Đại hội XIV của Đảng Cộng sản Việt Nam (tháng 1/2026) đánh dấu bước ngoặt lịch sử trong tư duy cầm quyền: chuyển từ kiểm soát quyền lực chống tha hóa sang kiến tạo quyền lực số – một động lực sáng tạo, minh bạch và phục vụ nhân dân. Bài viết lập luận rằng kiến tạo quyền lực số là trình độ phát triển biện chứng cao hơn của tư duy kiểm soát quyền lực, thể hiện bản lĩnh lý luận sắc bén và tầm nhìn chiến lược của Đảng trong kỷ nguyên chuyển đổi số. Thông qua phân tích lý luận, đánh giá thực tiễn và so sánh quốc tế, bài viết làm rõ ý nghĩa của Đại hội XIV trong việc tái định vị mối quan hệ Đảng – Nhà nước – Nhân dân, lấy nhân dân làm trung tâm của hệ thống quyền lực số, hướng tới mục tiêu Việt Nam trở thành quốc gia phát triển, thu nhập cao theo định hướng XHCN vào năm 2045.
1. Giới thiệu
Trong bối cảnh lịch sử đầy ý nghĩa, khi Đảng Cộng sản Việt Nam dẫn dắt đất nước bước vào kỷ nguyên phát triển hùng cường và thịnh vượng, việc tổng kết 40 năm Đổi mới (1986 – 2026) không chỉ liệt kê những thành tựu lịch sử mà còn được nâng lên thành nền tảng lý luận – thực tiễn để định hình tư duy cầm quyền mới. Từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, nghèo nàn, lạc hậu và chịu hậu quả chiến tranh, Việt Nam đã vươn lên thành quốc gia đang phát triển có thu nhập trung bình cao, hội nhập sâu rộng vào kinh tế toàn cầu, khẳng định vị thế vững chắc trên trường quốc tế. Văn kiện Đại hội XIII (2021) đánh giá sâu sắc: sau 35 năm Đổi mới, GDP bình quân đầu người tăng gấp nhiều lần (từ khoảng 100 USD năm 1986 lên khoảng 5.000 USD năm 2025), tỉ lệ nghèo giảm từ trên 50% xuống dưới 3%, vị thế quốc tế được nâng cao qua các hiệp định CPTPP, EVFTA, RCEP, đưa Việt Nam thành một trong những nền kinh tế năng động nhất châu Á – Thái Bình Dương [1]. Đến năm 2026, thành tựu được củng cố với tăng trưởng trung bình 6-7%/năm, hạ tầng số hóa mạnh mẽ (mạng 5G, trung tâm dữ liệu quốc gia), nguồn nhân lực chất lượng cao theo hướng công nghệ, đưa quy mô GDP vượt 510 tỉ USD, xếp hạng 32 thế giới theo các tổ chức quốc tế uy tín [2]. Những chuyển biến này không chỉ ở chỉ số kinh tế vĩ mô mà còn cải thiện rõ rệt đời sống nhân dân (giảm nghèo bền vững, nông thôn mới kiểu mẫu, đô thị thông minh), khẳng định Đổi mới là cuộc cách mạng toàn diện, sâu sắc, phù hợp quy luật biện chứng của chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, biến thách thức thành cơ hội để dân tộc tự cường, tự chủ.
Song hành với đổi mới kinh tế – xã hội là công cuộc xây dựng, chỉnh đốn Đảng – nhiệm vụ then chốt giữ vững bản chất cách mạng và nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền. Dưới sự lãnh đạo quyết liệt của đồng chí Nguyễn Phú Trọng và tiếp nối bởi đồng chí Tô Lâm, công tác PCTN, tiêu cực, lãng phí đạt đột phá lịch sử, toàn diện, kiên trì, không vùng cấm, không ngoại lệ. Từ 2016 – 2025, hàng trăm cán bộ cao cấp diện Trung ương quản lý bị xử lý kỷ luật, thu hồi hàng nghìn tỉ đồng từ các vụ lớn như Việt Á, FLC, Vạn Thịnh Phát; đồng thời hoàn thiện cơ chế kiểm soát quyền lực, từ trách nhiệm nêu gương, kiểm soát tài sản, thu nhập đến ứng dụng công nghệ số phòng ngừa tham nhũng [3]. Những nỗ lực này củng cố niềm tin nhân dân, duy trì ổn định chính trị – xã hội, tạo động lực phát triển bền vững trong bối cảnh thế giới biến động, như khẳng định tại Hội nghị toàn quốc tổng kết PCTN nhiệm kỳ Đại hội XIII (tháng 12/2025), nơi đồng chí Tô Lâm nhấn mạnh “kiên trì – quyết tâm – đồng thuận – toàn diện – đột phá” [4]. Từ góc độ chính trị học Marxist-Leninist, đây là vận dụng sáng tạo nguyên tắc tự phê bình và phê bình, phòng ngừa tha hóa quyền lực, giữ vững bản chất giai cấp công nhân của Đảng, nâng cao hiệu quả cầm quyền trong xây dựng CNXH ở quốc gia đang phát triển.
Đại hội XIV của Đảng, khai mạc ngày 19/01/2026 tại Hà Nội với 1.586 đại biểu đại diện hơn 5,6 triệu đảng viên, là mốc son lịch sử, tổng kết nhiệm kỳ XIII và định hình tầm nhìn chiến lược cho kỷ nguyên mới [5]. Đại hội diễn ra khi đất nước hoàn thành cơ bản mục tiêu Đại hội XIII, sau 40 năm Đổi mới và 35 năm Cương lĩnh (1991, bổ sung 2011), đẩy mạnh CNH, HĐH hiện đại, kinh tế số, xã hội số, chính phủ số, công dân số. Với phương châm “Đoàn kết – Dân chủ – Kỷ cương – Đột phá – Phát triển”, Đại hội định hướng mục tiêu: đến 2030 (100 năm thành lập Đảng) trở thành nước công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao (GDP bình quân ~7.500 USD); đến 2045 (100 năm thành lập nước) trở thành nước phát triển, thu nhập cao theo định hướng XHCN (GDP bình quân vượt 12.535 USD) [6]. Giai đoạn này mang cơ hội lớn từ CMCN 4.0, chuyển đổi số, kinh tế xanh, nhưng cũng đầy thách thức từ cạnh tranh địa chính trị, biến đổi khí hậu, già hóa dân số, rủi ro an ninh phi truyền thống. Yêu cầu đối với Đảng không chỉ duy trì ổn định, bảo vệ chủ quyền mà còn đổi mới căn bản tư duy cầm quyền, vượt qua kiểm soát phòng ngừa tha hóa để chủ động kiến tạo quyền lực thành nguồn lực sáng tạo, thúc đẩy đổi mới, khơi dậy khát vọng phát triển, phụng sự nhân dân vì hạnh phúc và phồn vinh dân tộc.
Từ góc độ chuyên ngành Xây dựng Đảng Cộng sản Việt Nam, bài viết khẳng định luận đề trung tâm: kiến tạo quyền lực số phục vụ nhân dân là trình độ phát triển cao hơn, tất yếu, biện chứng của tư duy kiểm soát quyền lực chống tha hóa, đánh dấu bước tiến mới về chất trong tư duy cầm quyền tại Đại hội XIV. Sự chuyển hóa này kế thừa, phát triển biện chứng thành tựu kiểm soát quyền lực, phù hợp giai đoạn cách mạng mới, thể hiện bản lĩnh lý luận, tầm nhìn chiến lược và năng lực tự đổi mới của đảng cầm quyền Marxist-Leninist trong xây dựng CNXH ở quốc gia đang phát triển, hội nhập quốc tế [7]. Qua đó, Đại hội XIV tái định vị mối quan hệ Đảng – Nhà nước – Nhân dân, lấy nhân dân làm trung tâm thiết kế quyền lực số (sử dụng AI, blockchain, dữ liệu lớn để minh bạch hóa, dân chủ hóa, phục vụ hiệu quả), góp phần phong phú lý luận xây dựng đảng cầm quyền kiểu mới trong kỷ nguyên chuyển đổi số và hội nhập toàn cầu [8]. Trong bối cảnh CMCN 4.0 thúc đẩy tăng trưởng kinh tế số (từ 28,5 tỉ USD lên 62,1 tỉ USD GDP đến 2030), tư duy kiến tạo quyền lực số trở thành tất yếu để biến thách thức thành cơ hội, nâng năng suất lao động, rút ngắn khoảng cách phát triển [9]. Điều này phù hợp tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền lực thuộc về nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin về nhà nước XHCN như công cụ phục vụ giai cấp công nhân và nhân dân lao động, tránh tha hóa, hướng tới công bằng, dân chủ, văn minh [10].

Phiên thảo luận tại hội trường về các văn kiện Đại hội sáng 21/01. (Ảnh: TTXVN)
2. Kiến tạo quyền lực số – Sự phát triển biện chứng của tư duy cầm quyền
Trong lý luận Marxist-Leninist và tư tưởng Hồ Chí Minh – nền tảng bất biến của Đảng Cộng sản Việt Nam – quyền lực nhà nước là công cụ lịch sử mang bản chất giai cấp, phục vụ nhân dân lao động, giải phóng con người, xây dựng xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, không áp bức, bóc lột. Chủ nghĩa Mác – Lênin khẳng định nhà nước là sản phẩm mâu thuẫn giai cấp không điều hòa; trong XHCN, quyền lực thuộc về nhân dân lao động, do nhân dân làm chủ, vì lợi ích nhân dân, ngăn ngừa tha hóa, quan liêu, tham nhũng [11]. V.I. Lênin nhấn mạnh nhà nước là tổ chức thống trị của giai cấp, quyền lực phải nằm trong tay giai cấp phù hợp lợi ích đa số, tránh lừa dối hoặc đàn áp [12]. Tư tưởng Hồ Chí Minh kế thừa và vận dụng sáng tạo: “tất cả quyền lực trong nước thuộc về Nhân dân”, Nhà nước của dân, do dân, vì dân; cán bộ là “công bộc” của dân, phải phục vụ hết lòng, tránh tha hóa; quyền lực là trách nhiệm, phương tiện thực hiện độc lập dân tộc gắn với CNXH [13], [14]. Những quan điểm này là kim chỉ nam tổ chức, vận hành, kiểm soát quyền lực, hướng tới “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”.
