lãnh đạo bộ, ngành, địa phương chưa đúng mức, chưa thực sự coi công tác tiếp dân là một trong những nhiệm vụ quan trọng nhằm nâng cao hiệu quả giải quyết khiếu nại, tố cáo, góp phần ổn định chính trị, xã hội, phát huy quyền dân chủ của công dân.
Tám là, các quy định pháp luật về tiếp công dân chưa được ban hành đầy đủ, chưa kịp thời, thiếu đồng bộ, chưa tương xứng với tính chất, yêu cầu của công tác tiếp công dân. Chưa phân định rõ việc tiếp công dân đến khiếu nại, tố cáo với kiến nghị, phản ánh; chưa quy định rõ việc tiếp công dân của người đứng đầu với việc tiếp công dân của công chức, giữa việc tiếp công dân thường xuyên với việc tiếp công dân theo yêu cầu khẩn thiết đối với vụ việc phức tạp, có nhiều người tham gia…
Chín là, công tác tiếp công dân là hoạt động phức tạp, đòi hỏi vừa linh hoạt, mềm dẻo vừa đúng nguyên tắc, đúng quy định pháp luật; trong khi năng lực, trình độ và kỹ năng của một bộ phận cán bộ tiếp công dân còn yếu, chưa đáp ứng được yêu cầu thực tiễn. Mặt khác, nhiều vấn đề do lịch sử để lại hoặc chính sách, pháp luật về các lĩnh vực nhạy cảm như nhà ở, đất đai, đền bù, giải phóng mặt bằng… còn nhiều bất cập nên việc giải thích, trả lời cho công dân gặp nhiều vướng mắc.
![]() |
| Quang cảnh buổi làm việc giữa Thanh tra tỉnh với Thanh tra huyện U Minh Thượng trong việc thực hiện công tác tiếp công dân, xử lý đơn và giải quyết khiếu nại, tố cáo (ảnh: thanhtratinhKG) |
Mười là, việc tiếp công dân chưa gắn với việc xem xét, giải quyết vụ việc của Thủ trưởng các cơ quan nhà nước. Việc tiếp công dân của các Trụ sở chưa gắn với việc theo dõi, kiểm tra, đôn đốc, giải quyết của các cấp, các ngành; vì vậy, hiệu quả công tác tiếp công dân chưa cao.
Mười một là, do khiếu nại, tố cáo là vấn đề hết sức phức tạp, liên quan đến pháp luật thuộc nhiều lĩnh vực, trách nhiệm của các cơ quan quản lý điều hành. Trong khi đó hệ thống pháp luật đang biến động mạnh, công tác quản lý trên các lĩnh vực còn nhiều vi phạm, nên công tác tiếp công dân gặp nhiều khó khăn phức tạp. Do vậy pháp luật tiếp công dân cũng khó trách khỏi khiếm khuyết, hạn chế, bất cập.
Mười hai là, do có nhưng vấn đề rất lớn Đảng và Nhà nước ta chưa có đường lối xử lý như giải quyết khiếu nại, tố cáo đông người; việc giải quyết kiến nghị, phản ánh nên cũng dẫn đến việc tiếp công dân, pháp luật tiếp công dân chưa có quy định phù hợp.
Mười ba là, hệ thống pháp luật hành chính đang trong quá trình hoàn thiện, công tác quản lý nhà nước về tiếp công dân chưa được phân định rõ giữa cơ quan quản lý Trụ sở tiếp công dân với các cơ quan thanh tra nhà nước; mối quan hệ giữa các cơ quan tiếp công dân các cấp và giữa các cơ quan phối hợp tiếp dân tại Trụ sở chưa được cụ thể hóa; việc tiếp công dân, tiếp nhận và xử lý đơn thư khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh chưa gắn với kiểm tra, đôn đốc, việc xử lý; thiếu cơ sở dữ liệu về tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh liên thông.
Mười bốn là, quá trình nghiên cứu, xây dựng Luật Tiếp công dân 2013 chưa tính toán, dự liệu đầy đủ các quan hệ xã hội phát sinh trong hoạt động tiếp công dân và giải quyết Kn, TC, kiến nghị, phản ánh; nên có quy định chưa bảo đảm tính thống nhất với văn bản khác hoặc chưa đáp ứng yêu cầu thực tiễn.
Mười năm là, thủ trưởng các cơ quan quản lý nhà nước ở nhiều nơi chưa thực sự quan tâm đến công tác tiếp công dân, chưa chấp hành nghiêm quy định về việc tiếp dân định kỳ; còn ngại tiếp, né tránh, đùn đẩy. Bên cạnh đó, thiếu chế tài xử lý. Do vậy, có quy định chưa thật sự đi vào cuộc sống, chưa bảo đảm tính khả thi.
Mười sáu là, một số địa phương chưa gắn tiếp công dân với việc giải quyết các vụ việc khiếu nại, tố cáo, nhất là những vụ việc đông người, gay gắt, kéo dài; chưa gắn tiếp công dân với việc đối thoại, giải quyết những kiến nghị, phản ánh của người dân.
Trong suốt chiều dài lịch sử gần 80 năm xây dựng và phát triển ngành Thanh tra, vị trí, vai trò của Thanh tra Việt Nam đã được ghi nhận không chỉ trong các nghị quyết của Đảng, các văn bản pháp luật của Nhà nước, mà còn trong rất nhiều tuyên ngôn của các lãnh đạo Đảng, Nhà nước qua các thời kỳ. Những tuyên ngôn ấy có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với Thanh tra Việt Nam, đã truyền cảm hứng, soi đường chỉ lối cho mỗi cán bộ ngành Thanh tra cả trong suy nghĩ và hành động.
Ngành Thanh tra đã tổ chức nhiều cuộc thanh tra diện rộng. Bên cạnh đó, ngành đóng vai trò nòng cốt trong các tổ công tác của Trung ương, giúp các địa phương giải quyết tốt các vụ khiếu kiện, góp phần khôi phục và ổn định tình hình an ninh, chính trị ở địa phương.

