Đó là một trong những quy định tại Thông tư 21/2022 của Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định danh mục và thời hạn định kỳ chuyển đổi vị trí công tác trong cơ quan, tổ chức, đơn vị thuộc lĩnh vực tài nguyên và môi trường tại chính quyền địa phương sẽ có hiệu lực thi hành kể từ hôm nay (6/2).

Thông tư này quy định danh mục và thời hạn phải định kỳ chuyển đổi vị trí công tác trong cơ quan, tổ chức, đơn vị thuộc các lĩnh vực: Đất đai, tài nguyên nước, khoáng sản, môi trường tại chính quyền địa phương.
Thông tư 21 quy định cán bộ, công chức không giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý và viên chức trực tiếp tiếp xúc và giải quyết công việc sau từ đủ 2-5 năm phải định kỳ chuyển đổi vị trí công tác bao gồm:
Cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất (sổ đỏ).
Cấp giấy phép khảo sát, thăm dò, khai thác khoáng sản.
Cấp, cấp đổi, cấp điều chỉnh và cấp lại giấy phép môi trường có nội dung về xả nước thải, khí thải, phát sinh tiếng ồn, độ rung phải xử lý đạt quy chuẩn kỹ thuật, quản lý chất thải rắn theo quy định; thực hiện dịch vụ xử lý chất thải nguy hại.
Cấp giấy phép về thăm dò, khai thác, sử dụng tài nguyên nước.
Xử lý hồ sơ giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất, chuyển mục đích sử dụng đất, đăng ký quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất.
Giao hạn mức đất; quản lý việc áp dụng bồi thường, xác định người sử dụng đất thuộc đối tượng bồi thường, được hỗ trợ; mức bồi thường, hỗ trợ trong giải phóng mặt bằng.
Xử lý vi phạm về môi trường.
Các trường hợp thuộc đối tượng định kỳ chuyển đổi vị trí công tác theo quy định tại Thông tư số 59/2014 của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định danh mục vị trí công tác và thời hạn định kỳ chuyển đổi vị trí công tác đối với công chức, viên chức ngành Tài nguyên và Môi trường đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt chuyển đổi vị trí công tác trước ngày Thông tư 21 có hiệu lực thì tiếp tục thực hiện theo quy định tại Thông tư 59/2014.
Các trường hợp thuộc đối tượng định kỳ chuyển đổi vị trí công tác theo quy định tại Thông tư 59 chưa được cấp có thẩm quyền phê duyệt chuyển đổi vị trí công tác thì kể từ ngày 6/2/2023 thực hiện theo quy định tại Thông tư 21.
UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương tổng hợp, báo cáo kết quả thực hiện định kỳ chuyển đổi vị trí công tác theo quy định tại Thông tư 21, gửi về Bộ Tài nguyên và Môi trường trước ngày 15/12 hàng năm để tổng hợp, kiểm tra theo quy định.
Thái Hải
(Nguồn: Báo Thanhtra.com.vn)

Trong thời gian qua, Đảng và Nhà nước đã dành nhiều sự quan tâm đối với công tác tiếp công dân (TCD), qua đó công tác này đã đạt được những thành tựu đáng kể. Thông qua TCD, nhiều vụ việc khiếu nại, tố cáo (KNTC) đông người, phức tạp đã được giải quyết; các thông tin, kiến nghị, phản ánh, góp ý những vấn đề liên quan đến chủ trương, đường lối chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước, về công tác quản lý của cơ quan, đơn vị được tiếp nhận, xử lý. Đồng thời, TCD cũng giúp cho công tác giải quyết KNTC của các cơ quan, tổ chức, đơn vị được tiến hành một cách hiệu quả. Cùng với đó, chế độ, chính sách, đãi ngộ đã từng bước được điều chỉnh tương xứng với đóng góp của những người làm công tác quan trọng này.
Tiếp công dân, công tác mấu chốt quan trọng trong giải quyết KNTC
TCD là điểm khởi đầu, là một trong những khâu quan trọng của công tác giải quyết KNTC, thông qua đây hướng dẫn công dân thực hiện quyền KNTC đúng quy định pháp luật, đúng thẩm quyền, khắc phục những hạn chế, bất cập trong việc thực hiện quyền KNTC của công dân. Qua đó nhằm tuyên truyền, giáo dục, nâng cao ý thức pháp luật nói chung, pháp luật KNTC nói riêng đối với quần chúng nhân dân.
Thông qua hoạt động TCD, cơ quan hành chính nhà nước sẽ kịp thời nắm bắt tâm tư, nguyện vọng của người dân về cơ chế, chính sách, đời sống xã hội. Những kiến nghị, phản ánh này sẽ là cơ sở giúp cho các cơ quan nhà nước phát hiện và tìm ra những bất cập tồn tại trong hoạt động tổ chức và quản lý. Từ đó Nhà nước có thể đưa ra được những giải pháp phù hợp để điều chỉnh mang lại hiệu quả cao.
TCD là “sợi dây” liên hệ giữa Nhà nước và người dân, thể hiện trách nhiệm của Nhà nước đối với Nhân dân, tác động tích cực đến tình cảm, thái độ của người dân, củng cố niềm tin của người dân vào chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước; khơi dậy tiềm năng, trí tuệ của Nhân dân vào các nhiệm vụ chính trị chung của Đảng và Nhà nước thông qua việc thu thập thông tin, phản hồi về những vấn đề phát sinh trong cuộc sống, từ đó có những chủ trương, chính sách, quyết định đúng đắn, hợp lòng dân.
Với vị trí quan trọng như vậy, luôn có những yêu cầu đặc biệt, khắt khe với những người làm công tác tiếp dân. Các cơ quan, bộ phận tiếp dân đều lựa chọn cho bộ phận này các cán bộ am hiểu pháp luật, kiên nhẫn, biết lắng nghe, có tinh thần trách nhiệm và luôn sẵn sàng chia sẻ trước những vấn đề công dân trình bày. Một điều nữa chính là khả năng phối hợp với các cơ quan có liên quan, không đùn đẩy trách nhiệm, sẵn sàng hợp tác để giải quyết kịp thời những nội dung KNTC, kiến nghị, phản ánh của công dân.
Vì tính lịch sử và điều kiện thực tế, hiện nay mô hình ban tiếp dân đang có hình thái “lưỡng”, theo đó bộ phận tiếp dân vừa trực thuộc cơ quan thanh tra và bộ phận tiếp dân trực thuộc khối văn phòng. Cụ thể, ở Trung ương, Ban TCD Trung ương trực thuộc Thanh tra Chính phủ; tại các bộ, bộ phận tiếp dân trực thuộc thanh tra bộ; còn tại địa phương, ban TCD cấp tỉnh, cấp huyện trực thuộc văn phòng ủy ban nhân dân (UBND) cùng cấp và bộ phận tiếp dân của sở trực thuộc thanh tra sở. Với mô hình tổ chức như vậy, chế độ, chính sách đối với người làm công tác này tại mỗi cơ quan, đơn vị cũng đang có sự khác biệt.
Liên quan đến quy định về cơ cấu tổ chức, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và chế độ chính sách đối với người làm công tác TCD, Nhà nước đã ban hành các văn bản quy phạm pháp luật như Luật Tiếp công dân số 42/2013/QH13, Nghị định số 64/2014/NĐ-CP ngày 26/6/2014 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật TCD (Nghị định số 64), các Thông tư số 03/2016/TT-TTCP ngày 29/12/2016 quy định về trang phục đối với cán bộ, công chức làm nhiệm vụ TCD thường xuyên tại trụ sở TCD (Thông tư số 03), Thông tư số 320/2016/TT-BTC, ngày 14/12/2016 của Bộ Tài chính quy định chế độ bồi dưỡng đối với người làm nhiệm vụ TCD, xử lý đơn KNTC, kiến nghị, phản ánh (Thông tư số 320) để quy định, điều chỉnh, hướng dẫn các nội dung liên quan của công tác quan trọng này.
Về tiêu chuẩn của cán bộ TCD, khoản 1, Điều 34, Luật TCD quy định: Người TCD phải là người có phẩm chất đạo đức tốt, có năng lực chuyên môn, nắm vững chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, am hiểu thực tế, có khả năng vận động, thuyết phục quần chúng, nhiệt tình, bảo đảm yêu cầu về sức khỏe và có trách nhiệm đối với nhiệm vụ được giao.
Chế độ chính sách, đãi ngộ đối với người làm công tác TCD là cần thiết
Về chế độ, chính sách đối với cán bộ TCD, Nghị định số 64 quy định tại Điều 19, Chương V, theo đó người TCD được hưởng các chế độ chính sách gồm chế độ bồi dưỡng, bồi dưỡng kiến thức chuyên môn, nghiệp vụ TCD và người TCD thường xuyên tại trụ sở TCD được hưởng chế độ trang phục TCD.
