Theo kết quả của Đoàn kiểm tra cải cách hành chính (CCHC) tỉnh Bình Dương, lãnh đạo UBND tỉnh, các sở, ngành, địa phương có sự quan tâm trong chỉ đạo, sâu sát, quyết liệt việc tổ chức thực hiện kiểm soát, cải cách TTHC và cơ chế một cửa, một cửa liên thông trên địa bàn.
Các sở, ngành, địa phương đã thực hiện tốt công tác chỉ đạo, điều hành trong thực hiện các nhiệm vụ về cải cách TTHC, kiểm soát TTHC và thực hiện cơ chế một cửa, một cửa liên thông. Xây dựng và triển khai đầy đủ các chương trình, kế hoạch, báo cáo theo yêu cầu của UBND tỉnh (kế hoạch rà soát, đánh giá TTHC; kế hoạch triển khai thực hiện Đề án đổi mới thực hiện cơ chế một cửa, một cửa liên thông, số hóa hồ sơ, giấy tờ, kết quả giải quyết TTHC; các báo cáo kết quả thực hiện cơ chế một cửa, một cửa liên thông và tình hình, kết quả giải quyết TTHC định kỳ;…). Hoạt động cải cách, kiểm soát TTHC của đơn vị cơ bản được triển khai thực hiện đồng bộ, thống nhất, đảm bảo nội dung yêu cầu theo quy định.
Trong quá trình kiểm tra, Đoàn kiểm tra đã kịp thời hướng dẫn các đơn vị, địa phương tháo gỡ các khó khăn, vướng mắc, kiến nghị của các cơ quan, địa phương trong việc triển khai kiểm soát TTHC; đổi mới cơ chế một cửa, một cửa liên thông trong giải quyết TTHC (kiến nghị về tích hợp, đồng bộ dữ liệu giữa phần mềm Một cửa và Cổng Dịch vụ công của tỉnh, mua sắm trang thiết bị phục vụ thực hiện dịch vụ công trực tuyến, chế độ hỗ trợ tình nguyện viên hướng dẫn dịch vụ công trực tuyến, bố trí biên chế công nghệ thông tin, chủ trương đầu tư xây dựng Trung tâm Phục vụ hành chính công cấp huyện,…).
Cùng với đó, kịp thời báo cáo UBND tỉnh về các khó khăn của địa phương về việc hỗ trợ cho tình nguyện viên hướng dẫn dịch vụ công trực tuyến và phối hợp với các cơ quan, đơn vị liên quan tham mưu UBND tỉnh chỉ đạo thực hiện cho chủ trương hỗ trợ cho tình nguyện viên trong năm 2022 và trình HĐND tỉnh thông qua Nghị quyết quy định về việc hỗ trợ cho tình nguyện viên từ ngày 01/01/2023.
Kết quả kiểm tra cho thấy, bên cạnh những kết quả đạt được, Đoàn cũng đã chỉ ra một số hạn chế yêu cầu các sở, ngành, địa phương khắc phục. Cụ thể, trong năm 2021, các cơ quan, đơn vị đã tập trung xử lý các phản ánh, kiến nghị của người dân, doanh nghiệp trên Cổng Dịch vụ công Quốc gia, tuy nhiên còn một số trường hợp phản ánh, kiến nghị chưa được xử lý kịp thời. Việc tiếp nhận và giải quyết hồ sơ thực tế được đảm bảo, tuy nhiên, một số hồ sơ TTHC chưa được cập nhật và xử lý kịp thời trên Hệ thống phần mềm một cửa điện tử dẫn đến tình trạng trễ hạn hồ sơ.
Mặt khác, số lượng hồ sơ tiếp nhận và trả kết quả qua bưu chính công ích, thanh toán phí, lệ phí trực tuyến còn thấp. Một số địa phương chưa đảm bảo thực hiện tốt 100% đối với nội dung quy định về: “trường hợp trả lại hồ sơ không giải quyết; trả lại hồ sơ để bổ sung hoặc yêu cầu bổ sung nhiều lần phải được sự đồng ý của Thủ trưởng của cơ quan có thẩm quyền thực hiện thông báo bằng văn bản và nêu rõ lý do không giải quyết; lý do, nội dung cần bổ sung”…
Lan Anh
(Nguồn: ThanhtraVietNam)
Hơn 92% dân số toàn tỉnh tham gia BHYT
Năm 2022, với sự quan tâm chỉ đạo của các cấp ủy Đảng, chính quyền, sự phối hợp của các ban ngành, đoàn thể và nỗ lực của toàn Ngành nên các chỉ tiêu BHXH, BHYT, BHTN đều đạt và vượt chỉ tiêu đề ra. Theo đó, năm qua, có trên 131.000 người tham gia BHXH, chiếm 27% lực lượng lao động, tăng 0,3% so với năm 2021. Trong đó, có trên 18.300 người tham gia BHXH tự nguyện chiếm 3,8% lực lượng lao động, BHXH bắt buộc hơn 113.000 người, chiếm 23,2% lực lượng lao động, đạt so với chỉ tiêu Nghị quyết đề ra. Về BHTN, có trên 99.600 người tham gia, đạt 20,6% lực lượng lao động, tăng 2,4% so với năm 2021, đạt chỉ tiêu được giao. Bên cạnh đó, cũng có trên 950.000 người tham gia BHYT, đạt 92,4% dân số toàn tỉnh, vượt chỉ tiêu Nghị quyết tỉnh đề ra, đóng góp quan trọng vào quá trình phát triển kinh tế – xã hội của tỉnh.
Công tác giải quyết chi trả các chế độ BHXH, BHYT và BHTN được thực hiện kịp thời đúng quy định. Chi khám chữa bệnh BHYT cho trên 2,1 triệu lượt người trên 668 tỷ đồng, chiếm hơn 83% nguồn kinh phí được Chính phủ giao. Nhận thức của các cấp ủy Đảng, chính quyền, tổ chức, cá nhân về vai trò, trách nhiệm cũng như mục đích, ý nghĩa của việc tham gia BHXH, BHYT, BHTN có nhiều chuyển biến tích cực, tạo sức lan tỏa sâu rộng trong nhân dân về giá trị nhân văn, tính ưu việt của chính sách BHXH, BHYT, BHTN, góp phần tạo niềm tin về chính sách an sinh xã hội của Đảng và Nhà nước.
Tăng cường quản lý, sử dụng quỹ BHYT đảm bảo hợp lý, hiệu quả, tiết kiệm
Thay mặt Ban Chỉ đạo thực hiện chính sách BHXH, BHYT, BHTN tỉnh Vĩnh Long, ông Lữ Quang Ngời – Phó Bí thư Tỉnh uỷ, Chủ tịch UBND tỉnh, Trưởng Ban Chỉ đạo ghi nhận và biểu dương những kết quả mà BHXH cùng với các cấp ủy Đảng, chính quyền, các ngành, đoàn thể, các địa phương từ tỉnh đến cơ sở đã phấn đấu đạt được trong thời gian qua. Đồng thời, lưu ý thêm một số nội dung để các thành viên Ban chỉ đạo, các sở, ban, ngành, địa phương tập trung thực hiện trong thời gian tới như tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 28 ngày 23/5/2018 của Trung ương về cải cách chính sách BHXH. Người đứng đầu cấp ủy, chính quyền và Trưởng Ban Chỉ đạo các cấp thường xuyên theo dõi, cập nhật và chỉ đạo công tác BHXH, BHYT, BHTN trên địa bàn quản lý.
Hàng tháng, Ban Chỉ đạo cấp huyện phải báo cáo Chủ tịch UBND cùng cấp tiến độ thực hiện để chỉ đạo kịp thời và phân công vận động phù hợp. Đồng thời, đẩy mạnh công tác tuyên truyền để người dân thấy được lợi ích khi tham gia thực hiện. Đặc biệt tại các xã nông thôn mới, các địa phương phải quan tâm chỉ đạo quyết liệt công tác tham gia BHYT nhằm giữ vững kết quả đã đạt được
Song song đó, các ngành, đơn vị, địa phương cần tiếp tục quán triệt đến cán bộ, công chức, viên chức và người lao động trong đơn vị tích cực tuyên truyền chính sách BHXH, BHYT, trong đó tập trung tuyên truyền về chính sách BHXH tự nguyện đến người thân trong gia đình. Tập trung đổi mới công tác tuyên truyền cả về nội dung và hình thức theo hướng chuyên nghiệp, đúng trọng tâm, trọng điểm; phù hợp với từng nhóm đối tượng. Tăng cường cách tiếp cận tuyên truyền dựa trên nền tảng công nghệ thông tin, truyền hình, báo chí song song với hình thức tuyên truyền trực tiếp, góp phần tích cực trong việc đẩy mạnh công tác phát triển người tham gia BHXH, BHYT.
Đối với cơ quan BHXH tỉnh, cần tích cực tham mưu, đề xuất, tiếp tục tranh thủ sự ủng hộ của các cấp chính quyền; phối hợp với các cơ quan, đơn vị, địa phương tổ chức thực hiện tốt các nhiệm vụ được giao, phấn đấu hoàn thành các chỉ tiêu, kế hoạch; đặc biệt là các chỉ tiêu về phát triển người tham gia, đôn đốc thu BHXH, BHYT và kiểm soát chi phí khám chữa bệnh. Kịp thời giải quyết khó khăn, vướng mắc trong thanh toán bảo hiểm, phát huy hiệu quả hoạt động của Tổ thu nợ và phát triển đối tượng tham gia BHXH, BHYT, BHTN các cấp. Đẩy mạnh công tác thanh tra chuyên ngành, chủ động phối hợp các ngành xây dựng kế hoạch thanh tra, kiểm tra và xử phạt các đơn vị vi phạm theo quy định.
Tăng cường các biện pháp để quản lý, sử dụng quỹ BHYT đảm bảo hợp lý, hiệu quả, tiết kiệm, đúng dự toán; gắn trách nhiệm quản lý, sử dụng kinh phí khám chữa bệnh BHYT cho người đứng đầu cơ sở khám chữa bệnh. Chú trọng công tác giám định, thẩm định, thanh tra, kiểm tra tại các cơ sở khám chữa bệnh BHYT để phòng chống hành vi lạm dụng, gian lận, trục lợi quỹ BHYT; đảm bảo quyền lợi người có thẻ BHYT khi đi khám chữa bệnh.
Thực hiện nghiêm công tác thanh, kiểm tra chuyên ngành
Đẩy mạnh thực hiện dịch vụ công trực tuyến mức độ 4, giao dịch điện tử, các nội dung theo Đề án 06 của Thủ tướng Chính phủ, đồng thời triển khai rộng rãi ứng dụng sử dụng VssID-BHXH số. Trong đó, khuyến khích người tham gia sử dụng các ứng dụng tiện ích chuyển đổi số để thay thế thẻ BHYT giấy, sổ BHXH; liên thông, kết nối, chia sẻ dữ liệu với các cơ quan, tổ chức có liên quan trong giải quyết các thủ tục hành chính. Sở Y tế thường xuyên kiểm tra, chỉ đạo, đôn đốc các bệnh viện tuyến tỉnh, huyện, xã nâng cao chất lượng, hiệu quả khám chữa bệnh, tinh thần thái độ phục vụ, kịp thời cung cấp thuốc điều trị cho người bệnh có thẻ BHYT…
Các địa phương đẩy mạnh hoạt động của Ban Chỉ đạo thực hiện chính sách BHXH, BHYT xã, phường, thị trấn; gắn trách nhiệm lãnh đạo địa phương trong việc chỉ đạo thực hiện chính sách BHXH, BHYT. Tổ chức thực hiện tốt chế độ, chính sách BHXH, BHTN, BHYT; nhất là các chế độ, chính sách có hiệu lực thi hành từ năm 2023, đảm bảo quyền lợi cho người tham gia BHXH, BHTN, BHYT.
UBND các huyện, thị, thành phố chỉ đạo UBND các xã, phường, thị trấn phát huy vai trò cán bộ khóm, ấp, tổ tự quản trong tuyên truyền, vận động người dân tham gia BHYT, BHXH tự nguyện theo phương châm “đi từng ngõ, gõ từng nhà, rà từng người”, phải xây dựng kế hoạch hàng tuần, hàng tháng để đến trực tiếp hộ dân tuyên truyền, vận động.
Chủ tịch UBND tỉnh cũng đề nghị Mặt trận Tổ quốc tỉnh và các tổ chức chính trị – xã hội tiếp tục phát huy tinh thần đoàn kết toàn dân, tuyên truyền, vận động đoàn viên, hội viên và Nhân dân tích cực tham gia BHXH tự nguyện, BHYT hộ gia đình với tinh thần tương thân, tương ái, chia sẻ giữa người khỏe và người bệnh; chỉ đạo các ban công tác mặt trận khóm, ấp phối hợp với tổ nhân dân tự quản thực hiện tuyên truyền, vận động người dân trên địa bàn tham gia; tiếp tục phát huy các mô hình vận động đoàn viên, hội viên giúp đỡ, hỗ trợ lẫn nhau cùng tham gia BHXH tự nguyện, BHYT hộ gia đình…
Đình Thuyết
(Nguồn: ThanhtraVietNam)
Sáng ngày 21/2, tại Trụ sở Thanh tra Chính phủ (TTCP), TTCP đã công bố kết luận thanh tra việc chấp hành chính sách, pháp luật trong hoạt động sản xuất kinh doanh của Tổng Công ty Cổ phần Xây lắp Dầu khí Việt Nam (PVC).

Tại buổi công bố, ông Đinh Đăng Lập, Phó Vụ trưởng Vụ I, phó trưởng đoàn thanh tra đã trình tóm tắt nội dung theo Kết luận thanh tra số 2090/KL-TTCP ngày 23/11/2022 của Tổng TTCP.
Kết luận thanh tra đã được Phó Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Khái cho ý kiến chỉ đạo tại Văn bản số 503/VPCP-V.I ngày 31/1/2023 của Văn phòng Chính phủ.
Tại buổi công bố, đại diện Tập đoàn Dầu khí Việt Nam, Bộ Công thương, Bộ Tài chính, Uỷ ban Quản lý vốn Nhà nước cho biết, ngay sau khi nhận được kết luận thanh tra đã có văn bản chỉ đạo các đơn vị có liên quan thực hiện đầy đủ, nghiêm túc, kịp thời và đúng thời hạn các nội dung kiến nghị. Đồng thời chỉ đạo các đơn vị tổ chức ngay việc kiểm điểm, xử lý trách nhiệm đối với tập thể, cá nhân có liên quan theo đúng thẩm quyền và đúng quy định.
Đối với việc thực hiện kết luận thanh tra, tại buổi công bố, ông Hoàng Hưng, Vụ trưởng Vụ Giám sát, Thẩm định và Xử lý sau thanh tra đề nghị các đơn vị liên quan tập trung chỉ đạo thực hiện, bám sát các nội dung quy định đối với với việc tổ chức thực hiện kết luận thanh tra.