Thời kỳ từ năm 1986-2010 là giai đoạn Đảng và Nhà nước ta quyết định tiến hành đổi mới trong bối cảnh có nhiều biến động trên thế giới, nhất là giai đoạn 1989-1990 khi chế độ Chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và Đông Âu tan rã.
Thực hiện công cuộc đổi mới do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo, ngành Thanh tra đã có những định hướng trong từng năm, từng thời kỳ để tập trung hoạt động thanh tra nhằm khắc phục những khuyết thiếu của nền kinh tế chuyển sang cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
Đặc biệt, sau khi Pháp lệnh Thanh tra được ban hành năm 1990 đã xác định “thanh tra là một chức năng thiết yếu của quản lý Nhà nước”; xác định rõ về cơ cấu, tổ chức, nhiệm vụ, quyền hạn của ngành Thanh tra, của thanh tra viên và Luật Thanh tra được ban hành năm 2004. Hoạt động thanh tra đã tập trung vào những ngành, lĩnh vực dễ phát dễ nảy sinh sai phạm: quản lý vốn Nhà nước, đầu tư xây dựng, quản lý và sử dụng đất đai, việc thu hồi đất để mở mang đô thị, xây dựng các khu công nghiệp; về tài chính, ngân hàng; về nông nghiệp, nông thôn… để kiến nghị với cơ quan quản lý Nhà nước các cấp, các ngành kịp thời điều chỉnh chế độ, chính sách, nhằm khắc phục những khuyết thiếu khi chuyển nền kinh tế từ tập trung quan liêu, bao cấp sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
Trong lĩnh vực thanh tra kinh tế – xã hội, ngành Thanh tra đã tổ chức nhiều cuộc thanh tra diện rộng như: cuộc thanh tra diện rộng hoạt động tín dụng ngân hàng từ năm 1994 đến tháng 3 năm 1996 với sự tham gia của 52/53 tỉnh, thành phố, Thanh tra Nhà nước chỉ đạo. Qua thanh tra đã có nhiều kiến nghị chấn chỉnh với Nhà nước, với Chính phủ để có những biện pháp điều chỉnh kịp thời, góp phần đáng kể và tăng trưởng kinh tế với nhịp độ cao, kiềm chế và đẩy lùi lạm phát từ mức hai con số những năm trước xuống còn một con số (mức lạm phát năm 1996 là 4,5%, thấp nhất từ trước đến trước thời điểm thanh tra).
Cuộc thanh tra về đầu tư xây dựng và quản lý, sử dụng đất đai theo Quyết định số 273/QĐ-TTg ngày 12 tháng 4 năm 2003 của Thủ tướng Chính phủ, đã phát hiện sai phạm kinh tế trên 73.000 tỷ đồng. Qua thanh tra, đã kiến nghị sửa đổi, bổ sung và ban hành mới nhiều nghị định về quản lý đầu tư và xây dựng, về đấu thầu…

