Ngày 27/2, tại trụ sở Thanh tra Chính phủ, Phó Tổng Thanh tra Chính phủ Đặng Công Huẩn đã chủ trì buổi công bố Quyết định thanh tra việc chấp hành quy định pháp luật trong cổ phần hóa và thoái vốn nhà nước tại Tổng Công ty Đầu tư Phát triển DIC.

Thực hiện chỉ đạo của Phó Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Khái tại Văn bản số 341, ngày 3/2/2023 của Văn phòng Chính phủ; Thanh tra Chính phủ ban hành Quyết định số 38/QĐ-TTCP về việc bổ sung kế hoạch thanh tra năm 2023, trong đó có việc thanh tra chấp hành quy định pháp luật trong cổ phần hóa và thoái vốn nhà nước tại Tổng Công ty Đầu tư Phát triển DIC.
Theo Quyết định số 49/QĐ- TTCP, Đoàn Thanh tra gồm 9 thành viên do ông Nguyễn Đức Hương, Phó Cục trưởng Cục giải quyết khiếu nại, tố cáo khu vực III (Cục III) làm Trưởng đoàn có trách nhiệm thanh tra việc chấp hành các quy định của pháp luật đối với các tổ chức, cá nhân liên quan trong cổ phần hóa và thoái vốn nhà nước tại Tổng Công ty Đầu tư phát triển DIC.
Thời hạn thanh tra là 30 ngày làm việc (không kể ngày nghỉ, ngày lễ) kể từ ngày công bố quyết định thanh tra. Đoàn thanh tra có nhiệm vụ tiến hành thanh tra theo nội dung quy định và kế hoạch thanh tra được Tổng TTCP phê duyệt.

Phát biểu tại buổi công bố quyết định thanh tra, Phó Tổng TTCP Đặng Công Huẩn cho biết, đây là cuộc thanh tra thực hiện theo chỉ đạo của Phó Thủ tướng Chính phủ. Phó Tổng Thanh tra Đặng Công Huẩn yêu cầu đoàn thanh tra trong quá trình thực hiện phải bảo đảm đúng quy định của pháp luật, phân công cán bộ hợp lý, tránh làm ảnh hướng đến hoạt động bình thường của đơn vị; làm việc một cách minh bạch, công khai, thực hiện nghiêm túc các nội dung được phê duyệt, đảm bảo đúng thời gian và nguyên tắc, tổ chức hoạt động đoàn thanh tra.
Phó Tổng Thanh tra Chính phủ Đặng Công Huẩn đề nghị Bộ Xây dựng, Bộ Tài chính, Ủy ban quản lý vốn cùng các đơn vị liên quan cung cấp hồ sơ, tài liệu, đồng thời, cử cán bộ làm đầu mối, phối hợp làm việc với Đoàn Thanh tra, tạo điều kiện thuận lợi giúp đoàn làm việc hiệu quả và hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao.
Đại diện Bộ Xây dựng, Bộ Tài chính, Ủy ban Quản lý vốn Nhà nước nhất trí với quyết định của TTCP. Đồng thời cho biết, sẵn sàng cung cấp hồ sơ, tài liệu cần thiết cho Đoàn Thanh tra và cử cán bộ phối hợp làm việc với Đoàn bảo đảm theo đúng quy định.
PV
(Nguồn: TTT – Thanh tra Chính phủ)
Thanh tra Bộ Công an vừa công bố quyết định thanh tra việc chấp hành các quy định pháp luật về bảo vệ bí mật Nhà nước (BMNN) và an ninh mạng (ANM) đối với Bộ Tài chính. Trung tướng Trần Đức Tuấn, Chánh Thanh tra Bộ Công an chủ trì buổi công bố quyết định thanh tra.

Quyết định nêu rõ, Thanh tra Bộ Công an sẽ tiến hành thanh tra việc chấp hành các quy định pháp luật về bảo vệ BMNN và ANM đối với Bộ Tài chính và 13 đơn vị trực thuộc gồm: Văn phòng Bộ Tài chính; Cục Tin học và Thống kê Tài chính; Cục Tài chính doanh nghiệp; Cục Quản lý nợ và Tài chính đối ngoại; Vụ Ngân sách nhà nước; Vụ Đầu tư; Vụ Tài chính quốc phòng, an ninh, đặc biệt (Vụ I); Vụ Tổ chức cán bộ; Thanh tra Bộ Tài chính; Tổng cục Thuế; Tổng cục Hải quan; Tổng cục Dự trữ Nhà nước và Ủy ban Chứng khoán Nhà nước.
Thời gian thanh tra từ ngày 1/1/2020 đến thời điểm thanh tra; thời hạn thanh tra là 45 ngày làm việc, kể từ ngày công bố Quyết định thanh tra.
Thiếu tướng Nguyễn Xuân Hồng, Phó Chánh Thanh tra Bộ Công an, Trưởng đoàn Thanh tra đã nêu rõ các nhiệm vụ, quyền hạn của trưởng đoàn thanh tra, thành viên đoàn thanh tra, quyền và nghĩa vụ của đối tượng thanh tra; đồng thời thông qua nội dung, phương pháp làm việc của đoàn thanh tra.
Cuộc thanh tra này nhằm đánh giá toàn diện, đầy đủ thực trạng công tác bảo vệ BMNN và ANM tại Bộ Tài chính, từ đó đưa ra những giải pháp để khắc phục hạn chế, giúp thực hiện tốt nhiệm vụ quản lý Nhà nước của mình.
Thứ trưởng Bộ Tài chính Nguyễn Đức Chi cho biết, khi nhận được chương trình làm việc, quyết định, đề cương… lãnh đạo Bộ Tài chính đã thống nhất, chỉ đạo xây dựng báo cáo và chỉ đạo thủ trưởng các đơn vị được thanh tra nghiêm túc thực hiện quyết định, bố trí cán bộ làm việc, chuẩn bị hồ sơ, tài liệu để phục vụ đoàn thanh tra.
Bộ Tài chính cũng cho rằng việc bảo vệ BMNN và ANM tại Bộ Tài chính là cuộc thanh tra cùng quan trọng, có ý nghĩa, tác dụng với Bộ Tài chính, giúp nhìn nhận lại việc chấp hành pháp luật về BMNN và ANM. Thông qua công tác thanh tra, Bộ Tài chính sẽ khắc phục những hạn chế, bất cập, kiến nghị những khó khăn, vướng mắc trong quá trình thực hiện đối với đoàn thanh tra nhằm thực hiện tốt hơn trong thời gian tới, Thứ trưởng Nguyễn Đức Chi nhấn mạnh.
Thanh Thanh
(Nguồn: Thanhtra.com.vn)
Chiều 27/2, Thanh tra Chính phủ công bố kết luận thanh tra Công ty Cổ phần Thể dục Thể thao Việt Nam (Vinasport ) trực thuộc Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch. Phó Tổng Thanh tra Trần Văn Minh chủ trì buổi công bố. Thứ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch Đoàn Văn Việt tham dự.

Tại buổi công bố, Phó Vụ trưởng Vụ 3, Thanh tra Chính phủ, Trưởng đoàn Thanh tra ông Nguyễn Hữu Nhường đã đọc toàn văn Kết luận thanh tra số 27/KL-TTCP ngày 13/2/2023 về việc chấp hành các quy định của pháp luật tại Vinasport theo nội dung chỉ đạo của Phó Thủ tướng Lê Minh Khái tại Văn bản số 2613/VPCP-V.I ngày 10/9/2021 của Văn phòng Chính phủ.
Kết luận đã chỉ ra những mặt đạt được cũng như những tồn tại hạn chế, sai phạm tại Vinasport trong việc sử dụng vốn Nhà nước, chấp hành quy định của pháp luật tại Vinasport từ khi cổ phần hóa đến nay.
Đồng thời, kiến nghị Thủ tướng chỉ đạo Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch kiểm điểm làm rõ trách nhiệm của tập thể lãnh đạo bộ qua từng thời kỳ (giai đoạn từ năm 2007 đến năm 2021) về những tồn tại, thiếu sót, khuyết điểm, sai phạm trong việc quản lý, sử dụng vốn, tài sản Nhà nước, việc chấp hành các quy định của pháp luật tại Vinasport.