Vụ trưởng Vụ Giám sát, Thẩm định và Xử lý sau thanh tra đề nghị các đơn vị thực hiện ngay, đúng, đầy đủ và kịp thời, đúng thời hạn các nội dung theo kiến nghị tại kết luận thanh tra. Bên cạnh đó, tiếp tục cập nhật báo cáo tiến độ, kết quả thực hiện kết luận thanh tra. Trên cơ sở đó Vụ Giám sát, Thẩm định và Xử lý sau thanh tra sẽ kiểm tra, theo dõi, đôn đốc, khi cần thiết có thể phối hợp với các đơn vị kiểm tra việc thực hiện một cách triệt để và có hiệu quả nhất kết luận thanh tra.
Kết luận tại buổi công bố kết luận thanh tra, ông Nguyễn Duy Bính, Phó Vụ trưởng Vụ I, trưởng đoàn thanh tra nhấn mạnh, việc công bố kết luận thanh tra được thực hiện theo quy định của pháp luật. Đề nghị tiếp tục tổ chức thực hiện nghiêm những kiến nghị tại kết luận. Đồng thời phối hợp tích cực với các cơ quan chức năng khi cần.
Phương Anh – Phương Hiếu
(Nguồn: Báo Thanhtra.com.vn)
Sáng 21/02, Trường Cán bộ Thanh tra long trọng tổ chức Lễ khai giảng lớp Bồi dưỡng nghiệp vụ Thanh tra viên (TTV) K01 năm 2023. Tham dự và chủ trì Lễ khai giảng có TTVCC. Nguyễn Viết Thạch, Phó Hiệu trưởng Nhà trường cùng tham dự có đại diện lãnh đạo các phòng, khoa, Trung tâm.

Tham gia Khóa học có gần 130 học viên, khóa học sẽ diễn ra trong hơn một tháng học tập tại Trường Cán bộ Thanh tra, các học viên sẽ được nghiên cứu gồm nhiều chuyên đề liên quan đến kiến thức chung về công chức, công vụ như: Quan điểm của Đảng, Nhà nước và Chủ tịch Hồ Chí Minh về công tác thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và phòng, chống tham nhũng; Khái quát chung về công tác thanh tra; Nội dung cơ bản của pháp luật Thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo, phòng chống tham nhũng, tiếp công dân; Nội dung cơ bản của pháp luật Tố tụng hành chính; Thực hiện pháp luật và áp dụng pháp luật; Đạo đức công vụ của cán bộ, công chức thanh tra; Nội dung cơ bản của pháp luật Hình sự và tố tụng hình sự; Chứng cứ trong hoạt động thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo; Tâm lý trong hoạt động thanh tra, tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo…

Phát biểu Lễ khai giảng khóa học, TTVCC. Nguyễn Viết Thạch, Phó Hiệu trưởng Nhà trường đã nhiệt liệt chào mừng các học viên về tham dự khóa học, đồng thời nhấn mạnh: “Lớp bồi dưỡng nghiệp vụ TTV được Nhà trường đặc biệt quan tâm và xác định là một trong những nhiệm vụ quan trọng nhất, vì đây là khóa học dành cho đội ngũ cán bộ, công chức nòng cốt nguồn mới vào ngành thanh tra và cũng là nguồn cán bộ để dự thi, bổ nhiệm vào ngạch TTV”.
Phó Hiệu trưởng Nhà trường cũng chia sẻ, nhìn lại năm 2022 đã qua với bao khó khăn, thách thức. Chính vì thế, bước sang năm 2023 là năm bản lề, năm vô cùng quan trọng đối với Ngành thanh tra. Năm “bản lề” ấy trước hết là bản lề trong kế hoạch trung hạn 2021-2025 cơ cấu lại nền kinh tế đất nước – một nhiệm vụ trọng tâm, xuyên suốt, được thực hiện đồng bộ giữa các ngành, lĩnh vực, giữa Trung ương với địa phương. Cùng với đó, ngành Thanh tra cần quyết tâm thực hiện thắng lợi “Chiến lược Phát triển ngành Thanh tra năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030”.

Bên cạnh đó, Phó Hiệu trưởng Nhà trường cho rằng, công tác đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ thanh tra nói chung và việc tổ chức khóa bồi dưỡng nghiệp vụ TTV Khóa 01/2023 nói riêng có ý nghĩa hết sức quan trọng vì đây là Khóa bồi dưỡng nghiệp vụ TTV đầu tiên tổ chức đào tạo bằng khung chương trình đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ TTV hoàn toàn mới được Tổng Thanh tra phê duyệt đưa vào giảng dậy, trong đó chương trình, tài liệu, giáo trình đào tạo, bồi dưỡng đã được được đổi mới theo hướng tích cực. Tập trung bồi dưỡng kỹ năng làm việc và kinh nghiệm thực tiễn về thanh tra, tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo và phòng, chống tham nhũng. Từ đó góp phần giúp học viên tháo gỡ một số vướng mắc, khóa khăn trong quá trình thực thi công vụ.
Qua đó hoàn thiện, nâng cao năng lực trình độ cho đội ngũ cán bộ nòng cốt của Ngành, đáp ứng yêu cầu thực hiện Chiến lược phát triển ngành Thanh tra trong thời gian tới. Chính vì lẽ đó, Ban Giám hiệu Nhà trường đã bố trí, đội ngũ giảng viên, chuyên gia có nhiều kinh nghiệm trong ngành về lĩnh vực thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và phòng chống tham nhũng trực tiếp giảng dạy cho phù hợp với đối tượng người học.

Để đảm bảo chất lượng của khóa học, Phó Hiệu trưởng yêu cầu các học viên khắc phục những khó khăn về thời gian, bố trí công việc một cách khoa học, hợp lý để tham dự các buổi học đầy đủ, nghiêm túc, chấp hành nội quy, quy chế của Nhà trường. Đồng thời, các học viên cần tăng cường trao đổi, thảo luận với giảng viên và tích cực tự nghiên cứu để nâng cao chất lượng của khóa học. Phó Hiệu trưởng Nhà trường cũng gửi lời cám ơn sâu sắc đến Lãnh đạo các Bộ ngành và địa phương đã tạo điều kiện để các học viên tham gia khoá học này.
Ngay sau Lễ Khai giảng, TTVCC. Vũ Văn Chiến, Hiệu trưởng Nhà trường đã trực tiếp giảng dạy chuyên đề:” Quan điểm của Đảng, Nhà nước và Chủ tịch Hồ Chí Minh về công tác thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và phòng chống tham nhũng” đầu tiên với lớp TTV này./.
Văn Hùng

Không chỉ đạo thực hiện kết luận thanh tra có thể bị kỷ luật
Theo dự thảo Nghị định quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Thanh tra (dự thảo Nghị định), người đứng đầu cơ quan, tổ chức quản lý trực tiếp đối tượng thanh tra là cán bộ, công chức, viên chức phải bị xử kỷ luật khiển trách khi có hành vi sau:
a) Không chỉ đạo thực hiện kết luận thanh tra, văn bản chỉ đạo, yêu cầu, kiến nghị, quyết định xử lý về thanh tra;
b) Không yêu cầu, kiến nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền xử lý sai phạm hoặc thực hiện quyết định, yêu cầu, kiến nghị của người ban hành kết luận thanh tra;
c) Không theo dõi, đôn đốc, kiểm tra việc thực hiện kết luận thanh tra, văn bản chỉ đạo, yêu cầu, kiến nghị, quyết định xử lý về thanh tra.
Trường hợp gây hậu quả thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm phải bị xử lý bằng hình thức cảnh cáo, hạ bậc lương, giáng chức, cách chức, buộc thôi việc hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật.
Xem xét kỷ luật các mức đối với người chống đối, cản trở, mua chuộc, trả thù, trù dập người làm nhiệm vụ thanh tra
Cũng trong nội dung dự thảo Nghị định quy định, xử lý hành vi vi phạm của người thuộc cơ quan, tổ chức, đơn vị là đối tượng thanh tra; người thuộc cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan như sau:
Tùy theo tính chất, mức độ vi phạm, người có hành vi vi phạm phải bị xử lý kỷ luật bằng một trong các hình thức cảnh cáo, cách chức, bãi nhiệm đối với cán bộ; cảnh cáo, hạ bậc lương, giáng chức, cách chức đối với công chức; khiển trách, cảnh cáo, cách chức, buộc thôi việc đối với viên chức hoặc truy bị cứu trách nhiệm hình sự, trường hợp gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật khi có hành vi sau:
a) Không cung cấp thông tin, tài liệu hoặc cung cấp thông tin, tài liệu không chính xác, thiếu trung thực, chiếm đoạt, thủ tiêu tài liệu, vật chứng liên quan đến nội dung thanh tra;
b) Chống đối, cản trở, mua chuộc, trả thù, trù dập người làm nhiệm vụ thanh tra, người cung cấp thông tin, tài liệu cho hoạt động thanh tra; gây khó khăn cho hoạt động thanh tra;
c) Vu cáo, vu khống đối với người làm nhiệm vụ thanh tra;
d) Đưa hối lộ;
đ) Không thực hiện, thực hiện không đầy đủ, không kịp thời nghĩa vụ, trách nhiệm của mình được ghi trong kết luận thanh tra, quyết định xử lý về thanh tra.
Người có các hành vi vi phạm được quy định tại các khoản a, b, c, d và đ nêu trên nhưng không phải là cán bộ, công chức, viên chức thì tùy theo tính chất, mức độ mà bị xử phạt vi phạm hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự.

Những nội dung kết luận thanh tra phải được công khai
Trước đó, một trong những nội dung quan trọng khác của dự thảo Nghị định quy định những nội dung kết luận thanh tra phải được công khai gồm:
Thứ nhất, kết luận thanh tra phải được công khai toàn văn, trừ những nội dung trong kết luận thanh tra thuộc bí mật nhà nước, bí mật công tác, bí mật ngân hàng, bí mật kinh doanh theo quy định của pháp luật không được công khai. Người ký kết luận thanh tra quyết định những nội dung trong kết luận thanh tra không được công khai và thực hiện theo trình tự, thủ tục mà pháp luật quy định và phải chịu trách nhiệm về quyết định của mình
Thứ hai, trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày ký kết luận thanh tra, người ra kết luận thanh tra có trách nhiệm thực hiện việc công khai kết luận thanh tra.
Cùng với đó, dự thảo Nghị định cũng quy định nội dung về: Theo dõi, đôn đốc việc thực hiện kết luận thanh tra, quyết định xử lý về thanh tra; kiểm tra thực hiện kết luận thanh tra; quyết định xử lý về thành tra; giải quyết kiến nghị, phản ánh trong hoạt động thanh tra…
Như vậy, với nội dung dự thảo Nghị định quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Thanh tra đã quy định cụ thể về xử lý vi phạm trong việc thực hiện kết luận thanh tra sẽ góp phần tăng cường được hiệu lực, hiệu quả của các kết luận thanh tra cũng như hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về lĩnh vực thanh tra.
| Theo Báo cáo tổng kết công tác năm 2022, ngành Thanh tra đã nỗ lực cố gắng, vượt qua khó khăn, đoàn kết, hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao. Toàn Ngành đã triển khai 8.514 cuộc thanh tra hành chính và 222.629 cuộc thanh tra, kiểm tra chuyên ngành. Qua thanh tra chấn chỉnh quản lý, hoàn thiện cơ chế, chính sách pháp luật trên nhiều lĩnh vực; phát hiện vi phạm về kinh tế 85.998 tỷ đồng, 8.777 ha đất; trong đó kiến nghị thu hồi 26.654 tỷ đồng và 574 ha đất; xuất toán, loại khỏi giá trị quyết toán do chưa thực hiện đúng quy định và đề nghị cấp có thẩm quyền xem xét xử lý 59.344 tỷ đồng, 8.203 ha đất; ban hành 145.558 quyết định xử phạt vi phạm hành chính của tổ chức, cá nhân với số tiền 5.641 tỷ đồng; kiến nghị xem xét, xử lý hành chính 3.530 tập thể và 8.619 cá nhân; chuyển cơ quan điều tra xem xét, xử lý 451 vụ, 295 đối tượng…
Tràng An (Nguồn: ThanhtraVietNam)
|

Thị trường hoạt động công khai, minh bạch, hiệu quả và đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp chính đáng của nhà đầu tư
Với quy mô huy động vốn ngày càng tăng, thị trường vốn đã dần khẳng định sự quan trọng là kênh huy động vốn trung và dài hạn hiệu quả cho doanh nghiệp theo đúng định hướng của Nhà nước về phát triển cân bằng thị trường vốn và thị trường tín dụng; giảm áp lực cung ứng vốn cho nền kinh tế của kênh tín dụng ngân hàng.
Đối với thị trường TPDN, so với tiềm năng và tương quan với thị trường trong khu vực thì quy mô của thị trường TPDN của Việt Nam còn khá khiêm tốn. Hiện dư nợ của thị trường TPDN ở mức trên 15% GDP. Trong khi đó, Chiến lược tài chính đặt ra mục tiêu quy mô thị trường TPDN đến năm 2025 là 20% GDP và đến năm 2030 đạt tối thiểu 25% GDP.
Số liệu của Công ty cổ phần Chứng khoán SSI cho thấy, tổng lượng TPDN đáo hạn trong năm 2022 và 2023 vào khoảng 540 nghìn tỉ đồng, chiếm khoảng 36% lượng TPDN lưu hành, riêng giá trị trái phiếu riêng lẻ đáo hạn năm 2023 vào khoảng 300 nghìn tỉ đồng, tăng 90% so với năm 2022; trong đó lĩnh vực bất động sản và tài chính – ngân hàng lần lượt chiếm 30% và 40%.
Các chuyên gia nhận định, khó khăn của thị trường chứng khoán, trái phiếu trong năm 2022 một phần đến từ việc lãi suất ngân hàng tăng, niềm tin của nhà đầu tư và thanh khoản thị trường trong nước giảm, tâm lý thận trọng của nhà đầu tư trước những bất ổn và triển vọng kém tích cực về tình hình kinh tế – chính trị thế giới. Riêng thị trường TPDN còn bị ảnh hưởng bởi niềm tin của nhà đầu tư do các sai phạm của một số doanh nghiệp vừa bị xử lý và việc một số phương tiện đưa tin không chính thống, tin thất thiệt về một số doanh nghiệp phát hành trái phiếu. Đồng thời, việc kiểm tra, giám sát tập trung vào giám sát mục đích phát hành trái phiếu cũng dẫn đến tâm lý quan ngại của cả doanh nghiệp phát hành và tổ chức cung cấp dịch vụ.
Trước diễn biến của thị trường TPDN như vậy, cơ quan quản lý nhà nước mà cụ thể là Bộ Tài chính cần khẩn trương đánh giá, rà soát kỹ, đề xuất việc sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện các văn bản pháp lý liên quan đến phát hành TPDN, nhất là việc phát hành riêng lẻ tại thị trường trong nước và chào bán trái phiếu ra thị trường quốc tế; khẩn trương rà soát, đánh giá kĩ lưỡng, cụ thể khả năng thanh toán, chi trả của các tổ chức phát hành, nhất là các trái phiếu đến hạn thanh toán trong năm 2022 và năm 2023.