Trong gần 96 năm cầm quyền (từ 1930), tư duy quyền lực của Đảng phát triển biện chứng, phù hợp từng thời kỳ cách mạng. Giai đoạn đầu (1930 – 1986): quyền lực được nhân dân trao qua đấu tranh cách mạng, chính danh lịch sử; Đảng lãnh đạo giành chính quyền, xây dựng nhà nước công nông, khẳng định quyền lực thuộc liên minh công nông dưới sự lãnh đạo của Đảng – cấp độ cơ bản: quyền lực được trao trên nền tảng tín nhiệm và hy sinh [15]. Giai đoạn Đổi mới (từ Đại hội VI 1986, đặc biệt Đại hội XII – XIII): trọng tâm chuyển sang kiểm soát quyền lực, phòng ngừa tha hóa, tham nhũng, tiêu cực. Văn kiện Đại hội XIII nhấn mạnh “kiểm soát chặt chẽ quyền lực”, xây dựng cơ chế vận hành đúng đắn, không tha hóa, hoàn thiện trách nhiệm giải trình, phân công, phối hợp [16]. Công cuộc PCTN “không vùng cấm, không ngoại lệ” dưới lãnh đạo đồng chí Nguyễn Phú Trọng khẳng định tư duy này, ban hành quy định kiểm soát quyền lực, chống “chạy chức, chạy quyền” [17]. Tư duy kiểm soát chứng minh hiệu quả, giữ ổn định chính trị, củng cố niềm tin nhân dân.
Tuy nhiên, trong thế kỷ XXI – với thành tựu ổn định chính trị, kinh tế phát triển, hội nhập sâu, nhưng đối mặt CMCN 4.0, chuyển đổi số, cạnh tranh địa chính trị và nguy cơ suy thoái – tư duy cầm quyền cần phát triển biện chứng lên trình độ cao hơn: từ kiểm soát sang kiến tạo quyền lực số phục vụ nhân dân. Kiến tạo không phủ định kiểm soát (điều kiện cần giữ quyền lực trong sạch) mà kế thừa, nâng tầm thành điều kiện đủ: quyền lực trở thành động lực sáng tạo, đổi mới, phát triển đất nước, mang hạnh phúc thực chất cho nhân dân [18]. Kiểm soát phòng ngừa sai phạm, hạn chế lạm quyền; kiến tạo chủ động thiết kế từ gốc (lựa chọn cán bộ phẩm chất, năng lực, dám nghĩ dám làm; cơ chế khuyến khích trách nhiệm, sáng tạo, bảo vệ đổi mới), biến quyền lực từ “vật cần kiểm soát” thành “nguồn năng lượng phát triển”. Trong kỷ nguyên số, kiến tạo tích hợp công nghệ (AI dự báo rủi ro tha hóa, blockchain minh bạch quyết định, nền tảng số phát huy dân chủ trực tuyến, giám sát nhân dân) [19]. Đây là bước tiến chất lượng trong tư duy cầm quyền của Đảng tại Đại hội XIV, phản ánh bản lĩnh lý luận sắc bén, tầm nhìn chiến lược và năng lực tự đổi mới của đảng cầm quyền Marxist-Leninist trong xây dựng CNXH ở quốc gia đang phát triển [20]. Sự chuyển hóa đáp ứng thực tiễn giai đoạn đẩy mạnh chuyển đổi số, kinh tế số, xã hội số, làm phong phú lý luận xây dựng đảng cầm quyền kiểu mới, khẳng định Đảng đặt lợi ích nhân dân làm trung tâm, thích ứng tác động CMCN 4.0, biến thách thức thành cơ hội phát triển [21].
3. Đánh giá thực tiễn Việt Nam: Thành tựu, giới hạn và yêu cầu chuyển hóa
Từ Đại hội XII (2016) đến nhiệm kỳ Đại hội XIII (2021 – 2026), công cuộc PCTN, tiêu cực, lãng phí và xây dựng, chỉnh đốn Đảng dưới lãnh đạo của Ban Chấp hành Trung ương, đứng đầu đồng chí Nguyễn Phú Trọng và tiếp nối đồng chí Tô Lâm, đạt thành tựu đột phá lịch sử, góp phần giữ vững ổn định chính trị – xã hội, củng cố niềm tin nhân dân vào Đảng và chế độ XHCN. Từ góc độ chính trị học Marxist-Leninist, đây là vận dụng sáng tạo nguyên tắc kiểm soát quyền lực phòng ngừa tha hóa, khẳng định bản lĩnh cầm quyền trong hội nhập quốc tế và chuyển đổi số, nơi tham nhũng là rào cản phát triển bền vững. Tại Hội nghị toàn quốc tổng kết PCTN nhiệm kỳ Đại hội XIII (tháng 12/2025), đồng chí Tô Lâm khẳng định cuộc đấu tranh tạo đột phá toàn diện, xử lý kiên quyết không vùng cấm, không ngoại lệ, kỷ luật 174 cán bộ Trung ương quản lý, bao gồm nguyên lãnh đạo chủ chốt [22]. Các vụ lớn như Việt Á (tham nhũng kit xét nghiệm Covid-19), FLC (chứng khoán, đất đai), Vạn Thịnh Phát (bất động sản, tài chính) được xử lý nghiêm, thu hồi hàng nghìn tỉ đồng, hoàn thiện cơ chế kiểm soát quyền lực (trách nhiệm nêu gương, kiểm soát tài sản, cải cách hành chính, ứng dụng công nghệ số) [23]. Từ đầu nhiệm kỳ XIII, kỷ luật hơn 2.300 tổ chức đảng, hơn 97.400 đảng viên, xử lý hình sự 66 cán bộ; khởi tố 3.325 vụ/8.516 bị can về tội tham nhũng, kinh tế, chức vụ [24]. Thành tựu nâng cao ý thức liêm chính, nhận được ủng hộ mạnh mẽ từ nhân dân (niềm tin cao nhất nhiều năm), được quốc tế đánh giá cao với CPI cải thiện (từ 39/100 năm 2021 lên 42/100 năm 2022, dù giảm nhẹ 40/100 năm 2024 theo Transparency International), khẳng định PCTN thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội bền vững, môi trường đầu tư lành mạnh, nâng vị thế quốc gia [25].
Tuy nhiên, với tinh thần biện chứng, khách quan và tự phê bình của đảng cầm quyền Marxist-Leninist, tư duy “chủ yếu kiểm soát quyền lực” dù hiệu quả phòng ngừa tha hóa vẫn lộ giới hạn cấu trúc, đặc biệt khi đất nước cần bứt phá chuyển đổi số và hội nhập toàn cầu. Trọng tâm phòng ngừa sai phạm, chế tài nghiêm, giám sát chặt khiến một bộ phận cán bộ rơi vào “an toàn hóa quyền lực”, né tránh trách nhiệm, sợ quyết định lớn, dẫn đến “làm nhiều sai nhiều, làm ít sai ít, không làm cũng không sai” – biểu hiện tiêu cực được lãnh đạo Đảng chỉ ra [26]. Hậu quả giảm năng động, sáng tạo hệ thống chính trị, kìm hãm đổi mới đột phá ở cải cách thể chế, thu hút đầu tư, ứng phó CMCN 4.0 và chuyển đổi số, trong bối cảnh cạnh tranh gay gắt, biến đổi khí hậu, già hóa dân số, địa chính trị phức tạp. Nếu chỉ kiểm soát để “không sai”, quyền lực thiếu sức sống sáng tạo, không làm động lực phát triển, nguy cơ chậm tăng trưởng, bỏ lỡ cơ hội trở thành nước phát triển, thu nhập cao [27]. Giới hạn càng rõ nét trong chuyển đổi số: tư duy quản lý cũ, mệnh lệnh cứng nhắc, đùn đẩy trách nhiệm gây trì trệ triển khai nền tảng số, chậm xây dựng chính phủ điện tử, né rủi ro ứng dụng AI, giảm hiệu quả khai thác nguồn lực số và lan tỏa kinh tế số [28].
Thực tiễn đặt yêu cầu cấp thiết chuyển hóa tư duy cầm quyền căn bản: từ kiểm soát chống tha hóa sang chủ động kiến tạo quyền lực số phục vụ nhân dân, giải phóng năng lượng sáng tạo hệ thống chính trị, khuyến khích cán bộ dám nghĩ dám làm dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung, bảo vệ đổi mới đột phá. Chuyển hóa kế thừa, phát triển biện chứng thành tựu kiểm soát, như đồng chí Tô Lâm nhấn mạnh tại Hội nghị tổng kết công tác 2025, triển khai 2026 (tháng 1/2026): PCTN phải quyết liệt, hiệu quả, bền vững hơn, kết hợp xây dựng Nhà nước kiến tạo phát triển, thúc đẩy đổi mới tư duy, hành động, chuyển từ “quản lý” sang “kiến tạo phát triển”, chấm dứt đùn đẩy, né tránh [29]. Đây là yêu cầu thực tiễn để quyền lực thành nguồn lực phục vụ nhân dân hiệu quả, góp phần thực hiện mục tiêu Đại hội XIV: định hình tầm nhìn chiến lược, đổi mới lãnh đạo, cầm quyền, đưa Việt Nam vào kỷ nguyên hùng cường, thịnh vượng [30]. Kiến tạo quyền lực số đòi hỏi thiết kế cơ chế số (e-governance, chính phủ điện tử) minh bạch quyết định, dự báo rủi ro qua AI, phát huy dân chủ trực tuyến, giải phóng sáng tạo, thúc đẩy kinh tế số (dự kiến chiếm 30% GDP năm 2030 theo Chiến lược quốc gia, tăng trưởng gấp 2-3 lần GDP chung, nâng năng suất lao động bình quân ~8,5%/năm) [31]. Chuyển hóa này đáp ứng kỷ nguyên chuyển đổi số, khẳng định tầm vóc lý luận và bản lĩnh chính trị của Đảng, góp phần xây dựng nhà nước kiến tạo phát triển, phục vụ nhân dân hiệu quả trong hội nhập toàn cầu.