Thủ trưởng cơ quan, tổ chức, đơn vị có trách nhiệm TCD quyết định việc bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ đối với người TCD của cơ quan, tổ chức, đơn vị mình theo hướng dẫn của Tổng thanh tra Chính phủ; Tổng Thanh tra Chính phủ quy định kiểu dáng, định mức tiêu chuẩn trang phục đối với người TCD thường xuyên, sau khi có ý kiến thống nhất của Bộ Tài chính.
Bên cạnh đó, những người được điều động, phân công làm nhiệm vụ TCD hoặc làm nhiệm vụ phục vụ công tác TCD, xử lý đơn KNTC, kiến nghị, phản ánh cũng được được hưởng chế độ bồi dưỡng theo quy định. Cụ thể, Điều 21, Nghị định số 64 quy định có 04 nhóm đối tượng được hưởng chế độ bồi dưỡng gồm:
– Cán bộ, công chức thuộc các cơ quan, tổ chức, đơn vị quy định tại Điều 20 Nghị định số 64 được cấp có thẩm quyền giao nhiệm vụ hoặc phân công làm nhiệm vụ TCD, xử lý đơn KNTC, kiến nghị, phản ánh tại trụ sở TCD hoặc địa điểm TCD.
– Người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị có trách nhiệm TCD định kỳ hoặc đột xuất; cán bộ, công chức được cấp có thẩm quyền triệu tập làm nhiệm vụ TCD, xử lý đơn KNTC, kiến nghị, phản ánh tại trụ sở TCD hoặc địa điểm TCD.
– Cán bộ, công chức, sỹ quan, hạ sỹ quan, chiến sỹ, quân nhân chuyên nghiệp và nhân viên quốc phòng trong lực lượng vũ trang; cán bộ dân phòng, y tế, giao thông khi được cấp có thẩm quyền giao nhiệm vụ hoặc phân công phối hợp TCD, giữ gìn an ninh, trật tự, bảo đảm y tế tại trụ sở TCD hoặc địa điểm TCD.
– Người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị, cán bộ, công chức được cấp có thẩm quyền giao nhiệm vụ chuyên trách xử lý đơn KNTC, kiến nghị, phản ánh.
Với các nhóm đối tượng đa dạng tham gia làm công tác TCD, gồm có công chức hành chính dân sự ở Trung ương và địa phương, cán bộ, công chức; sỹ quan, hạ sỹ quan, chiến sỹ, quân nhân chuyên nghiệp và nhân viên quốc phòng trong lực lượng vũ trang thì việc áp dụng, vận dụng chế độ chính sách cho những người làm công tác này ngoài việc tuân thủ các quy định chung của pháp luật, thì còn có việc áp dụng các quy định riêng, đặc thù của từng ngành, từng địa phương, từng cơ quan, tổ chức, đơn vị.
Hiện nay, đã có những quy định chung về mức chi bồi dưỡng chế độ đối với cán bộ TCD, cụ thể tại Điều 4, Thông tư số 320. Theo đó, tùy từng đối tượng mà chế độ áp dụng sẽ có sự khác nhau.
Các đối tượng được quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 21 Nghị định số 64 mà chưa được hưởng chế độ phụ cấp trách nhiệm theo nghề, khi làm nhiệm vụ TCD, xử lý đơn KNTC, kiến nghị, phản ánh tại trụ sở TCD hoặc địa điểm TCD được bồi dưỡng 100.000 đồng/ngày/người; trường hợp đang được hưởng chế độ phụ cấp trách nhiệm theo nghề thì được bồi dưỡng 80.000 đồng/ngày/người.
Đối với cán bộ, công chức được cấp có thẩm quyền giao hoặc phân công làm nhiệm vụ TCD, xử lý đơn KNTC, kiến nghị, phản ánh tại Trụ sở TCD Trung ương được bồi dưỡng 150.000 đồng/ngày/người; trường hợp đang hưởng chế độ phụ cấp theo nghề được bồi dưỡng 120.000 đồng/ngày/người.
Còn các đối tượng quy định tại khoản 3, khoản 4 Điều 21 Nghị định số 64 được bồi dưỡng 50.000 đồng/ngày/người.
Tuy vậy, việc áp dụng trong thực tiễn cũng đang gặp nhiều sự khác biệt, chưa đồng nhất đối với những người làm công tác TCD, cụ thể: Cán bộ, công chức làm việc tại Ban TCD Trung ương và cán bộ, công chức phụ trách công tác TCD theo quy định tại khoản 2 Điều 16 Luật TCD (các sở, ngành) được hưởng phụ cấp nghề thanh tra cộng phụ cấp thâm niên nghề thanh tra và tiền bồi dưỡng theo Thông tư số 320.
Còn cán bộ, công chức phụ trách tiếp dân tại các cơ quan khác như: Các Ban của Đảng, Công an, cơ quan tư pháp (tòa án nhân dân, viện kiểm sát nhân dân…) ngoài chế độ bồi dưỡng tiếp dân theo Thông tư số 320 còn được hưởng phụ cấp ngành nghề đặc thù.
Tại địa phương, đặc thù công tác TCD và xử lý đơn thư KNTC, kiến nghị, phản ánh tại Ban TCD cấp tỉnh, cấp huyện là lĩnh vực công tác rộng, đòi hỏi cán bộ, công chức làm công tác tiếp dân phải có kiến thức tổng hợp, nghiên cứu, tìm hiểu nhiều lĩnh vực, nhiều văn bản, công việc hết sức khó khăn, vất vả. Mặc dù được phân công đảm nhiệm nhiều lĩnh vực như tiếp dân, thanh tra, tham mưu công tác phòng chống tham nhũng, tố tụng… nhưng hiện nay đội ngũ cán bộ, công chức TCD chuyên trách tại Ban TCD tỉnh, Ban TCD huyện mới chỉ hưởng tiền bồi dưỡng đối với lĩnh vực TCD theo Thông tư số 320.
Cần có chính sách đặc thù phù hợp với điều kiện của từng địa phương
Do đó, tùy vào điều kiện thực tế của mỗi địa phương, cần thiết phải có chính sách hỗ trợ đặc thù nhằm giúp cải thiện thu nhập cho công chức trực tiếp làm công tác TCD, thanh tra, kiểm tra, giải quyết KNTC, thực hiện sau thanh tra, phòng, chống tham nhũng và tố tụng hành chính, dân sự… tạo động lực để phát huy tính sáng tạo, nhiệt huyết trong công tác. Qua đó, nâng cao chất lượng, hiệu quả giải quyết công việc, đồng thời tạo cơ hội để xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức làm công tác tiếp dân ngày càng tốt, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ ngày càng cao trong giai đoạn hiện nay.
Mới đây, tại Nghệ An, Văn phòng UBND tỉnh đã xây dựng và xin ý kiến góp ý vào Dự thảo Nghị quyết của HĐND tỉnh về chính sách hỗ trợ đặc thù đối với cán bộ, công chức làm công tác TCD chuyên trách và xử lý đơn thư KNTC, kiến nghị, phản ánh tại Ban TCD cấp tỉnh, cấp huyện trên địa bàn tỉnh Nghệ An.
Theo đó, Dự thảo Nghị quyết đề xuất mức hỗ trợ đặc thù đối với cán bộ, công chức chuyên trách làm công tác TCD và xử lý đơn thư KNTC, kiến nghị, phản ánh tại Ban TCD cấp tỉnh, cấp huyện là 3.000.000 đồng/người/tháng (ngoài chế độ quy định tại Thông tư số 320). Đối tượng hưởng chính sách hỗ trợ này, gồm: Cán bộ, công chức chuyên trách làm công tác TCD và xử lý đơn thư KNTC, kiến nghị, phản ánh tại Ban TCD tỉnh được thành lập theo quy định tại khoản 2 Điều 12 Luật TCD năm 2013; cán bộ, công chức chuyên trách làm công tác TCD và xử lý đơn thư KNTC, kiến nghị, phản ánh tại Ban TCD huyện, thành phố, thị xã được thành lập theo quy định tại khoản 2, Điều 13 Luật TCD năm 2013.
Trước đó, tại Thanh Hóa, HĐND tỉnh này cũng thông qua Nghị quyết quy định chế độ bồi dưỡng đối với cán bộ, công chức làm công tác TCD, xử lý đơn KNTC, kiến nghị, phản ánh trên địa bàn với 03 mức chi lần lượt là 120.000 đồng/ngày/người, 90.000 đồng/ngày/người và 60.000 đồng/ngày/người.