Kiểm điểm làm rõ trách nhiệm, xử lý thay thế, kiện toàn người đại diện phần vốn Nhà nước tại Vinasport.
Tổng cục Thể dục Thể thao kiểm điểm nghiêm túc đối với tập thể, cá nhân (thuộc Ủy ban Thể dục Thể thao Việt Nam trước đây) đã để xảy ra tồn tại, thiếu sót, khuyết điểm, sai phạm.
Chỉ đạo Vinasort nộp số tiền cổ tức hằng năm là hơn 2 tỷ đồng và số tiền bán cổ phần thu được về ngân sách Nhà nước.
Đặc biệt, Thanh tra Chính phủ chuyển thông tin đến Bộ Công an để tiếp tục điều tra và thu hồi những khoản tiền thất thoát liên quan tới việc xuất đạn cho Trung tâm Huấn luyện thể dục, thể thao Vĩnh Phúc trái pháp luật, xuất khống không có hợp đồng, không có khả năng thu hồi gây thất thoát số tiền 1,4 tỷ đồng của Vinasport; trả trước số tiền 150.000 EURO cho Hãng ASIA khi chưa có kết quả trúng thầu, không có khả năng thu hồi làm mất vốn của Vinasport.
Thanh tra Chính phủ cũng chuyển đến Bộ Công an để tiếp tục điều tra làm rõ một số nội dung liên quan đến các khoản công nợ phải thu như: Các khoản huy động vốn tại Xí nghiệp Sản xuất dụng cụ thể dục, thể thao giai đoạn 2008-2010; khoản chi tiền cho Công ty Nam Đô số tiền 1 tỷ đồng mà không có khả năng thu hồi; các thông tin liên quan đến hợp đồng cho thuê mặt bằng, nhà xưởng trái quy định đối với hợp đồng với Công ty HBI.
Ngoài ra, còn chuyển thông tin việc phá dỡ tài sản là nhà xưởng tại 181 Nguyễn Huy Tưởng để hợp tác đầu tư nhưng không được thực hiện gây thiệt hại tài sản Nhà nước gần 7,5 tỷ đồng và việc mua bán phôi thép với Công ty TNHH An Việt Úc không có khả năng thu hồi, làm mất vốn với số tiền gần 5,9 tỷ đồng đến Bộ Công an để tiếp tục điều tra làm rõ.
Kết luận thanh tra đã được Phó Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Khái cho ý kiến chỉ đạo tại Văn bản số 442/VPCP-V.I và yêu cầu Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Vinasport, các đơn vị, cá nhân liên quan thực hiện đầy đủ các nội dung đã nêu.

Tại buổi công bố, Thứ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch Đoàn Văn Việt thống nhất với nội dung kết luận thanh tra đã chỉ ra.
Trên cơ sở những tồn tại, hạn chế, vi phạm mà kết luận chỉ ra, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch sẽ triển khai nghiêm túc thực hiện những kiến nghị, xử lý sau thanh tra, cũng như chỉ đạo các đơn vị nghiêm túc xây dựng kế hoạch thực hiện kết luận của Thanh tra Chính phủ một cách cụ thể, nghiêm túc.
Phó Tổng Thanh tra Trần Văn Minh nhấn mạnh: Việc công bố kết luận thanh tra thực hiện theo quy định của pháp luật.
Phó Tổng Thanh tra yêu cầu trong quá trình triển khai thực hiện kết luận thanh tra, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch phải thành lập tổ công tác tham mưu cho bộ trưởng triển khai thực hiện; đồng thời, sau cuộc công bố kết luận thanh tra, đề nghị bộ ban hành kế hoạch thực hiện kết luận thanh tra, giao nhiệm vụ cụ thể cho từng đơn vị, cá nhân để triển khai từng nội dung kết luận như: tiến hành kiểm điểm như thế nào, khắc phục hậu quả ra sao… Tập trung thực hiện nghiệm túc kết luận thanh tra.
Phó Tổng Thanh tra giao Vụ Giám sát Thẩm định và Xử lý sau thanh tra giám sát việc thực hiện kết luận thanh tra. Trong quá trình khai thực hiện kết luận thanh tra, nếu có vướng mắc, bộ trao đổi với Vụ Giám sát Thẩm định và Xử lý sau thanh tra để tổ chức thực hiện kết luận thanh tra được nhanh và đạt kết quả tốt.
Hải – Hiếu
(Nguồn: Báo Thanhtra.com.vn)
Sáng 28/02, Trường Cán bộ Thanh tra tổ chức Lễ Khai giảng lớp Nghiệp vụ thanh tra viên K02/2023 cho 106 học viên theo hình thức trực tuyến. Ông Vũ Văn Chiến, TTVCC, Hiệu trưởng Trường Cán bộ Thanh tra dự và phát biểu khai giảng khóa học.

Tham gia Khóa học có 106 học viên, khóa học sẽ diễn ra trong hơn một tháng “hình thức học trực tuyến”. Trong đó, các học viên sẽ được nghiên cứu gồm nhiều chuyên đề liên quan đến kiến thức chung về công chức, công vụ như: Quan điểm của Đảng, Nhà nước và Chủ tịch Hồ Chí Minh về công tác thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và phòng, chống tham nhũng; Khái quát chung về công tác thanh tra; Nội dung cơ bản của pháp luật Thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo, phòng chống tham nhũng, tiếp công dân; Nội dung cơ bản của pháp luật Tố tụng hành chính; Thực hiện pháp luật và áp dụng pháp luật; Đạo đức công vụ của cán bộ, công chức thanh tra; Nội dung cơ bản của pháp luật Hình sự và tố tụng hình sự; Chứng cứ trong hoạt động thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo; Tâm lý trong hoạt động thanh tra, tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo…

Phát biểu Lễ khai giảng khóa học trực tuyến, TTVCC. Vũ Văn Chiến, Hiệu trưởng Nhà trường đã nhiệt liệt chào mừng các học viên tham dự khóa học, đồng thời nhấn mạnh “ Đây là Khóa bồi dưỡng nghiệp vụ TTV thứ 3 mà Trường Cán bộ Thanh tra tổ chức đào tạo và đưa vào giảng dậy khung chương trình đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ TTV hoàn toàn mới được Tổng Thanh tra phê duyệt năm 2022”.
Trong đó chương trình, tài liệu, giáo trình đào tạo, bồi dưỡng đã được được đổi mới theo hướng tích cực. Đặc biệt, khung chương trình đào tạo, bồi dưỡng mới sẽ tập trung vào nội dung bồi dưỡng kỹ năng làm việc và kinh nghiệm thực tiễn về thanh tra, tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo và phòng, chống tham nhũng… Từ đó góp phần giúp học viên mới vào ngành thanh tra tháo gỡ một số vướng mắc, khóa khăn trong quá trình thực thi công vụ. Qua đó hoàn thiện, nâng cao năng lực trình độ cho đội ngũ cán bộ nòng cốt của đơn vị và đáp ứng yêu cầu thực hiện Chiến lược phát triển ngành Thanh tra trong thời gian tới.

Để đảm bảo chất lượng của khóa học trực tuyến này, ông Vũ Văn Chiến, Hiệu trưởng Nhà trường cũng yêu cầu các học viên khắc phục những khó khăn về thời gian, bố trí công việc một cách khoa học, hợp lý để tham dự các buổi học đầy đủ, nghiêm túc, chấp hành nội quy, quy chế của Nhà trường. Đồng thời, các học viên cần tăng cường trao đổi, thảo luận, tương tác với giảng viên và tích cực tự nghiên cứu để nâng cao chất lượng của khóa học. Hiệu trưởng Nhà trường cũng gửi lời cám ơn sâu sắc đến Lãnh đạo các Bộ ngành và địa phương đã tạo điều kiện để các học viên tham gia khoá học này.