4. Đại hội XIV – Dấu mốc lịch sử chuyển hóa tư duy cầm quyền
Đại hội XIV của Đảng Cộng sản Việt Nam, khai mạc ngày 19/01/2026 tại Trung tâm Hội nghị Quốc gia, Hà Nội, với 1.586 đại biểu đại diện hơn 5,6 triệu đảng viên, là sự kiện chính trị trọng đại nhất năm 2026 và dấu mốc lịch sử chuyển tiếp giữa hai giai đoạn phát triển lớn lao của dân tộc, khẳng định bản lĩnh lý luận và tầm nhìn chiến lược của đảng cầm quyền Marxist-Leninist trong kỷ nguyên chuyển đổi số và hội nhập toàn cầu [32]. Đại hội diễn ra khi đất nước cơ bản hoàn thành mục tiêu Đại hội XIII, với thành tựu toàn diện sau 40 năm Đổi mới (1986 – 2026) và 35 năm Cương lĩnh (1991, bổ sung 2011), tạo nền tảng vững chắc để đẩy mạnh CNH, HĐH hiện đại, phát triển kinh tế số, xã hội số, chính phủ số, công dân số, hướng tới năm 2030 trở thành nước công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao; năm 2045 trở thành nước phát triển, thu nhập cao theo định hướng XHCN [33]. Với chủ đề “Dưới lá cờ vẻ vang của Đảng, chung sức, đồng lòng thực hiện thắng lợi các mục tiêu phát triển đất nước đến năm 2030; tự chủ chiến lược, tự cường, tự tin, tiến mạnh trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc vì hòa bình, độc lập, dân chủ, giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc, vững bước đi lên CNXH” và phương châm “Đoàn kết – Dân chủ – Kỷ cương – Đột phá – Phát triển”, Đại hội tổng kết bài học nhiệm kỳ XIII, kiểm điểm lãnh đạo Trung ương, đồng thời định hướng chiến lược dài hạn, đưa ra quyết sách đột phá đáp ứng thời đại mới [34]. Đại hội đối mặt thách thức chưa từng có: CMCN 4.0 đòi hỏi đổi mới mô hình tăng trưởng; biến đổi khí hậu ảnh hưởng an ninh lương thực, tài nguyên; cạnh tranh địa chính trị gay gắt; rủi ro suy thoái kinh tế hậu đại dịch, già hóa dân số, an ninh phi truyền thống [35]. Những thách thức đòi hỏi Đảng có tầm nhìn vượt trước, bản lĩnh vững vàng, năng lực lãnh đạo sáng tạo để biến thách thức thành cơ hội, đưa dân tộc vào “kỷ nguyên vươn mình”, “kỷ nguyên phát triển hùng cường, thịnh vượng” [36].
Từ góc độ chuyên ngành Xây dựng Đảng, Đại hội XIV tập trung định hướng giai đoạn mới với trọng tâm chuyển hóa tư duy cầm quyền: từ phòng ngừa, kiểm soát tha hóa quyền lực (thành tựu đột phá nhiệm kỳ XII-XIII) sang chủ động tổ chức, thiết kế, vận hành quyền lực chiến lược, hệ thống phục vụ phát triển nhanh, bền vững, vì hạnh phúc và phồn vinh nhân dân. Dự thảo Văn kiện, đặc biệt Báo cáo chính trị do đồng chí Tô Lâm trình bày tại phiên khai mạc, thể hiện thông điệp lịch sử với tính hành động cao: đổi mới tư duy phát triển, hoàn thiện thể chế, lấy khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số làm động lực trung tâm; kiến tạo hệ thống quyền lực năng động, hiệu quả, khuyến khích dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung [37]. Văn kiện nhấn mạnh khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là động lực then chốt tăng trưởng, nâng năng suất, cạnh tranh, hiệu quả quản trị, tự chủ quốc gia, bảo đảm quốc phòng an ninh, tạo mô hình kinh doanh, việc làm, giá trị gia tăng mới [38]. Sự chuyển hóa đòi hỏi đổi mới căn bản tư duy phát triển, phương thức quản trị, phân bổ nguồn lực, biến quyền lực thành nguồn lực kiến tạo phát triển thay vì chỉ phòng ngừa sai phạm [39]. Đây là bước tiến lịch sử – chính trị sâu sắc, khẳng định Đảng với gần 96 năm lãnh đạo cách mạng không ngừng tự đổi mới, tự chỉnh đốn, nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền phù hợp thời đại, đặt lợi ích nhân dân và dân tộc lên trên hết, làm phong phú lý luận xây dựng đảng cầm quyền kiểu mới trong CNXH và hội nhập quốc tế [40]. Đại hội XIV củng cố niềm tin nhân dân vào Đảng, khơi dậy khát vọng phát triển phồn vinh, hạnh phúc, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, khẳng định Đảng là “nhà kiến trúc sư số” của hệ thống quyền lực trong kỷ nguyên mới [41].
5. Mô hình quan hệ Đảng – Nhà nước – Nhân dân trong điều kiện kiến tạo quyền lực số
Nguyên tắc Đảng lãnh đạo – Nhà nước quản lý – Nhân dân làm chủ là nền tảng bất biến, cốt lõi của hệ thống chính trị Việt Nam theo định hướng XHCN, được khẳng định xuyên suốt từ Cương lĩnh (1991, bổ sung 2011) đến Văn kiện Đại hội XIII và Dự thảo Văn kiện Đại hội XIV [42]. Nguyên tắc này phản ánh bản chất giai cấp công nhân của Nhà nước XHCN, đồng thời thể hiện triết lý nhân văn sâu sắc của chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh: quyền lực thuộc về nhân dân, Đảng lãnh đạo nhưng không làm thay, không bao cấp, mà thông qua đường lối đúng đắn, cơ chế phù hợp để phát huy vai trò làm chủ của nhân dân, biến sức mạnh nhân dân thành động lực phát triển đất nước [43]. Trong gần 40 năm Đổi mới, đặc biệt nhiệm kỳ Đại hội XIII, nguyên tắc được cụ thể hóa qua hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN, đẩy mạnh dân chủ hóa, tăng cường giám sát quyền lực và xây dựng cán bộ “vừa hồng vừa chuyên”, góp phần vào thành tựu toàn diện [44]. Khi tư duy cầm quyền chuyển lên kiến tạo quyền lực số phục vụ nhân dân – bước phát triển biện chứng tất yếu tại Đại hội XIV -, mối quan hệ ba chủ thể được nâng tầm căn bản, sâu sắc: từ phòng ngừa tha hóa, kiểm soát lạm quyền sang tổ chức, thiết kế, vận hành quyền lực chủ động, hệ thống, biến quyền lực thành nguồn lực sáng tạo mạnh mẽ, thúc đẩy phát triển nhanh, bền vững, mang lại hạnh phúc thực chất cho nhân dân. Sự nâng tầm giữ nguyên bản chất nguyên tắc, làm nguyên tắc sống động, thực chất hơn, phù hợp giai đoạn cách mạng mới – đẩy mạnh CNH, HĐH, chuyển đổi số và kinh tế độc lập, tự chủ gắn hội nhập sâu rộng [45].
Trước hết, Đảng lãnh đạo bằng đường lối đúng đắn, khoa học, sát thực tiễn; tuyển chọn, bố trí cán bộ có phẩm chất đạo đức cách mạng, năng lực nổi bật, tầm nhìn chiến lược, bản lĩnh dám nghĩ dám làm dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung; chủ động thiết kế cơ chế vận hành quyền lực số hướng tới nhân dân, xuất phát từ nhân dân, phục vụ nhân dân. Trong tư duy kiến tạo, Đảng trở thành “nhà kiến trúc sư số”: xây dựng thể chế khuyến khích sáng tạo, bảo vệ cán bộ đột phá, ràng buộc trách nhiệm để quyền lực trong sạch, liêm chính [46]. Dự thảo Văn kiện Đại hội XIV nhấn mạnh đổi mới phương thức lãnh đạo, hoàn thiện cơ chế để Đảng lãnh đạo nhưng không làm thay Nhà nước, không bao biện xã hội, tập trung định hướng chiến lược, giám sát quyền lực, phát huy dân chủ [47]. Thứ hai, Nhà nước quản lý phải chuyên nghiệp hóa, hiệu quả hóa, trở thành Nhà nước phục vụ nhân dân, kiến tạo phát triển: bộ máy tinh gọn, hành chính hiện đại, ứng dụng chuyển đổi số mạnh mẽ, công khai minh bạch, tạo môi trường thuận lợi cho nhân dân tham gia xây dựng chính sách và giám sát thực thi quyền lực. Trong kiến tạo quyền lực số, Nhà nước là “cầu nối” thực chất giữa Đảng và nhân dân, biến đường lối thành chính sách cụ thể, khả thi, mang lợi ích thiết thực; tạo điều kiện nhân dân tham gia quản lý qua Mặt trận Tổ quốc, tổ chức chính trị – xã hội, hội đồng nhân dân các cấp và nền tảng dân chủ trực tuyến [48]. Chuyển hóa đòi hỏi vượt tư duy “quản lý kiểu cũ”, hướng tới quản trị hiện đại, lấy sự hài lòng của nhân dân làm thước đo, như mô hình Chính phủ số Việt Nam đang triển khai [49]. Thứ ba, Nhân dân là trung tâm thực sự của thiết kế và vận hành quyền lực số: không chỉ thụ hưởng mà là chủ thể sáng tạo, tham gia trực tiếp, thực chất vào xây dựng đường lối, thực thi và giám sát quyền lực qua kênh dân chủ mở rộng. Trong tư duy kiến tạo, vị trí nhân dân được nâng tầm: không chỉ giám sát mà đồng sáng tạo quyền lực, khơi dậy khát vọng cống hiến, phát huy đại đoàn kết, khuyến khích đổi mới, sáng tạo, khởi nghiệp, góp phần xây dựng đất nước phồn vinh, hạnh phúc [50]. Đây là cụ thể hóa tư tưởng Hồ Chí Minh “dân là gốc”, quyền lực của dân, do dân, vì dân; chỉ khi nhân dân thực sự làm chủ, quyền lực mới thành nguồn năng lượng vô tận cho phát triển [51].
So với mô hình phân quyền phương Tây (cân bằng quyền lực giữa các nhánh để hạn chế lạm quyền nhưng dễ trì trệ, thiếu thống nhất), mô hình Việt Nam nổi bật ở tính thống nhất lãnh đạo dưới Đảng Cộng sản, kết hợp hài hòa tập trung dân chủ và dân chủ rộng rãi, mang tính nhân văn sâu sắc: quyền lực phục vụ nhân dân, mục tiêu chung dân tộc, hạnh phúc và phồn vinh mọi người [52]. Tính thống nhất đảm bảo hành động nhanh chóng, quyết liệt khi cần thiết; tính nhân văn – lấy con người làm trung tâm, mục tiêu phát triển – giúp tránh bất cập của mô hình khác, khẳng định bản sắc CNXH khoa học ở quốc gia đang phát triển [53]. Ví dụ, Singapore thành công với e-governance qua Sáng kiến Smart Nation (từ 2014), Văn phòng Quốc gia Thông minh và Chính phủ số (SNDGO) dẫn dắt, tập trung hạ tầng số, dữ liệu, bảo mật, tạo chính phủ số hiệu quả, minh bạch; Việt Nam có thể học hỏi để xây dựng Chính phủ số, kinh tế số nhưng giữ vững bản sắc XHCN, đảm bảo quyền lực số phục vụ nhân dân, không rơi vào tay nhóm lợi ích [54]. Tóm lại, trong tư duy kiến tạo quyền lực số mà Đại hội XIV định hướng, mô hình quan hệ Đảng – Nhà nước – Nhân dân được nâng tầm thành hệ thống quyền lực năng động, sáng tạo, thống nhất và nhân văn, góp phần quan trọng thực hiện khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc trong kỷ nguyên mới [55].