Cụ thể, mức chi 120.000 đồng/ngày/người áp dụng đối với cán bộ, công chức được giao nhiệm vụ hoặc phân công làm nhiệm vụ TCD, xử lý đơn KNTC, kiến nghị, phản ánh tại trụ sở TCD tỉnh, trụ sở TCD cấp huyện; địa điểm TCD tại các cơ quan chuyên môn thuộc UBND tỉnh, các cơ quan trực thuộc cơ quan chuyên môn thuộc UBND tỉnh, Ủy ban MTTQ tỉnh, cơ quan của các tổ chức chính trị – xã hội cấp tỉnh, cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp huyện, Ủy ban MTTQ cấp huyện, cơ quan của các tổ chức chính trị – xã hội cấp huyện, địa điểm TCD cấp xã, đơn vị sự nghiệp công lập.
Trong trường hợp các đối tượng này đang được hưởng chế độ phụ cấp trách nhiệm theo nghề thì mức chi bồi dưỡng là 90.000 đồng/ngày/người.
HĐND tỉnh này cũng thông qua mức chi 60.000 đồng/ngày/người áp dụng đối với cán bộ, công chức; sỹ quan, hạ sỹ quan, chiến sỹ, quân nhân chuyên nghiệp và nhân viên quốc phòng trong lực lượng vũ trang; cán bộ dân phòng, y tế, giao thông khi được cấp có thẩm quyền giao nhiệm vụ hoặc phân công phối hợp TCD, giữ gìn an ninh, trật tự, bảo đảm y tế tại trụ sở TCD hoặc địa điểm TCD và người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị, cán bộ, công chức được cấp có thẩm quyền giao nhiệm vụ chuyên trách xử lý đơn KNTC, kiến nghị, phản ánh./.
Trường An
(Nguồn: ThanhtraVietNam)

Lượng đơn thư tiếp nhận, xử lý tăng hơn 23%
Theo đánh giá của UBND tỉnh, trong năm 2022, UBND tỉnh đã chỉ đạo các ngành, địa phương tiếp tục triển khai thực hiện Chỉ thị số 35-CT/TW ngày 26/5/2014 của Bộ Chính trị về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo; Chỉ thị số 14/CT-TTg ngày 18/5/2012 của Thủ tướng Chính phủ về chấn chỉnh và nâng cao hiệu quả công tác tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo; Chỉ thị số 28/CT-TTg ngày 30/6/2017 của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường đảm bảo an ninh, trật tự trong tình hình mới; Quy định số 11-QĐ/TW ngày 18/02/2019 của Bộ Chính trị về trách nhiệm của người đứng đầu cấp ủy trong việc tiếp dân, đối thoại trực tiếp với dân và xử lý những phản ánh, kiến nghị của dân; Kế hoạch số 25-KH/TU ngày 22/01/2021 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy về nâng cao hiệu quả công tác tiếp dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh của các tố chức, cá nhân giai đoạn 2021-2025; Kế hoạch số 3535/KH-UBND ngày 22/6/2021 của Ủy ban nhân dân tỉnh về việc triển khai thực hiện Kế hoạch số 25-KH/TU ngày 22/01/2021 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy về nâng cao hiệu quả công tác tiếp dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh của các tố chức, cá nhân giai đoạn 2021-2025; Công văn số 3452/UBND-TCD ngày 18/6/2021 của Ủy ban nhân dân tỉnh về nâng cao chất lượng công tác thẩm tra, xác minh, đề xuất giải quyết khiếu nại liên quan đến đất đai.
Chỉ đạo thủ trưởng các ngành, địa phương tiếp tục phát huy vai trò của người đứng đầu trong công tác tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo và thực hiện nghiêm túc các quy định của pháp luật về khiếu nại, tố cáo. Đồng thời thực hiện công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về khiếu nại, tố cáo, góp phần nâng cao nhận thức và ý thức chấp hành pháp luật của người dân nhằm hạn chế việc khiếu kiện đông người, vượt cấp của người dân tại địa phương.
So với cùng kỳ năm trước, số lượt người qua tiếp công dân tăng 19,20%; lượng đơn thư tiếp nhận, xử lý tăng 23,48%. Nguyên nhân: do việc triển khai thực hiện các công trình, dự án trên địa bàn tỉnh phát sinh việc khiếu nại của các hộ dân có liên quan đến việc thu hồi đất, giải phóng mặt bằng để thực hiện công trình, dự án, như: hồ chứa nước ngọt khu Lạc Địa (xã Phú Lễ, huyện Ba Tri); cầu Rạch Miễu 2; dự án đường từ cảng Giao Long đến khu công nghiệp Phú Thuận, liên huyện Châu Thành – Bình Đại; dự án đầu tư cơ sở hạ tầng phục vụ kêu gọi đầu tư huyện Châu Thành (giai đoạn 2); dự án Cơ sở hạ tầng phục vụ du lịch các xã ven Sông Tiền (giai đoạn 2)…
Cụ thể, trong năm 2022, toàn tỉnh tiếp 5.690 lượt, 5.747 người, 4.653 vụ việc. Trong đó, tiếp thường xuyên 3.983 lượt, 3.902 người, 3.829 vụ việc; tiếp định kỳ và đột xuất của lãnh đạo 1.707 lượt, 1.845 người, 824 vụ việc. Kết quả xử lý đơn: thuộc thẩm quyền 1.567 đơn. Không thuộc thẩm quyền 1.135 đơn.
Kết quả giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh thuộc thẩm quyền: đã giải quyết 1.477 đơn (khiếu nại 128 đơn, tố cáo 17 đơn, kiến nghị, phản ánh 1.332 đơn)/1.567 đơn; đạt tỷ lệ 94,25%). Trong đó, giải quyết khiếu nại 128 đơn/142 đơn; đạt tỷ lệ 90,14%; giải quyết tố cáo 17 đơn/21 đơn; đạt tỷ lệ 80,95%, qua giải quyết kiến nghị xử lý trách nhiệm 01 cán bộ, công chức; giải quyết kiến nghị, phản ánh 1.332 đơn/1.404 đơn; đạt tỷ lệ 94,87%.
Kịp thời giải quyết các bức xúc của người dân ngay từ khi mới phát sinh
Về phương hướng, nhiệm vụ trong trong thời gian tới, UBND tỉnh yêu cầu: Tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 35-CT/TW ngày 26/5/2014 của Bộ Chính trị về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác tiếp công dân và giải quyết khiếu nại, tố cáo; Chỉ thị số 22-CT/TU ngày 29/4/2014 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy về tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo công tác tiếp dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân trên địa bàn tỉnh.
Chỉ đạo các cơ quan, đơn vị, địa phương thực hiện tốt công tác tiếp công dân, giải quyết kiếu nại, tố cáo và các kiến nghị, phản ánh; thực hiện nghiêm túc trách nhiệm tiếp công dân định kỳ; nâng cao hiệu quả công tác tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo và kiến nghị, phản ánh; kịp thời giải quyết các bức xúc của người dân ngay từ khi mới phát sinh, không để tạo thành điểm nóng.
Về giải pháp cụ thể, UBND tỉnh yêu cầu, lãnh đạo các cấp, các ngành phải quan tâm chỉ đạo cơ quan tham mưu chọn những vụ việc phức tạp đề xuất lãnh đạo mời dân để tiếp, nắm bắt nội dung vụ việc để có hướng xử lý dứt điểm vụ việc hoặc xin ý kiến cấp trên nếu trong trường hợp vượt thẩm quyền của mình; gắn công tác tiếp công dân với giải quyết khiếu nại, tố cáo để qua đó, giải thích, vận động, thuyết phục người dân thực hiện theo chủ trương Đảng và chính sách của Nhà nước.
Thường xuyên tự giám sát công tác tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo tại cơ quan; kịp thời chỉ đạo xử lý các tình huống phát sinh để hạn chế vụ việc phức tạp, kéo dài; siết chặt kỷ cương, kỷ luật của cán bộ, công chức, viên chức trong thực hiện nhiệm vụ, công vụ; các vụ việc liên quan đến việc thực hiện chức năng quản lý nhà nước phải được giải quyết theo trình tự, thủ tục pháp luật quy định; không để xảy ra vi phạm dẫn đến phát sinh đơn.
Đình Thuyết
(Nguồn: ThanhtraVietNam)

Gương mẫu, quyết liệt trong triển khai, thực hiện công tác phòng chống tham nhũng, tiêu cực
Cụ thể, UBND tỉnh yêu cầu thủ trưởng các sở, ban, ngành tỉnh, Chủ tịch UBND các huyện, thị xã, thành phố nghiêm túc triển khai một số nội dung sau: Đó là, tiếp tục quán triệt, triển khai thực hiện nghiêm túc các văn bản chỉ đạo công tác phòng chống tham nhũng, tiêu cực của Tỉnh ủy, Ban Chỉ đạo Phòng chống tham nhũng, tiêu cực tỉnh và UBND tỉnh trong thời gian qua.