Ngay sau Lễ Khai giảng, TS. Nguyễn Huy Hoàng, GVCC – Phó Hiệu trưởng Nhà trường đã trực tiếp giảng dạy chuyên đề: “Quan điểm của Đảng, Nhà nước và Chủ tịch Hồ Chí Minh về công tác thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và phòng chống tham nhũng” đầu tiên với lớp TTV Khóa 02 hình thức trực tuyến này./.
Văn Hùng
Tham gia buổi tiếp công dân có Trưởng Ban Tiếp công dân Trung ương Nguyễn Hồng Điệp; đại diện Cục Thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo khu vực 1 (Cục 1). Về phía TP Hải Phòng có ông Nguyễn Văn Tùng – Chủ tịch UBND thành phố Hải Phòng cùng lãnh đạo các sở, ban, ngành và địa phương có liên quan.
Tại buổi tiếp, đại diện các công dân đã nêu các kiến nghị tập trung nội dung chủ yếu là: Đề nghị các cơ quan có thẩm quyền tính toán hỗ trợ lại giá căn hộ tại nơi ở mới, do giá cao dẫn đến số tiền chênh lệch mà các hộ dân phải nộp cao. Đề nghị điều chỉnh lại giá thuê nhà thuộc sở hữu nhà nước tại các chung cư mới, do giá thuê hiện nay còn cao. Đồng thời, các công dân cũng đề nghị giữ nguyên phần diện tích đã được thanh lý tại chung cư cũ, chỉ thuê nhà phần diện tích chênh lệch. Đề nghị các cơ quan có thẩm quyền cho phép các hộ dân được trả dần tiền mua nhà, do giá mua nhà còn cao. Đề nghị tính toán lại tiền bồi thường, hỗ trợ bổ sung do việc tính toán còn thấp. Đề nghị tính toán bổ sung cho các hộ dân đối với phần đất lấn chiếm khuôn viên, các hộ tự cơi nới, tự cải tạo trước năm 1993 vào phương án bồi thường, hỗ trợ bổ sung. Đối với việc mua, bán căn hộ chung cư mới, đối với người mua căn hộ chung cư mới được bố trí cho hộ có Quyết định thanh lý, người bán nói chỉ về ở, không phải đóng góp thêm gì, đề nghị các cơ quan nhà nước xem xét, chấp thuận không phải đóng góp thêm chi phí để sở hữu căn hộ chung cư mới.
Tại buổi tiếp, ông Nguyễn Văn Tùng – Chủ tịch UBND thành phố Hải Phòng khẳng định: Việc tính toán giá bán nhà, thuê nhà và phương án bồi thường, hỗ trợ được các sở, ngành Thành phố tiến hành cẩn thận, kỹ lưỡng, đảm bảo tính đúng, tính đủ theo đúng quy định của pháp luật. Đối với một số khu chung cư, giá bán và giá thuê nhà bị đội lên do chi phí giải phóng mặt bằng cao. Hiện nay, UBND Thành phố đang xem xét phương án hỗ trợ đối với các hộ có nhu cầu thuê nhà tại các chung cư mới, trình HĐND Thành phố ban hành chính sách. Trong đó, Thành phố sẽ cân nhắc mức hỗ trợ đối với từng chung cư, bảo đảm bình đẳng, không cào bằng.
Về các kiến nghị hỗ trợ với phần diện tích lấn chiếm không có trong quy định của pháp luật, nên Thành phố không xem xét. Đề nghị của các hộ dân có nhu cầu mua nhà trả góp sẽ được Thành phố nghiên cứu phương án khả thi. Đối với một số kiến nghị bổ sung của các hộ dân tại cuộc làm việc, Chủ tịch UBND Thành phố yêu cầu Sở Xây dựng và Công ty TNHH MTV Quản lý và Kinh doanh nhà Hải Phòng khẩn trương rà soát thực hiện việc bàn giao đưa vào sử dụng khu vực nhà sinh hoạt cộng đồng tại chung cư N1 – N2 Lê Lợi; xem xét phương án tạo điều kiện cho 14 hộ thuê ki ốt tại khu tập thể Đồng Quốc Bình được thuê lại tại khu vực mới ở tòa chung cư HH3 – HH4…

Phát biểu kết luận, Phó Tổng Thanh tra Chính phủ Trần Ngọc Liêm cơ bản thống nhất với nội dung trả lời của TP Hải Phòng đối với các nội dung kiến nghị của công dân. Vì vậy, đề nghị các hộ dân hợp tác cùng các sở, ngành, địa phương liên quan của TP Hải Phòng để thực hiện theo phương án đã được Thành phố chấp thuận. Đề nghị UBND TP Hải Phòng xem xét lập, phê duyệt điều chỉnh phương án bồi thường, hỗ trợ đối với các trường hợp hộ dân đã có quyết định thanh lý nhà tại chung cư cũ: U1, U2, U3 Lê Lợi và 14 chung cư cũ Đồng Quốc Bình (từ Đ1 đến Đ27) để bổ sung kinh phí bồi thường, hỗ trợ về nhà, đất tại căn hộ chung cư cũ theo quy định. Tính toán, xác định số tiền các hộ dân phải nộp bổ sung khi được bố trí về căn hộ chung cư mới.
“Thành phố cân nhắc các phương án, xem xét ban hành cơ chế hỗ trợ thêm cho các hộ dân trong điều kiện cho phép với mục tiêu nhất quán là tạo dựng chỗ ở mới cho người dân phải tốt hơn hoặc ít nhất bằng chỗ ở cũ” – Phó Tổng Thanh tra yêu cầu. Phó Tổng Thanh tra lưu ý, quá trình tính toán cần phải xin ý kiến của nhân dân, để tạo sự đồng thuận của nhân dân trong quá trình thực hiện. Đồng thời, xem xét điều chỉnh quyết định bố trí căn hộ tái định cư tại chung cư N1 – N2 Lê Lợi, phường Máy Tơ, quận Ngô Quyền để đưa ra khỏi danh mục các hộ dân không đủ điều kiện bố trí căn hộ tái định cư theo đúng quy định.
Đối với các kiến nghị phát sinh tiếp theo, Phó Tổng Thanh tra đề nghị các hộ dân tiếp tục tập hợp căn cứ, gửi UBND Thành phố xem xét theo quy định. Tiếp tục tuyên truyền, vận động, giải thích và hướng dẫn để các hộ dân đồng thuận lựa chọn các phương án đã được Thành phố chấp thuận, đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của nhân dân./.
(Nguồn: ThanhtraVietNam)
Chiều 24/02, Trường Cán bộ Thanh tra, đã tổ chức họp Hội đồng Thẩm định Thuyết minh đề tài khoa học do ThS. Lê Ngọc Thiều, Trưởng Khoa Nghiệp vụ Thanh tra làm chủ nhiệm đề tài cấp Trường năm 2023:”Xây dựng khung chương trình bồi dưỡng kỹ năng, nghiệp vụ giám sát hoạt động Đoàn Thanh tra”.

Hội đồng Thẩm định Thuyết minh gồm 05 thành viên: TS. Nguyễn Huy Hoàng, GVCC, Phó Hiệu trưởng Trường Cán bộ Thanh tra – Chủ tịch Hội đồng cùng các thành viên là lãnh đạo các Cục, Vụ, đơn vị thuộc Thanh tra Chính phủ.

Thay mặt nhóm nghiên cứu đề tài, chủ nhiệm đề tài Ths. Lê Ngọc Thiều đã trình bày thuyết minh, tính cấp thiết, tổng quan tình hình nghiên cứu và dự kiến các nội dung chính của đề tài. Sau khi nghe phần thuyết minh đề tài, các thành viên Hội đồng thẩm định đã nhận xét, đánh giá thuyết minh đề tài cơ bản đảm bảo yêu cầu về hình thức và các nội dung thể hiện tính cấp thiết trong việc xây dựng khung chương trình và đề cương chi tiết các chuyên đề của bộ tài liệu bồi dưỡng kỹ năng, nghiệp vụ giám sát hoạt động Đoàn thanh tra.

Trên cơ sở ý kiến nhận xét của các thành viên Hội đồng tham dự và Uỷ viên phản biện, TS. Nguyễn Huy Hoàng, GVCC, Phó Hiệu trưởng Trường Cán bộ Thanh tra– Chủ tịch Hội đồng Thẩm định phát biểu tại Hội đồng, hiện nay Trường Cán bộ Thanh tra ngoài nhiệm vụ bồi dưỡng theo tiêu chuẩn ngạch TTV, TTVC, TTVCC còn bồi dưỡng theo vị trí công việc để cập nhật kiến thức phục vụ công tác thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và phòng, chống tham nhũng…Vì vậy, để đáp ứng nhu cầu học tập và không ngừng nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng góp phần xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức làm nhiệm vụ thanh tra nói chung và giám sát hoạt động Đoàn thanh tra nói riêng có đủ bản lĩnh chính trị, kỹ năng, nghiệp vụ, xử lý tốt các tình huống trong hoạt động thanh tra.

Trong thời gian tới Trường Cán bộ Thanh tra đã định hướng đưa chương trình bồi dưỡng kỹ năng, nghiệp vụ giám sát hoạt động Đoàn thanh tra vào kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng nhằm đáp ứng nhu cầu thực tiễn đặt ra. Chính vì vậy đề tài nghiên cứu: “Xây dựng khung chương trình bồi dưỡng kỹ năng, nghiệp vụ giám sát hoạt động Đoàn thanh tra” là rất cần thiết, phù hợp với tình hình hiện nay.


Tại Hội đồng, sau khi xem xét, thảo luận, 05/05 thành viên Hội đồng đã nhất trí bỏ phiếu thông qua, cho thực hiện triển khai đề tài. Đồng thời Chủ tịch Hội đồng yêu cầu chủ nhiệm đề tài nghiên cứu cần nghiêm túc tiếp thu các ý kiến nhận xét, đóng góp của thành viên Hội đồng, kết luận của Chủ tịch Hội đồng để hoàn thiện bản thuyết minh, hoàn thiện hồ sơ thủ tục đề nghị Hiệu trưởng ra quyết định phê duyệt./.
Văn Hùng
Sáng 24/02, Trường Cán bộ Thanh tra, đã tổ chức họp Hội đồng Thẩm định Thuyết minh đề tài khoa học do ThS. Phạm Thị Hường, giảng viên, Khoa Nghiệp vụ II làm chủ nhiệm đề tài cấp Khoa năm 2023: “Xây dựng phương pháp thực hành cho các lớp Bồi dưỡng nghiệp vụ thanh tra”.

Hội đồng Thẩm định Thuyết minh gồm 04 thành viên: TS. Nguyễn Huy Hoàng, GVCC, Phó Hiệu trưởng – Chủ tịch Hội đồng cùng các thành viên là lãnh đạo các phòng, khoa, TT.