6. Kết luận
Tư duy kiến tạo quyền lực số phục vụ nhân dân mà Đại hội XIV định hướng là bước chuyển biến chiến lược quan trọng, đáp ứng yêu cầu giai đoạn cách mạng mới, đồng thời mang giá trị lý luận lâu dài, làm phong phú thêm lý luận xây dựng đảng cầm quyền kiểu mới trong điều kiện xây dựng CNXH và hội nhập quốc tế.
Sự phát triển biện chứng từ kiểm soát quyền lực (phòng ngừa tha hóa, tham nhũng, tiêu cực) sang kiến tạo quyền lực số – chủ động thiết kế, tổ chức và vận hành quyền lực bằng công nghệ số (AI, blockchain, dữ liệu lớn) để trở thành nguồn lực sáng tạo, minh bạch, dân chủ, hiệu quả – khẳng định bản lĩnh lý luận sắc bén, tầm nhìn chiến lược sâu rộng và năng lực tự đổi mới của Đảng Cộng sản Việt Nam, một đảng cầm quyền Marxist-Leninist chân chính trong kỷ nguyên chuyển đổi số và CMCN 4.0.
Đại hội XIV tái định vị mối quan hệ Đảng – Nhà nước – Nhân dân, lấy nhân dân làm trung tâm thiết kế quyền lực số: Đảng là nhà kiến trúc sư số lãnh đạo đường lối, Nhà nước là chính phủ số phục vụ minh bạch, hiệu quả, Nhân dân là chủ thể sáng tạo và giám sát thực chất. Sự chuyển hóa này kế thừa, nâng tầm thành tựu kiểm soát quyền lực, giải phóng năng lượng sáng tạo hệ thống chính trị, khuyến khích cán bộ dám nghĩ dám làm dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung, bảo vệ đột phá đổi mới, biến thách thức thành cơ hội để Việt Nam vững bước vào kỷ nguyên vươn mình hùng cường, thịnh vượng.
Với tư duy cầm quyền mới, Đảng tiếp tục khẳng định vai trò tiên phong, bản lĩnh chính trị và trí tuệ lãnh đạo, củng cố niềm tin nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng và tương lai phồn vinh, hạnh phúc của dân tộc. Trong kỷ nguyên Đại hội XIV, tư duy kiến tạo quyền lực số sẽ là động lực mạnh mẽ để Việt Nam thực hiện khát vọng phát triển đất nước giàu mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, vì lợi ích nhân dân và vì hòa bình, tiến bộ của nhân loại, góp phần phong phú lý luận và thực tiễn xây dựng CNXH khoa học ở quốc gia đang phát triển.
Tài liệu tham khảo, trích dẫn:
[1] Đảng Cộng sản Việt Nam (2021). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Tập 1, NXB CTQGST, Hà Nội.
[2] Báo Nhân Dân (2025). Thành tựu 40 năm đổi mới khẳng định tầm vóc Việt Nam.
[3] Tạp chí Cộng sản (2025). Kiên trì – Quyết tâm – Đồng thuận – Toàn diện – Đột phá trong PCTN, lãng phí, tiêu cực.
[4] Báo Thanh tra Việt Nam (2025). Phát biểu kết luận của Tổng Bí thư Tô Lâm tại Hội nghị toàn quốc tổng kết công tác PCTN, lãng phí, tiêu cực.
[5] Báo Nhân Dân (2026). Trực tiếp phiên khai mạc Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng Cộng sản Việt Nam.
[6] Đảng Cộng sản Việt Nam (2021). Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng. NXB CTQGST, Hà Nội.
[7] Tạp chí Cộng sản (2026). Bảo đảm văn kiện Đại hội XIV trở thành động lực đổi mới tư duy và hành động, khơi dậy khát vọng phát triển.
[8] Tạp chí Cộng sản (2025). Công tác tổ chức xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị trước yêu cầu chuyển đổi số.
[9] Tạp chí Cộng sản (2022). Tác động của cuộc CMCN 4.0 đến thế giới, khu vực và Việt Nam.
[10] Hồ Chí Minh (2011). Toàn tập, Tập 5, NXB CTQGST, Hà Nội.
[11] Tạp chí Cộng sản (2007). Quan điểm của V.I. Lê-nin về nhà nước và vấn đề xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
[12] Tạp chí Cộng sản (2020). Quan điểm của V.I. Lê-nin về nhà nước kiểu mới và ý nghĩa đối với Việt Nam.
[13] Hồ Chí Minh (2011). Toàn tập, Tập 5, NXB CTQGST, Hà Nội (phần về cán bộ là công bộc của dân).
[14] Báo Nhân Dân (2025). Tư tưởng “trọng dân” của Chủ tịch Hồ Chí Minh.
[15] Tạp chí Cộng sản (2022). Quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về “vị thế công bộc” của người cán bộ lãnh đạo và giá trị tham khảo trong công tác cán bộ hiện nay.
[16] Đảng Cộng sản Việt Nam (2021). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Tập 1, NXB CTQGST, Hà Nội (phần về kiểm soát quyền lực và đổi mới phương thức lãnh đạo).
[17] Báo Tuổi Trẻ (2026). Tổng Bí thư Tô Lâm: PCTN, lãng phí, tiêu cực tuyệt đối không làm kiểu phong trào.
[18] Tạp chí Cộng sản (2025). Công tác tổ chức xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị trước yêu cầu chuyển đổi số.
[19] Tạp chí Cộng sản (2026). Bảo đảm văn kiện Đại hội XIV trở thành động lực đổi mới tư duy và hành động, khơi dậy khát vọng phát triển.
[20] Tạp chí Cộng sản (2022). Tác động của cuộc CMCN 4.0 đến thế giới, khu vực và Việt Nam.
[21] Báo Nhân Dân (2026). Báo cáo về các văn kiện trình Đại hội XIV của Đảng Cộng sản Việt Nam.
[22] Tạp chí Cộng sản (2025). Hội nghị toàn quốc tổng kết công tác PCTN, lãng phí, tiêu cực nhiệm kỳ Đại hội XIII của Đảng.
[23] Báo Lào Cai (2025). Dấu ấn công tác PCTN, lãng phí, tiêu cực.
[24] Báo Quân đội Nhân dân (2025). Công tác PCTN, lãng phí, tiêu cực phải quyết liệt hơn, hiệu quả hơn, bền vững hơn.
[25] Transparency International (2025). Corruption Perceptions Index 2024: Vietnam.
[26] Báo Nhân Dân (2025). Một số cán bộ có tư tưởng ‘làm nhiều sai nhiều, làm ít sai ít’.
[27] Tạp chí Lý luận chính trị (2025). Xây dựng Nhà nước kiến tạo phát triển ở Việt Nam: Thuận lợi và khó khăn, thách thức.
[28] Tạp chí Quản lý nhà nước (2026). Công tác phòng, chống quan liêu theo tư tưởng Hồ Chí Minh góp phần xây dựng nền quản trị quốc gia hiện đại, gần dân, sát dân, vì Nhân dân phục vụ.
[29] Báo Chính phủ (2026). Phát biểu chỉ đạo của Tổng Bí thư Tô Lâm tại Hội nghị toàn quốc Chính phủ và chính quyền địa phương.
[30] Báo Hải quân Việt Nam (2026). Tổng Bí thư Tô Lâm: Chuyển mạnh và thực chất tư duy “quản lý” sang “kiến tạo phát triển”, chấm dứt đùn đẩy, né tránh.
[31] Bộ Khoa học và Công nghệ (2025). Việt Nam đặt mục tiêu kinh tế số chiếm tỉ trọng 30% GDP vào 2030.
[32] Báo Tiền Phong (2026). Khai mạc trọng thể Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng.
[33] Báo Chính phủ (2026). TRỰC TIẾP: Long trọng khai mạc Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng.
[34] Báo Tin tức (2026). Khai mạc Đại hội XIV của Đảng: Quyết định những vấn đề mang tầm chiến lược đối với tương lai và vận mệnh của dân tộc.
[35] VietnamPlus (2026). Khai mạc Đại hội XIV của Đảng: Quyết định những vấn đề mang tầm chiến lược.
[36] Báo Quân đội Nhân dân (2026). Ý nghĩa, giá trị của phương châm Đại hội XIV của Đảng.
[37] VnExpress (2026). Tổng Bí thư Tô Lâm báo cáo về các văn kiện trình Đại hội Đảng XIV.
[38] Tạp chí Cộng sản (2026). Báo cáo về các văn kiện trình Đại hội XIV của Đảng Cộng sản Việt Nam.
[39] Báo Lai Châu (2026). Bảo đảm Văn kiện Đại hội XIV trở thành động lực đổi mới tư duy và hành động, khơi dậy khát vọng phát triển.
[40] Đại hội Đảng (2026). Ngày 20/1/2026, Khai mạc Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng.
[41] Vietnam.vn (2025). Góp ý văn kiện Đại hội XIV: Cơ hội lớn từ chuyển đổi số và đổi mới sáng tạo.
[42] Đảng Cộng sản Việt Nam (2021). Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH (bổ sung, phát triển năm 2011). NXB CTQGST, Hà Nội.
[43] Tạp chí Cộng sản (2025). Tăng cường mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân trong kỷ nguyên mới.
[44] Luật sư Việt Nam (2025). Từ kiểm soát quyền lực đến kiến tạo quyền lực phục vụ Nhân dân.
[45] Bộ Nội vụ (2025). Kiểm soát quyền lực trong thể chế chính trị một đảng duy nhất cầm quyền.
[46] Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh (2025). Về mối quan hệ giữa Đảng và Nhà nước trong giai đoạn hiện nay.
[47] Đại biểu Nhân dân (2025). Bài 3: Phương thức cầm quyền dân chủ, linh hoạt, tập trung, thống nhất, hiệu quả của Đảng.
[48] Tạp chí Quản lý nhà nước (2025). Kinh nghiệm chuyển đổi số quốc gia của Estonia, Hàn Quốc, Singapore và hàm ý chính sách cho Việt Nam.
[49] Kinh tế và Dự báo (2025). Xu hướng tích hợp các giá trị công trong phát triển năng lực quản trị số – Một số gợi ý chính sách cho tiến trình chuyển đổi số tại Việt Nam.
[50] Viện Nghiên cứu Công nghiệp và Thương mại (2025). Đổi mới sáng tạo trong quản trị khu vực công trong thời đại số – Kinh nghiệm từ các nước phát triển và khuyến nghị cho Việt Nam.
[51] Tạp chí Khoa học chính trị (2025). Quản trị nhà nước tốt – nguồn gốc thành công của Singapore và những bài học cho Việt Nam.
[52] Bộ Tư pháp (2025). Khả năng áp dụng mô hình nhà nước kiến tạo ở Việt Nam.
[53] VNU Journal of Science (2025). Developing Digital Government in Some Asian Countries and Lessons for Vietnam.
[54] Tạp chí Chính trị và Phát triển (2025). Kinh nghiệm xây dựng Chính phủ điện tử ở một số quốc gia trên thế giới – Bài học cho Việt Nam.
