Tổng kết 2 kỳ họp bất thường cho thấy, công tác nhân sự được tiến hành thận trọng, chặt chẽ, đúng chủ trương của Đảng, bảo đảm quy trình, thủ tục, đúng nguyên tắc tập trung dân chủ, công khai, minh bạch, đạt được sự thống nhất cao của các vị đại biểu Quốc hội.

Sáng ngày 14/2, tiếp tục chương trình phiên họp 20, Ủy ban Thường vụ Quốc hội cho ý kiến về tổng kết kỳ họp bất thường lần thứ 2 và thứ 3, Quốc hội khóa XV.
Kỳ họp bất thường lần thứ 2 diễn ra trong 4 ngày vào thời điểm ngay sau Tết Dương lịch và kỳ họp bất thường lần thứ 3 diễn ra trong 0,5 ngày sát Tết Nguyên đán Quý Mão năm 2023.
Trình bày báo cáo, Tổng Thư ký Quốc hội Bùi Văn Cường nêu, với tinh thần khẩn trương, nghiêm túc, trách nhiệm, Quốc hội đã hoàn thành toàn bộ chương trình đề ra với những kết quả đạt được rất quan trọng.
Quốc hội đã xem xét, thông qua Luật Khám bệnh, chữa bệnh (sửa đổi); 3 nghị quyết và xem xét, quyết định công tác nhân sự thuộc thẩm quyền.
Trong đó, về công tác nhân sự, tại kỳ họp bất thường lần thứ 2, Quốc hội đã xem xét, quyết định cho thôi làm nhiệm vụ đại biểu đối với ông Phạm Bình Minh và ông Lê Minh Chuẩn; phê chuẩn việc miễn nhiệm chức danh Phó Thủ tướng Chính phủ đối với ông Phạm Bình Minh và ông Vũ Đức Đam.
Đi liền với đó, Quốc hội đã phê chuẩn việc bổ nhiệm Phó Thủ tướng Chính phủ đối với ông Trần Hồng Hà và ông Trần Lưu Quang.
Tại kỳ họp bất thường lần thứ 3, Quốc hội đã xem xét, quyết định việc miễn nhiệm chức vụ Chủ tịch nước nhiệm kỳ 2021-2026 và cho thôi làm nhiệm vụ đại biểu Quốc hội khóa XV đối với ông Nguyễn Xuân Phúc.
“Công tác nhân sự tại 2 kỳ họp được tiến hành thận trọng, chặt chẽ, thực hiện đúng chủ trương của Đảng, bảo đảm quy trình, thủ tục chặt chẽ theo quy định, đúng nguyên tắc tập trung dân chủ, công khai, minh bạch, đạt được sự thống nhất cao của các vị đại biểu Quốc hội”, ông Bùi Văn Cường nói.
Các cơ quan của Quốc hội, Chính phủ và cơ quan có liên quan đã phát huy tinh thần trách nhiệm, tận dụng tối đa thời gian kỳ họp, làm việc ngày đêm, tổng hợp đầy đủ, tiếp thu, giải trình nghiêm túc, thấu đáo các ý kiến của đại biểu Quốc hội để hoàn thiện dự án luật, dự thảo Nghị quyết đảm bảo chất lượng trình Quốc hội.

Khái quát chung, Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ nhấn mạnh, các nội dung được Quốc hội xem xét, quyết định góp phần tháo gỡ kịp thời nhiều khó khăn, vướng mắc trong thực tiễn, tạo tiền đề quan trọng để thực hiện nhiệm vụ năm 2023 và các năm tiếp theo.
Bên cạnh những kết quả đạt được, các ý kiến tại phiên họp lưu ý việc gửi tài liệu đến đại biểu Quốc hội vẫn còn chậm.
Phó Chủ tịch Quốc hội Trần Quang Phương nêu, việc tài liệu gửi chậm thường “đổ lỗi” cho khách quan. Các lý do thường được đưa ra là do: mới, khó, các địa phương báo cáo chậm, công việc nhiều và nguồn lực không đủ để làm.