Đồng thời, chủ động có biện pháp cụ thể, hiệu quả xử lí theo thẩm quyền, trường hợp vượt thẩm quyền thì đề xuất ngay các biện pháp phù hợp, hiệu quả, bảo đảm tuyệt đối an toàn, an ninh thị trường tài chính, tiền tệ; chủ động phòng chống tiêu cực, lợi dụng trục lợi chính sách và các hoạt động không lành mạnh khác, bảo đảm công khai, minh bạch, hiệu quả, quyền, lợi ích hợp pháp chính đáng của nhà đầu tư, các chủ thể liên quan và an toàn, an ninh thị trường tài chính, tiền tệ.
Cũng theo giới phân tích, trước mắt Bộ Tài chính cần phối hợp với các bộ, ngành hoàn thiện khung pháp lý thông qua việc sửa đổi các quy định về điều kiện phát hành trái phiếu doanh nghiệp, điều kiện về nhà đầu tư chứng khoán chuyên nghiệp. Sớm trình Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 65/2022/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung Nghị định số 153/2020/NĐ-CP ngày 31/12/ 2020 về chào bán, giao dịch trái phiếu riêng lẻ nhằm tháo gỡ các khó khăn phát sinh hiện nay.
Xử lí nghiêm các vụ việc vi phạm trong cung cấp dịch vụ về trái phiếu doanh nghiệp, phân phối trái phiếu
Minh bạch thông tin trên thị trường còn đòi hỏi các cơ quan chức năng chủ động ngăn ngừa, nhận diện, phát hiện các hành vi và đối tượng lợi dụng tin đồn mục tiêu nhiễu loạn thị trường chứng khoán
Bên cạnh đó, tăng cường truyền thông, ổn định tâm lý, niềm tin của nhà đầu tư, nhất là về định hướng phát triển thị trường TPDN công khai, minh bạch, hiệu quả, bảo vệ quyền lợi hợp pháp của nhà đầu tư và các chủ thể tham gia thị trường; ngăn chặn việc đưa tin không chính thống, chưa kiểm soát; kịp thời phát hiện và có giải pháp xử lí nghiêm các trường hợp đưa tin giả mạo, thất thiệt… gây ảnh hưởng đến thị trường; tập trung quản lý giám sát, nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật, tiếp tục rà soát, đánh giá hoạt động của các công ty chứng khoán, tổ chức các đợt thanh tra, kiểm tra các doanh nghiệp phát hành và công ty chứng khoán cung cấp dịch vụ; phối hợp với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) trong quản lí, giám sát việc các tổ chức tín dụng (TCTD) phát hành, đầu tư và cung cấp dịch vụ về TPDN riêng lẻ.
Đặc biệt, cơ quan chức năng cần xử lí nghiêm các vụ việc vi phạm trong cung cấp dịch vụ về TPDN, phân phối trái phiếu; việc chào mời khách hàng gửi tiền tiết kiệm chuyển sang mua TPDN riêng lẻ thông qua mua trực tiếp hoặc kí hợp đồng hợp tác đầu tư với công ty chứng khoán. Ngoài ra, tiếp tục rà soát, cải cách quy trình cấp phép chào bán chứng khoán ra công chúng, tạo thuận lợi cho các doanh nghiệp đủ điều kiện chào bán trái phiếu ra công chúng; các Sở Giao dịch Chứng khoán chuẩn bị nền tảng giao dịch TPDN riêng lẻ nhằm phát triển thị trường thứ cấp minh bạch.
Lành mạnh hóa thị trường, cung cấp vốn cho nền kinh tế, nên việc phát triển thị trường trái phiếu đồng bộ trên cả 2 kênh phát hành trái phiếu ra công chúng và phát hành trái phiếu riêng lẻ là cần thiết, để tăng sự lựa chọn và cải thiện số tài khoản đầu tư mới trên thị trường trái phiếu. Trước mắt, một mặt, các cơ quan chức năng cần rà soát, cắt giảm các thủ tục hành chính để tạo điều kiện cho các doanh nghiệp có đủ điều kiện tăng mạnh phát hành trái phiếu ra công chúng.
Về phía mình, các doanh nghiệp phải bố trí mọi nguồn lực để thanh toán gốc và lãi trái phiếu đến hạn, bảo vệ quyền lợi của nhà đầu tư theo đúng quy định của pháp luật; trường hợp có những khó khăn vướng mắc về thanh toán đàm phán với các nhà đầu tư để thống nhất phương án cơ cấu lại trái phiếu đó. Các doanh nghiệp phải tăng cường tính công khai minh bạch về định mức tín nhiệm, tình hình tài chính và thanh toán nợ của doanh nghiệp đối với nhà đầu tư. Khi làm tốt những yêu cầu này, chắc chắn những doanh nghiệp tốt, doanh nghiệp minh bạch có thể tiếp tục quay trở lại để phát hành trái phiếu huy động vốn.
Có thể thấy, triển vọng thị trường TPDN phụ thuộc vào sự minh bạch của thị trường, với yêu cầu thông tin doanh nghiệp phát hành bảo đảm đầy đủ, nhanh chóng và có độ tin cậy cao; sớm thực hiện xếp hạng tín nhiệm doanh nghiệp phát hành và tiếp tục hoàn thiện cơ chế giám sát độc lập, xử lý kịp thời các hành vi vi phạm các quy định pháp lý về hoạt động trên TTCK nói chung và TPDN nói riêng. Hơn nữa, sự minh bạch thông tin trên thị trường còn đòi hỏi các cơ quan chức năng chủ động ngăn ngừa, nhận diện, phát hiện các hành vi và đối tượng lợi dụng tin đồn mục tiêu nhiễu loạn thị trường, gây thiệt hại lớn cho nhà đầu tư./.
Lan Anh
(Nguồn: ThanhtraVietNam)
1. Quan niệm về chất lượng cuộc thanh tra
1.1. Khái niệm về chất lượng
Chất lượng là một phạm trù phức tạp, cùng với thời gian được tiếp cận theo nhiều khía cạnh khác nhau tại mỗi quốc gia và trong từng lĩnh vực sản xuất, dịch vụ khác nhau. Tuy nhiên, kết quả nghiên cứu cho thấy có 3 cách tiếp cận phổ biến nhất về chất lượng.
– Chất lượng có thể nhìn từ góc độ sự phù hợp với các tiêu chuẩn hay thông số kỹ thuật. Đây là cách tiếp cận chất lượng truyền thống, có nguồn gốc từ ý niệm kiểm soát chất lượng trong các ngành sản xuất. Chất lượng được đo bằng sự phù hợp của nó với các thông số hay tiêu chuẩn được quy định trước đó.
– Chất lượng là sự đáp ứng nhu cầu của khách hàng. Khi nền kinh tế dịch vụ phát triển, nói đến chất lượng sản phẩm hay dịch vụ, không chỉ đề cập đến vấn đề phù hợp với các tiêu chuẩn hay thông số kỹ thuật, mà còn là sự đáp ứng nhu cầu của khách hàng sử dụng sản phẩm đó. Sản phẩm nào không đáp ứng được nhu cầu của khách hàng thì bị coi là kém chất lượng cho dù công nghệ sản xuất ra có hiện đại đến đâu.
– Chất lượng là sự phù hợp với mục đích. Trong những năm 90 của thế kỷ 20, cùng với xu hướng áp dụng công nghệ trong quản trị công, các nước trên thế giới cũng bắt đầu áp dụng các tiêu chí để đánh giá chất lượng dịch vụ công. Tuy nhiên, đối với các sản phẩm là dịch vụ thì việc áp dụng 2 cách tiếp cận trên trở nên khó khăn hơn nhìn từ góc độ quản lý hành chính công (ví dụ chất lượng đào tạo, giáo dục của các cơ sở đại học; chất lượng cung cấp các dịch vụ như du lịch, kiểm toán, kê khai thuế…) do khó khăn trong việc xác định đầy đủ các chỉ tiêu cụ thể có thể lượng hóa.
Một cách tiếp cận khác về chất lượng nhìn từ góc độ quản lý công là đề cập đến sự phù hợp với mục đích. Với cách tiếp cận này, tiêu chí chính yếu để đánh giá chất lượng của sản phẩm hay dịch vụ không có ý nghĩa gì nếu không gắn với mục đích của sản phẩm hay dịch vụ đó. Chất lượng được đánh giá bởi mức độ mà sản phẩm hay dịch vụ đáp ứng được mục đích đã tuyên bố. Đó là một khái niệm động, phát triển theo thời gian, tuỳ thuộc vào sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước.
Như vậy có thể thấy, nhìn từ khía cạnh riêng của người sản xuất, người bán hàng, khách hàng, người quản lý …tùy theo góc độ quan sát khác nhau có những cách hiểu hoặc cách quan niệm khác nhau về chất lượng và khó có định nghĩa nào khái quát được đầy đủ hết các đặc điểm cần có của chất lượng.
Tuy nhiên, với xu hướng toàn cầu hóa kéo theo sự dịch chuyển về thương mại, kỹ thuật, công nghệ, thông tin, văn hóa..giữa các quốc gia trên thế giới đặt ra yêu cầu cấp thiết cho việc áp dụng thống nhất các quy chuẩn đối với sản phẩm, dịch vụ. Do vậy, các quốc gia cộng đồng châu Âu đã thống nhất áp dụng hệ thống quản lý chất lượng dựa trên các tiêu chuẩn sẵn có của Anh quốc (Bản thảo đầu tiên xuất bản vào năm 1985, được chấp thuận xuất bản chính thức vào năm 1987 và sau đó được tu chỉnh vào năm 1994 với tên gọi ISO 9000). Phiên bản mới nhất của bộ tiêu chuẩn này được ban hành năm 2015 với tên gọi ISO 9000:2015, trong đó đưa ra định nghĩa “chất lượng” là: “Mức độ của một tập hợp các đặc tính vốn có của một đối tượng đáp ứng được các yêu cầu đề ra”.
Bộ tiêu chuẩn ISO 9000:2015 đã được áp dụng tại hầu hết các quốc gia và trong mọi lĩnh vực sản xuất, cung cấp dịch vụ và quản trị công. Việt Nam cũng không nằm ngoài xu hướng đó và đến nay trong lĩnh vực quản lý hành chính nhà nước đã bắt đầu áp dụng Tiêu chuẩn Việt Nam TCVN ISO 9000:2015 dựa trên bộ tiêu chuẩn chất lượng ISO 9000:2015.
Theo cách định nghĩa này, đối tượng được hiểu là bất cứ điều gì có thể cảm nhận được hoặc nhận biết được gồm vật chất, phi vật chất hoặc được hình dung. Ví dụ như: Sản phẩm, dịch vụ, quá trình, cá nhân, tổ chức, hệ thống, nguồn lực hay thậm chí là tình trạng của tổ chức trong tương lai. Đặc tính vốn có được hiểu là đặc trưng để phân biệt tồn tại trong một đối tượng có tính cố định, nhất quán. “Đặc tính vốn có” có thể định tính hoặc định lượng được biểu hiện dưới nhiều hình thức khác nhau như: vật lý (vd. đặc tính cơ, điện, hóa hoặc sinh); hành vi (vd. trung thực, tin cậy); thời gian (vd. đúng lúc, tin cậy, sẵn có, liên tục). Khái niệm “yêu cầu” được hiểu chung là nhu cầu hoặc mong đợi chất lượng có thể đáp ứng. Trong công tác quản lý nhà nước, yêu cầu có thể là bắt buộc do cơ quan lập pháp quy định hoặc do cơ quan quản lý được cơ quan lập pháp giao quyền quy định dưới hình thức văn bản pháp luật. Yêu cầu cũng có thể là ngầm hiểu chung mang tính thông lệ hoặc thực hành chung hay do các bên quan tâm khác nhau đề ra.
Trong phạm vi bài viết này, tác giả lựa chọn cách tiếp cận định nghĩa “Chất lượng” được hiểu là “tập hợp các đặc tính của một đối tượng đáp ứng được yêu cầu đề ra của người sử dụng” làm cơ sở phân tích, làm rõ hơn về quan niệm chất lượng cuộc thanh tra.
1.2. Khái niệm cuộc thanh tra
Trên thực tế, thuật ngữ “cuộc thanh tra” được sử dụng phổ biến trong công tác quản lý nhà nước về thanh tra thể hiện với những tên gọi khác nhau được định danh ngay trong quyết định thanh tra hay trong trao đổi thông tin, báo cáo tình hình như “cuộc thanh tra tài chính, ngân hàng”, “cuộc thanh tra đất đai”, “cuộc thanh tra ngành Than”, “cuộc thanh tra ngân sách xã, phường”, “cuộc thanh tra tại Tập đoàn Điện lực Việt Nam”, “cuộc thanh tra trách nhiệm giải quyết khiếu nại, tố cáo của Chủ tịch UBND tỉnh X”, “cuộc thanh tra việc thực hiện pháp luật về phòng, chống tham nhũng tại Bộ Y”, “cuộc thanh tra việc thực hiện chính sách đối với người có công”, rồi cuộc thanh tra chuyên đề, thanh tra diện rộng, thanh tra đột xuất, thanh tra theo đơn tố cáo, thanh tra theo yêu cầu của người/cơ quan/tổ chức có thẩm quyền, thanh tra việc thực hiện các chương trình, mục tiêu quốc gia v.v.
Vậy tiêu chí nào để xác định “cuộc thanh tra”?
Tiêu chí thứ nhất liên quan đến trình tự, thủ tục tiến hành thanh tra xác định: Hoạt động thanh tra cụ thể phải dựa trên một quyết định thanh tra cá biệt với đầy đủ nội dung mà pháp luật thanh tra quy định và quyết định đó phải được người có thẩm quyền ban hành. Đầy đủ nội dung ở đây có nghĩa là trong quyết định thanh tra phải chỉ rõ đối tượng thanh tra, nội dung thanh tra, phạm vi, thời kỳ, thời hạn, thời gian tiến hành thanh tra, người tiến hành thanh tra, nhiệm vụ, quyền hạn, nghĩa vụ của người tiến hành thanh tra, của đối tượng thanh tra, của cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân có liên quan đến nội dung thanh tra. Về hình thức, quyết định thanh tra là một quyết định hành chính cá biệt. Vì vậy, quyết định thanh tra còn phải bảo đảm về hình thức theo đúng quy định về văn bản hành chính trong quản lý nhà nước.
Vậy tiêu chí này xác định đã là cuộc thanh tra thì trước tiên phải có quyết định thanh tra bằng văn bản của người có thẩm quyền. Người có thẩm quyền ở đây được pháp luật thanh tra quy định, đó là, thủ trưởng cơ quan quản lý nhà nước, người đứng đầu cơ quan thanh tra nhà nước và thủ trưởng cơ quan thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành.