[55] Tạp chí Nghiên cứu Công nghiệp và Thương mại (2025). Mô hình kinh tế số tại Singapore và một số đề xuất cho Việt Nam.
LÊ HÙNG
BÙI QUỐC TUẤN
Học viện Chính trị khu vực I
(Nguồn: Tạp chí Điện tử Luật sư Việt Nam)
Trước toàn thể Đại hội, Tổng Bí thư Tô Lâm nhấn mạnh, “Ban Chấp hành Trung ương khóa XIV nguyện tuyệt đối trung thành với mục tiêu lý tưởng của Đảng; đặt lợi ích quốc gia – dân tộc lên trên hết, trước hết; giữ vững độc lập tự chủ, kiên quyết bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ Nhân dân”.
Chiều 23/1, tại phiên bế mạc Đại hội XIV của Đảng, Tổng Bí thư Tô Lâm thay mặt Ban Chấp hành Trung ương khoá XIV vừa được bầu bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến sự tin tưởng và tín nhiệm của Đại hội.

Tổng Bí thư Tô Lâm. Ảnh: TTXVN
Ông chia sẻ, “đây là vinh dự, trách nhiệm lớn trước Đảng, trước Nhân dân”, đồng thời khẳng định sẽ cùng Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XIV nỗ lực hết mình, toàn tâm, toàn lực để phục vụ sự nghiệp cao cả cách mạng của Đảng, cách mạng của Nhân dân.
Theo Tổng Bí thư, Ban chấp hành Trung ương khoá XIV nguyện tuyệt đối trung thành với mục tiêu lý tưởng của Đảng, đặt lợi ích quốc gia, dân tộc lên trên hết, trước hết, giữ vững độc lập, tự chủ, kiên quyết bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ Nhân dân.
Ông khẳng định, Ban chấp hành Trung ương khoá XIV sẽ làm việc bằng tinh thần nêu gương cao nhất, nói đi đôi với làm, làm đến cùng.
“Làm việc vì dân phải làm nhanh, làm đúng, làm tốt, phải bằng năng lực lãnh đạo và tổ chức thực hiện. Hiệu quả phục vụ Nhân dân là thước đo năng lực lãnh đạo, uy tín, danh dự của từng đồng chí Ủy viên Trung ương Đảng”, Tổng Bí thư nói.
Vẫn theo Tổng Bí thư, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XIV sẽ tiếp tục kiên trì xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong sạch, vững mạnh, giữ gìn sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng, tăng cường kỷ luật của Đảng, kỷ cương, phép nước, hoàn thiện cơ chế kiểm soát quyền lực, kiên quyết phòng, chống tham nhũng lãng phí, tiêu cực, thực hành tiết kiệm, chống phô trương, hình thức.

Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XIV ra mắt Đại hội. Ảnh: TTXVN
Đồng thời, Ban Chấp hành Trung ương khoá mới tiếp tục làm tốt công tác cán bộ, đặt đúng người, giao đúng việc, đánh giá bằng sản phẩm, đo bằng uy tín trong Nhân dân, trọng dụng người có đức, có tài, dám làm, biết làm, làm được việc, đưa ra khỏi hệ thống những người cơ hội, né tránh trách nhiệm, nói không đi đôi với làm, kiên quyết chống tiêu cực.
Thay mặt Ban Chấp hành Trung ương khoá mới, Tổng Bí thư một lần nữa bày tỏ lòng tri ân sâu sắc đối với các Uỷ viên Ban Chấp hành Trung ương khoá XIII không tái cử, nhất là lãnh đạo chủ chốt, các Uỷ viên Bộ Chính trị, Uỷ viên Ban Bí thư.
“Các đồng chí đã cống hiến trí tuệ, tâm huyết, bản lĩnh, củng cố đoàn kết, vun đắp niềm tin, lãnh đạo toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta hoàn thành thắng lợi Nghị quyết Đại hội đảng lần thứ XIII”, ông nhấn mạnh.
Tổng Bí thư mong tiếp tục nhận được sự quan tâm, góp ý thẳng thắn, xây dựng, tiếp tục truyền kinh nghiệm cho thế hệ kế cận, tiếp tục chung sức vì sự nghiệp cách mạng và của Nhân dân.
“Sự đồng hành của các đồng chí là nguồn cổ vũ tinh thần to lớn để Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV hoàn thành nhiệm vụ trong nhiệm kỳ mới”, Tổng Bí thư chia sẻ.
Theo Tổng Bí thư, chặng đường phía trước có nhiều việc lớn, đòi hỏi quyết tâm cao, kỷ luật nghiêm, nỗ lực không ngừng.
Tổng Bí thư một lần nữa cảm ơn đại biểu Đại hội đã tin tưởng, tín nhiệm, cảm ơn các đại biểu đã làm việc tận tâm, trí tuệ, trách nhiệm, cảm ơn các đảng viên, đồng bào chiến sĩ cả nước, kiều bào ta ở nước ngoài và bạn bè quốc tế đã luôn hướng về Đại hội, dành cho Đảng tình cảm và sự ủng hộ.
“Trước Đảng, trước Nhân dân, trước các đồng chí đại biểu dự Đại hội, chúng tôi cam kết sẽ đoàn kết một lòng, làm việc nghiêm túc, hành động quyết liệt, nỗ lực đến cùng để xứng đáng với niềm tin của Đảng, của nhân dân, của các đại biểu Đại hội đã dành cho chúng tôi. Quyết tâm lãnh đạo thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, đưa đất nước phát triển hùng cường, thịnh vượng trong kỷ nguyên mới”, Tổng Bí thư nhấn mạnh.
Hương Giang – Bảo Anh
(Nguồn: Thanhtra.com.vn)
Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XIV đã thống nhất tuyệt đối bầu Tổng Bí thư Tô Lâm tiếp tục giữ chức Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XIV.
Sáng 23/1, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XIV đã tổ chức Hội nghị lần thứ nhất để quyết định những vấn đề đặc biệt quan trọng, đánh dấu khởi đầu của nhiệm kỳ mới. Tổng Bí thư Tô Lâm, triệu tập viên Hội nghị phát biểu khai mạc và thay mặt Đoàn Chủ tịch Hội nghị điều hành chương trình Hội nghị.
Trên cơ sở thực hiện nghiêm Điều lệ Đảng, quy chế làm việc, quy chế bầu cử và các nội dung liên quan, phát huy cao độ tinh thần đoàn kết và trách nhiệm, thực hiện tốt nguyên tắc tập trung dân chủ, Hội nghị lần thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XIV đã hoàn thành các nội dung đặc biệt quan trọng.
Hội nghị đã bầu Bộ Chính trị, Tổng Bí thư, Ban Bí thư, nghe báo cáo về phương án các chức danh lãnh đạo chủ chốt của Đảng, Nhà nước và cho ý kiến về nhân sự đảm nhiệm chức danh Thường trực Ban Bí thư.
Hội nghị cũng đã bầu Uỷ ban Kiểm tra Trung ương, bầu Chủ nhiệm Uỷ ban Kiểm tra Trung ương.
Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XIV đã thống nhất tuyệt đối bầu Tổng Bí thư Tô Lâm tiếp tục giữ chức Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XIV.

Tổng Bí thư Tô Lâm tái đắc cử. Ảnh: Đ.X
Theo đó, Trung ương khóa XIV bầu Ủy viên Bộ Chính trị; Tổng Bí thư Tô Lâm được tín nhiệm bầu làm Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa XIV.
Tổng Bí thư Tô Lâm sinh năm 1957; quê ở tỉnh Hưng Yên, trình độ chuyên môn Giáo sư, Tiến sĩ Luật học.
Ông là Ủy viên Bộ Chính trị khóa XII, XIII; Ủy viên Trung ương Đảng 4 khóa (XI, XII, XIII, XIV); đại biểu Quốc hội 2 khóa (XIV, XV).
Sau 5 năm học tại Đại học An ninh Nhân dân, ông Tô Lâm trở thành cán bộ Cục Bảo vệ chính trị I, sau đó kinh qua nhiều chức vụ ở các đơn vị của Bộ Công an.
4 năm sau đó, ông lần lượt giữ chức Phó Cục trưởng Cục Bảo vệ chính trị I rồi Cục trưởng Cục Bảo vệ chính trị III, Bộ Công an.
Từ 2006 đến 2009, ông Tô Lâm là Phó Tổng cục trưởng Tổng cục An ninh rồi Phó Tổng cục trưởng phụ trách Tổng cục An ninh I, Bộ Công an. Năm 2007, ông được phong hàm Thiếu tướng và được thăng hàm Trung tướng 3 năm sau đó.
Năm 2010, ông đảm nhiệm chức vụ Tổng cục trưởng Tổng cục An ninh I, Bộ Công an và trở thành Thứ trưởng Bộ Công an vào tháng 8/2010.
Sau 6 năm giữ cương vị Thứ trưởng, ông trở thành Bộ trưởng Bộ Công an vào tháng 4/2016. Trước đó 2 năm, ông được phong hàm Thượng tướng. Đến năm 2019, ông Tô Lâm được phong hàm Đại tướng.
Sáng ngày 22/5/2024, Quốc hội đã thông qua nghị quyết bầu ông giữ chức Chủ tịch nước. Sau 3 tháng giữ chức vụ này, Chủ tịch nước Tô Lâm khi đó được bầu giữ chức Tổng Bí thư.
Ngày 21/10/2024, ông thôi chức Chủ tịch nước và giữ chức Tổng Bí thư cho đến nay.
Hương Giang – Tú Anh
(Nguồn: Thanhtra.com.vn)
Chiều nay 23/1, Đại hội XIV của Đảng sẽ bế mạc. Ngay sau đó, Tổng Bí thư khoá mới sẽ chủ trì họp báo quốc tế công bố kết quả Đại hội.
Theo chương trình làm việc điều chỉnh đã được các đại biểu thông qua, Đại hội XIV của Đảng sẽ họp phiên bế mạc chiều nay.

Đại hội XIV của Đảng đã biểu quyết thông qua danh sách bầu 200 Uỷ viên Ban Chấp hành Trung ương khoá XIV. Ảnh: TTXVN
Tại phiên bế mạc, theo thông lệ, các đại biểu sẽ nghe công bố kết quả bầu Tổng Bí thư, Ban Bí thư, Ủy ban Kiểm tra Trung ương, Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Trung ương.
Sau khi Ban Chấp hành Trung ương khóa XIV ra mắt, Tổng Bí thư thay mặt Ban Chấp hành Trung ương sẽ phát biểu trước Đại hội.
Trước đó, tối 22/1, Đại hội XIV của Đảng công bố danh sách 200 Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương khóa XIV, gồm 180 ủy viên chính thức và 20 ủy viên dự khuyết.