Nâng cao trách nhiệm của các cấp chính quyền, trước hết là sự gương mẫu, quyết liệt của tập thể lãnh đạo và người đứng đầu trong triển khai, thực hiện công tác phòng chống tham nhũng, tiêu cực; xác định trọng tâm là thực hiện hiệu quả các biện pháp phòng ngừa tham nhũng, tiêu cực; tiếp nhận, giải quyết kịp thời những phản ánh, kiến nghị của công dân về thái độ, chất lượng phục vụ của cán bộ, công chức, viên chức qua Cổng Hỏi – đáp trực tuyến và Hệ thống tiếp nhận phản ánh 1022 Tây Ninh tích hợp trên Cổng Thông tin điện tử tỉnh Tây Ninh để kịp thời ngăn chặn, phát hiện và xử lý hành vi tham nhũng, tiêu cực.
Tiếp tục tăng cường hiệu quả công tác thanh tra có trọng tâm, trọng điểm; tập trung vào những lĩnh vực nhạy cảm, nhiều dư luận như tài nguyên, đất đai, xây dựng, y tế, giáo dục, đầu tư công…; nâng cao chất lượng kết luận thanh tra, đảm bảo tính khả thi; kịp thời chuyển hồ sơ sang cơ quan điều tra nếu phát hiện dấu hiệu tội phạm, nhất là tội phạm về tham nhũng, tiêu cực.
Tiếp tục nghiên cứu, kiến nghị cơ quan có thẩm quyền điều chỉnh, bổ sung, thay thế những bất cập, vướng mắc trong cơ chế, chính sách, pháp luật, nhất là những nội dung dễ bị lợi dụng để tham nhũng, tiêu cực; quan tâm kiến nghị tăng chế tài xử lý hành vi tham nhũng, tiêu cực.
Tích cực rà soát, nâng cao hiệu quả công tác cán bộ; xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức các cấp đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ; thực hiện tốt công tác quy hoạch, bổ nhiệm và lựa chọn người có đủ trình độ, phẩm chất, năng lực nhằm phục vụ lâu dài cho Đảng, Nhà nước và Nhân dân.
Tiếp tục thực hiện tốt công tác đào tạo, bồi dưỡng nhằm nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của đội ngũ công chức, viên chức, mục tiêu mỗi công chức, viên chức phải là một chuyên gia trong lĩnh vực được phân công phụ trách, góp phần hình thành vững chắc nguồn lực lãnh đạo, quản lý kế thừa ngày càng xứng tầm với nhiệm vụ được giao. Lồng ghép nội dung tuyên truyền, phổ biến về đạo đức liêm chính, trách nhiệm của từng cơ quan, đơn vị, cá nhân trong thực hiện nhiệm vụ, công vụ.
Chủ tịch UBND tỉnh giao Thanh tra tỉnh chủ trì, theo dõi, đôn đốc các ngành, địa phương tổ chức triển khai thực hiện tốt những nội dung công tác phòng chống tham nhũng, tiêu cực; phối hợp cùng các ngành triển khai các nhiệm vụ liên quan, xây dựng đội ngũ công chức có phẩm chất, năng lực, xứng tầm nhiệm vụ; hoàn thiện chất lượng, hiệu quả công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trên địa bàn tỉnh.
Năm 2022, phát hiện và xử lý 18 vụ/52 người liên quan đến tham nhũng
Theo báo cáo công tác phòng, chống tham nhũng năm 2022 của UBND tỉnh, các biện pháp phòng ngừa tham nhũng được thực hiện đồng bộ, hiệu quả ở các cấp, các ngành, ở từng cơ quan, đơn vị, địa phương. Việc công khai, minh bạch về tổ chức và hoạt động của cơ quan, tổ chức, đơn vị được bảo đảm; kiểm tra, thanh tra việc thực hiện quy định về công khai, minh bạch tại 18 cơ quan, đơn vị và đã phát hiện 3 cơ quan, đơn vị sai phạm. Việc xây dựng và thực hiện định mức, tiêu chuẩn, chế độ trong cơ quan, tổ chức, đơn vị tiếp tục được quan tâm hoàn thiện.
Trong kỳ, các cấp, các ngành chức năng đã xây dựng 262 văn bản mới, bãi bỏ 13 văn bản về chế độ, định mức, tiêu chuẩn; thanh tra, kiểm tra 21 cuộc/24 đơn vị về công tác quản lý sử dụng tài chính liên quan đến chế độ, định mức, tiêu chuẩn và đã phát hiện sai phạm 18 vụ/52 người với sai phạm đã phát hiện, xử lý trên 978 triệu đồng.
Trong năm 2022, các cơ quan, đơn vị, địa phương cũng đã xây dựng kế hoạch chuyển đổi vị trí công tác và thực hiện chuyển đổi vị trí công tác 129/152 trường hợp, đồng thời thực hiện tốt chế độ thông tin, báo cáo theo quy định nhằm phòng ngừa tham nhũng. Việc ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý, điều hành, tiếp nhận và giải quyết hồ sơ thủ tục hành chính cho người dân được đẩy mạnh. Trong năm, Thanh tra tỉnh đã tổ chức lựa chọn ngẫu nhiên và xác minh 25 người thuộc diện kê khai hằng năm, tại 5 địa phương, ngành. Thanh tra tỉnh đã hoàn tất việc xác minh, đang dự thảo kết luận xác minh; trường hợp kê khai tài sản, thu nhập không trung thực sẽ bị xử lý kỷ luật theo quy định.
Năm 2022, toàn tỉnh đã phát hiện và xử lý 18 vụ/52 người (giảm 2 vụ/5 người so với cùng kỳ năm 2021). Đa số các vụ án, vụ việc tham nhũng thời gian qua liên quan đến công tác quản lý tài chính, tài sản công./.
Đình Thuyết
(Nguồn: ThanhtraVietNam)

Một là, công tác thanh tra
Xây dựng Quy chế tổ chức và hoạt động Đoàn thanh tra của Thanh tra tỉnh. Triển khai tuyên truyền Luật Thanh tra năm 2022 có hiệu lực từ ngày 01 tháng 7 năm 2023 và các văn bản quy phạm pháp luật.
Tập trung triển khai Kế hoạch thanh tra năm 2023 đã được Chủ tịch UBND tỉnh phê duyệt tại Quyết định số 2792/QĐ-UBND ngày 22/11/2022; đổi mới trong xây dựng, tổ chức thực hiện kế hoạch thanh tra; nghiên cứu ứng dụng khoa học, công nghệ vào hoạt động thanh tra. Tiếp tục quán triệt thực hiện nghiêm túc các định hướng phát triển của Trung ương và của tỉnh, chủ động tham gia cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư gắn với phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao.
Tăng cường thanh tra công tác quản lý nhà nước trên các lĩnh vực quan trọng của các ngành, các cấp và thanh tra việc thực hiện chức trách, nhiệm vụ được giao của cơ quan, tổ chức, đơn vị, nhất là các ngành, lĩnh vực, địa phương có dấu hiệu vi phạm, dư luận xã hội phản ánh tiêu cực, tham nhũng, phát sinh nhiều đơn thư khiếu nại, tố cáo.
Nâng cao chất lượng kết luận thanh tra, đảm bảo chặt chẽ, khách quan, kịp thời và khả thi; xử lý nghiêm minh, kịp thời, đúng pháp luật đối với tập thể, cá nhân vi phạm pháp luật; quan tâm kiến nghị hoàn thiện chính sách, pháp luật trên lĩnh vực được thanh tra.
Đẩy mạnh công tác giám sát, thẩm định và xử lý sau thanh tra, trọng tâm là tổ chức thực hiện có hiệu quả các quy định của pháp luật về thực hiện kết luận thanh tra, nhất là việc thu hồi tiền và tài sản do vi phạm, tiêu cực, tham nhũng. Phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan thanh tra, kiểm tra, kiểm toán và các cơ quan nội chính nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả thanh tra.
Về công tác xử lý sau thanh tra, tăng cường công tác theo dõi, đôn đốc, kiểm tra việc thực hiện kết luận thanh tra, triển khai các biện pháp thu hồi tiền, tài sản đạt từ 80% trở lên và tham mưu có hiệu quả các vụ việc còn tồn đọng từ các năm trước.
Hai là, công tác tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo
Tiếp tục thực hiện nghiêm các quy định pháp luật về tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo, các chỉ thị, nghị quyết của Trung ương, Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ về công tác tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo; chấn chỉnh những tồn tại, yếu kém, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý Nhà nước, chất lượng đội ngũ cán bộ, nhất là trong việc ban hành, tham mưu ban hành quyết định hành chính và thực thi công vụ ở những lĩnh vực dễ xảy ra khiếu nại, tố cáo đông người, phức tạp.