Tiêu chí thứ hai liên quan đến nội dung, phạm vi và đối tượng thanh tra. Nội dung, phạm vi, đối tượng thanh tra quyết định việc sử dụng nhân lực tiến hành thanh tra là một công chức, một đoàn thanh tra hay nhiều đoàn thanh tra thực hiện. Ví dụ như cuộc thanh tra toàn ngành Ngân hàng năm 1996, theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ; cuộc thanh tra đầu tư xây dựng cơ bản năm 2002, theo yêu cầu của Bộ Chính trị; cuộc thanh tra đất đai nhiều năm liên tục theo Nghị quyết của Chính phủ đều do hàng chục, hàng trăm đoàn thanh tra thực hiện trên diện rộng. Theo Luật thanh tra năm 2010, thanh tra hành chính phải do Đoàn thanh tra tiến hành; thanh tra chuyên ngành có thể do một thanh tra viên hoặc một công chức được giao nhiệm vụ thanh tra chuyên ngành thực hiện; việc tiến hành thanh tra phải có quyết định thanh tra của người có thẩm quyền hoặc văn bản giao nhiệm vụ thanh tra của thủ trưởng cơ quan được giao thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành. Như vậy, ở đây có thể thấy quy mô khác nhau của các cuộc thanh tra. Có cuộc thanh tra do nhiều đoàn thanh tra tiến hành, có cuộc thanh tra do một đoàn thanh tra tiến hành và có cuộc thanh tra chỉ do một thanh tra viên hoặc một công chức thực hiện.
Tiêu chí thứ ba, cuộc thanh tra là một quá trình thực hiện liên tiếp các hoạt động cần thiết từ giai đoạn chuẩn bị thanh tra, tiến hành thanh tra và kết thúc thanh tra. Kết quả của cuộc thanh tra là toàn bộ những gì thu được phản ánh diễn biến trong quá trình thực hiện ở mỗi giai đoạn cụ thể từ khi tiến hành thanh tra đến khi kết thúc cuộc thanh tra, mà sản phẩm cuối cùng là Kết luận thanh tra.Trên thực tế có những quyết định thanh tra được ban hành nhưng chúng không được thực hiện (vì nhiều lý do chủ quan, khách quan khác nhau như cấp trên yêu cầu dừng cuộc thanh tra; có sự trùng lặp về thời gian, đối tượng thanh tra giữa các cơ quan thanh tra hoặc giữa các chủ thể tiến hành thanh tra, kiểm tra, kiểm toán; người được giao nhiệm vụ tiến hành thanh tra không thể thực thi quyết định thanh tra vì hoàn cảnh khách quan, chủ quan bất khả kháng v.v.) thì sẽ không được thống kê vào số lượng cuộc thanh tra theo quan niệm trên. Do vậy, ở khía cạnh này, được coi là một cuộc thanh tra khi mỗi quyết định thanh tra phải được thực hiện trên thực tế và được thống kê vào số lượng cuộc thanh tra được tiến hành trong thời kỳ thống kê, báo cáo.Từ những luận giải trên có thể đưa ra khái niệm về cuộc thanh tra như sau: Cuộc thanh tra là hoạt động thực thi một quyết định thanh tra của chủ thể có thẩm quyền theo đúng trình tự, thủ tục pháp luật quy định
1.3. Chất lượng cuộc thanh tra
1.3.1. Khái niệm chất lượng cuộc thanh tra
Như vậy, từ những luận giải về khái niệm “cuộc thanh tra” và “chất lượng”, có thể thấy một cuộc thanh tra có chất lượng phải chứa đựng các thuộc tính (đặc điểm) có giá trị riêng biệt vốn có được thể hiện trong toàn bộ quá trình thực hiện một cuộc thanh tra và đáp ứng được mục đích đặt ra đối với hoạt động thanh tra.
Thanh tra là chức năng thiết yếu của quản lý nói chung, của quản lý nhà nước nói riêng. Xuất phát từ yêu cầu quản lý nhà nước theo mỗi giai đoạn phát triển, mục đích của hoạt động thanh tra cũng thay đổi với những thứ tự ưu tiên khác nhau nhằm phù hợp với yêu cầu của quản lý nhà nước. Tuy nhiên, cơ bản những nội dung chính về mục đích hoạt động thanh tra, đó là góp phần xây dựng, hoàn thiện cơ chế, chính sách, pháp luật; phòng ngừa, phát hiện, xử lý hoặc kiến nghị xử lý kịp thời, nghiêm minh các sai phạm, khiếm khuyết.
Nhìn nhận từ góc độ lịch sử phát triển pháp luật thanh tra có thể thấy, mục đích hoạt động thanh tra được thể hiện cụ thể trong các văn bản pháp luật về thanh tra, nhất là từ trong giai đoạn Pháp lệnh Thanh tra năm 1990 được ban hành đến nay (chịu sự điều chỉnh của Luật Thanh tra năm 2010).
Theo Pháp lệnh Thanh tra năm 1990, hoạt động thanh tra hướng tới hai mục đích căn bản là phát huy nhân tố tích cực và phòng ngừa, xử lý các hành vi vi phạm trong hoạt động quản lý nhà nước.
Đến Luật Thanh tra năm 2004, mục đích thanh tra đã có sự thay đổi đáng kể, đó là thứ tự ưu tiên của những mục đích cần đạt được. Mục đích phát huy nhân tố tích cực vẫn được đề cập nhưng không còn ở vị trí ưu tiên hàng đầu như trước, thay vào đó là mục đích phòng ngừa, phát hiện và xử lý hành vi vi phạm pháp luật. Sự thay đổi này bắt nguồn từ nguyên nhân Luật Thanh tra năm 2004 ra đời trong thời điểm quá trình đổi mới nền kinh tế đã diễn ra trong thời gian khá dài. Lúc này, để đảm bảo cho các hoạt động kinh tế được diễn ra bình đẳng trong khuôn khổ pháp luật, hoạt động thanh tra cần phải hướng đến mục đích đầu tiên là phòng ngừa, phát hiện và xử lý các hành vi vi phạm pháp luật.
Ở Luật Thanh tra năm 2010, một lần nữa, mục đích hoạt động thanh tra lại có sự thay đổi, mục đích phòng ngừa, phát hiện và xử lý hành vi vi phạm pháp luật không còn được đặt lên hàng đầu mà thay vào đó là mục đích phát hiện những sơ hở trong cơ chế quản lý, chính sách, pháp luật để kiến nghị với cơ quan nhà nước có thẩm quyền các biện pháp khắc phục.
Như vậy có thể thấy, xuất phát từ yêu cầu quản lý nhà nước theo mỗi giai đoạn phát triển, mục đích của hoạt động thanh tra cũng thay đổi nhằm phù hợp với yêu cầu của quản lý nhà nước đối với hoạt động thanh tra.
Tuy nhiên, nếu chỉ tiếp cận chất lượng cuộc thanh tra ở riêng khía cạnh là đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước bằng việc có đạt được mục đích thanh tra đã đề ra hay không, hay kết quả của mỗi cuộc thanh tra có đạt được mục đích cụ thể của cuộc thanh tra đó hay không là chưa đầy đủ và toàn diện về chất lượng cuộc thanh tra.
Con số hàng vạn cuộc thanh tra, kiểm tra được tiến hành trong một năm hoàn toàn chưa phản ánh được giá trị, vai trò, ý nghĩa, hiệu lực, hiệu quả của hoạt động thanh tra nói chung, của các cuộc thanh tra nói riêng. Có nghĩa là chỉ thống kê số lượng cuộc thanh tra được tiến hành trong kỳ báo cáo sẽ không có ý nghĩa gì. Báo cáo công tác thanh tra chỉ thu hút được người đọc, người nghe khi có những nội dung viết về sai phạm, khuyết điểm, khiếm khuyết, sai lệch giữa thực tiễn với quyết định quản lý được phát hiện qua thanh tra và kết quả xử lý, kiến nghị xử lý những sai phạm, khuyết điểm, khiếm khuyết, sai lệch đó. Những nội dung này chưa phản ánh toàn diện “phẩm chất”, “giá trị” của cuộc thanh tra, nhưng phần nào khắc họa “phẩm chất”, “giá trị” cuộc thanh tra hay nói một cách trực diện, đó là phản ánh chất lượng cuộc thanh tra.
Một cuộc thanh tra nào đó không phát hiện được sai phạm, khuyết điểm thậm chí không chỉ ra được một sai lệch, khiếm khuyết nào, không đưa ra được đề xuất, kiến nghị nào nhằm sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện cơ chế, chính sách, pháp luật, quyết định quản lý thì khó có thể đánh giá đó là cuộc thanh tra có chất lượng. Nhưng ngược lại, cuộc thanh tra phát hiện nhiều sai phạm, thu hồi nhiều tiền, tài sản, làm rõ trách nhiệm và xử lý nhiều hành vi sai phạm, khuyết điểm, bao gồm cả trách nhiệm hành chính, kỷ luật, hình sự cũng chưa hẳn là cuộc thanh tra có chất lượng cao, nếu như bỏ qua tính tuân thủ, yếu tố kịp thời, hiệu quả… trong hoạt động thanh tra.
Để đưa ra những nhận xét, đánh giá việc thực hiện chính sách, pháp luật, nhiệm vụ, quyền hạn của đối tượng thanh tra luôn phải lấy pháp luật làm thước đo, làm tiêu chí để so sánh, đánh giá. Nếu pháp luật chưa quy định thì cần tìm tiền lệ, thông lệ để so sánh, đánh giá. Nếu pháp luật chưa quy định, mà tiền lệ, thông lệ cũng chưa có thì phải xem xét tính không vụ lợi của hành vi, việc làm đó để xem xét, đánh giá. Đó là lý thuyết về đánh giá trong hoạt động thanh tra. Tuy nhiên, việc xử lý, kiến nghị xử lý sai phạm, khiếm khuyết được phát hiện qua hoạt động thanh tra không thuần túy chỉ dựa vào pháp luật, tiền lệ hay thông lệ, mà còn phải tính tới các yếu tố khác trong bối cảnh lịch sử-cụ thể như chính trị, xã hội, lợi ích của cộng đồng, của quốc gia, dân tộc. Nội dung này cũng liên quan đến đánh giá chất lượng cuộc thanh tra. Đáp ứng được tính mục đích trong hoạt động thanh tra, nhưng chất lượng cuộc thanh tra còn phải được nhìn nhận ở khía cạnh cuộc thanh tra ấy được thực hiện tuân thủ các quy định pháp luật về thẩm quyền, thời gian, đảm bảo các nguyên tắc chính xác, khách quan, trung thực, có hiệu lực, hiệu quả.
Từ những luận giải về khái niệm chất lượng, cuộc thanh tra và yêu cầu tuân thủ các quy định của pháp luật về mục đích, nguyên tắc trong hoạt động thanh tra, có thể đưa ra khái niệm về chất lượng cuộc thanh tra như sau: “Chất lượng cuộc thanh tra là mức độ đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước bằng việc thực thi quyết định thanh tra một cách kịp thời, chính xác, khách quan, trung thực, hiệu quả, hiệu lực theo các quy định của pháp luật.”
1.3.2. Các đặc tính của chất lượng cuộc thanh tra
Chất lượng cuộc thanh tra nếu chỉ dừng lại ở đánh giá đạt được mục đích hoạt động thanh tra, thì rất chung chung. Do vậy, đánh giá một cuộc thanh tra đạt chất lượng cao hay không, còn cần phải xem xét về việc cuộc thanh tra đó đáp ứng các yêu cầu cụ thể về đặc tính chất lượng của cuộc thanh tra như thế nào. Các đặc tính này thể hiện trong suốt quá trình tiến hành cuộc thanh tra từ giai đoạn chuẩn bị thanh tra đến khi kết thúc thanh tra. Điều này có nghĩa rằng, bản thân cuộc thanh tra phải chứa đựng trong nó những đặc tính chất lượng và luôn được thể hiện trong mọi quá trình thực hiện từ giai đoạn chuẩn bị thanh tra, tiến hành thanh tra và kết thúc thanh tra. Tổng hợp kết quả hoạt động thanh tra trong những giai đoạn này sẽ phản ánh giá trị của chúng ở sản phẩm cuối cùng – kết luận thanh tra. Các đặc tính của chất lượng cuộc thanh tra bao gồm:
Thứ nhất, mức độ cần thiết của nội dung thanh tra với yêu cầu quản lý nhà nước.
Thanh tra là nội dung không thể thiếu của quản lý nhà nước, là giai đoạn cuối cùng trong chu trình quản lý, có vai trò kiểm định, đánh giá hiệu quả của quản lý nhà nước. Tuy nhiên, lĩnh vực quản lý nhà nước rất rộng, bao trùm mọi mặt đời sống kinh tế-xã hội, mà nguồn lực thanh tra luôn có hạn nên trong một thời điểm nhất định chỉ có thể ưu tiên trong lựa chọn một số lĩnh vực, nội dung trong quản lý nhà nước để thanh tra. Chất lượng cuộc thanh tra ở đây được thể hiện qua mức độ phù hợp của việc lựa chọn đối tượng thanh tra với tính cấp thiết trong yêu cầu quản lý nhà nước của lĩnh vực, nội dung đó.
Để đảm bảo bảo mục đích của hoạt động thanh tra nói chung và từng cuộc thanh tra nói riêng phải tiến hành thanh tra có trọng tâm, trọng điểm. Muốn vậy, cần phải xác định (lựa chọn) nội dung thanh tra. Đây là một trong những đặc tính vốn có của chất lượng cuộc thanh tra, là cơ sở cho việc xác định mục tiêu, phương pháp tiến hành cuộc thanh tra, cũng như đảm bảo quy trình tiến hành một cuộc thanh tra được khép kín, các bước hoạt động thanh tra và tổ chức thực hiện được gắn bó chặt chẽ hơn, từ việc nắm bắt, tìm hiểu, thu thập thông tin trong giai đoạn chuẩn bị thanh tra đến giai đoạn tiến hành thanh tra và giai đoạn kết thúc thanh tra. Đặc tính mức độ phù hợp hay tầm quan trọng của việc lựa chọn nội dung thanh tra thể hiện chất lượng cuộc thanh tra từ những khía cạnh sau đây:
(i) Tính thời sự: Việc xác định nội dung thanh tra cần tập trung vào những vấn đề quản lý nhà nước cấp thiết đáp ứng sự quan tâm của xã hội nói chung, của chủ thể là cơ quan quản lý nhà nước nói riêng đối với nội dung dự kiến thanh tra. Khía cạnh này cũng hàm ý thể hiện sự đảm bảo của hoạt động thanh tra đối với việc đáp ứng kịp thời mục tiêu mà hoạt động quản lý nhà nước hướng tới, cũng như ảnh hưởng tích cực (tiêu cực) của chúng tới xã hội hay hoạt động quản lý nhà nước.