Đồng chí Lê Quang Đạo, Chủ tịch Quốc hội trao tặng Huân chương Hồ Chí Minh cho ngành Thanh tra tại Lễ kỷ niệm 45 năm Ngày Truyền thống Thanh tra Việt Nam (23/11/1945-23/11/1990). Ảnh: Tư liệu/Báo Thanh tra

Thủ tướng Chính phủ Võ Văn Kiệt làm việc với lãnh đạo Thanh tra Nhà nước (ngày 29/10/1992). Ảnh: Tư liệu/Báo Thanh tra

Nhân dịp kỷ niệm 50 Ngày truyền thống Thanh tra Việt Nam (năm 1995), Tổng Bí thư Đỗ Mười đã có thư chúc mừng gửi tới toàn thể cán bộ, nhân viên ngành Thanh tra.
Trong đó, Tổng Bí thư nhấn mạnh: “Ngày nay, đất nước ta bước vào thời kỳ phát triển mới với nhiều thuận lợi, đồng thời trong quá trình vận động của cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa cũng còn rất nhiều khó khăn, phức tạp, nhiều mặt tiêu cực nảy sinh. Từ trước đến nay, Thanh tra luôn luôn là một lĩnh vực quan trọng, là một công tác không thể thiếu trong quá trình lãnh đạo của Đảng và chỉ đạo của Nhà nước. Trong điều kiện hiện nay, nhiệm vụ của ngành Thanh tra lại càng nặng nề hơn, nhằm giúp Đảng và Nhà nước phát huy mặt tích cực, kịp thời khắc phục những yếu kém, ngăn chặn có hiệu quả các tệ nạn tham nhũng, buôn lậu, lãng phí trong bộ máy Đảng, Nhà nước, đoàn thể và trong toàn xã hội. Phải khẩn trương giải quyết dứt điểm những vụ việc còn tồn đọng, không được bỏ trôi”.

Đồng chí Quách Lê Thanh, Ủy viên Trung ương Đảng, Tổng Thanh tra, thừa ủy quyền của Thủ tướng Chính phủ ký Công ước của Liên hợp quốc về chống tham nhũng tại Mê-hi-cô, tháng 12/2003. Ảnh: Tư liệu/Báo Thanh tra

Đồng chí Nguyễn Tấn Dũng, Ủy viên Bộ Chính trị, Thủ tướng Chính phủ gắn Huân chương Sao Vàng lên lá cờ truyền thống ngành Thanh tra nhân Lễ kỷ niệm 65 năm Ngày Truyền thống Thanh tra Việt Nam. Ảnh: Tư liệu/Báo Thanh tra
Cuộc thanh tra về 5 nội dung ngân sách xã, phường sau các sự kiện khiếu kiện phức tạp tại Thái Bình, Nam Định và một số địa phương khác. Cuộc thanh tra tại Cục Dự trữ Quốc gia đã kiến nghị cách chức 3 phó tổng giám đốc Ngân hàng Nhà nước, 1 thứ trưởng bộ, 3 cục trưởng, phó cục trưởng…
Trong lĩnh vực tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo, ngành Thanh tra đã có sự phối hợp với các tổ chức chính trị xã hội, đặc biệt là Hội Nông dân, Hội Phụ nữ… xây dựng các tổ hòa giải cơ sở, tăng cường công tác tuyên truyền để giải quyết dứt điểm nhiều vụ khiếu kiện từ cơ sở.
Đặc biệt, trong những năm 1997-1998, một số điểm nóng về khiếu tố phát sinh ở nông thôn tại một số tỉnh như Thái Bình, Nam Định… ngành Thanh tra đã đóng vai trò nòng cốt trong các tổ công tác của Trung ương, giúp các địa phương giải quyết tốt các vụ khiếu kiện, góp phần khôi phục và ổn định tình hình an ninh, chính trị ở địa phương.
Hoài Phương
(Nguồn: Thanhtra.com.vn)
Tại Hội nghị tổng kết công tác thanh tra miền Bắc tháng 4 năm 1957, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: thanh tra là công tác quan trọng, trực tiếp đối với việc thực hiện đường lối chính sách của Đảng, giữ gìn pháp luật của Nhà nước.