Giải quyết kịp thời, đúng pháp luật, phù hợp thực tế đối với các vụ việc khiếu nại, tố cáo thuộc thẩm quyền ngay từ khi mới phát sinh tại cơ sở, phấn đấu đạt trên 85%; thực hiện tốt các quyết định giải quyết khiếu nại, quyết định xử lý tố cáo đã có hiệu lực pháp luật, phấn đấu đạt trên 90%. Tích cực phối hợp với các cơ quan có thẩm quyền giải quyết tố cáo đạt kết quả chính xác, khách quan.
Tiếp tục triển khai thực hiện nghiêm túc, có hiệu quả ý kiến chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ và Kế hoạch 363/KH-TTCP của Thanh tra Chính phủ về kiểm tra, rà soát, giải quyết dứt điểm các vụ việc khiếu nại, tố cáo đông người, phức tạp, kéo dài và Kế hoạch số 1910/KH-TTCP ngày 29/10/2021 của Thanh tra Chính phủ về việc khiếu nại, tố cáo đông người, phức tạp kéo dài tại các cơ quan Trung ương nhất là các vụ việc khiếu kiện lên Trung ương, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của công dân, cá nhân, tổ chức, qua đó giải quyết căn bản tình hình khiếu nại, tố cáo phức tạp, kéo dài nhằm góp phần ổn định chính trị, phát triển kinh tế – xã hội.
Tăng cường và có giải pháp nâng cao hiệu lực, hiệu quả thanh tra, kiểm tra trách nhiệm thực hiện pháp luật về tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo, nhất là trách nhiệm của người đứng đầu trong công tác tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo, tập trung ở những địa bàn, lĩnh vực xảy ra khiếu nại, tố cáo đông người, vượt cấp, không để phát sinh “điểm nóng”. Chú trọng làm tốt công tác hòa giải ở cơ sở gắn với công tác dân vận, tích cực vận động quần chúng Nhân dân chấp hành tốt chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, hạn chế việc khiếu nại, tố cáo không đúng quy định.
Tiếp tục đẩy mạnh thực hiện có hiệu quả việc sử dụng Hệ thống Cơ sở dữ liệu quốc gia về khiếu nại, tố cáo và kết nối, chia sẻ dữ liệu với Cơ sở dữ liệu Quốc gia về Dân cư.
Ba là, công tác phòng, chống tham nhũng
Tiếp tục triển khai có hiệu quả các nhiệm vụ theo Luật Phòng, chống tham nhũng và Nghị định số 130/2020/NĐ-CP ngày 30/10/2020 của Chính phủ. Nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện các giải pháp phòng ngừa tham nhũng, ngăn chặn các hành vi vi phạm pháp luật; chấp hành nghiêm túc về minh bạch tài sản, thu nhập; kiến nghị với cơ quan thẩm quyền xử lý nghiêm các đối tượng vi phạm theo quy định pháp luật.
Tham mưu kịp thời cho UBND chỉ đạo, đôn đốc các cấp, các ngành triển khai thực hiện đồng bộ các giải pháp phòng, chống tham nhũng, tiêu cực.
Tiếp nhận và tham mưu thực hiện đầy đủ về kê khai, xác minh tài sản thu nhập theo quy định; Triển khai thực hiện 100% các cuộc thanh tra trách nhiệm trong thực hiện các quy định của pháp luật về phòng, chống tham nhũng theo kế hoạch.
Bốn là, công tác cải cách hành chính và một số nhiệm vụ khác
Ban hành kế hoạch: cải cách hành chính; tuyên truyền cải cách hành chính; kiểm soát thủ tục hành chính; cải thiện và nâng cao chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) và các kế hoạch khác theo quy định.
Tham mưu công tác chuyển ngạch thanh tra viên, thanh tra viên chính; đổi thẻ thanh tra viên; thi thanh tra viên lên thanh tra viên chính; đề nghị xét tặng Kỷ niệm chương cho công chức trong ngành Thanh tra; hiệp y bổ nhiệm Chánh thanh tra các sở và huyện, thành phố. Thực hiện chuyển đổi vị trí công tác đối với công chức trong cơ quan./.
Ngọc Xinh
(Nguồn: ThanhtraVietNam)

UBND tỉnh Kon Tum vừa ban hành Chương trình hành động của UBND tỉnh về THTK, CLP năm 2023 (Chương trình). Trong đó, yêu cầu Chương trình phải đảm bảo tính toàn diện nhưng cần có trọng tâm, trọng điểm; tập trung vào chủ đề năm 2023 là “Triển khai đầy đủ, nghiêm túc, chất lượng, đảm bảo tiến độ các nhiệm vụ, giải pháp, kiến nghị Quốc hội đã đề ra tại Nghị quyết số 74/2022/QH15 ngày 15/11/2022 về tiếp tục đẩy mạnh việc thực hiện chính sách, pháp luật về THTK, CLP”.
THTK, CLP là trách nhiệm của các cấp, các ngành, cơ quan, tổ chức và cá nhân trong thực hiện nhiệm vụ được giao, phải bám sát chủ trương, định hướng của Đảng, Nhà nước, gắn với việc thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã hội của ngành, lĩnh vực và từng địa phương với trách nhiệm của người đứng đầu và sự gắn kết giữa các ngành, lĩnh vực để tạo chuyển biến tích cực trong THTK, CLP.
Đặc biệt, THTK, CLP phải gắn với tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, kiểm toán, giám sát, thúc đẩy cải cách hành chính, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị, phòng chống tham nhũng, tiêu cực.
Giải ngân kế hoạch vốn đầu tư công là nhiệm vụ chính trị hàng đầu
Để đạt được các mục tiêu đã đề ra, Chương trình, trong năm 2023 tỉnh Kon Tum cần triển khai có hiệu quả các nhiệm vụ chủ yếu, như: Tập trung thực hiện hiệu quả Chương trình phục hồi và phát triển kinh tế – xã hội nhằm tạo động lực đột phá để khôi phục và phát triển kinh tế sớm nhất; huy động, khai thác, sử dụng có hiệu quả các nguồn lực, tiềm năng, lợi thế của tỉnh; tạo nền tảng phát triển kinh tế số, xã hội số. Thực hiện chống lãng phí trong sử dụng các nguồn lực, tài nguyên thiên nhiên, phấn đấu tốc độ tăng trưởng GRDP của tỉnh đạt từ 10% trở lên.
Điều hành chi ngân sách nhà nước chặt chẽ, tiết kiệm, hiệu quả; cắt giảm các khoản chi chưa thực sự cần thiết. Công khai, minh bạch và thực hiện triệt để tiết kiệm ngay từ khâu xác định nhiệm vụ, đảm bảo việc thực hiện các nhiệm vụ thống nhất từ khâu lập dự toán đến triển khai phân bổ, quản lý, sử dụng ngân sách nhà nước. Thường xuyên rà soát tổng thể các chế độ, chính sách để bãi bỏ theo thẩm quyền hoặc trình cấp có thẩm quyền bãi bỏ.
Đồng thời, đẩy nhanh tiến độ thực hiện giao quyền tự chủ tài chính cho các đơn vị sự nghiệp công lập giai đoạn 2023-2025 theo đúng quy định. Đẩy mạnh việc giao quyền tự chủ và nâng mức độ tự chủ của các đơn vị sự nghiệp ở mức tự chủ cao hơn, tăng cường xã hội hóa, khai thác, mở rộng nguồn thu dịch vụ, sự nghiệp, phấn đấu thực hiện đạt tỷ lệ trên 10% giảm chi trực tiếp từ ngân sách cho các đơn vị sự nghiệp.
Đáng chú ý, UBND tỉnh yêu cầu các cấp, các ngành quyết liệt thực hiện các nhiệm vụ, giải pháp giải ngân kế hoạch vốn đầu tư công, coi đây là nhiệm vụ chính trị hàng đầu trong năm 2023. Tăng cường kỷ luật, kỷ cương trong giải ngân vốn đầu tư công, xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm, cản trở làm chậm tiến độ giao vốn, giải ngân vốn; cá thể hóa trách nhiệm người đứng đầu trong trường hợp giải ngân chậm, gắn với đánh giá mức độ hoàn thành nhiệm vụ được giao. Tăng cường kiểm tra, giám sát nâng cao hiệu quả đầu tư của các công trình dự án sau hoàn thành đưa vào sử dụng.
Những lĩnh vực, hoạt động sẽ thanh tra, kiểm tra
Tăng cường trách nhiệm của người đứng đầu. Tăng cường, nâng cao hiệu quả trong công tác thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật về THTK, CLP đối với các cơ quan, đơn vị sử dụng kinh phí ngân sách nhà nước, tiền, tài sản công, tài nguyên thiên nhiên và các doanh nghiệp có vốn của Nhà nước. Kiên quyết xử lý theo đúng quy định pháp luật đối với các tổ chức, cá nhân cố tình vi phạm, gây lãng phí.