(ii) Phạm vi và tầm quan trọng: Liên quan đến mức độ tác động của hoạt động quản lý nhà nước đối với đối tượng chịu sự quản lý. Phạm vi hoạt động quản lý nhà nước càng lớn, có tác động lớn về quy mô cũng như đối tượng thì tầm quan trọng của việc xem xét, đánh giá hoạt động quản lý nhà nước càng được thể hiện ở sự đầy đủ và thích hợp của các vấn đề, thời kỳ (niên độ), đối tượng… được thanh tra để đảm bảo thanh tra đáp ứng đầy đủ các yêu cầu của quản lý nhà nước cũng như các đối tượng (cơ quan) hữu quan.
(iii) Không trùng lặp: Liên quan đến việc cân nhắc những nội dung dự kiến thanh tra trùng lặp về phạm vi, đối tượng, nội dung, thời gian thanh tra được các cơ quan thực hiện chức năng thanh tra tiến hành trước đó hoặc có kế hoạch thực hiện cùng kỳ.
Thứ hai, cuộc thanh tra được thực hiện theo quy định của pháp luật, đáp ứng yêu cầu chính xác, khách quan, trung thực, công khai và kịp thời.
Vấn đề quan trọng khác cần xem xét đến trong xác định chất lượng cuộc thanh tra, đó là cuộc thanh tra phải tuân thủ các quy định pháp luật về thẩm quyền, trình tự, thủ tục của các chủ thể tiến hành cuộc thanh tra, tức là xem xét về tính tuân thủ các quy định pháp luật về thực hiện một cuộc thanh tra từ giai đoạn chuẩn bị thanh tra, tiến hành thanh tra và kết thúc thanh tra.
(i) Tính chính xác, trung thực. Đây là yêu cầu tiên quyết đối với các chủ thể liên quan thực hiện nhiệm vụ trong quá trình triển khai một cuộc thanh tra. Tính chính xác và tính trung thực có mối quan hệ biện chứng trong việc đảm bảo chất lượng cuộc thanh tra. Đảm bảo được yếu tố trung thực sẽ giúp cho kết quả thanh tra đạt được yêu cầu về chính xác và ngược lại. Điều này có nghĩa là một cuộc thanh tra phải được tiến hành trên cơ sở có đầy đủ những căn cứ rõ ràng đã được quy định trong pháp luật; việc thực hiện những nhiệm vụ, quyền hạn, các quyền và nghĩa vụ pháp lý khác hoàn toàn phải phù hợp với quy định của pháp luật về hoạt động thanh tra.
(ii) Tính khách quan. Các phát hiện và kết luận thanh tra phản ánh khách quan thể hiện qua tình hình thực tế của đối tượng được thanh tra, có bằng chứng đầy đủ, thích hợp; kết luận thanh tra dựa trên các phát hiện thanh tra xuất phát từ thực tiễn quản lý hành chính nhà nước. Mọi quyết định, kết luận hay kiến nghị trong hoạt động thanh tra đều xuất phát từ thực tiễn đòi hỏi người tiến hành tra có trình độ hiểu biết về chính trị, pháp luật, am hiểu chuyên môn nghiệp vụ để có thể độc lập, khách quan trong suy nghĩ và hành động.
(iii) Tính công khai. Đặc tính này được thể hiện ở khía cạnh nội dung các công việc của hoạt động thanh tra được thông báo một cách đầy đủ và rộng rãi cho mọi đối tượng có liên quan biết theo đúng quy định của pháp luật; các kết luận, kiến nghị, quyết định về thanh tra trong hoạt động thanh tra được thông báo công khai cho các đối tượng có liên quan biết. Công khai và đảm bảo quy định về bí mật nhà nước, là các nội dung luôn phải tuân thủ trong công tác thanh tra.
(iv) Tính kịp thời. Đây là một đặc tính trong phương pháp hoạt động của thanh tra được thể hiện qua việc: khi có đầy đủ cơ sở tiến hành thanh tra, tổ chức thanh tra có thẩm quyền nhanh chóng tiến hành hoạt động thanh tra theo đúng quy định của pháp luật; và trong hoạt động thanh tra, khi cần thực hiện các quyền để đảm bảo công việc theo yêu cầu, kế hoạch đề ra thì các chủ thể thực hiện các quyền đó phải thực hiện ngay các quyền đó trong thời hạn được pháp luật quy định (ví dụ quyền yêu cầu cung cấp thông tin, tài liệu, quyền chuyển hồ sơ sang cơ quan điều tra…).
Thứ ba, một cuộc thanh tra phải đạt được tính hiệu quả, hiệu lực.
Mặc dù mỗi đặc tính có một ý nghĩa riêng, nhưng liên quan chặt chẽ với nhau. Tính hiệu quả là việc xem xét mức độ tương quan hợp lý, tương xứng giữa nguồn lực (con người, ngân sách…thời gian) với tầm quan trọng và độ phức tạp của một cuộc thanh tra. Hiệu quả của cuộc thanh tra được biểu hiện ở khía cạnh: với nguồn lực hợp lý, có thể đảm bảo chất lượng cuộc thanh tra đạt được mục đích như dự kiến hoặc tốt hơn so với mục tiêu ban đầu. Tính hiệu quả của cuộc thanh tra cần được nhìn nhận trong một môi trường chính trị – pháp lý – kinh tế và giai đoạn phát triển nhà nước nhất định. Do đó, sự nhìn nhận hiệu quả bao giờ cũng bao hàm tính lịch sử và cụ thể của một cuộc thanh tra.
Tính hiệu quả là vấn đề quan trọng cần xét đến trong bất cứ hoạt động của cơ quan, tổ chức nhà nước nào, nhưng cách tiếp cận về hiệu quả của cuộc thanh tra cũng rất khác nhau. Có quan điểm cho rằng cuộc thanh tra phát hiện được nhiều sai phạm về kinh tế, về con người thì đó là cuộc thanh tra có hiệu quả (kết quả) cao; quan điểm khác lại cho rằng hiệu quả nằm ở việc xử lý triệt để ở mức độ nào đối với sai phạm được phát hiện qua thanh tra; quan điểm khác nữa cho rằng hiệu quả công tác thanh tra là ở chỗ phát hiện sơ hở về cơ chế, chính sách để từ đó kiến nghị các cơ quan có thẩm quyền sửa đổi, bổ sung, từ đó tránh được những thất thoát, lãng phí và các sai phạm khác…
Mặc dù để xác định được tính hiệu quả trong hoạt động thanh tra là việc không dễ dàng, nhưng không phải là không làm được hay không tiếp cận được con số có thể chấp nhận được. Suy cho cùng, hiệu quả của một hoạt động, đó là con số được chỉ ra sau khi lấy tổng số thu về trừ đi tổng số chi phí đã bỏ ra cho hoạt động đó. Con số thu được là con số dương càng lớn, biểu thị hiệu quả của hoạt động đó càng cao. Ngược lại, con số thu được là con số âm càng nhiều thì hiệu quả của hoạt động đó càng thấp.
Tính hiệu lực của cuộc thanh tra hàm ý các phát hiện, quyết định, kiến nghị, kết luận được hiện thực hóa bằng các hoạt động chấp thuận, thực hiện bởi đối tượng thanh tra và được cơ quan quản lý nhà nước liên quan sử dụng; đạt được các tác động mong muốn; góp phần tăng cường trách nhiệm giải trình, sự minh bạch và nâng cao chất lượng công tác quản lý nhà nước.
Xét trong quá trình tổ chức thực hiện một cuộc thanh tra từ khâu khảo sát, nắm tình hình, chuẩn bị triển khai đến khi cấp có thẩm quyền ban hành Kết luận thanh tra, thì tính hiệu quả của cuộc thanh tra dễ nhận thấy hơn (ví dụ thời gian thanh tra ít, nhân lực không đông và kết luân thanh tra đáp ứng được yêu cầu đặt ra). Tuy nhiên, tính hiệu lực của một cuộc thanh tra lại được nhìn thấy rõ hơn trong giai đoạn xử lý sau thanh tra, khi các cơ quan có thẩm quyền theo dõi, đôn đốc, kiểm tra việc thực hiện các kiến nghị, quyết định xử lý về thanh tra.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. TS. Trần Đức Lượng, “Hoàn thiện cơ chế thanh tra, kiểm tra, giám sát nhằm nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước” – Đề tài khoa học cấp Nhà nước, 2002;
2. ThS. Văn Tiến Mai, “Hoàn thiện pháp luật về thanh tra trong giai đoạn hiện nay” – Đề tài khoa học cấp bộ, 2016-2017;
3. ThS. Bùi Ngọc Lam, “Tăng cường chỉ đạo, kiểm tra, giám sát đối với hoạt động của Đoàn thanh tra – Thanh tra Chính phủ” – Đề tài khoa học cấp bộ, 2009 – 2010;
4. ThS. Đặng Khánh Toàn, “Báo cáo kết quả thanh tra, kết luận thanh tra – những vấn đề lý luận và thực tiễn” – Đề tài khoa học cấp bộ, 2009 – 2010;
5. Nguyễn Thái Hồng, “Các nguyên tắc trong hoạt động thanh tra – Một số vấn đề lý luận và thực tiễn” – Đề tài khoa học cấp bộ, 2010 – 2011;
Đậu Thị Hiền
Viện Chiến lược và Khoa học thanh tra
Ngay cả một số quốc gia cởi mở với thương mại quốc tế thì xuất khẩu một mặt hàng như gạo có thể liên quan đến 15 bên khác nhau, 24 tài liệu, và khoảng 700 yếu tố dữ liệu. Cần không ít hơn 22 ngày để đơn vị xuất khẩu thực hiện các thủ tục khác nhau và chuẩn bị lô hàng để xuất khẩu tại cảng biển gần nhất. Nhìn chung, các chi phí trực tiếp và gián tiếp liên quan đến các thủ tục thương mại ước tính chiếm 7% – 10% giá trị của thương mại toàn cầu.
Con số này có thể cao hơn nhiều ở một số quốc gia đang phát triển ở Châu Á và Thái Bình Dương[1]. Mặc dù, các quy định, thủ tục có thể cần thiết để chính phủ kiểm soát sự di chuyển của hàng hóa qua biên giới. Tuy nhiên các thủ tục này cần được rà soát và sắp xếp hợp lý để tiết kiệm thời gian và giảm thiểu chi phí giao dịch cho các doanh nghiệp quốc tế, trong khi vẫn duy trì sự kiểm soát hiệu quả của các chính phủ. Nhận thức về gánh nặng chi phí giao dịch và thủ tục thương mại đã được nêu ra trong đàm phán đa phương như Hiệp thương mại tự do (TFA) có hiệu lực từ tháng 2 năm 2017. Người ta ước tính rằng việc thực hiện đầy đủ TFA có thể giảm chi phí thương mại trung bình 14,3% và tăng thương mại toàn cầu lên tới 01 nghìn tỷ đô la mỹ mỗi năm. Tính đến tháng 10/2020, đã có 153 thành viên WTO phê chuẩn hiệp định này. Trong bối cảnh của Brexit, Mỹ không phê chuẩn Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương, chiến tranh thương mại giữa Mỹ và Trung Quốc, đại dịch Covid 19, thương mại toàn cầu phải đối mặt nhiều khó khăn, thử thách. Do đó, trước những trở ngại trên, các quốc gia trên thế giới cần nỗ lực thực hiện thuận lợi hóa thương mại để thúc đẩy quan hệ quốc tế.
Việt Nam đã hội nhập vào nền kinh tế thế giới và thực hiện các cam kết quốc tế về tạo thuận lợi thương mại trong WTO. Môi trường kinh doanh Việt Nam được đánh giá có chuyển biến tích cực sau gia nhập WTO. Theo báo cáo Môi trường kinh doanh của Ngân hàng Thế giới, Chỉ số thuận lợi kinh doanh của Việt Nam tăng dần trong 10 năm qua, từ 60 năm 2010 lên 70 vào năm 2020. Sau 3 năm thực hiện TFA tại WTO, chỉ số thương mại xuyên biên giới của Việt Nam duy trì ở mức 70,8 trong 3 năm qua. Trong Một báo cáo khác của World Bank, báo cáo chỉ số năng lực Logistics (LPI)[2], thứ hạng LPI của Việt Nam tăng mạnh từ 64 năm 2016 lên 39 năm 2018, tăng 25 bậc trong bảng xếp hạng LPI của WB. Để có được những thành tựu như vậy và hưởng lợi nhiều hơn từ hội nhập quốc tế, Việt Nam đã phải không ngừng nỗ lực cải cách thể chế, chính sách, cải thiện môi trường kinh doanh phù hợp với thông lệ quốc tế các quy định và cam kết, trong đó có các cam kết về tạo thuận lợi thương mại. Đặc biệt, thực hiện thuận lợi hóa thương mại là cần thiết để thúc đẩy dòng chảy thương mại và thúc đẩy phát triển kinh tế toàn cầu trong bối cảnh bảo hộ mậu dịch và giải quyết những khó khăn do Covid 19 gây ra. Vì vậy, cần nghiên cứu quá trình thực hiện tạo thuận lợi thương mại của Việt Nam và đề xuất một số khuyến nghị để Việt Nam thực hiện thành công, đạt được nhiều lợi ích từ hoạt động thương mại trong tương lai.
Trong những năm qua, Chính phủ Việt Nam đã chỉ đạo quyết liệt việc thực hiện các biện pháp tạo thuận lợi thương mại, cải cách kiểm tra chuyên ngành, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia và cải thiện môi trường kinh doanh. Năm 2019, Chỉ số năng lực cạnh tranh toàn cầu 4.0 của Việt Nam xếp thứ 67/141 quốc gia trên thế giới, tăng 10 bậc so với năm 2018. Môi trường kinh doanh của Việt Nam năm 2019 xếp thứ 70 trong số 190 quốc gia, tăng 20 bậc so với năm 2015. Bỏ dần kiểm tra chuyên ngành đối với danh mục hàng hóa nhập khẩu, nhiều mặt hàng được dịch chuyển từ kiểm tra trước thông quan đến sau thông quan giúp doanh nghiệp tiết kiệm thời gian xuất, nhập khẩu. Tuy nhiên, chỉ số thương mại xuyên biên giới của Việt Nam và tỷ lệ cắt giảm hàng hóa phải kiểm tra năm 2019 không đạt mục tiêu đề ra Nghị quyết số 02/2019.
Bài viết phân tích, đánh giá quá trình cải cách thủ tục kiểm tra chuyên ngành tại Việt Nam nằm trong chương trình thực hiện tạo thuận lợi hóa thương mại của Việt Nam và đề xuất một số khuyến nghị đối với Việt Nam trong quá trình cải cách nhằm cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia của Việt Nam.