Thanh tra phục vụ sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, góp phần vào thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1955 -1975)
Trong thời kỳ đầu xây dựng chủ nghĩa xã hội, hoạt động thanh tra đã phát triển và mở rộng trên nhiều lĩnh vực như: thanh tra việc thực hiện chính sách cải cách ruộng đất và sửa sai; thực hiện chính sách cải tạo công thương nghiệp tư bản tư nhân…
Bên cạnh đó là thanh tra các lĩnh vực: thực hiện hợp tác hóa, khôi phục và phát triển sản xuất nông nghiệp; xây dựng công nghiệp; bình ổn vật giá, phục vụ sản xuất; kiểm tra tình hình học tập chủ trương “chấn chỉnh tổ chức, giảm nhẹ biên chế, chuyển người về sản xuất”; tìm hiểu tình hình tham ô, lãng phí…
Bên cạnh việc tổ chức hàng loạt các cuộc thanh tra, công tác xét giải quyết đơn tư khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh cũng được xem trọng. Tính riêng năm 1957, riêng Ban Thanh tra Trung ương đã tiếp 2.037 lượt người, nhận 3.998 đơn thư. Ban Thanh tra đã chuyển cho các cơ quan và địa phương xem xét giải quyết, đồng, thời trực tiếp điều tra, xác minh và góp ý kiến với các cơ quan có trách nhiệm giải quyết gần 290 vụ việc.
Tại Hội nghị tổng kết công tác thanh tra miền Bắc tháng 4 năm 1957, chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: thanh tra là công tác quan trọng, trực tiếp đối với việc thực hiện đường lối chính sách của Đảng, giữ gìn pháp luật của Nhà nước và câu nói: “Thanh tra là tai mắt của trên, là bạn của dưới” đã trở thành khẩu hiệu và phương châm hoạt động của ngành.
Giai đoạn 1960-1975, đất nước ta bước vào thời kỳ xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và đấu tranh hòa bình thống nhất nước nhà. Hoạt động thanh tra tập trung vào thanh tra, kiểm tra việc thực hiện đường lối, chính sách của Đảng, chống vi phạm dân chủ, tăng cường kỷ luật Nhà nước, chống tác phong quan liêu, mệnh lệnh, xa rời quần chúng, chống hiện tượng lãng phí, tham ô. Hoạt động thanh tra trong giai đoạn này có nhiều thành tích, như: năm 1961, phát hiện 117 vụ lãng phí, 349 vụ tham ô, trong đó có 23 vụ tham ô tập thể.
Năm 1969, đoàn thanh tra quản lý vật tư của Đảng và Nhà nước đã chỉ đạo và tiến hành thanh tra tại nhiều bộ, ngành, địa phương đã khắc phục tình trạng hàng thừa thiếu, thất lạc, lãng phí của cải, vật tư, hàng hóa; kiến nghị với Trung ương ban hành nhiều chính sách cụ thể về trách nhiệm quản lý của các cấp, các ngành.
Công tác xét giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân cũng được tăng cường, hướng trọng tâm và thanh tra trách nhiệm. Năm 1972, Ủy ban Thanh tra của Chính phủ đã tổ chức một đợt kiểm tra và giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo tại 10 tỉnh, thành phố và các bộ, tổng cục. Vụ Xét khiếu tố thuộc Ủy ban Thanh tra của Chính phủ và 13 khu, thành, tỉnh, 5 bộ, tổng cục đã nhận hơn 40.000 đơn thư, tiếp trên 1.000 lượt người, trong đó có 25 đoàn tập thể, đông người. Đã tập trung giải quyết trên 15.000 đơn thuộc thẩm quyền.
Nhìn chung, trong giai đoạn này, hệ thống tổ chức ngành Thanh tra từng bước ổn định. Nội dung hoạt động thanh tra bám sát việc thực hiện kế hoạch Nhà nước, các chủ trương, chính sách, nghị quyết của Đảng, pháp luật của Nhà nước trong từng thời kỳ đã góp phần khôi phục và phát triển kinh tế ở miền Bắc, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.

Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Hội nghị tổng kết công tác thanh tra toàn miền Bắc (năm 1961). Ảnh: Tư liệu/Báo Thanh tra

Thủ tướng Phạm Văn Đồng tại Hội nghị xét, giải quyết khiếu tố (ngày 15/4/1971). Ảnh: Tư liệu/Báo Thanh tra

Thủ tướng Phạm Văn Đồng đến dự Hội nghị tổng kết công tác thanh tra (năm 1971). Ảnh: Tư liệu/Báo Thanh tra
Thời kỳ cả nước thống nhất, xây dựng chủ nghĩa xã hội (1975-1986)
Năm 1975, miền Nam hoàn toàn giải phóng, đất nước thống nhất. Các tổ chức thanh tra được thành lập ở các tỉnh, thành miền Nam, hệ thống tổ chức thanh tra từ Trung ương tới địa phương. Ban Thanh tra Nhân dân được thành lập ở phần lớn các xã, phường, ở nhiều cơ sở sản xuất, kinh doanh và đơn vị sự nghiệp.
Hoạt động thanh tra ở miền Bắc tập trung vào việc thực hiện nhiệm vụ khắc phục hậu quả chiến tranh, khôi phục kinh tế, chấn chỉnh và cải tiến quản lý trong các lĩnh vực công nghiệp, nông nghiệp… ở miền Nam, tập trung vào việc xây dựng củng cố chính quyền Nhân dân và thực hiện các chủ trương, chính sách cải tạo xã hội chủ nghĩa.
Nhiệm vụ thanh tra hướng tới thực hiện Nghị quyết số 79 của Bộ Chính trị về chống quan liêu, cửa quyền, phiền hà dân; Chỉ thị số 159/TTg của Thủ tướng Chính phủ; Nghị quyết số 19/CP của Chính phủ về tăng cường và cải tiến quản lý.
Từ năm 1978 đến năm 1983, nhiệm vụ chống tiêu cực, chống quan liêu, cửa quyền… trở thành nhiệm vụ trọng tâm của ngành Thanh tra nhằm khắc phục các biểu hiện tiêu cực trong quản lý kinh tế và xã hội.

Trung tướng Lê Quang Hòa, Tổng Thanh tra Quân đội kiểm tra điểm tựa tại Quảng Ninh (năm 1979). Ảnh: Tư liệu/Báo Thanh tra

Hội nghị triển khai Pháp lệnh quy định việc xét và giải quyết các khiếu nại, tố cáo của công dân (ngày 29/4/1982). Ảnh: Tư liệu/Báo Thanh tra

Đồng chí Bùi Quang Tạo, Ủy viên Trung ương Đảng, Chủ nhiệm Ủy ban Thanh tra Nhà nước đón đoàn cán bộ Thanh tra Campuchia (năm 1985). Ảnh: Tư liệu/Báo Thanh tra
Kết quả thanh tra bên cạnh việc thu hồi sai phạm về kinh tế, kiến nghị xử lý cán bộ, ngành Thanh tra đã có nhiều kiến nghị với Trung ương, các cơ quan quản lý Nhà nước các cấp… những biện pháp chấn chỉnh quản lý kinh tế, xã hội. Đồng thời, qua thanh tra đã phát hiện những nhân tố mới, những điển hình trong phát triển kinh tế – xã hội (khoán trong nông nghiệp ở Hải Phòng; khoán trong công nghiệp tại Thành phố Hồ Chí Minh…).
Việc giải quyết khiếu nại, tố cáo, các tổ chức thanh tra đã có nhiều cố gắng phát huy vai trò tham mưu, kiến nghị với lãnh đạo các cấp, các ngành củng cố, tăng cường công tác tiếp dân; khẩn trương xem xét, giải quyết đơn thư khiếu tố của quần chúng.
Lực lượng Thanh tra Nhân dân đã có vai trò tích cực trong việc tham gia xét giải quyết các khiếu nại, tố cáo ở cơ sở, góp phần quan trọng vào việc giải quyết mâu thuẫn, tranh chấp trong nội bộ Nhân dân.
Hoài Phương
(Nguồn: Thanhtra.com.vn)
Từ khi thành lập đến nay, ngành Thanh tra Việt Nam không ngừng phấn đấu vươn lên ngày càng lớn mạnh, trưởng thành để đóng góp vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Quá trình xây dựng và trưởng thành của ngành Thanh tra Việt Nam là rất đáng tự hào, ngành Thanh tra vinh dự được Đảng và Nhà nước tặng thưởng Huân chương Hồ Chí Minh (năm 1990), Huân chương Sao Vàng (năm 2010), Huân chương Độc lập hạng Nhất (năm 2015) và nhiều phần thưởng cao quý khác… Báo Thanh tra xin trân trọng gửi đến bạn đọc loạt bài viết về những thành tích nổi bật của ngành Thanh tra Việt Nam trong các thời kỳ cách mạng của đất nước.