Theo danh sách công bố, trong 16 Ủy viên Bộ Chính trị khóa XIII, có 10 nhân sự tái cử Ban Chấp hành Trung ương khóa mới. Trong đó có 3 lãnh đạo chủ chốt của Đảng, Nhà nước gồm: Tổng Bí thư Tô Lâm, Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn, Thường trực Ban Bí thư Trần Cẩm Tú.
7 Ủy viên Bộ Chính trị khóa XIII khác tái cử Ban Chấp hành Trung ương khóa XIV, gồm: Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam Bùi Thị Minh Hoài; Trưởng Ban Tổ chức Trung ương Lê Minh Hưng; Đại tướng, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Phan Văn Giang; Đại tướng, Bộ trưởng Bộ Công an Lương Tam Quang; Bí thư Thành ủy Hà Nội Nguyễn Duy Ngọc; Đại tướng, Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam Nguyễn Trọng Nghĩa; Phó chủ tịch thường trực Quốc hội Đỗ Văn Chiến.
9 Ủy viên Ban Bí thư khóa XIII tái cử Ban Chấp hành Trung ương khóa XIV (tính cả Ủy viên Bộ Chính trị do Bộ Chính trị phân công) gồm: Tổng Bí thư Tô Lâm; Thường trực Ban Bí thư Trần Cẩm Tú; Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam Bùi Thị Minh Hoài; Trưởng Ban Tổ chức Trung ương Lê Minh Hưng; Trưởng Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương Trịnh Văn Quyết; Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Lê Hoài Trung; Bí thư Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh Trần Lưu Quang; Đại tướng, Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam Nguyễn Trọng Nghĩa; Phó ban thường trực Ban Nội chính Trung ương Lê Minh Trí.
Có 82 Ủy viên chính thức Trung ương khóa XIII tái cử khóa XIV. Bên cạnh đó, có 15 Ủy viên dự khuyết Trung ương khóa XIII tái cử, trong đó 11 người được bầu làm Ủy viên chính thức Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV, 3 người tái cử Ủy viên dự khuyết.
Trong Ban Chấp hành Trung ương khoá XIV, ngoài những nhân sự tái cử có 71 người lần đầu tham gia, trong đó có nhiều Bí thư, Chủ tịch các địa phương sau sáp nhập.
Hương Giang – Tú Anh
(Nguồn: Thanhtra.com.vn)
Trong Ban Chấp hành Trung ương khóa XIV, ngoài những nhân sự tái cử có 71 người lần đầu tham gia, trong đó có nhiều Bí thư, Chủ tịch các địa phương sau sáp nhập.
Ban Chấp hành Trung ương khóa XIV vừa được bầu ra trong phiên làm việc ngày 22/1 tại Đại hội. Danh sách 200 Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương khóa XIV có 180 Ủy viên chính thức và 20 Ủy viên dự khuyết.

Đại hội bỏ phiếu bầu Ban Chấp hành Trung ương khóa XIV. Ảnh: TTXVN
Trong số này, có 71 Ủy viên lần đầu tham gia Trung ương, gồm nhiều bí thư, chủ tịch tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương.
Danh sách 71 nhân sự lần đầu tham gia Trung ương:
1. Ông Đào Tuấn Anh, Trung tướng, Phó Bí thư Đảng ủy, Tư lệnh Quân đoàn 34, Bộ Quốc phòng
2. Ông Trần Văn Bắc, Thiếu tướng, Phó Bí thư Đảng ủy, Tư lệnh Quân khu 2, Bộ Quốc phòng
3. Thiếu tướng Đoàn Xuân Bường, Bí thư Đảng ủy, Chính ủy Quân khu 4, Bộ Quốc phòng
4. Ông Đặng Văn Dũng, Ủy viên Ban Chấp hành Đảng bộ các cơ quan Đảng Trung ương, Phó Trưởng Ban Nội chính Trung ương
5. Ông Đoàn Anh Dũng, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Trung ương
6. Ông Đặng Hồng Đức, Ủy viên Ban Thường vụ Đảng ủy Công an Trung ương, Trung tướng, Thứ trưởng Bộ Công an
7. Ông Nguyễn Quang Đức, Phó Bí thư Đảng ủy, Phó Trưởng Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương
8. Trung tướng Lê Ngọc Hải, Phó Bí thư Đảng ủy, Tư lệnh Quân khu 5, Bộ Quốc phòng
9. Bà Trần Thị Hiền, Ủy viên Ban Thường vụ Đảng ủy các cơ quan Đảng Trung ương, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Trung ương
10. Ông Nguyễn Sỹ Hiệp, Phó Bí thư Thường trực Đảng ủy, Phó Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ
11. Ông Phan Chí Hiếu, Ủy viên Ban Thường vụ Đảng ủy, Thứ trưởng Bộ Tư pháp
12. Ông Lê Mạnh Hùng, Ủy viên Ban Chấp hành Đảng bộ Chính phủ, Quyền Bộ trưởng Bộ Công Thương
13. Ông Dương Quốc Huy, Ủy viên Ban Thường vụ Đảng ủy, Phó Tổng Thanh tra Chính phủ
14. Ông Nguyễn Đức Hưng, Trung tướng, Bí thư Đảng ủy, Chính ủy Quân khu 3, Bộ Quốc phòng
15. Ông Vũ Trung Kiên, Trung tướng, Phó Bí thư Đảng ủy, Tư lệnh Bộ đội Biên phòng, Bộ Quốc phòng
16. Thượng tướng Nguyễn Ngọc Lâm, Ủy viên Ban Thường vụ Đảng ủy Công an Trung ương, Thứ trưởng Bộ Công an
17. Ông Nguyễn Thanh Lâm, Ủy viên Ban Chấp hành Đảng bộ Chính phủ, Tổng Giám đốc Đài Truyền hình Việt Nam
18. Ông Trần Thanh Lâm, Phó Trưởng Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương
19. Ông Trịnh Mạnh Linh, Phó Trưởng Ban Tổ chức Trung ương
20. Ông Nguyễn Văn Long, Ủy viên Ban Thường vụ Đảng ủy Công an Trung ương, Thượng tướng, Thứ trưởng Bộ Công an
21. Ông Lê Văn Lợi, Ủy viên Ban Chấp hành Đảng bộ Chính phủ, Chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam
22. Bà Nguyễn Thị Thanh Mai, Bí thư Đảng ủy, Giám đốc Đại học Quốc gia TPHCM
23. Bà Nguyễn Thị Bích Ngọc, Phó Bí thư Thường trực Đảng ủy, Thứ trưởng Bộ Tài chính
24. Thiếu tướng Chiêm Thống Nhất, Phó Tư lệnh kiêm Tham mưu trưởng Quân khu 9, Bộ Quốc phòng
25. Trung tướng La Công Phương, Bí thư Đảng ủy, Chính ủy Quân khu 1, Bộ Quốc phòng
26. Ông Hoàng Minh Sơn, Bí thư Đảng ủy, Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội
27. Trung tướng Vũ Hồng Sơn, Trung tướng, Phó Bí thư Đảng ủy, Tư lệnh Quân chủng Phòng không – Không quân, Bộ Quốc phòng
28. Ông Trần Hồng Thái, Phó Bí thư Thường trực Đảng ủy, Phó Chủ tịch Thường trực Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam
29. Ông Đinh Hữu Thành, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Trung ương
30. Trung tướng Tào Đức Thắng, Phó Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch kiêm Tổng Giám đốc Tập đoàn Công nghiệp – Viễn thông Quân đội
31. Trung tướng Lê Xuân Thế, Phó Bí thư Đảng ủy, Tư lệnh Quân khu 7, Bộ Quốc phòng
32. Thiếu tướng Lê Xuân Thuân, Phó Bí thư Đảng ủy, Tư lệnh Quân đoàn 12, Bộ Quốc phòng
33. Ông Nguyễn Huy Tiến, Ủy viên Ban Thường vụ Đảng ủy các cơ quan Đảng Trung ương, Viện trưởng VKSND Tối cao
34. Ông Đặng Khánh Toàn, Phó Bí thư Thường trực Đảng ủy, Phó Chánh Văn phòng Trung ương Đảng
35. Thượng tướng Trương Thiên Tô, Thượng tướng, Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị QĐND Việt Nam
36. Bà Nguyễn Hải Trâm, Ủy viên Ban Thường vụ Đảng ủy các cơ quan Đảng Trung ương, Phó Bí thư Thường trực Đảng ủy TAND Tối cao
37. Ông Hà Quốc Trị, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Trung ương
38. Thượng tướng Phạm Thế Tùng, Ủy viên Ban Thường vụ Đảng ủy Công an Trung ương, Thứ trưởng Bộ Công an
39. Thượng tướng Đỗ Xuân Tụng, Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị QĐND Việt Nam
40. Thượng tướng Lê Văn Tuyến, Ủy viên Ban Thường vụ Đảng ủy Công an Trung ương, Thứ trưởng Bộ Công an
41. Ông Dương Trung Ý, Ủy viên Ban Thường vụ Đảng ủy các cơ quan Đảng Trung ương, Tổng Biên tập Tạp chí Cộng sản
42. Bà Cao Thị Hòa An, Phó Bí thư Thường trực Tỉnh ủy, Chủ tịch Hội đồng nhân dân tỉnh Đắk Lắk
43. Ông Phan Thăng An, Bí thư Tỉnh ủy Cao Bằng
44. Ông Phạm Đức Ấn, Phó Bí thư Thành ủy, Chủ tịch UBND TP Đà Nẵng
45. Ông Lê Ngọc Châu, Phó Bí thư Thành ủy, Chủ tịch UBND TP Hải Phòng
46. Ông Quản Minh Cường, Bí thư Tỉnh ủy, Trưởng Đoàn đại biểu Quốc hội khóa XV tỉnh Quảng Ninh
47. Ông Trần Tiến Dũng, Bí thư Tỉnh ủy Điện Biên
48. Ông Nguyễn Trọng Đông, Phó Bí thư Thành ủy Hà Nội
49. Ông Nguyễn Hoàng Giang, Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Ngãi
50. Ông Nguyễn Hồ Hải, Bí thư Tỉnh ủy Cà Mau
51. Ông Nguyễn Mạnh Hùng, Phó Bí thư Thường trực Tỉnh ủy, Chủ tịch HĐND tỉnh Tây Ninh
52. Ông Hoàng Quốc Khánh, Bí thư Tỉnh ủy Lạng Sơn
53. Ông Nguyễn Duy Lâm, Bí thư Tỉnh ủy Hà Tĩnh
54. Ông Trần Văn Lâu, Bí thư Tỉnh ủy Vĩnh Long
55. Ông Nguyễn Phước Lộc, Phó Bí thư Thành ủy, Chủ tịch MTTQ TPHCM
56. Ông Võ Văn Minh, Phó Bí thư Thành ủy, Chủ tịch HĐND TPHCM
57. Ông Hồ Văn Mười, Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch UBND tỉnh Lâm Đồng
58. Ông Lê Minh Ngân, Bí thư Tỉnh ủy Lai Châu
59. Ông Hoàng Văn Nghiệm, Bí thư Tỉnh ủy, Trưởng Đoàn đại biểu Quốc hội khóa XV tỉnh Sơn La
60. Ông Phạm Quang Ngọc, Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch UBND tỉnh Hưng Yên
61. Ông Trần Phong, Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch UBND tỉnh Khánh Hòa
62. Ông Nguyễn Văn Phương, Bí thư Tỉnh ủy Quảng Trị
63. Ông Nguyễn Văn Quyết, Bí thư Tỉnh ủy Tây Ninh
64. Ông Đồng Văn Thanh, Phó Bí thư Thường trực Thành ủy, Chủ tịch HĐND TP Cần Thơ
65. Ông Nguyễn Khắc Thận, Bí thư Tỉnh ủy Nghệ An
66. Ông Nguyễn Khắc Toàn, Phó Bí thư Thành ủy, Chủ tịch UBND TP Huế
67. Ông Trịnh Xuân Trường, Bí thư Tỉnh ủy Thái Nguyên
68. Ông Phạm Anh Tuấn, Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch UBND tỉnh Gia Lai
69. Ông Trần Huy Tuấn, Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch UBND tỉnh Ninh Bình
70. Ông Vũ Hồng Văn, Bí thư Tỉnh ủy, Trưởng Đoàn đại biểu Quốc hội khóa XV tỉnh Đồng Nai