Để giải quyết việc gửi tài liệu chậm, ông Phương đề nghị các bộ, ngành cần có phản ứng chính sách linh hoạt, đánh giá tác động kỹ lưỡng và nghiên cứu thấu đáo, dự báo trước được các tình huống để có đủ căn cứ cho các cơ quan thẩm tra.
Phải coi đây là một tiêu chí trong thi đua để đánh giá việc thực hiện nhiệm vụ hàng năm của các bộ, ngành – theo Phó Chủ tịch Quốc hội.
Ông Phương cũng đề nghị, các phiên họp của Chính phủ về xây dựng luật và những vấn đề quan trọng của đất nước, cần bố trí nhiều thời gian hơn để Chính phủ thảo luận thấu đáo, kỹ lưỡng hơn.
Từ tổng kết 2 kỳ họp bất thường, Chủ tịch Quốc hội đề nghị các cơ quan hữu quan rút kinh nghiệm về công tác chuẩn bị nội dung, tiến độ công việc, thời hạn gửi hồ sơ, tài liệu, việc đầu tư công sức, quy trình công việc của các cơ quan, đảm bảo đúng theo các quy định của pháp luật.
Chủ tịch Quốc hội đặc biệt nêu rõ, những kinh nghiệm từ việc chuẩn bị này là rất cần thiết trong việc triển khai công việc quan trọng sắp tới, nhất là đối với việc xem xét, cho ý kiến về dự án Luật Đất đai (sửa đổi), lấy phiếu tín nhiệm với các chức danh Quốc hội bầu.
Hương Giang
(Nguồn: Báo Thanhtra.com.vn)
Sáng 14/02, Trường Cán bộ Thanh tra long trọng tổ chức Lễ khai giảng lớp Bồi dưỡng nghiệp vụ Thanh tra viên chính (TTVC) K01 năm 2023. Tham dự và chủ trì Lễ khai giảng có TS. Nguyễn Huy Hoàng, GVCC, Phó Hiệu trưởng Nhà trường cùng tham dự có đại diện lãnh đạo các phòng, khoa, Trung tâm.

Tham gia Khóa học có gần 80 học viên, khóa học sẽ diễn ra trong hơn một tháng học tập tại Trường Cán bộ Thanh tra, các học viên sẽ được nghiên cứu gồm nhiều chuyên đề liên quan đến kiến thức chung về công chức, công vụ như: Quản lý nhà nước về công tác thanh tra, tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo và phòng chống tham; Thanh tra trách nhiệm việc thực hiện pháp luật về tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo; Công tác của tổ trưởng tổ xác minh nội dung khiếu nại, tố cáo; Công tác của tổ trưởng tổ xác minh kê khai tài sản thu nhập; Giám sát hoạt động đoàn thanh tra; theo dõi, đôn đốc, kiểm tra, việc thực hiện kết luận thanh tra; Kỹ năng xây dựng kế hoạch tiến hành một cuộc thanh; Thực hành kỹ năng xây dựng kế hoạch tiến hành một cuộc thanh tra…

Phát biểu Lễ khai giảng khóa học, TS. Nguyễn Huy Hoàng, GVCC, Phó Hiệu trưởng Nhà trường đã nhiệt liệt chào mừng các học viên về tham dự khóa học, đồng thời nhấn mạnh: “Lớp bồi dưỡng nghiệp vụ TTVC được Nhà trường đặc biệt quan tâm và xác định là một trong những nhiệm vụ quan trọng nhất, vì đây là khóa học nhằm nâng cao năng lực trình độ cho đội ngũ cán bộ nòng cốt của Ngành. Đồng thời là nguồn cán bộ để dự thi, bổ nhiệm vào ngạch TTVC”.
Phó Hiệu trưởng nhà trường cho rằng, công tác đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ thanh tra nói chung và việc tổ chức khóa bồi dưỡng nghiệp vụ TTVC Khóa 01 năm 2023 nói riêng có ý nghĩa hết sức quan trọng vì đây là Khóa bồi dưỡng nghiệp vụ TTVC đầu tiên tổ chức đào tạo bằng khung chương trình đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ TTVC hoàn toàn mới được Tổng Thanh tra phê duyệt đưa vào giảng dậy, trong đó có bổ sung nhiều buổi thảo luận, báo cáo thực tế giúp học viên tháo gỡ một số vướng mắc, khóa khăn trong quá trình thực thi công vụ.