Thay mặt nhóm nghiên cứu đề tài, ThS. Phạm Thị Hường đã trình bày thuyết minh, tính cấp thiết, tổng quan tình hình nghiên cứu và dự kiến các nội dung chính của đề tài. Sau khi nghe phần thuyết minh đề tài, các thành viên Hội đồng thẩm định đã nhận xét, đánh giá thuyết minh đề tài cơ bản đảm bảo yêu cầu về hình thức và các nội dung thể hiện tính cấp thiết, cần nghiên cứu nhằm nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng đối với các lớp nghiệp vụ TTV, TTVC của Nhà trường.
Trên cơ sở ý kiến nhận xét của các thành viên Hội đồng tham dự, TS. Nguyễn Huy Hoàng, GVCC, Phó Hiệu trưởng – Chủ tịch Hội đồng Thẩm định nhấn mạnh, hiện nay khung chương trình và đề cương chi tiết các chuyên đề của bộ tài liệu đào tạo, bồi dưỡng kỹ năng nghiệp vụ đã được Tổng Thanh tra phê duyệt đưa vào giảng dậy. Do đó, chất lượng đào tạo, bồi dưỡng của Trường có tác động rất lớn đến nhận thức, tư tưởng và hiệu quả công tác của học viên trong ngành Thanh tra sau khi hoàn thành khóa học. Để hoạt động đào tạo, bồi dưỡng của Trường đạt chất lượng thì nhu cầu đặt ra từ công tác quản lý cho đến giảng dạy phải đảm bảo hiệu quả. Nhằm nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng đối với các lớp trong các hệ đào tạo, bồi dưỡng của Trường, trong đó có hệ đào tạo, bồi dưỡng đối với các lớp TTV, TTVC.

Trong những năm gần đây Nhà trường đã có những đổi mới tích cực trong phương pháp giảng dạy theo hướng giảm giờ lý thyết trên lớp, tăng giờ thảo luận, thực hành tăng kỹ năng nghề nghiệp, xử lý các tình huống trên thực tế. Qua đó, đáp ứng nhu cầu học tập, nghiên cứu của công chức ngành thanh tra khi tham gia các khóa đào tạo, bồi dưỡng tại trường. Các học viên được tăng cường giờ thực hành để xử lý các tình huống thực tiễn trong công tác như Thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và phòng chống tham nhũng.
Tuy nhiên, việc thực hành đang ở giai đoạn mới đưa vào thực hiện ở một số lớp trong hệ đào tạo, bồi dưỡng TTV, TTVC nên phương pháp tổ chức thực hành còn nhiều khó khăn, lúng túng. Do đó, yêu cầu đặt ra trong thời gian tới đó là phải cần có phương pháp tổ chức thực hành để đạt hiệu quả cao trong quá trình đào tạo, bồi dưỡng. Chính vì vậy đề tài nghiên cứu ” Xây dựng phương pháp thực hành cho các lớp Bồi dưỡng nghiệp vụ thanh tra” là rất cần thiết, phù hợp với tình hình hiện nay trong công tác đào tạo, bồi dưỡng.