71. Bà Hồ Thị Hoàng Yến, Phó Bí thư Thường trực Tỉnh ủy Vĩnh Long.
Các Ủy viên Bộ Chính trị, Ban Bí thư khóa XIII tái cử
Ngoài Tổng Bí thư Tô Lâm, có 9 Ủy viên Bộ Chính trị khóa XIII tái cử Ban Chấp hành Trung ương khóa XIV.
9 nhân sự này gồm: Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn; Thường trực Ban Bí thư Trần Cẩm Tú; Phó Chủ tịch Thường trực Quốc hội Đỗ Văn Chiến; Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Phan Văn Giang; Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam Bùi Thị Minh Hoài; Trưởng Ban Tổ chức Trung ương Lê Minh Hưng; Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam Nguyễn Trọng Nghĩa; Bộ trưởng Bộ Công an Lương Tam Quang; Bí thư Thành ủy Hà Nội Nguyễn Duy Ngọc.
Ngoài Tổng Bí thư Tô Lâm, Thường trực Ban Bí thư Trần Cẩm Tú, có 7 Bí thư Trung ương Đảng khóa XIII tái cử.
7 nhân sự này gồm: Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam Bùi Thị Minh Hoài; Trưởng Ban Tổ chức Trung ương Lê Minh Hưng; Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam Nguyễn Trọng Nghĩa; Trưởng Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương Trịnh Văn Quyết; Phó Trưởng Ban Thường trực Ban Nội chính Trung ương Lê Minh Trí; Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Lê Hoài Trung; Bí thư Thành ủy TP.HCM Trần Lưu Quang.
Có 82 Ủy viên chính thức Trung ương khóa XIII tái cử khóa XIV. Bên cạnh đó, có 15 Ủy viên dự khuyết Trung ương khóa XIII tái cử, trong đó 11 người được bầu làm Ủy viên chính thức Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV, 3 người tái cử Ủy viên dự khuyết.
Trong số các Ủy viên tái cử, có Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Trung ương Trần Sỹ Thanh; Phó Chủ tịch nước Võ Thị Ánh Xuân.
Ở khối Quốc hội, ngoài Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn, Phó Chủ tịch Thường trực Quốc hội Đỗ Văn Chiến, còn có 2 Phó chủ tịch Quốc hội tái cử Trung ương khóa XIV là ông Nguyễn Khắc Định và bà Nguyễn Thị Thanh.
Khối Quốc hội tái cử còn có Phó Chủ tịch Thường trực Hội đồng Dân tộc của Quốc hội Hoàng Duy Chinh; Phó Bí thư Đảng ủy Quốc hội Nguyễn Hồng Diên; Chủ nhiệm Ủy ban Công tác đại biểu của Quốc hội Nguyễn Hữu Đông; Phó Bí thư Đảng ủy Quốc hội Vũ Hải Hà;
Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội Nguyễn Thanh Hải; Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế và Tài chính của Quốc hội Phan Văn Mãi; Tổng thư ký – Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội Lê Quang Mạnh; Chủ tịch Hội đồng Dân tộc của Quốc hội Lâm Văn Mẫn;
Phó Chủ nhiệm Thường trực Ủy ban Dân nguyện và Giám sát của Quốc hội Lê Thị Nga; Chủ nhiệm Ủy ban Quốc phòng, An ninh và Đối ngoại của Quốc hội Lê Tấn Tới; Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật và Tư pháp của Quốc hội Hoàng Thanh Tùng; Chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa và Xã hội Nguyễn Đắc Vinh; Tổng Kiểm toán Nhà nước Ngô Văn Tuấn.
Khối Chính phủ, trong danh sách 180 ủy viên Trung ương chính thức, có 2 Phó Thủ tướng tái cử Trung ương khóa XIV là ông Hồ Quốc Dũng và bà Phạm Thị Thanh Trà.
Có 11 trưởng ngành, Bộ trưởng, gồm: Bộ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Hải Ninh; Bộ trưởng Bộ Công an Lương Tam Quang; Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Phan Văn Giang; Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo Nguyễn Kim Sơn; Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Lê Hoài Trung; Bộ trưởng Bộ Nội vụ Đỗ Thanh Bình; Bộ trưởng Bộ Y tế Đào Hồng Lan; Bộ trưởng Bộ Xây dựng Trần Hồng Minh; Bộ trưởng Bộ Tài chính Nguyễn Văn Thắng; Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Trần Đức Thắng, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Nguyễn Thị Hồng.
Hương Giang
(Nguồn: Thanhtra.com.vn)
Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, 7 nhân sự lãnh đạo Bộ Công an đã vinh dự được Đại hội tín nhiệm bầu vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV.
Tối 22/1, danh sách 200 đại biểu trúng cử Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XIV được Đại hội công bố (gồm 180 Ủy viên chính thức và 20 Ủy viên dự khuyết).

Các đại biểu bỏ phiếu bầu Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XIV. Ảnh: TTXVN
Trong danh sách này có 7 nhân sự là lãnh đạo Bộ Công an trúng cử, gồm:
1. Đại tướng Lương Tam Quang, Ủy viên Bộ Chính trị khoá XIII, Ủy viên Ban Thường vụ Đảng ủy Chính phủ, Bí thư Đảng ủy Công an Trung ương, Bộ trưởng Bộ Công an.
2. Thượng tướng Lê Quốc Hùng, Ủy viên Trung ương Đảng khoá XIII, Ủy viên Ban Thường vụ Đảng ủy Công an Trung ương, Thứ trưởng Bộ Công an.
3. Thượng tướng Lê Văn Tuyến, Ủy viên Ban Thường vụ Đảng ủy Công an Trung ương, Thứ trưởng Bộ Công an.
4. Thượng tướng Nguyễn Văn Long, Ủy viên Ban Thường vụ Đảng ủy Công an Trung ương, Thứ trưởng Bộ Công an.
5. Thượng tướng Phạm Thế Tùng, Ủy viên Ban Thường vụ Đảng ủy Công an Trung ương, Thứ trưởng Bộ Công an.
6. Thượng tướng Nguyễn Ngọc Lâm, Ủy viên Ban Thường vụ Đảng ủy Công an Trung ương, Thứ trưởng Bộ Công an.
7. Trung tướng Đặng Hồng Đức, Ủy viên Ban Thường vụ Đảng ủy Công an Trung ương, Thứ trưởng Bộ Công an.
Trọng Tài
(Nguồn: Thanhtra.com.vn)
Đồng chí Nguyễn Quốc Đoàn, Ủy viên Trung ương Đảng khóa XIII, Phó Bí thư Thường trực Đảng uỷ, Phó Tổng Thanh tra Thường trực Thanh tra Chính phủ, đã được Đại hội tín nhiệm tiếp tục bầu là Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV.

Trong khuôn khổ Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, đồng chí Nguyễn Quốc Đoàn, Ủy viên Trung ương Đảng khóa XIII, Phó Bí thư Thường trực Đảng uỷ, Phó Tổng Thanh tra Thường trực Thanh tra Chính phủ, đã được Đại hội tín nhiệm tiếp tục bầu là Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV.
Kết quả này thể hiện sự ghi nhận của Đảng, Nhà nước và Đại hội đối với quá trình rèn luyện, cống hiến bền bỉ của đồng chí Nguyễn Quốc Đoàn, cũng như uy tín, năng lực lãnh đạo, chỉ đạo và điều hành thực tiễn trong suốt nhiệm kỳ vừa qua.
Trong nhiệm kỳ qua, trên nhiều cương vị lãnh đạo cấp cao tại địa phương và Trung ương, đồng chí Nguyễn Quốc Đoàn đã cùng tập thể lãnh đạo các cơ quan triển khai đồng bộ nhiều chủ trương, chính sách lớn, tập trung hoàn thiện thể chế, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước; chủ động tháo gỡ khó khăn, điểm nghẽn, tạo chuyển biến rõ nét trong công tác quản lý, điều hành, được cán bộ, đảng viên và Nhân dân ghi nhận, đánh giá cao.
Bên cạnh đó, đồng chí luôn giữ vững bản lĩnh chính trị, nêu cao tinh thần trách nhiệm, gương mẫu trong tu dưỡng, rèn luyện, nghiêm túc thực hiện các nguyên tắc của Đảng; quan tâm công tác xây dựng Đảng, xây dựng đội ngũ cán bộ, góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức đảng trong toàn ngành.
Việc đồng chí Nguyễn Quốc Đoàn tiếp tục được bầu tham gia Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV không chỉ là vinh dự, trách nhiệm lớn lao đối với cá nhân, mà còn thể hiện sự kỳ vọng của Đảng đối với đội ngũ cán bộ chủ chốt, những người sẽ lãnh đạo đất nước trong giai đoạn phát triển mới.
Đồng chí Nguyễn Quốc Đoàn sinh năm 1975, quê quán tạitỉnh Ninh Bình; có trình độ Tiến sĩ Luật, chuyên ngành Tội phạm học và Điều tra tội phạm. Trong quá trình công tác, đồng chí Nguyễn Quốc Đoàn đã kinh qua nhiều cương vị lãnh đạo, quản lý quan trọng ở cả Trung ương và địa phương. Đồng chí từng đảm nhiệm các chức vụ từ lãnh đạo cấp phòng tại Cục Cảnh sát Kinh tế (Bộ Công an), Thư ký cho lãnh đạo Bộ Công an, đến Trưởng phòng Cảnh sát Kinh tế, Phó Thủ trưởng Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Quảng Ninh; Phó Cục trưởng Cục Cảnh sát đường thủy (Bộ Công an).