Qua đó hoàn thiện, nâng cao năng lực trình độ cho đội ngũ cán bộ nòng cốt của Ngành, đáp ứng yêu cầu thực hiện Chiến lược phát triển ngành Thanh tra trong thời gian tới. Chính vì lẽ đó, Ban Giám hiệu Nhà trường đã bố trí, đội ngũ giảng viên, chuyên gia có nhiều kinh nghiệm trong ngành về lĩnh vực thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và phòng chống tham nhũng trực tiếp giảng dạy cho phù hợp với đối tượng người học.

Để đảm bảo chất lượng của khóa học, Phó Hiệu trưởng yêu cầu các học viên khắc phục những khó khăn về thời gian, bố trí công việc một cách khoa học, hợp lý để tham dự các buổi học đầy đủ, nghiêm túc, chấp hành nội quy, quy chế của Nhà trường. Đồng thời, các học viên cần tăng cường trao đổi, thảo luận với giảng viên và tích cực tự nghiên cứu để nâng cao chất lượng của khóa học. Phó Hiệu trưởng Nhà trường cũng gửi lời cám ơn sâu sắc đến Lãnh đạo các Bộ ngành và địa phương đã tạo điều kiện để các học viên tham gia khoá học này.

Ngay sau Lễ Khai giảng, TTVCC. Vũ Văn Chiến, Hiệu trưởng Nhà trường đã trực tiếp giảng dạy chuyên đề “Quản lý nhà nước về công tác thanh tra, tiếp công dân, giải quyết khiếu nại tố cáo và phòng chống tham nhũng” đầu tiên với lớp bồi dưỡng nghiệp vụ TTVC này./.
Văn Hùng
Thanh tra tỉnh Bắc Giang vừa có báo cáo giải trình gửi tới Thanh tra Chính phủ về kết quả chấm điểm đánh giá công tác phòng, chống tham nhũng (PCTN) năm 2021, trong đó có báo cáo về việc tiếp dân của Chủ tịch UBND tỉnh Bắc Giang trong năm 2021.

Theo Báo cáo số 10/BC-TTr ngày 10/2/2023 của Thanh tra tỉnh Bắc Giang, Thanh tra Chính phủ đã có Công văn số 189/TTCP-C.IV ngày 17/1/2023 về việc điểm đánh giá công tác PCTN năm 2021. Theo đó, điểm đánh giá công tác PCTN năm 2021 của UBND tỉnh Bắc Giang đạt 54,48/100 điểm, trong đó điểm số về việc tiếp công dân của Chủ tịch UBND tỉnh (mục A.2.5) đạt 0/2 điểm.
Qua kiểm tra, rà soát, Thanh tra tỉnh Bắc Giang có báo cáo, giải trình về nội dung nêu trên.
Về việc tiếp công dân của Chủ tịch UBND tỉnh, tại Phụ lục 2 “phương pháp tính điểm bộ chỉ số đánh giá công tác PCTN cấp tỉnh năm 2021” kèm theo Báo cáo số 85/BC-UBND ngày 9/7/2022 của UBND tỉnh Bắc Giang, chỉ tiêu A.2.5 có danh mục tài liệu chứng minh là Biểu A.2.5 liệt kê chi tiết các thông báo tiếp dân của Chủ tịch UBND tỉnh trong năm 2021.
Do sơ suất trong quá trình gắn tệp, cán bộ tổng hợp kết quả chấm điểm (thuộc Thanh tra tỉnh, cơ quan tham mưu chấm điểm đánh giá công tác PCTN của UBND tỉnh) đã gắn nhầm tệp dữ liệu về kết quả tiếp công dân năm 2020 (liệt kê các thông báo tiếp dân của Chủ tịch UBND tỉnh trong năm 2020).
Thanh tra tỉnh xác định, việc nhầm lẫn này không được phát hiện kịp thời và Biểu A.2.5 này cũng được in và kèm theo Báo cáo số 85/BC-UBND.