1. Những cải cách của Việt Nam trong thủ tục kiểm tra chuyên ngành
Theo Nghị định số 85/2019/NĐ-CP về thực hiện thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa quốc gia, cơ chế một cửa ASEAN và kiểm tra chuyên ngành đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu, kiểm tra chuyên ngành là việc cơ quan kiểm tra chuyên ngành xem xét, đánh giá, xác định hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu theo quy định của pháp luật về tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật. Do đó, cần cải cách thủ tục kiểm tra chuyên ngành để thực hiện thuận lợi hóa thương mại và cải thiện chỉ số “thủ tục thủ tục” trong TFI của OECD, chỉ số “thương mại xuyên biên giới” trong báo cáo Môi trường kinh doanh của WB hay cải thiện “hiệu quả của hải quan và chỉ số quản lý thông quan biên giới” trong báo cáo LPI của WB, cũng như nâng cao “hiệu quả thông quan biên giới” như một trong những cấu phần được Diễn đàn kinh thế thế giới (WEF)[3] sử dụng để đánh giá năng lực cạnh tranh toàn cầu của một quốc gia. Để thực hiện thuận lợi hóa thương mại, cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, Việt Nam cũng đã sửa đổi, ban hành nhiều văn bản quy phạm pháp luật khác về kiểm tra chuyên ngành. Tháng 11/2015, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng đã ký Quyết định số 2026/QĐ-Ttg phê duyệt Kế hoạch nâng cao hiệu quả kiểm tra chuyên ngành hàng hóa xuất nhập khẩu. Một trong những nhiệm vụ cụ thể được nêu tại Quyết định là cải cách phương thức kiểm tra chuyên ngành theo hướng tạo thuận lợi cho hoạt động xuất nhập khẩu, giảm chi phí, rút ngắn thời gian thông quan hàng hóa xuống dưới 05 ngày vào năm 2020. Tháng 9/2019, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đã ký Quyết định số 1254/QĐ-TTg phê duyệt Kế hoạch hành động thúc đẩy cơ chế một cửa quốc gia, cơ chế một cửa ASEAN, cải cách kiểm tra chuyên ngành và tạo thuận lợi thương mại giai đoạn 2018-2020.
Đồng thời, đã có nhiều văn bản quy phạm pháp luật khác được ban hành nhằm cắt giảm danh mục hàng hóa phải kiểm tra chuyên ngành, thay đổi phương thức kiểm tra, áp dụng quản lý rủi ro trong kiểm tra, chuyển thời hạn kiểm tra từ trước thông quan trong sau thông quan đối với một số mặt hàng … Một số văn bản nổi bật như Quyết định số 37/2017/QĐ-TTg bãi bỏ Quyết định số 50/2006/QĐ-TTg về kiểm tra chất lượng hàng hóa, cắt bỏ 114 mặt hàng phải kiểm tra chuyên ngành; Nghị định số 74/2018/NĐ-CP ngày 15/05/2018 sửa đổi, bổ sung Nghị định số 132/2008/NĐ-CP hướng dẫn chi tiết thi hành Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa, trong đó có một số nội dung đổi mới về sản phẩm và kiểm tra chất lượng hàng hóa. Thay vì nộp kết quả kiểm tra nhà nước về chất lượng sản phẩm, hàng hóa Nhóm 2 (Danh mục sản phẩm, hàng hóa có khả năng gây mất an toàn) để thông quan (trước khi thông quan), Nghị định 74 phân ra 02 loại hàng hóa Nhóm 2 phải kiểm tra. Đối với sản phẩm, hàng hóa nhóm 2, việc kiểm tra về chất lượng hàng hóa được thực hiện thông qua việc xét công bố hợp quy của người nhập khẩu, hàng hóa này phải được kiểm tra trước khi thông quan đối với trường hợp công bố hợp quy dựa trên kết quả chứng nhận hợp quy. Điều tra bởi tổ chức chứng nhận, tổ chức giám định được chỉ định. Trường hợp công bố hợp quy dựa trên kết quả tự đánh giá về sự phù hợp của tổ chức, cá nhân hoặc kết quả chứng nhận, đánh giá của tổ chức chứng nhận, tổ chức giám định đã đăng ký hoặc được công nhận theo quy định của pháp luật đối với sản phẩm, hàng hóa Nhóm 2 được kiểm tra sau thông quan (hậu thông quan). Nhà nhập khẩu nộp bản đăng ký có xác nhận của Cơ quan phê duyệt cho cơ quan hải quan để được thông quan.
Thông tư số 07/2017/TT-BKHCN ngày 16/6/2017 của Bộ Khoa học và Công nghệ cắt giảm hơn 90% hàng hóa phải kiểm tra chất lượng trước thông quan; Thông tư số 23/2016/TT-BCT ngày 12 tháng 10 năm 2016 bãi bỏ Thông tư số 37/2015/TT BCT ngày 30 tháng 10 năm 2015 của Bộ Công Thương quy định mức giới hạn và kiểm tra hàm lượng formaldehyt và các amin thơm chuyển hóa từ phẩm màu azo trong sản phẩm dệt may; Thông tư số 18/2017/TT-BCT ngày 21/9/2017 của Bộ Công Thương bãi bỏ việc kiểm tra chất lượng đối với hơn 100 mặt hàng thép nhập khẩu; và Nghị định số 15/2018/NĐ-CP ngày 02/2/2018 về an toàn thực phẩm cắt giảm 95% số lô hàng nhập khẩu phải kiểm tra nhà nước về an toàn thực phẩm… Mới đây, Nghị định số 85/2019/NĐ-CP nêu rõ: (i) Hàng hóa thuộc Danh mục hàng hóa nhập khẩu phải kiểm tra chuyên ngành trước thông quan để đáp ứng yêu cầu quản lý hàng hóa trong từng thời kỳ và thuộc một trong các khả năng: mất an toàn cao, làm lây lan dịch bệnh, xâm hại đến sức khỏe, tính mạng con người, gây ô nhiễm môi trường, ảnh hưởng đạo đức xã hội, thuần phong mỹ tục, gây phương hại đến kinh tế, an ninh quốc gia (khoản 5 Điều 21); (ii) Đối với hàng hóa thuộc danh mục nhập khẩu của tổ chức chứng nhận, tổ chức giám định được chỉ định.
Mới đây, Nghị định số 85/2019/NĐ-CP nêu rõ: (i) Hàng hóa thuộc Danh mục hàng hóa nhập khẩu kiểm tra chuyên ngành kiểm tra trước thông quan đáp ứng yêu cầu quản lý hàng hóa trong từng thời kỳ và thuộc một trong các khả năng sau: có tính mất an toàn cao, làm lây lan dịch bệnh, xâm hại đến sức khỏe, tính mạng con người, gây ô nhiễm môi trường, ảnh hưởng đến đạo đức xã hội, thuần phong mỹ tục, gây phương hại đến kinh tế và an ninh quốc phòng (khoản 5 Điều 21); (ii) Đối với hàng hóa thuộc danh mục nhập khẩu hàng hóa phải kiểm tra chuyên ngành sau thông quan thì các Bộ quản lý ngành, lĩnh vực có liên quan tổ chức kiểm tra hàng hóa nhập khẩu theo quy định của pháp luật; kết quả kiểm tra được xem xét để điều chỉnh Danh mục hàng hóa nhập khẩu phải kiểm tra chuyên ngành trước thông quan và đánh giá mức độ tuân thủ của tổ chức, cá nhân để quyết định hình thức, mức độ kiểm tra chuyên ngành (khoản 6 Điều 21).
Ngày 16/9/2020, Bộ Tài chính có Tờ trình số 164/TTr-BTC trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án Đổi mới mô hình kiểm tra chất lượng, kiểm tra an toàn thực phẩm hàng hóa nhập khẩu. Mục tiêu của mô hình mới là cắt giảm thời gian, tạo thuận lợi cho doanh nghiệp, nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế trên cơ sở cải cách thực chất công tác kiểm tra chuyên ngành. Những thay đổi trong văn bản quy phạm pháp luật quy định về kiểm tra chuyên ngành nêu trên là minh chứng cho Quyết tâm của Chính phủ Việt Nam trong việc rút ngắn danh mục sản phẩm, hàng hóa nhóm 02 phải kiểm tra trước thông quan, rút ngắn thời gian thông quan hàng hóa nhập khẩu, thực hiện tạo thuận lợi thương mại theo các cam kết quốc tế của Việt Nam.
2. Một số đánh giá về môi trường kinh doanh và năng lực cạnh tranh quốc gia của Việt Nam, cải cách kiểm tra chuyên ngành của Việt Nam trong thời gian gần đây
Việc thực hiện Nghị quyết số 19/NQ-CP của Chính phủ Việt Nam về cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao hiệu quả kinh tế quốc gia năng lực cạnh tranh của Việt Nam đã đạt được những kết quả đáng khích lệ về cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia. Theo Báo cáo cạnh tranh toàn cầu hàng năm của Diễn đàn kinh tế Thế giới (WEF), Việt Nam tăng thứ hạng về chỉ số năng lực cạnh tranh từ thứ 68 năm 2014 lên thứ 55 năm 2017. Từ năm 2018, WEF áp dụng phương pháp mới và đưa ra Chỉ số cạnh tranh toàn cầu 4.0 (GCI 4.0) dựa trên bộ các yếu tố mới tác động đến năng suất trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ 4. Năm 2019, chỉ số GCI 4.0 của Việt Nam đạt 62/100 điểm, xếp thứ 67/141 quốc gia và nền kinh tế và đứng thứ 6/9 nước ASEAN. So với năm 2018, chỉ số GCI của Việt Nam tăng 4 điểm và 10 bậc (từ thứ 77 lên 67). Năm 2019, Singapore có số điểm cao nhất thế giới (85 điểm, đứng thứ 1), tiếp theo là Malaysia (75 điểm), Thái Lan (68 điểm), Indonesia (65 điểm), Brunei (63 điểm), Philippines (62 điểm), Trung Quốc (74 điểm), Ấn Độ (61 điểm). Từ kết quả trên, mặc dù theo dõi các nước ASEAN về điểm số và thứ hạng của Việt Nam đều vượt trội, rút ngắn đáng kể so với nhóm 4 nước ASEAN, Trung Quốc và Ấn Độ. Chỉ số năng lực cạnh tranh toàn cầu của Việt Nam được cải thiện đáng kể cả về điểm số và thứ hạng là kết quả quan trọng, thể hiện sự đánh giá tích cực của WEF và cộng đồng quốc tế về những nỗ lực của Chính phủ Việt Nam trong việc cải thiện môi trường kinh doanh, hoàn thiện thể chế kinh tế, cải cách các quy định bao gồm quy định phi thuế quan, thủ tục hải quan và kiểm tra chuyên ngành. Tuy nhiên, điểm hiệu quả thông quan biên giới của Việt Nam năm 2018 và 2019 vẫn là 48,8 và đứng thứ 42.
Báo cáo Môi trường Kinh doanh hàng năm của Ngân hàng Thế giới cho thấy Việt Nam không ngừng được cải thiện về chất lượng môi trường kinh doanh, qua đó rút ngắn thời gian, giảm chi phí và rủi ro cho doanh nghiệp. Trong 5 năm qua (2015-2019), Việt Nam đã tăng điểm Môi trường kinh doanh thêm 34,7 điểm (từ 35,1 điểm năm 2015 lên 69,8 điểm năm 2019) và 20 bậc (từ 90 năm 2015 lên 70 năm 2019), đứng thứ 5 về Khu vực ASEAN, sau Singapore (hạng 1), Malaysia (hạng 12), Thái Lan (hạng 21), Brunei (hạng 68). Kết quả đáng chú ý này là do tăng điểm và thứ hạng của 04 chỉ số Môi trường kinh doanh như Khởi sự kinh doanh, Vay tín dụng, Thực thi hợp đồng, Xử lý khi mất khả năng thanh toán. Tuy nhiên, vẫn còn 04 chỉ số giảm điểm trong 05 năm qua, trong đó chỉ số Thương mại biên giới tăng 3,68 điểm nhưng giảm 05 bậc, không đạt mục tiêu Nghị quyết số 02/2019 đã đề cập. Không chỉ đánh giá chỉ số Thương mại qua biên giới bằng điểm số và xếp hạng, WB còn thu thập dữ liệu về thời gian và chi phí tuân thủ hải quan của các quốc gia do việc thực hiện thuận lợi hóa thương mại liên quan đến thương mại qua biên giới.
Kết quả thực hiện tạo thuận lợi thương mại của Việt Nam một phần được phản ánh không chỉ trong Báo cáo Môi trường kinh doanh hàng năm của WB mà còn trong Báo cáo LPI của WB (02 năm 01 lần). So với năm 2016, xếp hạng LPI của Việt Nam năm 2018 tăng mạnh (25 bậc), từ vị trí 64 lên 39 với 6/6 chỉ số có sự cải thiện vượt bậc. Việt Nam đứng thứ 3 trong ASEAN, sau Singapore và Thái Lan). Tăng cao nhất là Theo dõi và truy tìm lô hàng (xếp hạng 34, tăng 41 bậc) và Năng lực hậu cần (hạng 33, tăng 29 bậc). Hải quan đứng thứ 41 (tăng 23 bậc); Cơ sở hạ tầng xếp thứ 47 (tăng 23 bậc), Tính kịp thời xếp thứ 40 (tăng 16 bậc); và Chuyển phát quốc tế xếp thứ 49 (tăng 1 bậc).