Tại Hội đồng, sau khi xem xét, thảo luận, 04/04 thành viên Hội đồng đã nhất trí bỏ phiếu thông qua, cho thực hiện triển khai đề tài. Đồng thời Chủ tịch Hội đồng yêu cầu chủ nhiệm đề tài nghiên cứu cần nghiêm túc tiếp thu các ý kiến nhận xét, đóng góp của thành viên Hội đồng, kết luận của Chủ tịch Hội đồng để hoàn thiện bản thuyết minh, hoàn thiện hồ sơ thủ tục đề nghị Hiệu trưởng ra quyết định phê duyệt./.
Văn Hùng
Vai trò đại diện chủ sở hữu vốn nhà nước thông qua người đại diện
Do đặc điểm của các doanh nghiệp có vốn nhà nước hiện nay có nhiều đầu mối thực hiện quyền nghĩa vụ của chủ sở hữu nhà nước, dẫn đến tính hiệu lực giám sát của chủ sở hữu không hiệu quả. Vì vậy, cần phải tách bạch chức năng quản lý nhà nước và chức năng chủ sở hữu nhà nước một cách rõ ràng.
Trước hết, chủ sở hữu vốn nhà nước thực hiện tiếp nhận vốn và thực hiện quyền đại diện chủ sở hữu thông qua việc thực hiện quyền đại diện chủ sở hữu vốn tương ứng với phần vốn đầu tư của mình tại doanh nghiệp như là một cổ đông theo các quy định của pháp luật và quy định điều lệ của doanh nghiệp. Hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp sẽ do chủ sở hữu ủy quyền người đại diện tham gia hội đồng quản trị (HĐQT) và ban lãnh đạo doanh nghiệp quyết định. Chủ sở hữu có quyền góp vốn, tài sản với các nhà đầu tư trong nước và ngoài nước để liên doanh, liên kết. Đồng thời, có quyền chủ động quyết định đầu tư thêm vốn, bán vốn tại các doanh nghiệp nhận chuyển giao từ các bộ, cơ quan ngang bộ, ủy ban nhân dân cấp tỉnh theo quy định của pháp luật hiện hành; chủ động lựa chọn các hình thức đầu tư tại các doanh nghiệp được thỏa thuận mua lại cổ phần vốn góp… đảm bảo các quyền và lợi ích của Nhà nước.
Chủ sở hữu đại diện vốn nhà nước sử dụng nguồn vốn kinh doanh để thực hiện đầu tư vào các dự án, lĩnh vực, ngành nghề trên cơ sở đảm bảo các nguyên tắc: Tuân thủ theo quy định của pháp luật hiện hành, phù hợp với chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển của chủ sở hữu đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt. Chủ sở hữu cũng có quyền nhận ủy thác các nguồn vốn đầu tư từ Nhà nước và các tổ chức, cá nhân trong, ngoài nước; được thành lập, tham gia góp vốn thành lập công ty con, công ty liên kết (bao gồm cả các công ty quản lý quỹ, quỹ đầu tư); sau khi được Thủ tướng Chính phủ chấp thuận về chủ trương; thực hiện các quyền và trách nhiệm của chủ sở hữu đối với các công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên mà chủ sở hữu nắm giữ 100% vốn điều lệ; quyền và trách nhiệm của đại diện chủ sở hữu đối với phần vốn chủ sở hữu đầu tư tại công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên theo quy định của pháp luật.
Như vậy, chủ sở hữu vốn nhà nước tại doanh nghiệp đa dạng dưới nhiều hình thức, việc đầu tư vốn nhà nước vào doanh nghiệp sẽ phát sinh vấn đề ủy quyền người đại diện vốn. Để hiểu rõ vai trò và việc ủy quyền người đại diện vốn điều đầu tiên cần phải xác định ai là người có quyền quyết định đầu tư vốn nhà nước vào doanh nghiệp. Chính phủ được giao thực hiện chức năng chủ sở hữu vốn nhà nước đầu tư tại doanh nghiệp, đồng thời Chính phủ cũng trực tiếp ra quyết định đầu tư vốn vào doanh nghiệp và rút vốn ra khỏi doanh nghiệp. Việc quyết định đầu tư các doanh nghiệp thuộc ngành hoặc địa phương thực hiện theo cơ chế ủy quyền. Theo đó, Thủ tướng Chính phủ ủy quyền quyết định đầu tư cho người đứng đầu, đầu mối chủ sở hữu vốn nhà nước đầu tư tại doanh nghiệp như bộ chủ quản, hoặc cơ quan chuyên trách về quản lý vốn nhà nước hoặc công ty đầu tư vốn nhà nước (sau đây gọi là người đại diện vốn nhà nước đầu tư tại doanh nghiệp thứ nhất theo sự ủy quyền của Thủ tướng Chính phủ).
Người đại diện vốn nhà nước thứ nhất lại tiếp tục ủy quyền cho các đại diện vốn nhà nước tại các doanh nghiệp. Điều này có nghĩa là hình thành nên một đội ngũ cán bộ thay mặt Nhà nước làm đại diện vốn nhà nước đầu tư hoạt động kinh doanh tại doanh nghiệp. Đồng thời, đội ngũ cán bộ này phải có kiến thức về ngành nghề mà doanh nghiệp kinh doanh am hiểu thị trường và sẽ tham gia quản trị hoạt động của doanh nghiệp tùy theo tỷ lệ sở hữu vốn nhà nước tại doanh nghiệp.
Như vậy, ở đây sẽ phát sinh cơ chế ủy quyền, Thủ tướng Chính phủ ủy quyền cho người đại diện vốn nhà nước thứ nhất, người đại diện vốn thứ nhất lại ủy quyền cho người trực tiếp làm đại diện vốn nhà nước tại doanh nghiệp.
![]() |
Tuy nhiên, việc ủy quyền có thể xảy ra trường hợp xung đột về mục tiêu giữa chủ sở hữu và người quản lý, hiện tượng này được hiểu là khi một doanh nghiệp nhà nước (DNNN) được quản lý bởi một nhà quản lý chuyên nghiệp thì nhà quản lý có thể hành động theo những mục tiêu riêng khác, thậm chí đi ngược lại mục tiêu và lợi ích của chủ sở hữu nhà nước tình trạng này xuất hiện ở những doanh nghiệp có sự tách rời giữa người quản lý điều hành và người sở hữu doanh nghiệp nhưng lại thiếu các cơ chế giám sát, kiểm soát thích hợp. Người quản lý điều hành đại diện cho chủ sở hữu thực hiện quyền quản lý và kiểm soát doanh nghiệp nhưng không hướng đến mục tiêu của chủ sở hữu doanh nghiệp, hoặc lạm dụng ủy quyền để thực hiện các hành vi tư lợi, gây thiệt hại cho doanh nghiệp và chủ sở hữu. Trước thực tế thất thoát nguồn vốn, hoạt động kinh doanh kém hiệu quả tại nhiều doanh nghiệp có sự tham gia của vốn nhà nước, một câu hỏi cần được trả lời là những ai phải chịu trách nhiệm về thực trạng này? Làm thế nào để nâng cao vai trò người đại diện vốn nhà nước tại các doanh nghiệp quản lý, bảo toàn vốn nhà nước và không ngừng nâng cao hiệu quả vốn nhà nước đầu tư tại doanh nghiệp là một vấn đề lớn mà không thể sớm giải quyết ngay được.
Thực trạng vấn đề người đại diện vốn nhà nước tại doanh nghiệp hiện nay
Mặc dù có quy định về người đại diện nhằm hạn chế những xung đột lợi ích song quá trình thực hiện vấn đề này đã nảy sinh những vướng mắc và tồn tại, hạn chế cụ thể:
Thứ nhất, chính sách đối với người đại diện là công chức nhà nước chưa được giải quyết một cách rõ ràng, quyền lợi và nghĩa vụ của người đại diện chưa thực sự gắn kết với sự phát triển của doanh nghiệp tại một số doanh nghiệp dẫn đến việc phối hợp của người đại diện trong thực hiện quyền cổ đông nhà nước chưa tốt, chế độ đãi ngộ cho những người đại diện kém hấp dẫn, chưa tương xứng với công sức mà họ bỏ ra. Hiện nay, theo quy định cho phép người đại diện vốn nhà nước tại các doanh nghiệp được hưởng thù lao. Tuy nhiên thù lao là doanh nghiệp chịu trách nhiệm trả cho người đại diện vốn nhà nước khi đảm nhận chức vụ lãnh đạo tại doanh nghiệp như tham gia vào HĐQT, ban kiểm soát, còn về phía chủ sở hữu người đại diện không nhận được khoản thù lao này.
Thứ hai, tại một số doanh nghiệp lãnh đạo và người đại diện không ủng hộ việc bán vốn nhà nước tại doanh nghiệp do mất quyền đại diện, không tích cực phối hợp với chủ sở hữu và công ty chứng khoán triển khai bán vốn, thậm chí bất hợp tác, kéo dài thời gian bán vốn, nguyên nhân tồn tại bất cập trong chính sách đó là những người đại diện không được hưởng lương hay thưởng khi làm đại diện vốn và có trường hợp người đại diện không sở hữu một tỷ lệ nào trong doanh nghiệp, do đó những người này sẽ có khả năng “thất nghiệp” cao sau thoái vốn. Khi đó, nếu doanh nghiệp có nhu cầu tiếp tục thực hiện hợp đồng lao động hưởng lương như người lao động bình thường và trường hợp các cổ đông mới không sử dụng nữa thì người đại diện sẽ bị chấm dứt hợp đồng. Đó là lý do dẫn tới nhiều người đại diện không ủng hộ việc chủ sở hữu thoái vốn, dẫn tới nhiều vấn đề nảy sinh ảnh hưởng đến tốc độ thoái vốn của doanh nghiệp.
Thứ ba, tuy Luật Quản lý, sử dụng vốn nhà nước đầu tư vào sản xuất, kinh doanh tại doanh nghiệp năm 2014 đặt ra nhiều yêu cầu chặt chẽ, đòi hỏi sự can thiệp sâu của cơ quan đại diện chủ sở hữu vốn vào doanh nghiệp và có quy định rõ quyền và trách nhiệm của người đại diện như: Tất cả các vấn đề được thảo luận và quyết định tại đại hội đồng cổ đông của doanh nghiệp, các vấn đề phát sinh… người đại diện vốn đều phải báo cáo và xin ý kiến chủ sở hữu theo quy định của Luật Doanh nghiệp, Luật Chứng khoán… Tuy nhiên, có những vấn đề mang tính cấp thiết cần phải xử lý ngay, song theo quy định, người đại diện phải chờ xin ý kiến của chủ sở hữu cổ đông nhà nước, điều này có thể làm chậm việc ra quyết định và mất đi cơ hội đầu tư của doanh nghiệp.