Qua rà soát lại cho thấy, kết quả thực tế, trong năm 2021, Chủ tịch UBND tỉnh Bắc Giang đã tổ chức 10 kỳ tiếp công dân định kỳ theo quy định, trong đó: 3 kỳ uỷ quyền cho Phó Chủ tịch UBND tỉnh tiếp, cụ thể là các tháng 2, 3 và 12/2021 với 23 công dân đến đề nghị giải quyết 8 vụ việc; 7 kỳ tiếp dân định kỳ đã tiếp đối với 62 công dân, đến đề nghị giải quyết 29 vụ việc, trong đó 1 kỳ có tổ chức tiếp dân nhưng không có công dân đến do tình hình dịch bệnh phức tạp tại địa phương vào tháng 7/2021; đối với 2 kỳ tiếp dân còn lại là tháng 5 và tháng 6/2021, do tình hình dịch bệnh COVID trên địa bàn đang là đỉnh dịch nên Chủ tịch UBND tỉnh đã ban hành văn bản thông báo không tổ chức tiếp công dân.
Tại Báo cáo số 10/BC-TTr ngày 10/2/2023, Thanh tra tỉnh Bắc Giang xin nghiêm túc rút kinh nghiệm, yêu cầu công chức tham mưu kiểm điểm rút kinh nghiệm do đã để xảy ra các tồn tại, sai sót trên, cũng như việc chưa thực hiện tốt công tác phối hợp với bộ phận chấm điểm liên quan của Cục PCTN, Thanh tra Chính phủ, đồng thời kiến nghị xem xét, điều chỉnh lại điểm số về công tác PCTN năm 2021 của UBND tỉnh Bắc Giang.
Hoàng Long
(Nguồn: Báo Thanhtra.com.vn)
Cụ thể, sửa đổi, bổ sung Khoản 1 Điều 2: Cơ quan hành chính nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập, doanh nghiệp nhà nước thuộc thành phố Đà Nẵng, gồm có: UBND thành phố; Ban Tiếp công dân thành phố; UBND các quận, huyện; UBND các phường, xã; các sở, ban, ngành thuộc UBND thành phố; các đơn vị sự nghiệp công lập thuộc UBND thành phố; các doanh nghiệp nhà nước do UBND thành phố thành lập.
Người có thẩm quyền, trách nhiệm trong việc tiếp nhận, phân loại, xử lý, giao xác minh vụ việc và giải quyết đơn kiến nghị, phản ánh trong cơ quan hành chính nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập, doanh nghiệp nhà nước theo Khoản 1 Điều 2.
Nguyên tắc xử lý đơn tuân thủ theo quy định tại Điều 3 Thông tư số 05/2021/TTCP ngày 01/10/2021 của Thanh tra Chính phủ quy định quy trình xử lý đơn khiếu nại, đơn tố cáo, đơn kiến nghị, phản ánh.
Đơn kiến nghị, phản ánh (trừ các trường hợp có yếu tố mật) phải được cập nhật, xử lý trên Phần mềm Hệ thống cơ sở dữ liệu quản lý công tác tiếp công dân, xử lý đơn, giải quyết đơn khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh trên địa bàn thành phố Đà Nẵng theo Quy chế quản lý, sử dụng hiện hành do UBND thành phố ban hành.
Sửa đổi, bổ sung Khoản 2, Khoản 3 Điều 4, như sau:
“2. Đơn là văn bản được trình bày dưới một hình thức theo quy định của pháp luật, có nội dung kiến nghị, phản ánh nêu tại khoản 1 Điều này và gửi đến cơ quan, tổ chức, đơn vị, người có thẩm quyền để kiến nghị, phản ánh.
3. Xử lý đơn kiến nghị, phản ánh là việc cơ quan, tổ chức, đơn vị, người có thẩm quyền căn cứ vào nội dung vụ việc được trình bày trong đơn mà phân loại nhằm thụ lý giải quyết đơn thuộc thẩm quyền; hướng dẫn công dân gửi đơn hoặc chuyển đơn đến cơ quan, tổ chức, đơn vị, người có thẩm quyền giải quyết theo quy định của pháp luật.”