Theo đánh giá của OECD[4], Việt Nam gần đạt hiệu quả tốt nhất trong toàn bộ mẫu xét về: tính sẵn có của thông tin, phán quyết trước, thủ tục kháng cáo, phí và lệ phí, đơn giản hóa thủ tục. Hiệu suất đã được cải thiện từ năm 2017 đến năm 2019 trong các lĩnh vực: sự tham gia của cộng đồng thương mại, phán quyết trước, thủ tục kháng cáo, phí và lệ phí, đơn giản hóa và hài hòa hóa tài liệu, hợp lý hóa thủ tục, hợp tác giữa các cơ quan xuyên biên giới. Hiệu suất trong các lĩnh vực khác vẫn ổn định. Về kiểm tra chuyên ngành, Việt Nam đã có cả những thành công và hạn chế. Thủ tục kiểm tra chuyên ngành đối với hàng hóa nhập khẩu đã có nhiều cải cách kể từ khi Chính phủ ban hành Nghị định số 74/2018/NĐ-CP. Theo thống kê của Tổng cục Hải quan, trong 05 năm qua, các bộ, ngành đã cắt giảm 12.600 mặt hàng phải kiểm tra chuyên ngành (từ 82.698 mặt hàng năm 2015 xuống còn 70.087 mặt hàng trong nửa đầu năm 2019), chiếm 15,24% tổng số mặt hàng phải kiểm tra chuyên ngành. Tổng số mặt hàng phải kiểm tra chuyên ngành thuộc mục tiêu Nghị quyết 19/2018. Hầu hết hàng hóa nhập khẩu phải kiểm tra chuyên ngành đã được chuyển từ kiểm tra trước thông quan (tiền kiểm) sang kiểm tra sau thông quan (hậu kiểm). Nhiều thủ tục kiểm soát chất lượng đã được triển khai trên Cơ chế một cửa quốc gia, giúp đơn giản hóa thủ tục, rút ngắn thời gian nộp hồ sơ và thanh toán. Nếu kết quả được thực hiện trên hệ thống điện tử, doanh nghiệp tiết kiệm được thời gian đi lại giữa các cơ quan kiểm tra chất lượng và cơ quan hải quan. Công tác kiểm tra chuyên ngành tuy đã có nhiều cải cách và được cộng đồng doanh nghiệp đánh giá cao nhưng vẫn còn một số tồn tại sau:
i. Hiện nay, các Bộ chủ yếu chuyển hàng hóa thuộc danh mục nhóm 2 từ kiểm tra trước thông quan sang kiểm tra sau thông quan. Quy định này tạo thuận lợi cho doanh nghiệp nhưng chưa nhất quán với quy định của Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa (khoản 4 Điều 34) là hàng hóa nhập khẩu nhóm 2 phải kiểm tra chất lượng khi nhập khẩu.
ii. Còn trên 70.000 mặt hàng phải kiểm tra chuyên ngành.
iii. Việc kiểm tra chất lượng đối với từng lô hàng của từng nhà nhập khẩu có thể làm mất thời gian và tiền bạc.
iv. Chưa áp dụng việc thừa nhận chung kết quả giám định. Kết luận kiểm tra chất lượng của hàng hóa có xuất xứ từ các nước phát triển về công nghệ, hàng hóa được sản xuất từ cơ sở sản xuất hiện đại, công nghệ cao hoặc thương hiệu nổi tiếng chưa được công nhận.
v. Nhiều Bộ đã chuyển hàng hóa chủ yếu từ kiểm tra trước thông quan sang kiểm tra sau thông quan nhưng vẫn yêu cầu nộp cho cơ quan hải quan bản đăng ký kiểm tra chất lượng có xác nhận của cơ quan kiểm tra để thông quan. Quy định như vậy làm phát sinh các thủ tục hành chính không cần thiết trong quá trình thông quan hàng hóa.
vi. Vẫn còn sự chồng chéo trong kiểm soát chất lượng.
vii. Phương pháp quản lý rủi ro chưa được áp dụng rộng rãi, chưa đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin để tiếp nhận, xử lý hồ sơ, trao đổi dữ liệu về kiểm tra chuyên ngành, chưa xây dựng hoàn chỉnh cơ sở dữ liệu để phân tích thông tin, đánh giá rủi ro của người xuất nhập khẩu[5].
Việc thực hiện các cam kết quốc tế về thương mại của Việt Nam thuận lợi hóa trong WTO, ASEAN… đã khiến môi trường kinh doanh Việt Nam thay đổi một cách tích cực và đáng kể. Trong khi đó, cải cách công tác kiểm tra chuyên ngành cũng góp phần thực hiện thành tựu tạo thuận lợi thương mại, cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia. Để tiếp tục thực hiện đầy đủ các cam kết quốc tế về tạo thuận lợi thương mại, cải thiện tốt hơn môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, Việt Nam cần nỗ lực không ngừng cải cách căn bản, toàn diện thể chế, thủ tục kiểm tra chuyên ngành.
Một số khuyến nghị đối với Việt Nam trong cải cách thủ tục kiểm tra chuyên ngành nhằm tạo thuận lợi thương mại, cải thiện môi trường kinh doanh và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia như sau:
Thứ nhất, Chính phủ phê duyệt Đề án Đổi mới mô hình kiểm tra chất lượng, kiểm tra an toàn thực phẩm hàng hóa nhập khẩu do Bộ Tài chính trình theo Tờ trình số 164/TTr-BTC trong tháng 9 năm 2020.
Thứ hai, Chính phủ ban hành Nghị định quy định phương thức, trình tự, thủ tục kiểm tra chất lượng, kiểm tra an toàn thực phẩm hàng hóa nhập khẩu thay cho quy định về kiểm tra chất lượng, kiểm tra an toàn thực phẩm hàng hóa nhập khẩu tại các nghị định hiện hành có liên quan.
Thứ ba, Chính phủ tiếp tục chỉ đạo, đôn đốc các Bộ đơn giản hóa thủ tục kiểm tra chuyên ngành, nhanh chóng chuyển đổi phương thức kiểm tra từ kiểm tra trước thông quan sang kiểm tra sau thông quan dựa trên quản lý rủi ro.
Thứ tư, hệ thống công nghệ thông tin phải được nâng cấp, bổ sung một số chức năng để tự động quyết định đối tượng miễn, giảm; kết nối và chia sẻ thông tin giữa các cơ quan quản lý hoạt động nhập khẩu; công bố đầy đủ, công khai các thủ tục hành chính có liên quan trên trang thông tin điện tử của bộ chuyên ngành; tích hợp quản lý kiểm tra chuyên ngành và hệ thống thông quan tự động với Cổng thông tin một cửa quốc gia.
Thứ năm, nâng cao năng lực kiểm tra chất lượng, kiểm tra an toàn thực phẩm đối với hàng hóa nhập khẩu của cơ quan hải quan và hiệu quả hoạt động của tổ chức đánh giá sự phù hợp được chỉ định.
Thứ sáu, phát triển các hoạt động truyền thông tới các cá nhân và doanh nghiệp về các văn bản quy phạm pháp luật và giúp nâng cao trách nhiệm thực thi pháp luật.
ThS. Ngô Thu Trang
Viện Chiến lược và Khoa học Thanh tra
1. Kinh tế ban đêm – một vấn đề mới của quản lý nhà nước
Thuật ngữ “Kinh tế ban đêm” (Night-time economy) đã xuất hiện trên thế giới từ những năm 1970. Chuỗi sự kiện văn hóa buổi tối mùa hè tại thủ đô Roma (I-ta-lia) vào năm 1977 đã đặt dấu ấn đầu tiên cho khái niệm này, cùng với sự ra đời của một khái niệm tương đồng khác là Thành phố 24 giờ (24-hour city). Kinh tế ban đêm có thể hiểu đơn giản là khái niệm bao trùm các hoạt động văn hóa, vui chơi, giải trí, dịch vụ ăn uống, dịch vụ mua sắm và du lịch diễn ra từ 06 giờ tối hôm trước đến 06 giờ sáng hôm sau [1].
Theo cách hiểu truyền thống, một thành phố được thiết kế để vận hành và hoạt động vào ban ngày thay vì hướng tới mục đích hoạt động về đêm. Tuy nhiên, trong thời đại ngày nay, nhiều quốc gia đã nhận thức được tiềm năng khai thác lợi nhuận khổng lồ từ các ngành, dịch vụ bắt đầu từ buổi tối và đặc biệt sau 12h. Đi đầu trong việc phát triển kinh tế ban đêm trên thế giới hiện nay phải kể đến các nước như: Mỹ, Pháp, Anh, Australia, Nhật Bản, Trung Quốc, Thái Lan.
| Các hình thức hoạt động chính và đóng góp của kinh tế ban đêm tại một số quốc gia | |||||||
| Nội dung | Vương quốc Anh | Hoa Kỳ | Ausralia | Pháp | Nhật Bản | Thái Lan | Trung Quốc |
| Đóng góp vào GDP quốc gia | Doanh thu trung bình 66 tỷ Bảng Anh/năm; Quy mô khoảng 6% GDP Vương quốc Anh | Doanh thu 6 tỷ USD tại San Francisco (năm 2015); Doanh thu 10 tỷ USD tại New York | Doanh thu gần 134 tỷ USD (năm 2018); Quy mô khoảng 4% GDP Australia | Doanh thu khoảng 2 triệu Euro tại Paris | Quy mô thị trường ước đạt khoảng 3,7 tỷ USD (năm 2020) | Doanh thu khoảng 5,5 tỷ USD/năm | Quy mô thị trường đạt 2400 tỷ USD (cuối năm 2020) |
| Tạo việc làm | 1,3 triệu việc làm | 300.000 việc làm tại New York | 1,1 triệu việc làm | 3,5 triệu việc làm | Không có số liệu | Không có số liệu | Không có số liệu |
| Lĩnh vực kinh tế ban đêm chủ yếu | Dịch vụ ăn uống, quầy bar, mua sắm, giải trí, nghệ thuật, thể thao | Dịch vụ ăn uống, quầy bar, mua sắm, nghệ thuật, sân khấu kịch, bảo tàng | Dịch vụ ăn uống, quầy bar, mua sắm, giải trí | Dịch vụ ăn uống, quầy bar, mua sắm, nghệ thuật, bảo tàng, giải trí | Dịch vụ ăn uống, quầy bar, câu lạc bộ, giải trí | Dịch vụ ăn uống, quầy bar, câu lạc bộ, giải trí | Dịch vụ ăn uống, giải trí, thương mại điện tử, phim ảnh trực tuyến, trò chơi trực tuyến |
Nguồn: Bài viết “Kinh nghiệm phát triển kinh tế ban đêm tại một số quốc gia”, TS. Nguyễn Đức Bảo, PGS.TS Trần Đức Hiệp, Khoa Kinh tế Chính trị, Trường Đại học Kinh tế, Đại học Quốc gia Hà Nội.
Những thống kê trên cho thấy phát triển kinh tế ban đêm không chỉ mang lại giá trị về kinh tế, mà hiệu quả xã hội là rất rõ rệt, thể hiện ở việc tạo ra số lượng việc làm rất lớn đối với các khu vực thành thị có hoạt động thương mại, dịch vụ về đêm. Có thể nói, kinh tế ban đêm đã và đang là xu thế tất yếu mang tính toàn cầu mà các quốc gia (đặc biệt là các nước có thế mạnh về du lịch) không thể bỏ qua.
Kể từ khi Việt Nam mở cửa nền kinh tế và hội nhập quốc tế, ngành du lịch đã có những bước phát triển vượt bậc, chiếm tỉ trọng ngày càng lớn trong nền kinh tế quốc dân[2]và đóng góp nhiều giá trị văn hóa – xã hội. Tại Nghị quyết số 08-NQ/TW của Bộ Chính trị ngày 16/01/2017, Đảng đã đưa ra quan điểm: “phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn là định hướng chiến lược quan trọng để phát triển đất nước, tạo động lực thúc đẩy sự phát triển các ngành, lĩnh vực khác…” Mặc dù đạt được những thành tựu to lớn, ngành du lịch và dịch vụ nói chung ở Việt Nam vẫn còn nhiều dư địa phát triển. Trong đó, nổi bật phải đề cập đến thực trạng doanh thu du lịch và mức chi tiêu của du khách thấp, mà nguyên nhân chủ yếu đến từ khoảng trống trong việc khai thác các dịch vụ sau 12h đêm [3]. Nhận thức được bất cập trên, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 1129/QĐ-TTg ngày 27/7/2020 phê duyệt Đề án phát triển kinh tế ban đêm ở Việt Nam, tạo cơ sở pháp lý đầu tiên để các cấp, các ngành nghiên cứu triển khai các dịch vụ, hoạt động về đêm. Từ đó đến nay đã có một số địa phương bắt đầu thí điểm phát triển kinh tế ban đêm, bước đầu hình thành những tour du lịch về đêm, mở rộng không gian, kéo dài thời gian trải nghiệm, khám phá của du khách. Có thể nói, khơi thông tiềm năng kinh tế đêm nhằm tạo ra bước chuyển lớn cho các ngành dịch vụ đi kèm là chiến lược đúng đắn của Đảng và Nhà nước trong bối cảnh phục hồi kinh tế hậu Covid-19, tạo ra lợi thế cạnh tranh mới cho Việt Nam trên đường đua trở thành cường quốc du lịch trong khu vực.
Thanh tra là một bộ phận quan trọng trong công tác quản lý nói chung, có vai trò kiểm định, đánh giá hiệu quả của quản lý nhà nước. Các tổ chức thanh tra nhà nước, trong phạm vi thẩm quyền của mình, có trách nhiệm đảm bảo trật tự, kỷ cương, phòng ngừa vi phạm pháp luật và tội phạm nảy sinh trong quản lý nhà nước, góp phần tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa. Việc Nhà nước chính thức thừa nhận và cho phép các địa phương phát triển kinh tế ban đêm chắc chắn sẽ đặt ra những nhiệm vụ mới cho công tác thanh tra, kiểm tra. Đề án phê duyệt phát triển kinh tế ban đêm đã đặt ra mục tiêu cụ thể: “khai thác tiềm năng phát triển kinh tế ban đêm, tận dụng tối đa cơ hội phát triển kinh tế mới, nâng cao thu nhập và đời sống của người dân, đồng thời hạn chế những rủi ro, tác động tiêu cực đối với công tác bảo đảm an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội”. Với quan điểm về “mục tiêu kép” trong Đề án nêu trên, công tác thanh tra, kiểm tra rất cần có những điều chỉnh phù hợp nhằm kiểm soát những bất cập, rủi ro đến từ lĩnh vực tương đối mới mẻ này.
2. Những thách thức từ phát triển kinh tế ban đêm
Theo Luật Thanh tra 2010, mục đích của hoạt động thanh tra là “nhằm phát hiện sơ hở trong cơ chế quản lý, chính sách, pháp luật để kiến nghị với cơ quan nhà nước có thẩm quyền biện pháp khắc phục; phòng ngừa, phát hiện và xử lý hành vi vi phạm pháp luật; giúp cơ quan, tổ chức, cá nhân thực hiện đúng quy định của pháp luật; phát huy nhân tố tích cực; góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động quản lý nhà nước; bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân.” Do vậy, để phân tích những nhiệm vụ đặt ra cho ngành Thanh tra trong bối cảnh phát triển kinh tế ban đêm thì trước tiên cần phải làm rõ những thách thức đặt ra cho quản lý nhà nước từ hoạt động kinh tế này.
Thứ nhất, kinh tế ban đêm sẽ làm vấn đề ô nhiễm môi trường trở nên nghiêm trọng hơn. Như đã đề cập, theo cách hiểu truyền thống, hoạt động của một thành phố sẽ chủ yếu diễn ra vào ban ngày, giảm cường độ dần vào buổi tối và đa số sẽ chấm dứt sau 12 giờ. Khi đó, buổi đêm với số lượng hoạt động ít, cùng với lưu lượng giao thông thưa thớt, được xem là “quãng nghỉ” cần thiết để giảm các tác động tiêu cực đối với môi trường đô thị. Nhưng mục tiêu phát triển thành phố theo mô hình “thành phố không ngủ” sẽ gây khó khăn cho việc kiểm soát ô nhiễm.