Theo Chương trình của UBND tỉnh Kon Tum, THTK, CLP được thực hiện trên tất cả các lĩnh vực theo quy định của Luật THTK, CLP, trong đó tập trung vào một số lĩnh vực, gồm: Quản lý, sử dụng kinh phí chi thường xuyên của ngân sách nhà nước; quản lý, sử dụng vốn đầu tư công; quản lý chương trình mục tiêu quốc gia; quản lý, sử dụng tài sản công; quản lý, khai thác, sử dụng tài nguyên, khoáng sản; quản lý các quỹ tài chính nhà nước ngoài ngân sách; quản lý, sử dụng vốn và tài sản của Nhà nước tại doanh nghiệp; quản lý, sử dụng lao động và thời gian lao động trong khu vực nhà nước.
Các huyện, thành phố phải xây dựng kế hoạch thanh tra, kiểm tra cụ thể
Về các giải pháp thực hiện mục tiêu, chỉ tiêu tiết kiệm, chống lãng phí, UBND tỉnh Kon Tum yêu cầu Thủ trưởng các sở, ban, ngành, đơn vị thuộc tỉnh; Chủ tịch UBND các huyện, thành phố và các Công ty TNHH MTV do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ được UBND tỉnh quyết định thành lập trong phạm vi quản lý của mình có trách nhiệm chỉ đạo thống nhất việc thực hiện các mục tiêu, chỉ tiêu THTK, CLP năm 2023, triển khai xây dựng kế hoạch thực hiện cụ thể các mục tiêu, chỉ tiêu tiết kiệm cho từng lĩnh vực; phân công rõ ràng trách nhiệm của từng cơ quan, tổ chức, đơn vị; tăng cường kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện các mục tiêu, chỉ tiêu tiết kiệm.
Riêng về công tác thanh tra, kiểm tra việc xây dựng và thực hiện Chương trình THTK, CLP và các lĩnh vực liên quan đến THTK, CLP, UBND tỉnh yêu cầu các sở, ban, ngành, các đơn vị trực thuộc UBND tỉnh, UBND các huyện, thành phố theo chức năng, nhiệm vụ được giao xây dựng kế hoạch thanh tra, kiểm tra cụ thể liên quan đến THTK, CLP.
Trong đó, xây dựng kế hoạch và thực hiện việc thanh tra, kiểm tra đối với những lĩnh vực, nội dung hoạt động dễ phát sinh thất thoát, lãng phí, như: Cơ chế điều hành và tổ chức thực hiện các Đề án, Chương trình có nguồn từ ngân sách nhà nước của các Sở, ban, ngành, các đơn vị trực thuộc UBND tỉnh, UBND các huyện, thành phố; quản lý và sử dụng đất, trọng tâm là các dự án không đưa đất vào sử dụng, chậm sử dụng đất; tình hình triển khai thực hiện các dự án đầu tư công; quản lý kinh phí sự nghiệp khoa học công nghệ.
Thủ trưởng các đơn vị chủ động xây dựng kế hoạch kiểm tra, tự kiểm tra tại các đơn vị mình và chỉ đạo công tác kiểm tra, tự kiểm tra của đơn vị cấp dưới trực thuộc. Đối với những vi phạm được phát hiện trong công tác kiểm tra, thủ trưởng đơn vị phải kịp thời khắc phục, xử lý hoặc đề xuất, kiến nghị cơ quan có thẩm quyền có biện pháp xử lý. Thực hiện nghiêm các quy định của pháp luật về xử lý vi phạm đối với người đứng đầu cơ quan, đơn vị để xảy ra lãng phí./.
Hoàng Minh
( Nguồn: ThanhtraVietNam)
Thanh tra TP Hồ Chí Minh vừa ban hành Thông báo Kết luận thanh tra số 02/TB-TTTP-P1 ngày 31/1/2023 về trách nhiệm thủ trưởng trong việc chấp hành pháp luật thanh tra, tiếp công dân, tranh chấp, khiếu nại, tố cáo và thực hiện các nhiệm vụ được giao tại Sở Tài nguyên và Môi trường (TN&MT).

Qua thanh tra cho thấy, trong quản lý điều hành, Sở TN&MT vẫn còn một số tồn tại, hạn chế, thiếu sót. Việc phê duyệt kế hoạch thanh tra hàng năm còn chậm, không đảm bảo thực hiện kế hoạch thanh tra hàng năm giai đoạn 2019-2021, chỉ thực hiện thanh tra đột xuất, không thực hiện thanh tra theo kế hoạch.
Chậm ban hành báo cáo kết quả thanh tra kể từ ngày thông báo kết thúc thanh tra; ghi nhật ký đoàn thanh tra không đầy đủ; công khai kết luận thanh tra chưa đúng quy định, không lựa chọn ít nhất một trong ba hình thức công khai kết luận thanh…
Sở TN&MT chưa thực hiện việc theo dõi, đôn đốc, kiểm tra chặt chẽ việc xử lý đơn và giải quyết đơn khiếu nại, tố cáo, tranh chấp, kiến nghị, phản ánh thuộc thẩm quyền. Từ đây, dẫn đến số lượng lớn đơn còn tồn đọng, chưa có kết quả giải quyết, vi phạm thời hạn xử lý đơn trong thời gian dài.
Về mặt thủ tục hành chính, Sở TN&MT còn một số thiếu sót như không ban hành thông báo về việc không đủ điều kiện thụ lý khiếu nại; chưa có thông báo kết quả xử lý đơn gửi người tố cáo biết về việc thụ lý hay không thụ lý tố cáo; không ban hành thông báo về việc không thụ lý giải quyết tố cáo theo mẫu quy định. Công tác tổng hợp, báo cáo số liệu không đầy đủ, không chính xác.
Theo Thanh tra TP Hồ Chí Minh, nguyên nhân chủ quan do lãnh đạo Sở TN&MT giao nhiệm vụ cho Thanh tra Sở, Thanh tra Sở giao cho cán bộ thực hiện không bằng văn bản, không xác định thời hạn cụ thể; theo dõi, đôn đốc, kiểm tra chưa thường xuyên, năng lực, nghiệp vụ chuyên môn của cán bộ còn hạn chế khi thực hiện việc xử lý đơn.
Trong giải quyết khiếu nại, tình trạng phổ biến nhất là vi phạm thời hạn giải quyết khiếu nại trong thời gian dài, đặc biệt trong vai trò tham mưu cho Chủ tịch UBND TP giải quyết khiếu nại.
Ngoài ra, Sở TN&MT còn những sai sót khác về trình tự, thủ tục như không mời người khiếu nại để làm rõ nội dung khiếu nại; ban hành quyết định đình chỉ giải quyết khiếu nại trễ hạn…
Đối với công tác giải quyết tranh chấp, vi phạm thời hạn xử lý đơn, giải quyết đơn tranh chấp là tình trạng phổ biến nhất. Nguyên nhân chủ quan là do công tác theo dõi, đôn đốc, kiểm tra chưa thường xuyên, do thiếu trách nhiệm và năng lực, nghiệp vụ chuyên môn còn hạn chế của cán bộ thực hiện nhiệm vụ.
Những thiếu sót, vi phạm nêu trên thuộc trách nhiệm Thanh tra Sở, Chánh Thanh tra Sở, cán bộ được giao nhiệm vụ có liên quan.
Chánh Thanh tra TP kiến nghị và được Phó Chủ tịch UBND TP Bùi Xuân Cường kết luận, chỉ đạo, giao giám đốc Sở TN&MT thường xuyên thực hiện tuyên truyền, phổ biến pháp luật, tập huấn, bồi dưỡng nghiệp vụ, trao đổi kinh nghiệm về công tác thanh tra, tiếp dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo, tranh chấp đất đai để tăng cường nhận thức, hành động, khắc phục các tồn tại, nâng cao chất lượng công việc.
Chấn chỉnh công tác xử lý đơn, giải quyết khiếu nại, tố cáo, tranh chấp theo kết luận thanh tra. Đặc biệt, phải có biện pháp khắc phục vi phạm thời hạn xử lý đơn, giải quyết đơn.
Tổ chức kiểm điểm trách nhiệm đối với tập thể, cá nhân thuộc Sở có liên quan đến những thiếu sót, hạn chế, vi phạm để có biện pháp xử lý theo thẩm quyền.
Ngoài ra, phải kiện toàn tổ chức, hoạt động và đội ngũ cán bộ, công chức Thanh tra Sở, có biện pháp chấn chỉnh, khắc phục những hạn chế, thiếu sót về năng lực, trình độ và tinh thần trách nhiệm của đội ngũ Thanh tra Sở, chú trọng công tác luân chuyển, chuyển đổi vị trí công tác đối với công chức thuộc diện chuyển đổi theo đúng quy định.