Khoản 2 Điều 5 được sửa đổi, bổ sung, như sau: “2. Đối với đơn gửi qua dịch vụ bưu chính, đơn do tổ chức, cá nhân trực tiếp gửi đến qua bộ phận tiếp nhận cơ quan, tổ chức, đơn vị; qua hộp thư góp ý của cơ quan, tổ chức, đơn vị, Ban Tiếp công dân, địa điểm tiếp công dân; đơn do đại biểu Quốc hội, đoàn đại biểu Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội và của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân, các ban của Hội đồng nhân dân, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận, cơ quan báo chí và cơ quan, tổ chức, đơn vị khác chuyển đến theo quy định của pháp luật; đơn do lãnh đạo Đảng, Nhà nước, và lãnh đạo các cơ quan Đảng chuyển đến thì thời điểm tiếp nhận đơn tính từ thời điểm chuyển đến bộ phận tiếp nhận đơn.”
Đơn đủ điều kiện xử lý là đơn đáp ứng các yêu cầu: Đơn dùng chữ viết là tiếng Việt. Trường hợp đơn được viết bằng tiếng nước ngoài thì phải kèm bản dịch được công chứng. Đơn ghi rõ ngày, tháng, năm viết đơn; họ, tên, địa chỉ, chữ ký hoặc điểm chỉ của người viết đơn. Nếu là đơn của tổ chức thi phải có chữ ký của người đại diện theo pháp luật của tổ chức đó. Đơn do nhiều người cùng viết thì tất cả những người đứng đơn phải ký tên. Đơn phải ghi rõ nội dung kiến nghị, phản ánh.
Đơn không đủ điều kiện xử lý, bao gồm: Đơn không đáp ứng các yêu cầu trên; đơn được gửi cho nhiều cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân trong đó có cơ quan, tổ chức, đơn vị hoặc người có thẩm quyền giải quyết; đơn đã được hướng dẫn gửi đến cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân có thẩm quyền hoặc đã được cơ quan, tổ chức, đơn vị có thẩm quyền giải quyết theo quy định; đơn có nội dung chống đối đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của nhà Nhà nước; đơn có nội dung chia rẽ đoàn kết dân tộc, tôn giáo; đơn có lời lẽ thô tục, bôi nhọ, xúc phạm danh dự, uy tín của cá nhân, cơ quan, tổ chức, đơn vị; đơn rách nát, chữ viết bị tẩy xóa, không rõ, không thể đọc được.
Ban Tiếp công dân, Thanh tra thành phố kiểm tra, đôn đốc việc tiếp nhận, xử lý, giải quyết đơn
Bên cạnh đó, Quyết định số 02/2023/QĐ-UBND cũng sửa đổi, bổ sung một số nội dung, như: Biên bản giao nhận tài liệu; đề xuất thụ lý đơn kiến nghị, phản ánh; chuyển đơn kiến nghị, phản ánh; việc hướng dẫn người gửi đơn gửi đến đúng cơ quan, tổ chức, đơn vị có thẩm quyền giải quyết… được thực hiện theo các mẫu ban hành kèm theo Thông tư số 04/2021/TT-TTCP ngày 01/10/2021 của Thanh tra Chính phủ quy định quy trình tiếp công dân.
Khoản 1 Điều 11 được sửa đổi như sau: “1. Cơ quan, bộ phận được giao xác minh và đề xuất giải quyết vụ việc tiến hành xác minh và có báo cáo đề xuất giải quyết kiến nghị, phản ánh trong thời hạn không quá 20 ngày làm việc, kể từ ngày nhận văn bản giao nhiệm vụ xác minh trừ trường hợp xác minh theo Điều 9 Quy định này. Đối với những kiến nghị, phản ánh ở vùng sâu, vùng xa đi lại khó khăn thì thời hạn không quá 30 ngày làm việc kể từ ngày nhận văn bản giao nhiệm vụ xác minh.”