Từ năm 1945 đến 1954, ngành Thanh tra đã khẩn trương tiến hành nhiều hoạt động phục vụ cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, bảo vệ chính quyền cách mạng.
Cách mạng tháng Tám thành công, nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa ra đời, tình hình đất nước gặp nhiều khó khăn và thách thức. Thực dân Pháp trở lại theo sau quân đội Anh dưới danh nghĩa đồng minh, miền Bắc là quân đội Tưởng…
Thực hiện chức trách, nhiệm vụ, ngành Thanh tra đã khẩn trương tiến hành nhiều hoạt động: Xem xét đơn thư khiếu nại, tố cáo và phản ánh của các tầng lớp Nhân dân từ khắp các địa phương gửi lên Chính phủ và Chủ tịch Hồ Chí Minh; trực tiếp thanh tra tại những nơi có tình hình bức bức xúc, phức tạp.
Tại tỉnh Hà Nam, Thanh Hóa, Ban Thanh tra đã trực tiếp xem xét, trao đổi ý kiến với Tỉnh ủy và quyết định trả tự do cho hơn 30 người bị bắt giam bị bắt và giam giữ oan sai hoặc có phạm lỗi nhưng chưa bị bắt giam. Thanh tra việc tham ô của chủ tịch một tỉnh theo đơn thư phản ánh, tố giác của Nhân dân, kết quả thanh tra đã quyết định cách chức chủ tịch tỉnh…

Chủ tịch Hồ Chí Minh với cụ Bùi Bằng Đoàn và Đại tướng Võ Nguyên Giáp (năm 1948). Ảnh: Tư liệu/Báo Thanh tra
Khi cuộc kháng chiến kiến quốc bắt đầu, hoạt động thanh tra chuyển hướng sang phục vụ cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược như: thanh tra công tác chỉ huy chiến đấu, vấn đề đoàn kết dân tộc, tôn giáo; vấn đề xây dựng lực lượng bộ đội; công tác sản xuất; đảm bảo quốc phòng, quỹ nuôi quân; chống tham ô, chống lãng phí… Trong đó, thanh tra tại một số khu và mặt trận về công tác chỉ huy chiến đấu. Tổ chức đoàn công tác liên ngành và những chí sĩ, linh mục yêu nước làm việc tại Liên khu Việt Bắc, Liên khu X, Liên khu III để xem xét tình hình và giải quyết những nhiệm vụ phức tạp, khó khăn, đặc biệt là vấn đề đoàn kết dân tộc, đoàn kết tôn giáo, củng cố Mặt trận Dân tộc thống nhất.
Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, trong giai đoạn kháng chiến, công tác thanh tra, kiểm tra, kiểm soát sẽ góp phần tạo ra mối liên hệ giữa trên và dưới, giữa lãnh đạo và quần chúng nhằm đảm bảo tính chất chính quyền của dân, do dân và vì dân. Cùng với vai trò đó, công tác thanh tra còn bảo đảm ngăn chặn mọi tệ nạn thường xuyên có khả năng xảy ra như quan liêu, lãng phí, tham ô.
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “Muốn chống bệnh quan liêu, bệnh bàn giấy, muốn biết các nghị quyết có được thi hành không, thi hành có đúng không, muốn biết ai ra sức làm, ai làm qua chuyện, chỉ có một cách, là khéo kiểm soát”.
Có thể thấy, ngay từ những ngày đầu xây dựng chính quyền cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đưa ra những luận điểm quan trọng về yêu cầu, mục đích và nhiệm vụ của công tác thanh tra. Đồng thời, Người cũng nêu rõ quan điểm về tiêu chuẩn cán bộ thanh tra.
Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, “Người đi kiểm soát phải là những người rất có uy tín”. Đó là những tư tưởng đầu tiên của Chủ tịch Hồ Chí Minh về công tác thanh tra. Tư tưởng đó soi sáng mọi hoạt động của Ban Thanh tra đặc biệt, đồng thời đặt cơ sở, nền móng cho việc xây dựng hệ thống tư tưởng, tổ chức và hoạt động của ngành Thanh tra sau này.