Thu Huyền
(Nguồn: Thanhtra.com.vn)
Để tăng cường hiệu lực, hiệu quả công tác tiếp công dân (TCD) và giải quyết khiếu nại, tố cáo (KNTC) trong Tòa án nhân dân, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao yêu cầu Chánh án các Tòa án, Thủ trưởng các đơn vị thuộc Tòa án nhân dân tối cao có trách nhiệm tiếp tục quán triệt đầy đủ, thực hiện nghiêm túc, hiệu quả các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước về TCD, giải quyết KNTC, nhất là Chỉ thị số 35-CT/TW ngày 26/5/2014 của Bộ Chính trị về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác TCD và giải quyết KNTC; Luật TCD, Luật Khiếu nại, Luật Tố cáo, các đạo luật về tố tụng và các quy định của pháp luật có liên quan.

Thời gian qua, công tác TCD và giải quyết KNTC trong Tòa án nhân dân đã có nhiều chuyển biến tích cực, chất lượng, hiệu quả được nâng lên. Nhận thức, trách nhiệm, thái độ phục vụ nhân dân của cán bộ, công chức, viên chức Tòa án có nhiều tiến bộ. Pháp luật và văn bản hướng dẫn về TCD, giải quyết KNTC tiếp tục được hoàn thiện. Các Tòa án đã tập trung thực hiện việc TCD và giải quyết các KNTC thuộc thẩm quyền. Công tác giám sát, kiểm tra, thanh tra việc giải quyết KNTC được tăng cường. Đã giải quyết dứt điểm nhiều vụ việc phức tạp, kéo dài, góp phần giữ vững ổn định chính trị, trật tự, an toàn xã hội, tạo môi trường thuận lợi để phát triển kinh tế – xã hội.
Bên cạnh những kết quả đã đạt được, công tác TCD và giải quyết KNTC vẫn còn một số tồn tại, hạn chế, bất cập như: người đứng đầu một số đơn vị chưa thường xuyên quan tâm đến công tác TCD và giải quyết KNTC; một số quy định, hướng dẫn chưa bảo đảm tính thống nhất, khả thi trong thực tiễn; nhiều nội dung chưa được quy định, hướng dẫn kịp thời; việc TCD định kỳ của người đứng đầu ở một số Tòa án chưa được quan tâm đúng mức, có lúc, có nơi chưa được thực hiện đầy đủ theo quy định; đội ngũ cán bộ TCD và giải quyết KNTC tại một số Tòa án chưa được quan tâm đầy đủ, còn thiếu về số lượng, một số năng lực, trình độ còn hạn chế; trang thiết bị, cơ sở vật chất phục vụ còn chưa đáp ứng được yêu cầu; ứng dụng công nghệ thông tin trong việc cập nhật dữ liệu, quản lý đơn thư, KNTC hiệu quả chưa cao.
Để tiếp tục nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác TCD, giải quyết KNTC và thực hiện nghiêm túc Nghị quyết số 623/NQ-UBTVQH15 ngày 07/10/2022 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về tiếp tục nâng cao hiệu lực, hiệu quả thực hiện chính sách, pháp luật về TCD, giải quyết KNTC (sau đây viết tắt là Nghị quyết 623/NQ-UBTVQH15), Chánh án Tòa án nhân dân tối cao yêu cầu Chánh án các Tòa án, Thủ trưởng các đơn vị có trách nhiệm tiếp tục quán triệt đầy đủ, thực hiện nghiêm túc, hiệu quả các chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng, Nhà nước về TCD, giải quyết KNTC, cụ thể như sau:
Một là, tiếp tục quán triệt đầy đủ, thực hiện nghiêm túc, hiệu quả các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước về TCD, giải quyết KNTC; nhất là Chỉ thị số 35-CT/TW ngày 26/5/2014 của Bộ Chính trị về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác TCD và giải quyết KNTC; Luật TCD, Luật Khiếu nại, Luật Tố cáo, các đạo luật về tố tụng và các quy định của pháp luật có liên quan.
Hai là, xác định TCD, giải quyết KNTC là nhiệm vụ chính trị quan trọng, thường xuyên, ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng hoạt động, uy tín và hình ảnh của Tòa án trước Nhân dân. Phát huy và đề cao trách nhiệm của người đứng đầu Tòa án, đơn vị trong việc tổ chức công tác TCD, giải quyết KNTC. Người đứng đầu phải trực tiếp lãnh đạo, chỉ đạo và chịu trách nhiệm về tình hình KNTC và công tác TCD, giải quyết KNTC trong phạm vi địa bàn, lĩnh vực phụ trách. Các KNTC phải được xem xét, giải quyết theo đúng quy định của pháp luật với tinh thần trách nhiệm cao nhất. Chú trọng việc tiếp, lắng nghe ý kiến, nguyện vọng và giải quyết các yêu cầu của người dân từ cấp cơ sở. Chủ động đối thoại, vận động, thuyết phục để giải quyết, tháo gỡ kịp thời các khiếu kiện, bức xúc của Nhân dân. Lấy kết quả TCD, giải quyết KNTC là tiêu chí đánh giá năng lực, mức độ hoàn thành nhiệm vụ của cán bộ, công chức.
Ba là, chủ động xây dựng các nội quy, quy trình, quy chế phối hợp trong công tác TCD, giải quyết KNTC phù hợp với đặc thù của mỗi Tòa án, đơn vị. Phân biệt và thực hiện đúng việc TCD, giải quyết KNTC theo Luật Khiếu nại, Luật Tố cáo với TCD, giải quyết KNTC theo pháp luật tố tụng để giải quyết các vụ án, vụ việc. Niêm yết nội quy, quy chế TCD, quy trình giải quyết KNTC công khai tại nơi TCD và thông báo công khai lịch TCD của cơ quan, lịch TCD định kỳ của lãnh đạo Tòa án bằng hình thức thích hợp để người dân dễ dàng tiếp cận, tra cứu khi có công việc liên quan đến Tòa án. Thực hiện nghiêm túc việc TCD định kỳ và đột xuất, gắn việc TCD với giải quyết KNTC, kiến nghị, phản ánh. Trường hợp phát sinh KNTC, kiến nghị, phản ánh đông người, phức tạp, người đứng đầu Tòa án, đơn vị phải trực tiếp gặp gỡ, đối thoại với công dân để giải quyết kịp thời.
Bốn là, khẩn trương có kế hoạch thực hiện nghiêm túc, hiệu quả Nghị quyết 623/NQ-UBTVQH15 và các kiến nghị trong Báo cáo số 334/BC-ĐGS ngày 07/10/2022 của Đoàn giám sát Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Chủ động rà soát, tổ chức thực hiện các kết luận tố cáo, quyết định giải quyết khiếu nại đã có hiệu lực pháp luật thuộc thẩm quyền; tập trung giải quyết dứt điểm các vụ việc KNTC phức tạp, tồn đọng, nhất là các kiến nghị của Quốc hội, Đại biểu Quốc hội, KNTC, phản ánh của người dân liên quan đến hoạt động của Tòa án. Khắc phục triệt để tình trạng không rõ trách nhiệm, chậm giải quyết đơn KNTC, kiến nghị, phản ánh tại các Tòa án, đơn vị.
Năm là, nêu cao tinh thần trách nhiệm, thường xuyên kiểm tra, đôn đốc, rút kinh nghiệm việc TCD và giải quyết KNTC. Tăng cường công tác hòa giải, đối thoại trong giải quyết các vụ việc dân sự, vụ án hành chính. Chú trọng công tác giám đốc, kiểm tra việc xét xử để sớm phát hiện những sai sót, sai phạm trong hoạt động tố tụng, nhất là việc giải quyết KNTC trong hoạt động tố tụng và giải quyết đơn đề nghị giám đốc thẩm, tái thẩm để kịp thời chấn chỉnh, khắc phục.
Sáu là, bố trí cán bộ TCD có phẩm chất chính trị, đạo đức, có chuyên môn nghiệp vụ tốt; có kỹ năng hướng dẫn, giải thích, vận động, thuyết phục để công dân hiểu và chấp hành đúng pháp luật; nhiệt tình, tận tụy và trách nhiệm đối với nhiệm vụ được giao. Quan tâm thực hiện chế độ đãi ngộ cho cán bộ TCD theo quy định, nhất là cán bộ trực tiếp làm công tác TCD, công tác tham mưu giải quyết KNTC.
Bảy là, thường xuyên kiểm tra trách nhiệm của người đứng đầu các Tòa án, đơn vị trong việc chấp hành pháp luật về TCD, giải quyết KNTC; kiểm tra việc thi hành công vụ của đội ngũ Thẩm phán, công chức, viên chức để nâng cao chất lượng, hiệu quả giải quyết công việc, chất lượng phục vụ Nhân dân; xử lý nghiêm các hành vi nhũng nhiễu, gây khó khăn, phiền hà đối với người dân và doanh nghiệp.