Thứ hai, phát triển kinh tế ban đêm sẽ tạo môi trường thuận lợi làm gia tăng các loại tội phạm và kéo theo những tệ nạn xã hội như: cờ bạc, mại dâm, ma túy…gây khó khăn cho công tác quản lý. Khi chưa có chủ trương về kinh tế ban đêm, tệ nạn xã hội và các hành vi vi phạm pháp luật vốn đã tồn tại và gây ra những bất cập ở nhiều thành phố lớn như Hà Nội, Hải Phòng, Thành phố Hồ Chí Minh từ trước tới nay. Theo quy định hiện hành, các cơ sở kinh doanh dịch vụ karaoke, vũ trường, bar vốn là điểm “nóng” đối với quản lý nhà nước phải đóng cửa sau 12 giờ đêm [4]. Hợp thức hóa kinh tế ban đêm vô tình sẽ tạo cơ hội cho các cơ sở này được tiếp tục mở cửa và hoạt động hợp pháp sau thời gian trên, khiến tình hình tội phạm và các tệ nạn xã hội dự báo sẽ có những diễn biến phức tạp hơn.
Thứ ba, để phục vụ các hoạt động giải trí, văn hóa hướng tới tạo ra trải nghiệm tốt nhất cho khách hàng, kinh tế ban đêm chắc chắn sẽ gây ra bất cập lớn về tiếng ồn. Đối tượng bị ảnh hưởng nhiều nhất chính là người dân sống trong các khu vực trung tâm, nơi có nhiều dịch vụ, hàng quán, tụ điểm vui chơi, giải trí. Tiếng ồn kéo dài thông đêm gây ra bất cập lớn đối với sức khỏe cộng đồng, bao gồm cả sức khỏe thể chất và sức khỏe tinh thần, đặc biệt đối với đối tượng là người già, trẻ nhỏ. Đối với người trong độ tuổi lao động, giấc ngủ buổi đêm bị ảnh hưởng cũng gián tiếp làm giảm năng suất lao động của ngày hôm sau.
Ngoài những vấn đề lớn nêu trên, kinh tế ban đêm dự báo sẽ còn tiềm ẩn những nguy cơ về an ninh trật tự, an toàn giao thông, phòng cháy, chữa cháy, vệ sinh an toàn thực phẩm, rác thải đô thị…Chính quyền địa phương và các cơ quan chức năng sẽ cần phải nhận diện rõ ràng, đầy đủ, toàn diện tất cả những rủi ro trước khi hiện thực hóa chủ trương phát triển kinh tế ban đêm tại địa phương mình.
3. Định hướng và giải pháp cho quản lý nhà nước và công tác thanh tra trong bối cảnh phát triển kinh tế ban đêm
Có thể nhận định rằng kinh tế ban đêm xuất hiện và tồn tại như một hiện thực khách quan, xuất phát từ nhu cầu thực tế của người dân (đặc biệt là du khách quốc tế, giới trẻ) và dòng chảy tất yếu của thị trường trong bối cảnh hội nhập quốc tế. Theo TS. Trần Thị Thu Hương, kinh tế ban đêm có khả năng mang lại lợi ích lớn về văn hóa, xã hội và kinh tế; đồng thời cũng tiềm ẩn rủi ro, thách thức về vấn đề trật tự an ninh xã hội cho các thành phố. Tuy nhiên, thay vì chỉ quan ngại và đưa ra các giải pháp nhằm xử lý rủi ro, thách thức từ kinh tế ban đêm, Nhà nước có thể chủ động phát triển kinh tế ban đêm thông qua các kế hoạch, chính sách và đặc biệt sử dụng tốt công cụ quy hoạch phù hợp, gắn kết được sự tham gia tích cực của khu vực tư nhân và cộng đồng. Du lịch Việt Nam sau quá trình bị gián đoạn bởi dịch bệnh Covid-19 rất cần những động lực thúc đẩy mạnh mẽ từ chính sách. Trong bối cảnh đó, kinh tế ban đêm sẽ là mô hình đang và tiếp tục được quan tâm, triển khai áp dụng ở nhiều địa phương trên cả nước trong thời gian tới.
Ở khía cạnh quản lý nhà nước, Quyết định số 1129/QĐ-TTg thể hiện quan điểm và quyết tâm chính trị của Nhà nước Việt Nam đối với phát triển kinh tế ban đêm, theo đó bộ máy quản lý nhà nước cần “hướng tới tư duy mở hơn, nhìn nhận và đánh giá đủ đa chiều về vai trò, cơ hội và rủi ro của kinh tế ban đêm. Phát triển kinh tế ban đêm nhất thiết phải vượt qua được rào cản tư duy “không quản được thì cấm” trong các cơ quan quản lý nhà nước. Nhìn nhận đầy đủ, song không e ngại quá mức vào rủi ro bất ổn an ninh trật tự để bỏ qua các cơ hội để phát triển kinh tế ban đêm. cần nhìn nhận kinh tế ban đêm nếu được quản lý tốt sẽ có những đóng góp quan trọng vào tăng trưởng kinh tế, khai thác tiềm năng các hoạt động du lịch, dịch vụ, mua sắm, quảng bá văn hóa và nền ẩm thực Việt Nam ra thế giới.” Nhằm chủ động trong công tác dự báo những nguy cơ, rủi ro từ kinh tế ban đêm và giải quyết các vấn đề có thể phát sinh từ mô hình kinh tế mới này, một số định hướng đặt ra đối quản lý nhà nước nói chung và công tác thanh tra nói riêng như sau:
Thứ nhất, đối với quản lý nhà nước:
Một là, về thể chế, chính sách, cần khẩn trương rà soát, hoàn thiện chính sách và tạo hành lang pháp lý thống nhất cho việc phát triển kinh tế ban đêm. Những vấn đề mới phát sinh của nền kinh tế này chưa được pháp luật hiện hành điều chỉnh có thể kể đến: quy định về loại hình kinh doanh; khu vực kinh doanh; khu vực hạn chế; khung thời gian hoạt động; giấy phép hoạt động; lĩnh vực hoạt động; chính sách về giao thông…Sau hơn hai năm kể từ khi Quyết định số 1129/QĐ-TTg được ban hành, đã đến lúc các cơ quan nhà nước cần bắt tay vào việc thể chế hóa quan điểm, chủ trương của Quyết định này bằng các văn bản quy phạm pháp luật nhằm điều chỉnh kịp thời các vấn đề cụ thể của nền kinh tế ban đêm.
Hai là, về công tác quy hoạch, cần nghiên cứu để thiết kế các phương án quy hoạch, bảo đảm tính đồng bộ, khả thi của quy hoạch, qua đó tạo cơ sở nền tảng để triển khai phát triển kinh tế ban đêm. Chính quyền các địa phương có nhu cầu phát triển kinh tế ban đêm cần lồng ghép nội dung này vào quy hoạch tỉnh; Nếu các địa phương gần nhau cùng có nhu cầu thì nghiên cứu để lồng ghép vào quy hoạch phát triển vùng. Trong quá trình xây dựng quy hoạch, các cơ quan tham mưu cần xác định cụ thể khu vực, địa bàn, tuyến dự kiến sẽ tập trung phát triển kinh tế ban đêm. Bên cạnh quy hoạch theo lãnh thổ, các Bộ quản lý những lĩnh vực có liên quan như: Bộ Kế hoạch – Đầu tư, Bộ Công an, Bộ Văn hóa, Thể thao, Du lịch…cũng cần nghiên cứu để lồng ghép nội dung kinh tế ban đêm trong quy hoạch ngành mình. Trong tương lai gần, quy hoạch để phát triển kinh tế ban đêm cũng cần được xem xét để đưa vào Quy hoạch tổng thể quốc gia thời kỳ 2021 – 2030, tầm nhìn đến năm 2050.
Ba là, về tổ chức bộ máy, cần phân định rõ trách nhiệm và thẩm quyền giữa các cơ quan quản lý nhà nước trong quản lý hoạt động kinh tế ban đêm, trên cơ sở tăng cường phân cấp, phân quyền cho địa phương trong việc quản lý và phát triển kinh tế ban đêm; đồng thời nghiên cứu, chủ động bố trí phương án nhân lực, vật lực, tài lực phục vụ cho quản lý nhà nước đối với kinh tế ban đêm.
Thứ hai, đối với công tác thanh tra:
Một là, phát triển kinh tế ban đêm dự báo sẽ làm xuất hiện những vấn đề mới trong quản lý nhà nước. Do vậy, công tác lập kế hoạch thanh tra phải có những điều chỉnh phù hợp, đặc biệt về tần suất, số lượng tiến hành các cuộc thanh tra, kiểm tra. Đối với các loại hình hoạt động xuyên suốt, liên tục, không ngừng nghỉ trong nền kinh tế đêm thì cần xem xét áp dụng hình thức kiểm tra thường xuyên nhằm kịp thời phát hiện, xử lý, chấn chỉnh những sai phạm có thể xảy ra của các đối tượng quản lý.
Hai là, nghiên cứu xây dựng quy chế phối hợp thanh tra, kiểm tra liên ngành đáp ứng các yêu cầu của quản lý nhà nước. Kinh tế ban đêm là lĩnh vực mang tính chất tổng hợp đa ngành, đa lĩnh vực. Do vậy, các cuộc thanh tra, kiểm tra áp dụng đối với các tổ chức, cá nhân trong mô hình kinh tế đêm nên được thiết kế theo hướng liên ngành, nhằm phát huy hiệu lực, hiệu quả. Việc đẩy mạnh thanh tra, kiểm tra liên ngành đồng thời sẽ giảm thiểu nguy cơ chồng chéo thẩm quyền của các đoàn thanh, kiểm tra, tạo áp lực không cần thiết cho đối tượng quản lý và tiềm ẩn nguy cơ tiêu cực, tham nhũng.
Ba là, các cơ quan, tổ chức, đơn vị trong bộ máy thanh tra nhà nước, đặc biệt tại các địa phương dự kiến thí điểm triển khai hoạt động kinh tế ban đêm cần nghiên cứu để xây dựng phương án bố trí nhân sự, bảo đảm cho việc thực thi nhiệm vụ xuyên suốt vào ban đêm. Nhiệm vụ này đặc biệt quan trọng đối với các lĩnh vực thanh tra, kiểm tra chuyên ngành dự báo khối lượng công việc sẽ tăng đột biến khi mô hình kinh tế đêm được hiện thực hóa như: vệ sinh môi trường; vệ sinh an toàn thực phẩm; phòng chống cháy nổ; an toàn giao thông…
Bốn là, ngay ở thời điểm hiện tại, cần tiếp tục rà soát, tăng cường thanh tra, kiểm tra các loại hình kinh doanh dịch vụ đang là điểm nóng trong công tác quản lý nhà nước như dịch vụ karaoke, vũ trường, quán bar. Phát triển kinh tế ban đêm nhằm mục tiêu khai thác tốt hơn tiềm năng về du lịch, dịch vụ, mua sắm, nhưng đồng thời cũng hướng tới việc quảng bá nền văn hóa Việt Nam. Để làm được điều đó, các cơ quan chức năng cần tăng cường giám sát, thanh tra, kiểm tra, giải quyết triệt để những bất cập đang tồn tại ở các cơ sở kinh doanh dịch vụ karaoke, vũ trường, quán bar, “lành mạnh hóa” thị trường kinh tế về đêm, từ đó tạo môi trường thuận lợi cho chiến lược xây dựng hình ảnh các thành phố về đêm sôi động, trẻ trung nhưng giàu văn hóa và đậm đà bản sắc dân tộc./.
————-
Ghi chú:
[1] Quyết định số 1129/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 27/7/2020 phê duyệt Đề án phát triển kinh tế ban đêm ở Việt Nam không đưa ra định nghĩa khái niệm “kinh tế ban đêm”. Tuy nhiên, nội dung Quyết định có quy định “Kinh tế ban đêm không phải là một bộ phận tách rời của nền kinh tế. Trước mắt, phát triển kinh tế ban đêm nhằm thúc đẩy tiêu dùng trong nước và phát triển du lịch, thông qua tập trung phát triển lĩnh vực dịch vụ văn hóa, vui chơi, giải trí, dịch vụ ăn uống, dịch vụ mua sắm và du lịch diễn ra từ 06 giờ tối hôm trước đến 06 giờ sáng hôm sau”.
[2] Tỷ lệ đóng góp trực tiếp của du lịch vào GDP cũng ngày càng tăng. Năm 2015 đạt 6,3%; năm 2016: 6,9%; năm 2017: 7,9%; năm 2018: 8,3% và năm 2019: 9,2%. Nguồn: Tổng cục Du lịch.
[3] Ông John Lindquist, cố vấn cấp cao BCG, thành viên Hội đồng cơ quan du lịch Vương quốc Anh cho biết: “Năm 2017, Việt Nam thu về 8,3 tỷ USD từ khách quốc tế, nhưng số này ở Indonesia là 12,6 tỷ USD; Singapore là 18,4 tỷ USD, Thái Lan là 52,5 tỷ USD”. Cố vấn cấp cao BCG cũng so sánh, khách quốc tế lưu lại Việt Nam và Thái Lan cùng khoảng thời gian hơn 9 ngày nhưng chỉ tiêu 96 USD mỗi ngày ở Việt Nam, còn ở Thái Lan là 163 USD. Khoảng cách về mức độ chi tiêu của du khách tại Việt Nam so với Thái Lan là không dễ để san lấp, dù du lịch Việt Nam hiện có tốc độ tăng trưởng hàng đầu khu vực. Lý giải điều này, theo các chuyên gia, một trong những nguyên nhân quan trọng là nền kinh tế đêm của Thái Lan đang bỏ cách khá xa Việt Nam. Người phương Tây ví Bangkok là thành phố không bao giờ ngơi nghỉ vì các hoạt động vui chơi giải trí diễn ra suốt ngày đêm ở đây. Theo số liệu thống kê năm 2018 của Master Card, Bangkok tiếp tục dẫn đầu danh sách những thành phố có lượng khách du lịch hằng năm lớn nhất thế giới. Trung bình, du khách tại Bangkok có thời gian lưu trú là 4,7 đêm và chi tiêu mỗi ngày khoảng 173USD. Nguồn: https://www.annhome.vn/kinh-te-dem-night-time-economy-nhung-dieu-phai-biet/.
[4] Khoản 9 Điều 27 Quy chế hoạt động văn hóa và kinh doanh dịch vụ văn hóa công cộng (ban hành kèm theo Nghị định số 103/2009/NĐ-CP ngày 06/11/2009 của Chính phủ) quy định vũ trường không được hoạt động sau 12 giờ đêm đến 8 giờ sáng; Khoản 7 Điều 32 Quy chế hoạt động văn hóa và kinh doanh dịch vụ văn hóa công cộng (ban hành kèm theo Nghị định số 103/2009/NĐ-CP ngày 06/11/2009 của Chính phủ) quy định kinh doanh karaoke không được hoạt động sau 12 giờ đêm đến 8 giờ sáng.
[5] Ý kiến trình bày tại Hội thảo khoa học “Kinh nghiệm quốc tế về phát triển kinh tế ban đêm và hàm ý chính sách đối với Việt Nam” do Viện Nghiên cứu lập pháp tổ chức. Link: https://quochoi.vn/tintuc/pages/tin-hoat-dong-cua-quoc-hoi.aspx?ItemID=61488
Đinh Lương Minh Anh
Giảng viên, Khoa Pháp luật Hành chính
Đại học Nội vụ Hà Nội