Thứ tư, còn có những trường hợp người đại diện không báo cáo đầy đủ, lấy ý kiến của chủ sở hữu trước khi biểu quyết tại các cuộc họp hội đồng quản trị hoặc đại hội đồng cổ đông. Một số người đại diện vẫn nhận thức rằng đã được bộ, ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố cử làm đại diện thì có toàn quyền quyết định mọi vấn đề liên quan đến quyền cổ đông nhà nước, không cần xin ý kiến cơ quan chủ sở hữu vốn. Các đề xuất của người đại diện đôi khi thiên lệch vì lợi ích tập thể lãnh đạo doanh nghiệp hoặc người lao động, không xuất phát từ lợi ích của chủ sở hữu. Có những trường hợp người đại diện biểu quyết mà không xin ý kiến của chủ sở hữu hoặc biểu quyết khác ý kiến của chủ sở hữu, không đảm bảo quyền lợi của Nhà nước như: Phát hành cho cổ đông hiện hữu nhưng không phát hành cho chủ sở hữu làm giảm tỷ lệ vốn nhà nước, phát hành cổ phần cho đối tượng khác theo giá thấp hơn giá thị trường làm giảm lợi nhuận doanh nghiệp, quyết định đầu tư lớn không đúng thủ tục… nhiều người đại diện đặt quyền lợi cá nhân, quyền lợi tập thể lên trên quyền lợi của nhà nước, những vấn đề ảnh hưởng đến quyền lợi cá nhân thì chống đối, lạm dụng quyền hạn trục lợi riêng, gây mâu thuẫn nội bộ, bè phái làm ảnh hưởng lớn đến doanh nghiệp và quyền lợi cổ đông.
Hiện nay, tại một số bộ, ngành những người đại diện kiêm nhiệm là cán bộ của các bộ, ngành, địa phương do không trực tiếp quản lý doanh nghiệp nên đa số không nắm rõ tình hình hoạt động của doanh nghiệp và không phát huy được vai trò của mình, thậm chí ở một số doanh nghiệp người đại diện không thể hiện tốt vai trò của cổ đông nhà nước, không có nhiều hỗ trợ thiết thực đối với doanh nghiệp, chưa thực sự là người bảo vệ quyền lợi trực tiếp của chủ sở hữu vốn nhà nước tại doanh nghiệp.
Thứ năm, việc trao quyền cho người đại diện phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp quá lớn và chế độ báo cáo, xin ý kiến trước khi biểu quyết những vấn đề quan trọng của doanh nghiệp chưa được quy định cụ thể; song song đó việc kiểm tra giám sát hạn chế, không thường xuyên trao đổi thông tin, hoặc việc trao đổi thông tin chỉ mang tính chất có lệ, nên việc cảnh báo, phòng ngừa rủi ro trong quá trình hoạt động của nhiều doanh nghiệp không phát huy được hiệu quả. Thực tế vẫn xảy ra tình trạng người đại diện tự chủ động biểu quyết các vấn đề trọng yếu mà không xin ý kiến của chủ sở hữu dẫn đến gây thất thoát nguồn vốn cho Nhà nước (như trường hợp của Vinashin, Vinalines, Tập đoàn tài chính Dầu khí quốc gia). Mặc dù Luật Quản lý vốn và sử dụng vốn nhà nước đầu tư vào sản xuất, kinh doanh tại doanh nghiệp năm 2014 có quy định trách nhiệm và quyền hạn của người đại diện, song chỉ mang tính chất ở phạm vi quyền và trách nhiệm chưa có tính ràng buộc… Do đó khi xảy ra sai phạm gây thiệt hại cho Nhà nước thì chưa có cơ chế hữu hiệu để buộc người đại diện bồi thường thiệt hại cho Nhà nước, thiếu tính áp dụng kỷ luật đối với người đại diện, trường hợp có thể đưa ra tòa khởi kiện nhưng sẽ mất rất nhiều thời gian gây xáo trộn trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp và đồng thời cũng mất khá nhiều thời gian phải kiện toàn lại bộ máy nhân sự thay thế. Nếu không có quy định và tính trách nhiệm bắt buộc với người đại diện có thể tạo tiền lệ không tốt cho những người tiền nhiệm tiếp theo.
Một số giải pháp nâng cao trách nhiệm người đại diện phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp
Từ những bất cập về vấn đề người đại diện vốn nhà nước tại doanh nghiệp nêu trên, cần có những quy định cụ thể thiết thực, quy định rõ nhiệm vụ của người đại diện vốn gắn với kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp và bảo toàn vốn nhà nước tại doanh nghiệp cụ thể:
Một là, áp dụng thống nhất về tiêu chuẩn người đại diện sở hữu cổ phần nhà nước tại doanh nghiệp để thực hiện các quyền và nghĩa vụ cổ đông; tăng thẩm quyền và trách nhiệm của người đại diện sở hữu và quản lý cổ phần nhà nước ở doanh nghiệp việc lựa chọn số người trực tiếp quản lý phần vốn nhà nước tùy thuộc vào tỷ lệ sở hữu vốn nhà nước tại doanh nghiệp nhưng cần tránh tình trạng độc quyền (chọn 1 người) đồng thời phải giám sát, theo dõi thường xuyên, nếu không đảm bảo yêu cầu cần phải thay thế ngay, đồng thời cần xác định rõ cơ chế phối hợp giữa những người quản lý trực tiếp phần vốn nhà nước, tránh trường hợp các cá nhân quản lý trực tiếp phần vốn của Nhà nước có ý kiến biểu quyết khác nhau nhằm đảm bảo lợi ích thống nhất của cổ phần nhà nước.
Hai là, tăng cường mối quan hệ phối hợp giữa người đại diện vốn nhà nước đồng thời nâng cao nhận thức và chuyên môn nghiệp vụ của các cán bộ đại diện phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp cũng như đưa ra những ràng buộc liên quan đến nghĩa vụ và trách nhiệm của họ đối với doanh nghiệp, cần có hợp đồng giữa chủ sở hữu vốn nhà nước và các đại diện chủ sở hữu vốn nhà nước để có chế tài thưởng phạt thù lao với người đại diện rõ ràng tránh xảy ra hiện tượng người đại diện vốn không tuân thủ theo chỉ đạo của chủ sở hữu trong các kỳ họp đại hội cổ đông cũng như nắm bắt tình hình hoạt động kinh của doanh nghiệp. Đồng thời để tránh xảy ra xung đột lợi ích giữa người quản lý doanh nghiệp và chủ sở hữu ở đây là Nhà nước cần phải có cơ chế xử lý vấn đề này thông qua hệ thống lương thưởng và cơ chế trách nhiệm gắn với chế tài xử phạt. Chế tài xử phạt nghiêm minh thì mới nâng cao được hiệu quả vốn nhà nước đầu tư tại doanh nghiệp.
Ba là, kiện toàn hành lang pháp lý về hoạt động giám sát của chủ sở hữu đối với doanh nghiệp, người đại diện phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp thông qua các cơ quan quản lý nhà nước, phân cấp đối tượng giám sát và đánh giá theo từng nội dung phù hợp. Cụ thể đối với người giữ chức danh đại diện trực tiếp tại doanh nghiệp, ngoài xác định rõ trách nhiệm và phạm vi quản lý vốn của người đại diện vốn nhà nước và quy định rõ thẩm quyền, đầu mối, trách nhiệm trong việc phát hiện, xử lý các sai phạm của người đại diện phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp. Vì vậy, việc giám sát của chủ sở hữu là cần thiết, giúp cho các cơ quan quản lý nhà nước phát hiện ngăn ngừa các vụ việc vi phạm pháp luật. Bên cạnh đó, cần tăng cường công tác kiểm tra, kiểm soát nội bộ và yêu cầu người đại diện định kỳ phải có trách nhiệm báo cáo tình hình hoạt động kinh doanh của đơn vị, có ý kiến đánh giá cụ thể và nhận diện được các rủi ro để từ đó có các biện pháp phòng ngừa thiết thực.
Bốn là, ngoài việc yêu cầu người đại diện định kỳ báo cáo tình hình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp cần phải thành lập ban kiểm soát nội bộ để kiểm tra phát hiện hành vi vi phạm. Chủ sở hữucần xây dựng quy chế phối hợp với các cơ quan tư pháp như công an, tòa án, viện kiểm sát để nắm bắt và theo dõi tình hình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Vì đây là các cơ quan có quyền khởi tố, truy tố trước những hành vi vi phạm xảy ra và có vai trò hết sức to lớn trong việc bảo đảm pháp chế và kỷ luật của nhà nước. Trường hợp người đại diện gây hậu quả nghiêm trọng thất thoát vốn nhà nước thì việc truy cứu trách nhiệm sẽ được xử lý kịp thời.
Năm là, về quyền thực hiện vai trò đại diện chủ sở hữu vốn nhà nước thông qua ủy quyền người đại diện, hiện nay, địa vị pháp lý, trách nhiệm, quyền lợi của người đại diện phần vốn nhà nước chưa rõ ràng; chế độ tiền lương, thù lao, tiền thưởng đối với người đại diện còn bất cập, chưa có hướng dẫn cụ thể, cơ chế trao quyền đôi khi còn chưa phù hợp như việc người đại diện thay mặt chủ sở hữu có ý kiến tại doanh nghiệp trong các cuộc họp mà không có thêm bất kỳ quan điểm nào, điều này khiến người đại diện không thực sự thực hiện theo đúng chức năng đại diện mà giống như một người thu thập thông tin và “người phát ngôn”. Mặt khác, một số trường hợp đánh giá khen thưởng người đại diện ngang bằng như đối với cán bộ nhà nước kiêm nhiệm nhưng không trực tiếp điều hành tại doanh nghiệp dẫn đến sự thiếu công bằng trong công tác đánh giá người đại điện./.
TÀI LIỆU THAM KHẢO:
1. Benjamin Coriat, Oliver Weinstein (2011), Patent regimes, firms and commodification of knowledge.
2. Trần Việt Lâm (2013), Lý thuyết người đại diện, lý thuyết trò chơi và bài toán người đại diện vốn nhà nước tại doanh nghiệp, Tạp chí Kinh tế và Phát triển, số 198.
3. Timothy J.Besley, Maitreesh Ghatak (2014), Solving Agency Problems:Intrinsic Motivation,Incentives, and Productivity.
4. Nghị định số 159/2020/NĐ-CP ngày 31/12/2020 của Chính phủ về quản lý người giữ chức danh, chức vụ và người đại diện phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp
5. Phạm Tuấn Anh (2021), Nâng cao hiệu quả công tác phát hiện, xử lý vi phạm trong đại diện phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp, Tạp chí Thanh tra.
(Nguồn: ThanhtraVietNam)
Thoái vốn nhà nước tại doanh nghiệp
Thoái vốn là hoạt động nhằm giảm bớt vốn đầu tư tại một doanh nghiệp hoặc giảm bớt vốn đầu tư vào một mục đích nhất định. Trong đầu tư, thoái vốn là một hình thức rất phổ biến biểu hiện là các nhà đầu tư rút vốn đầu tư của mình tại một doanh nghiệp. Tương tự như thoái vốn nói chung, thoái vốn nhà nước là hình thức Nhà nước rút vốn đầu tư từ các doanh nghiệp có vốn nhà nước thông qua việc cổ phần hóa doanh nghiệp 100% vốn nhà nước, chuyển nhượng vốn nhà nước đang nắm giữ tại công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn cho chủ thể khác. Nguồn vốn thu được sau thoái vốn nhà nước sẽ được sử dụng để bổ sung nguồn thu cho ngân sách.
Việc thoái vốn nhà nước tại doanh nghiệp nhằm nhiều mục tiêu: Thứ nhất, thoái vốn nhà nước là một cách thức để Nhà nước rút vốn đầu tư tại các doanh nghiệp, ngành nghề kinh doanh mà Nhà nước không cần nắm giữ vốn để tập trung đầu tư vào các doanh nghiệp, lĩnh vực then chốt cần có sự đầu tư của Nhà nước. Thứ hai, nguồn vốn thu được thông qua thoái vốn ở nhiều doanh nghiệp cũng giúp Chính phủ có thêm vốn để đầu tư công, từ đó thúc đầy nền kinh tế phát triển và tạo môi trường cho doanh nghiệp phát triển kinh doanh. Thứ ba, đối với doanh nghiệp mà Nhà nước thoái vốn sẽ đa dạng hóa cổ đông, thu hút cổ đông chiến lược có năng lực, giúp doanh nghiệp có thêm các lợi ích về vốn, kỹ thuật, công khai, minh bạch trong quản trị doanh nghiệp.
Việc thoái vốn nhà nước được thực hiện theo các hình thức chuyển nhượng vốn nhà nước tại doanh nghiệp như: Chuyển nhượng cổ phiếu trên sàn giao dịch chứng khoán đối với công ty niêm yết; đấu giá công khai đối với vốn tại công ty cổ phần chưa niêm yết; nếu không đấu giá công khai được thì thực hiện chào hàng cạnh tranh; nếu chào hàng cạnh tranh không được thì thực hiện chuyển nhượng vốn qua thỏa thuận. Việc thoái vốn nhà nước phải đảm bảo các nguyên tắc theo quy định tại khoản 15, Điều 1 Nghị định số 32/2018/NĐ-CP ngày 08/3/2018 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 91/2015/NĐ-CP ngày 13/10/2015 của Chính phủ về đầu tư vốn nhà nước vào doanh nghiệp và quản lý, sử dụng vốn, tài sản tại doanh nghiệp. Hiện nay, nguồn vốn nhà nước đầu tư tại doanh nghiệp có giá trị rất lớn. Theo báo cáo số 399/BC-CP ngày 12/10/2021 của Chính phủ về hoạt động đầu tư, sử dụng vốn nhà nước tại doanh nghiệp trong phạm vi toàn quốc thì tổng tài sản của doanh nghiệp có vốn nhà nước là 3.674.627 tỷ đồng, vốn chủ sở hữu là 1.717.379 tỷ đồng. Với nguồn vốn, tài sản lớn như vậy thì việc thoái vốn nhà nước cần được kiểm soát chặt chẽ. Việc thoái vốn nhà nước phải đảm bảo các yêu cầu: (1) Đảm bảo lợi ích của Nhà nước khi thoái vốn nhà nước đầu tư tại doanh nghiệp. Tiền thu được từ việc thoái vốn phải thu nộp ngân sách theo đúng giá trị; (2) Đảm bảo sự ổn định và phát triển của doanh nghiệp; (3) Đảm bảo đúng định hướng đầu tư của Nhà nước gắn với phát triển kinh tế, xã hội.
Tăng cường thanh tra, kiểm tra đối với việc thoái vốn nhà nước tại doanh nghiệp
Thanh tra, kiểm tra là chức năng thiết yếu của quản lý nhà nước, là công cụ của người lãnh đạo, người quản lý. Thực hiện chức năng quản lý nhà nước trong đó có quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp, các cơ quan quản lý nhà nước tiến hành hoạt động thanh tra, kiểm tra việc thoái vốn tại các doanh nghiệp qua đó giúp phát hiện, xử lý, ngăn chặn kịp thời các hành vi vi phạm pháp luật góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả của quản lý nhà nước.
Thứ nhất, thanh tra, kiểm tra kịp thời các trường hợp thoái vốn nhà nước tại doanh nghiệp theo đúng thẩm quyền.
Trong công tác quản lý nhà nước nói chung hay quản lý vốn nhà nước nói riêng thì không thể thiếu hoạt động thanh tra, kiểm tra, nó là một khâu quan trọng để đánh giá, kiểm chứng hiệu lực của công tác quản lý. Nếu không thanh tra, kiểm tra thì Nhà nước không nắm được tình hình thực hiện chủ trương, chính sách, pháp luật của cơ quan, doanh nghiệp trong công tác quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp cũng như hoạt động thoái vốn có được thực hiện đúng, có hiệu quả hay không. Đặc biệt đối với thanh tra, kiểm tra hoạt động thoái vốn nhà nước hết sức phức tạp. Nếu các chủ thể không thực hiện đúng có thể gây hậu quả tới vốn nhà nước, doanh nghiệp. Việc thanh tra, kiểm tra nhằm trả lời câu hỏi các cơ quan, tổ chức, cá nhân có trách nhiệm trong công tác thoái vốn nhà nước đã tuân thủ pháp luật một cách nghiêm chỉnh chưa? Còn có những tồn tại, thiếu sót gì? Nguyên nhân tại đâu? Trách nhiệm thuộc cơ quan, tổ chức, cá nhân nào? Nguyên nhân do khách quan hay chủ quan đưa lại, do cơ chế, chính sách, pháp luật hay do chỉ đạo điều hành? Từ đó đề xuất những biện pháp xử lý các sai phạm, khắc phục những tồn tại, yếu kém; kiến nghị sửa đổi, bổ sung những văn bản, các quy định không còn phù hợp với thực tế…
Thứ hai, qua công tác thanh tra, kiểm tra, các cơ quan phải kịp thời ngăn chặn, xử lý các hành vi vi phạm trong thoái vốn nhà nước, giúp đảm bảo lợi ích của Nhà nước, lợi ích của doanh nghiệp và người lao động.
Với giá trị nguồn vốn đặc biệt lớn của Nhà nước tại các doanh nghiệp, hoạt động thoái vốn nhà nước có tác động không chỉ tới nguồn thu của ngân sách nhà nước mà còn tác động tới doanh nghiệp. Hành vi vi phạm trong thoái vốn nhà nước vừa gây hậu quả thất thoát vốn nhà nước, ảnh hưởng tới mục tiêu kinh tế – xã hội trong thoái vốn nhà nước, đồng thời gây cho doanh nghiệp những khó khăn, tổn thất. Do vậy, trong công tác thanh tra cần phát hiện kịp thời các vấn đề của doanh nghiệp trong việc thực hiện thoái vốn nhà nước. Những hành vi vi phạm cần được phát hiện và ngăn chặn kịp thời để những hậu quả nghiêm trọng không xảy ra.
Thứ ba, công tác thanh tra cần đánh giá và phát hiện những sơ hở trong cơ chế, chính sách khi thực hiện thoái vốn nhà nước để kiến nghị cơ quan có thẩm quyền sửa đổi kịp thời.
Các cơ quan thanh tra, qua quá trình thanh tra phát hiện những sơ hở trong quy định của pháp luật và kịp thời kiến nghị sửa đổi, hoàn thiện sẽ giúp cho việc quản lý vốn nhà nước, thực hiện thoái vốn nhà nước được thực hiện có hiệu quả, hạn chế được những hành vi lợi dụng kẽ hở của pháp luật để trục lợi. Việc thoái vốn với các công ty có vốn đầu tư của doanh nghiệp nhà nước chỉ tuân theo Luật Doanh nghiệp, Điều lệ công ty có thể bị lợi dụng, dẫn đến thất thoát trong quá trình thoái vốn. Đặc biệt trường hợp công ty mẹ là doanh nghiệp nhà nước chuyển giao cho công ty con quyền sử dụng đất ở vị trí đắc địa, sau đó quyền sử dụng đất được mang đi góp vốn, rồi lợi dụng việc thoái vốn để chuyển quyền sử dụng đất vào tay tư nhân. Một số doanh nghiệp thực hiện thoái vốn không thực hiện qua sở giao dịch chứng khoán, mà lựa chọn thuê tổ chức tài chính trung gian bán đấu giá, tự tổ chức đấu giá tại doanh nghiệp. Vì nếu đấu giá thông qua tổ chức tài chính trung gian bán đấu giá, tự tổ chức đấu giá tại doanh nghiệp thành phần tham gia cũng như địa điểm đấu giá thường bị hạn chế sẽ dễ chi phối. Việc pháp luật trao quyền cho doanh nghiệp có chức năng thẩm định giá quá lớn mà thiếu sự kiểm tra, giám sát đã dẫn đến những lỗ hổng trong thẩm định giá khi thoái vốn. Đây là lỗ hổng thể hiện rõ trong vụ án xảy ra tại Sabeco. Trên cơ sở thẩm định giá, Bộ Công Thương phê duyệt giá khởi điểm khi thoái vốn là 13.247 đồng/cổ phiếu. Trong khi đó, khu đất 6.080 m2 tại địa chỉ 2 – 4 – 6 Hai Bà Trưng, TP.HCM do Sabeco mang đi liên doanh góp vốn có vị trí đắc địa với 4 mặt tiền đường Hai Bà Trưng, Thi Sách, Công trường Mê Linh, Đông Du.