Tám là, phối hợp chặt chẽ với các cơ quan có trách nhiệm trong việc tổ chức, thực hiện TCD, giải quyết KNTC. Chủ động phối hợp với Viện kiểm sát, các cơ quan hữu quan ban hành các quy chế phối hợp, hỗ trợ, cung cấp thông tin, tài liệu, chứng cứ nhằm giải quyết dứt điểm, đúng pháp luật các vụ việc; đặc biệt là các vụ việc KNTC đông người, gay gắt, phức tạp, các vụ việc đã được các cơ quan có thẩm quyền lập danh sách kiểm tra, rà soát qua đợt giám sát của Đoàn giám sát của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Chín là, trong điều kiện cơ sở vật chất hiện có, ưu tiên bố trí địa điểm TCD khang trang, thuận tiện, bảo đảm trang bị, thiết bị cần thiết phục vụ cho công tác TCD và giải quyết KNTC.
Mười là, thực hiện nghiêm túc chế độ báo cáo công tác TCD, giải quyết KNTC theo quy định, trong đó tập trung nâng cao chất lượng phân tích kết quả thực hiện trong kỳ; chất lượng đánh giá và dự báo tình hình KNTC. Định kỳ 06 tháng, hàng năm, có trách nhiệm gửi báo cáo tiến độ, kết quả thực hiện nhiệm vụ được giao theo quy định của Luật Hoạt động giám sát và Nghị quyết 623/NQ-UBTVQH15.
Bên cạnh đó, Ban Thanh tra Tòa án nhân dân tối cao có trách nhiệm tổ chức rà soát các khó khăn, vướng mắc trong công tác TCD, giải quyết KNTC tại các Tòa án, trong đó tập trung đánh giá các quy định về TCD của Chánh án các Tòa án, mô hình TCD tại các Tòa án, việc TCD trực tuyến,… và quy định khác của pháp luật hiện đang vướng mắc, bất cập, báo cáo cấp có thẩm quyền xem xét sửa đổi, bổ sung, hướng dẫn.
Các Vụ giám đốc kiểm tra thuộc Tòa án nhân dân tố cao và các Tòa án nhân dân cấp cao có trách nhiệm tập trung thực hiện tốt các giải pháp để đẩy nhanh tiến độ và nâng cao chất lượng giải quyết đơn đề nghị giám đốc thẩm, tái thẩm nhằm phát hiện những sai sót, vi phạm để chấn chỉnh, khắc phục kịp thời./.
Quỳnh An
(Nguồn: ThanhtraVietNam)
Đó là ý kiến chỉ đạo của ông Đồng Văn Thanh, Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch UBND tỉnh Hậu Giang tại Hội nghị Tổng kết công tác Thanh tra, Đoàn Công tác liên ngành, giải quyết khiếu nại, tố cáo tỉnh năm 2022, triển khai nhiệm vụ 2023.

Trong năm 2023, Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch UBND tỉnh Đồng Văn Thanh yêu cầu Thanh tra tỉnh tiếp tục nâng cao chất lượng kết luận thanh tra, xử lý kịp thời đúng pháp luật đối với tập thể, cá nhân vi phạm pháp luật; tập trung thanh tra các lĩnh vực quản lý nhà nước dễ phát sinh tham nhũng tiêu cực và đẩy mạnh công tác theo dõi và xử lý sau thanh tra, theo dõi việc thu hồi tiền và tài sản do vi phạm trong tham nhũng tiêu cực. Các cấp ủy Đảng, chính quyền từ tỉnh đến cơ sở, tiếp tục quán triệt sâu sắc lãnh đạo, điều hành, thực hiện có hiệu quả các chủ trương, nghị quyết, chỉ thị của Đảng, pháp luật của Nhà nước về công tác thanh tra, tiếp công dân, giải quyết khiếu nại tố cáo và phòng, chống tham nhũng. Tập trung chỉ đạo, điều hành thực hiện tốt theo kế hoạch thanh tra năm 2023 đã được phê duyệt và các cuộc thanh tra đột xuất, nhất là các lĩnh vực nhạy cảm mà dư luận xã hội đặc biệt quan tâm, kiến nghị xử lý nghiêm minh các vụ việc vi phạm tiêu cực tham nhũng.
Giao Thanh tra tỉnh sớm tham mưu Chủ tịch UBND tỉnh có văn bản chấn chỉnh công tác thanh tra, kiểm tra trên địa bàn tỉnh, nhằm nâng cao chất lượng các cuộc thanh tra, kiểm tra mà không bị ảnh hưởng đến hoạt động bình thường của các cơ quan đơn vị.
Ngành Thanh tra tỉnh tích cực rà soát các kết luận thanh tra, đảm bảo thu hồi sau thanh tra đạt từ 80% trở lên, thủ trưởng cơ quan đơn vị tăng cường hơn nữa trong việc thực hiện các giải pháp phòng ngừa tham nhũng, nhất là công khai, minh bạch các lĩnh vực phải công khai, xây dựng và thực hiện đúng kế hoạch chuyển đổi vị trí công tác, tăng cường công tác kiểm tra nội bộ, thực hiện đúng quy tắc ứng xử cán bộ công chức. Thanh tra tỉnh chủ động kiểm tra, xác minh tài sản, thu nhập theo kế hoạch UBND tỉnh phê duyệt vào tháng 8 năm 2022; yêu cầu người đứng đầu sở, ban, ngành, địa phương chủ động tăng cường công tác đối thoại, tiếp công dân, giải quyết đơn thư, khiếu nại tố cáo, tập trung giải quyết hết nội dung vụ việc thay vì giải quyết hết thẩm quyền chỉ đạo; giải quyết kịp thời các vụ việc khiếu nại, tố cáo, phản ánh, hạn chế thấp nhất vụ việc quá hạn.
Giao Giám đốc Sở Tài nguyên và Môi trường, Chủ tịch UBND cấp huyện thực hiện tốt công tác quản lý nhà nước về lĩnh vực đất đai, thực hiện công tác thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư đảm bảo đúng trình tự, thủ tục, giải quyết kịp thời phản ánh, kiến nghị tại cơ sở, nhất là các dự án trọng điểm đã và đang triển khai thực hiện. Triển khai thực hiện có hiệu quả các cuộc thanh tra trách nhiệm giải quyết khiếu nại tố cáo và tiếp công dân, thực hiện dứt điểm vụ việc khiếu nại tồn động kéo dài và phát sinh mới, thực hiện tốt công tác tổng hợp nhập dữ liệu về tiếp công dân giải quyết khiếu nại tố cáo phải đảm bảo chính xác đúng quy định.
Đối với Đoàn công tác liên ngành thường xuyên kiện toàn tổ chức hoạt động đoàn công tác liên ngành 2 cấp tỉnh, huyện; các cuộc họp, gặp gỡ, đối thoại giải quyết khiếu nại tố cáo phải đảm bảo đúng thành phần, có tinh thần trách nhiệm trong phát biểu ý kiến, tăng cường công tác phối hợp nhất là hỗ trợ đoàn công tác liên ngành cấp huyện trong giải quyết khiếu nại, tố cáo và góp ý hồ sơ cưỡng chế thu hồi đất, xử phạt hành chính, thực hiện tốt dự báo tình hình khiếu nại đối với đoàn công tác liên ngành cấp huyện, chủ động xem xét, giải quyết kịp thời hạn chế vụ việc khiếu nại lên tỉnh hoặc khởi kiện ra tòa án.
Về công tác xây dựng Ngành Thanh tra tiếp tục củng cố tổ chức bộ máy tham gia các cấp, các ngành đảm bảo tổ chức thanh tra hoạt động có chất lượng, hiệu quả, quan tâm hơn nữa công tác đào tạo bồi dưỡng về lý luận chính trị chuyên môn nghiệp vụ đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới, tăng cường công tác kiểm tra giám sát cán bộ, công chức ngành Thanh tra xứng đáng như lời dạy Chủ tịch Hồ Chí Minh “Thanh tra là tai mắt của trên, là bạn của dưới” quan tâm công tác xây dựng Đảng, chính quyền, đoàn thể, nội bộ đoàn kết thống nhất trong ngành Thanh tra nhằm thực hiện tốt các nhiệm vụ chính trị được giao; các địa phương chủ động điều tiết biên chế cho thanh tra cấp huyện, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ. Thanh tra tỉnh khẩn trương phối hợp với Sở Nội vụ có lộ trình thực hiện có hiệu quả kế hoạch điều động, biệt phái công chức trong ngành Thanh tra đảm bảo lực lượng đủ mạnh, hoạt động hiệu quả.
Khánh Nghi
(Nguồn: ThanhtraVietNam)