Hội nghị rèn luyện cán bộ thanh tra quân đội (năm 1950). Trong ảnh có các đồng chí: Trần Mạnh Quỳnh, Mạc Ninh, Trần Thế Môn, Thanh Thùy. Ảnh: Tư liệu/Báo Thanh tra

Đoàn cán bộ Thanh tra dự Hội nghị Tổng kết chiến dịch Bến Cát (1/1951). Trong ảnh có các đồng chí Lê Duẩn, Lê Hiến Mai, Trần Văn Trà, Trần Mạnh Quỳnh, Trần Thế Môn, Lê Xuân Lựu. Ảnh: Tư liệu/Báo Thanh tra
Đặc biệt, trong năm 1945-1950, đoàn thanh tra (trong đó lực lượng thanh tra quân đội làm nòng cốt) đã phát hiện vụ Trần Dụ Châu, Giám đốc Nha quân nhu thuộc Bộ Quốc phòng đã có hành vi tham ô, nhận hối lộ, giả mạo con dấu… Từ kết quả thanh tra, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã phê duyệt bản án của Tòa án quân sự Tối cao về việc tử hình đối với Trần Dụ Châu. Cuộc thanh tra “vụ án H122” của Ban Thanh tra Chính phủ đã minh oan cho hàng trăm cán bộ, đảng viên và quần chúng Nhân dân bị bắt giam do tình nghi là gián điệp của thực dân Pháp.
Có thể nói, hoạt động thanh tra trong thời kỳ này mặc dù tổ chức bộ máy còn đơn sơ lực lượng thanh tra còn kiêm nhiệm, chưa có luật pháp hoàn chỉnh, nhưng công tác thanh tra đã có nhiều đóng góp vào thắng lợi vẻ vang của công cuộc trường kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp.
Đại án tham nhũng Trần Dụ Châu

Đại tá Trần Dụ Châu, Cục trưởng Cục Quân nhu, hoạt động trước Cách mạng Tháng Tám. Cục Quân nhu có nhiệm vụ lo ăn, mặc, thuốc men của quân đội.
Có địa vị cao, quyền hành rộng, nắm trong tay hàng trăm triệu đồng, cơ chế kiểm tra, kiểm soát lại lỏng lẻo, không biết tự kiềm chế, Trần Dụ Châu đi dần vào con đường sa ngã.
Châu lấy cắp của công quỹ một số tiền lớn: 57.959 đồng Việt Nam, 149 đô la Mỹ, các tài sản khác trị giá 143.900 đồng Việt Nam. Giá gạo ở Thái Nguyên – Bắc Cạn năm 1950 là 50 đồng/một kg, còn chiến sĩ ta mỗi ngày chỉ được cấp vài lạng gạo và hơn 10 đồng tiền thức ăn.
Ngoài ra, Châu còn nhận hối lộ khá nhiều tiền, chuyên quyền, độc đoán, sống sa đoạ, đồi truỵ.
Ngày 5/9/1950, tại thị xã Thái Nguyên, Toà án binh Tối cao mở phiên toà đặc biệt xử vụ Trần Dụ Châu. Trần Dụ Châu can tội biển thủ công quỹ, nhận hối lộ, phá hoại công cuộc kháng chiến, Tòa tuyên: tử hình; tịch thu ba phần tư tài sản.
Bản án cho thấy sự trừng phạt nghiêm khắc của Hồ Chủ tịch đối với tội tham nhũng.






