Từ năm 2018, đồng chí lần lượt đảm nhiệm nhiều trọng trách quan trọng như Phó Tư lệnh Bộ Tư lệnh Cảnh sát cơ động, Giám đốc Công an tỉnh Thừa Thiên Huế, Phó Bí thư Thường trực Tỉnh ủy Thừa Thiên Huế (nay là thành phố Huế).
Tháng 7/2021, đồng chí được Bộ Chính trị điều động, chỉ định giữ chức Bí thư Tỉnh ủy Lạng Sơn. Năm 2024, được bổ nhiệm giữ chức Phó Chánh án Tòa án nhân dân Tối cao, từ tháng 11/2025 đồng chí tiếp tục được bổ nhiệm giữ chức Phó Tổng Thanh tra Thường trực Thanh tra Chính phủ, khẳng định sự tin cậy của Đảng, Nhà nước với đồng chí trong việc đảm nhiệm các vị trí công tác then chốt.
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng là sự kiện chính trị đặc biệt quan trọng, có ý nghĩa định hướng chiến lược đối với sự nghiệp xây dựng và phát triển Tổ quốc trong giai đoạn tới. Đại hội đã tiến hành thảo luận và biểu quyết thông qua số lượng Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV là 200 đồng chí, gồm 180 đồng chí Ủy viên chính thức và 20 đồng chí Ủy viên dự khuyết.
Với việc tái đắc cử Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV, đồng chí Nguyễn Quốc Đoàn được kỳ vọng sẽ tiếp tục phát huy vai trò, trách nhiệm của người đứng đầu ngành, cùng Ban Chấp hành Trung ương lãnh đạo thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng, góp phần đưa đất nước phát triển nhanh, bền vững trong thời kỳ mới.
BBT
(Nguồn: Thanhtra.com.vn)
Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, Phó Tổng Thanh tra Chính phủ Dương Quốc Huy được bầu tham gia Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV.
Ngày 22/1, Đại hội XIV của Đảng bước vào ngày làm việc thứ tư. Việc bầu Ban Chấp hành Trung ương khóa mới là một trong những nội dung quan trọng được tiến hành.
Công tác nhân sự được Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV chuẩn bị công phu, nghiêm túc, thận trọng, kỹ lưỡng, khoa học, đúng quy định, nhưng rất quyết liệt.
Tại Đại hội, 1.586 đại biểu đã bỏ phiếu kín, bầu 200 Ủy viên Trung ương, gồm 180 ủy viên chính thức và 20 ủy viên dự khuyết.
Ủy viên Ban Thường vụ Đảng ủy, Phó Tổng Thanh tra Chính phủ Dương Quốc Huy được bầu tham gia Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV.
(Nguồn: Thanhtra.com.vn)
Đại hội đã bầu ra Ban Chấp hành Trung ương khóa XIV với 200 Ủy viên, trong đó có 180 Ủy viên chính thức và 20 Ủy viên dự khuyết. Trong số Ủy viên Trung ương khóa mới có 2 Phó Thủ tướng và 11 Bộ trưởng, Trưởng ngành tái cử.
Sau các đợt sắp xếp, tinh gọn bộ máy trong năm 2025, thành viên Chính phủ có Thủ tướng, 9 Phó Thủ tướng và 17 Bộ trưởng, Trưởng ngành.
Theo danh sách được công bố tại Đại hội XIV, trong Ban Chấp hành Trung ương khóa mới có 2 Phó Thủ tướng và 11 Bộ trưởng, Trưởng ngành.
2 Phó Thủ tướng tái cử Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV là bà Phạm Thị Thanh Trà và ông Hồ Quốc Dũng.

2 Phó Thủ tướng tái cử Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV là bà Phạm Thị Thanh Trà và ông Hồ Quốc Dũng. Ảnh: Đ.X
Phó Thủ tướng Phạm Thị Thanh Trà sinh năm 1964, quê tỉnh Nghệ An, là Thạc sĩ Quản lý Giáo dục. Bà là Ủy viên Trung ương Đảng 2 khóa (XII, XIII).
Trong quá trình công tác, bà Trà từng là Chủ tịch UBND tỉnh, Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch HĐND tỉnh Yên Bái.
Sau đó, bà được điều động về Bộ Nội vụ, giữ chức Thứ trưởng vào tháng 10/2020, rồi giữ cương vị Bộ trưởng Bộ Nội vụ từ 4/2021. Đến cuối tháng 10/2025, bà làm Phó Thủ tướng Chính phủ.
Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng, sinh năm 1966, quê tỉnh Gia Lai, là Thạc sĩ Luật. Ông là Ủy viên Trung ương Đảng khóa XIII.
Là cán bộ trưởng thành, gắn bó với tỉnh Bình Định (cũ), ông Hồ Quốc Dũng từng là Chủ tịch UBND tỉnh, rồi Bí thư Tỉnh ủy, sau đó kiêm nhiệm vụ Chủ tịch HĐND tỉnh.
Ông Hồ Quốc Dũng được chỉ định làm Bí thư Tỉnh ủy Gia Lai (mới) sau khi tỉnh Bình Định hợp nhất với tỉnh Gia Lai; và giữ cương vị này từ tháng 6/2025. Từ tháng 10/2025, ông giữ cương vị Phó Thủ tướng.
Trong số các bộ trưởng tái cử có 2 Đại tướng thuộc lực lượng vũ trang, gồm Đại tướng Phan Văn Giang, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng và Đại tướng Lương Tam Quang, Bộ trưởng Bộ Công an.

Đại tướng Lương Tam Quang, Bộ trưởng Bộ Công an và Đại tướng Phan Văn Giang, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng
Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Phan Văn Giangsinh năm 1960, quê ở Ninh Bình, là Tiến sĩ Khoa học Quân sự. Ông có 2 khóa tham gia Ban Chấp hành Trung ương (XII, XIII) và là Ủy viên Bộ Chính trị khóa XIII. Đại tướng Phan Văn Giang giữ cương vị Bộ trưởng Quốc phòng từ năm 2021.
Bộ trưởng Bộ Công an Lương Tam Quangsinh năm 1965, quê ở Hưng Yên, là Cử nhân Luật, An ninh. Ông là Ủy viên Trung ương khóa XIII và được bầu vào Bộ Chính trị hồi tháng 8/2024. Đại tướng Lương Tam Quang giữ cương vị Bộ trưởng Công an và được thăng hàm Đại tướng từ năm 2024.
Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Lê Hoài Trung là Bí thư Trung ương Đảng duy nhất của khóa XIII tái cử Trung ương, thuộc khối các cơ quan của Chính phủ.
Ông Lê Hoài Trung sinh năm 1961, quê ở Huế, Tiến sĩ Luật và Thạc sĩ Luật quốc tế, ngoại giao. Ông có 2 khóa là Ủy viên Trung ương (XII, XIII) và được bầu vào Ban Bí thư hồi tháng 10/2023. Ông đảm nhiệm cương vị Bộ trưởng Bộ Ngoại giao từ tháng 10/2025.
Cũng nhận được tín nhiệm tái cử bầu vào Ban Chấp hành Trung ương khóa mới còn có Bộ trưởng Bộ Nội vụ Đỗ Thanh Bình, Bộ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Hải Ninh, Bộ trưởng Bộ Tài chính Nguyễn Văn Thắng, Bộ trưởng Bộ Xây dựng Trần Hồng Minh, Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo Nguyễn Kim Sơn, Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Trần Đức Thắng.
Bộ trưởng Bộ Nội vụ Đỗ Thanh Bình sinh năm 1967, quê ở Cà Mau, là Thạc sĩ Kinh tế, Cử nhân Kinh tế chính trị. Ông là Ủy viên Trung ương khóa XIII và đảm nhiệm cương vị Bộ trưởng Bộ Nội vụ từ tháng 10/2025.
Bộ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Hải Ninh sinh năm 1976, quê ở Hưng Yên. Ông có trình độ Tiến sĩ Luật, Cử nhân hành chính, là Ủy viên Trung ương Đảng khóa XII (dự khuyết) và XIII. Ông Ninh làm Bộ trưởng Bộ Tư pháp từ tháng 8/2024.

Bộ trưởng Bộ Tài chính Nguyễn Văn Thắng và Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo Nguyễn Kim Sơn
Bộ trưởng Bộ Tài chính Nguyễn Văn Thắngsinh năm 1973, quê ở Hà Nội. Ông có 2 khóa tham gia Trung ương (XII – dự khuyết và XIII). Ông Thắng là Tiến sĩ Tài chính lý thuyết tiền tệ, giữ cương vị Bộ trưởng Bộ Tài chính từ năm 2024.
Bộ trưởng Bộ Xây dựng Trần Hồng Minh sinh năm 1967, quê ở TP Hà Nội. Có trình độ Tiến sĩ Kỹ thuật, ông Minh làm Bộ trưởng Giao thông Vận tải từ tháng 11 và sau đó, khi Bộ Giao thông Vận tải hợp nhất với Bộ Xây dựng hồi đầu năm 2025, ông tiếp tục đảm nhiệm cương vị Bộ trưởng Bộ Xây dựng.
Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo Nguyễn Kim Sơn sinh năm 1966, quê ở Hải Phòng, là Phó Giáo sư, Tiến sĩ Ngữ văn. Ông đảm nhiệm cương vị Bộ trưởng Giáo dục và Đào tạo từ năm 2021 và là Ủy viên Trung ương khóa XIII.
Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Trần Đức Thắng sinh năm 1973, quê ở Phú Thọ, là Tiến sĩ Kinh tế, Thạc sĩ Kinh tế, Cử nhân Tài chính ngân hàng. Ông đảm nhiệm cương vị Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường từ cuối năm 2025.
Trong các Bộ trưởng, Trưởng ngành tái cử Ban Chấp hành Trung ương khóa mới có 2 thành viên nữ, đó là Bộ trưởng Bộ Y tế Đào Hồng Lan và Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Nguyễn Thị Hồng.
Bộ trưởng Bộ Y tế Đào Hồng Lan sinh năm 1971, quê ở Hải Phòng. Bà là Ủy viên Trung ương Đảng 2 khóa (XII – dự khuyết và XIII) và trở thành Bộ trưởng Bộ Y tế từ tháng 10/2022.
Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Nguyễn Thị Hồng là Ủy viên Trung ương khóa XIII, có trình độ Thạc sĩ Kinh tế. Bà Hồng sinh năm 1968, quê ở Hà Nội, đảm nhiệm cương vị Thống đốc Ngân hàng Nhà nước từ cuối năm 2020.
Hương Giang – Tú Anh
(Nguồn: Thanhtra.com.vn)