Những sơ hở, bất cập trong cơ chế, chính sách về thoái vốn nhà nước nếu được phát hiện và kiến nghị hoàn thiện kịp thời qua công tác thanh tra, kiểm tra thì sẽ giúp cho công tác thoái vốn được thực hiện có hiệu quả, ngăn chặn những hành vi trục lợi nảy nở.
Thẩm quyền thanh tra, kiểm tra việc thoái vốn nhà nước tại doanh nghiệp
Thanh tra, kiểm tra thoái vốn nhà nước tại doanh nghiệp được hiểu là hoạt động của cơ quan nhà nước có thẩm quyền định kỳ hoặc đột xuất nhằm xem xét, đánh giá, kết luận và xử lý đối với việc chấp hành pháp luật và tuân thủ các quyết định của chủ sở hữu vốn nhà nước trong việc thực hiện thoái vốn nhà nước tại doanh nghiệp. Thanh tra, kiểm tra việc thoái vốn nhà nước tại doanh nghiệp là một phần nội dung quản lý nhà nước về đầu tư, quản lý, sử dụng vốn nhà nước tại doanh nghiệp. Theo Luật Quản lý, sử dụng vốn nhà nước đầu tư vào sản xuất, kinh doanh tại doanh nghiệp thì Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn tổ chức kiểm tra, thanh tra các hoạt động sau đây:
– Việc xây dựng, ban hành, tổ chức thực hiện chính sách, pháp luật về đầu tư, quản lý, sử dụng vốn nhà nước tại doanh nghiệp;
– Việc thực hiện quyền, trách nhiệm của cơ quan đại diện chủ sở hữu;
– Kết quả hoạt động sản xuất, kinh doanh, bảo toàn, phát triển vốn nhà nước tại doanh nghiệp.
Theo Nghị định số 49/2014/NĐ-CP ngày 20/5/2014 của Chính phủ về giám sát, kiểm tra, thanh tra đối với doanh nghiệp nhà nước trong việc chấp hành pháp luật và tuân thủ các quyết định của chủ sở hữu (Nghị định số 49) thì thẩm quyền thanh tra doanh nghiệp nhà nước được quy định như sau:
– Thanh tra Chính phủ thanh tra việc chấp hành pháp luật và tuân thủ các quyết định của chủ sở hữu đối với các doanh nghiệp cấp 1 do Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập và các doanh nghiệp cấp 2.
– Thanh tra bộ quản lý ngành có thẩm quyền: Thanh tra việc chấp hành pháp luật và tuân thủ các quyết định của chủ sở hữu đối với các doanh nghiệp cấp 1 do bộ trưởng quyết định thành lập hoặc được chuyển đổi từ các doanh nghiệp nhà nước thuộc bộ hoặc được giao cho bộ quản lý và các doanh nghiệp cấp 2. Đối với các doanh nghiệp cấp 1 do Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập mà bộ quản lý ngành được giao là cấp trên trực tiếp của hội đồng thành viên, thì thanh tra bộ tiến hành thanh tra sau khi đã báo cáo và thống nhất với Tổng Thanh tra Chính phủ; thanh tra việc chấp hành pháp luật chuyên ngành, quy định về chuyên môn – kỹ thuật, quy tắc quản lý ngành, lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý nhà nước của bộ đối với các doanh nghiệp theo quy định của pháp luật về thanh tra.
– Thanh tra tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có thẩm quyền thanh tra việc chấp hành pháp luật và tuân thủ các quyết định của chủ sở hữu đối với doanh nghiệp cấp 1 do chủ tịch ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định thành lập hoặc được chuyển đổi từ các doanh nghiệp nhà nước thuộc ủy ban nhân dân cấp tỉnh và các doanh nghiệp cấp 2; thanh tra việc chấp hành pháp luật đối với các doanh nghiệp theo quy định tại khoản 3 Điều 29 Nghị định số 49 khi được chủ tịch ủy ban nhân dân cấp tỉnh giao. Trường hợp thanh tra tỉnh không đáp ứng các yêu cầu cần thiết để tiến hành thanh tra thì có trách nhiệm báo cáo Thanh tra Chính phủ để xem xét, xử lý.
– Thanh tra sở thanh tra việc chấp hành pháp luật chuyên ngành, quy định về chuyên môn – kỹ thuật, quy tắc quản lý ngành, lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý của sở đối với doanh nghiệp cấp 1 do chủ tịch ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định thành lập hoặc được chuyển đổi từ các doanh nghiệp nhà nước thuộc ủy ban nhân dân cấp tỉnh; việc chấp hành pháp luật chuyên ngành của các doanh nghiệp theo quy định tại khoản 3 Điều 29 Nghị định số 49 khi được chủ tịch ủy ban nhân dân cấp tỉnh giao.
Ngoài quy định trên, theo Luật Quản lý, sử dụng vốn nhà nước đầu tư vào sản xuất, kinh doanh tại doanh nghiệp, ngoài công tác kiểm tra, thanh tra của Chính phủ, các bộ, ngành, địa phương còn có hoạt động kiểm tra, thanh tra của cơ quan đại diện chủ sở hữu. Phải thực hiện theo đúng quy định, báo cáo, kiến nghị với các cơ quan quản lý kịp thời.
Như vậy, trên nguyên tắc hiện nay có nhiều cơ quan có thẩm quyền thanh tra, kiểm tra doanh nghiệp nhà nước, trong đó có nội dung thực hiện thoái vốn nhà nước tại doanh nghiệp. Tuy nhiên để nâng cao hiệu quả công tác thanh tra, kiểm tra doanh nghiệp nhà nước, tránh tình trạng nhiều cơ quan có thẩm quyền nhưng chồng chéo, hiệu quả thấp, không xác định rõ được trách nhiệm, cần thực hiện đồng bộ một số giải pháp sau:
Thứ nhất, pháp luật cần có quy định phân định rõ thẩm quyền gắn với trách nhiệm của các cơ quan thanh tra, kiểm tra. Điều này sẽ hạn chế sự trùng lắp về nội dung, đối tượng trong hoạt động thanh tra, kiểm tra doanh nghiệp nhà nước. Đồng thời, khi xảy ra vấn đề bỏ sót, bỏ lọt hành vi vi phạm pháp luật sẽ có cơ sở để xác định trách nhiệm của cơ quan có thẩm quyền thanh tra, kiểm tra.
Thứ hai, cần tăng cường sự phối hợp giữa các cơ quan thanh tra, kiểm tra để đạt hiệu quả trong công tác quản lý nhà nước. Đồng thời, phải tăng cường trách nhiệm của cơ quan đại diện chủ sở hữu vốn nhà nước trong thực hiện công tác thanh tra, kiểm tra doanh nghiệp nhà nước. Bởi đây là cơ quan được giao chức năng chính trong quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp.
Thứ ba, qua công tác thanh tra, kiểm tra phát hiện hành vi vi phạm nhưng phải có cơ chế xử lý nghiêm minh, nhanh chóng, kịp thời. Đặc biệt ngoài xử lý kỷ luật, xử lý hành chính hay xử lý hình sự đối với người quản lý doanh nghiệp, người đại diện phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp thì cần có cơ chế hữu hiệu trong xử lý trách nhiệm bồi thường, hoàn trả.
Qua công tác thanh tra, kiểm tra phát hiện người quản lý doanh nghiệp, người đại diện phần vốn nhà nước vi phạm gây thiệt hại cho Nhà nước. Vậy cơ chế nào để buộc người đại diện bồi thường kịp thời thiệt hại cho Nhà nước, cho doanh nghiệp. Đương nhiên, Nhà nước hoặc doanh nghiệp nhà nước có thể thực hiện cơ chế khởi kiện tại tòa án để yêu cầu bồi thường thiệt hại. Tuy nhiên, nếu thực hiện cơ chế đó sẽ mất rất nhiều thời gian mà người vi phạm có thể đã kịp thời tẩu tán tài sản. Như một số các vụ đại án vừa qua, mặc dù người nắm giữ các chức vụ quản lý trong doanh nghiệp nhà nước bị tòa án tuyên phạm tội và phải bồi thường thiệt hại cho Nhà nước nhưng số tiền cưỡng chế thu hồi được đạt tỷ lệ khiêm tốn so với số thiệt hại được xác định.
Hiện nay, ngoài những vụ việc bị xử lý hình sự và tòa áp dụng trách nhiệm bồi thường cùng bản án hình sự đối với người phạm tội thì đối với những trường hợp hành vi vi phạm phát hiện qua thanh tra, kiểm tra doanh nghiệp, chưa có cơ chế để áp dụng trách nhiệm bồi thường, hoàn trả đối với người quản lý doanh nghiệp, người đại diện phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp. Do vậy, cần thiết phải đưa vào quy định của pháp luật cơ chế áp dụng trách nhiệm bồi thường, hoàn trả của người quản lý doanh nghiệp, người đại diện phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp.
Thanh tra, kiểm tra doanh nghiệp nhà nước trong đó có nội dung về thoái vốn nhà nước tại doanh nghiệp có vai trò hết sức quan trọng trong hoạt động quản lý vốn nhà nước. Nếu hoạt động thanh tra, kiểm tra có hiệu quả sẽ giúp cho việc ngăn chặn, xử lý kịp thời hành vi vi phạm, giảm thiểu thiệt hại cho Nhà nước, doanh nghiệp nhà nước. Do vậy, cần xây dựng cơ chế đồng bộ trong thực hiện thẩm quyền, trách nhiệm thanh tra, kiểm tra hoạt động thoái vốn nhà nước tại doanh nghiệp. Nâng cao hiệu quả trong công tác thanh tra, xử lý hành vi vi phạm, đặc biệt là cơ chế thu hồi tiền, tài sản nhà nước thất thoát, xử lý kịp thời trách nhiệm bồi thường, hoàn trả của người có hành vi vi phạm giúp cho thiệt hại của Nhà nước, doanh nghiệp nhà nước được kịp thời khắc phục, đảm bảo hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp./.
Trường Cán bộ Thanh tra – Thanh tra Chính phủ
(Nguồn: ThanhtraVietNam)