Về trách nhiệm kiểm tra, đôn đốc việc tiếp nhận, xử lý, giải quyết đơn kiến nghị, phản ánh được quy định tại Điều 17 được sửa đổi, bổ sung:
“2. Ban Tiếp công dân thành phố có trách nhiệm phối hợp với Thanh tra thành phố giúp Chủ tịch UBND thành phố trong công tác kiểm tra, đôn đốc việc tiếp nhận, xử lý, giải quyết đơn kiến nghị, phản ánh của tổ chức, cá nhân trên địa bàn thành phố, ưu tiên những vụ việc khiếu nại, tố cáo đông người, phức tạp, tồn đọng, kéo dài.
3. Ban Tiếp công dân quận, huyện có trách nhiệm phối hợp với Thanh tra quận, huyện giúp Chủ tịch UBND quận, huyện trong công tác kiểm tra, đôn đốc việc tiếp nhận, xử lý, giải quyết đơn kiến nghị, phản ánh của công dân tại địa phương.
4. Thanh tra các sở, ngành có trách nhiệm giúp thủ trưởng cơ quan, đơn vị trong công tác kiểm tra, đôn đốc việc tiếp nhận, xử lý, giải quyết đơn kiến nghị, phản ánh của công dân tại cơ quan, đơn vị.
5. Các cơ quan, đơn vị không có cơ quan thanh tra thì giao Văn phòng cơ quan, đơn vị giúp thủ trưởng cơ quan, đơn vị trong công tác kiểm tra, đôn đốc việc tiếp nhận, xử lý, giải quyết đơn kiến nghị, phản ánh của công dân tại cơ quan, đơn vị.”
Ngoài ra, sửa đổi, bổ sung điểm a Khoản 4 Điều 19 và Khoản 5 Điều 19, như sau:
“a) Tổng hợp và báo cáo Chủ tịch UBND thành phố tình hình tiếp nhận, xử lý, giải quyết đơn kiến nghị, phản ánh trên địa bàn thành phố Đà Nẵng định kỳ theo chế độ thông tin báo cáo công tác tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo.”
“5. Định kỳ hàng tháng, quý, 06 tháng, 09 tháng, năm hoặc đột xuất khi có yêu cầu, thủ trưởng cơ quan hành chính nhà nước các cấp có trách nhiệm báo cáo tình hình tiếp nhận, phân loại, xử lý đơn và kết quả giải quyết kiến nghị, phản ánh thuộc phạm vi, trách nhiệm của cơ quan, địa phương minh đến Chủ tịch UBND thành phổ thông qua Thanh tra thành phố để tổng hợp, báo cáo theo quy định.”…/.
CTV
(Nguồn: ThanhtraVietNam)
Để góp phần đưa Thái Nguyên vào nhóm 15 tỉnh, thành phố dẫn đầu cả nước về chuyển đổi số, trở thành trung tâm chuyển đổi số của khu vực trung du miền núi phía Bắc, Thanh tra tỉnh này đang tích cực triển khai thực hiện các nhiệm vụ chuyển đổi số theo các kế hoạch của UBND tỉnh, của ngành Thanh tra tỉnh và đạt được một số kết quả trong năm qua.

Cùng các sở ngành hướng đến sự hài lòng của người dân
Sau Nghị quyết số 01-NQ/TU ngày 31/12/2020 về Chương trình chuyển đổi số giai đoạn 2021 – 2025, định hướng đến năm 2030 của Tỉnh ủy Thái Nguyên, ngày 24/2/2021, Chủ tịch UBND tỉnh này đã ban hành quyết định lựa chọn ngày 31/12 hằng năm là Ngày chuyển đổi số của tỉnh.
Theo đó, Thái Nguyên xác định mục tiêu phấn đấu trở thành trung tâm chuyển đổi số của khu vực trung du miền núi phía Bắc, đến năm 2025 thuộc nhóm 15 tỉnh, thành phố dẫn đầu cả nước về chuyển đổi số, tạo tiền đề đến năm 2030 thuộc nhóm 10.
Chỉ sau 1 năm thực hiện Nghị quyết số 01, công tác chuyển đổi số của Thái Nguyên được ghi nhận là đã đạt nhiều kết quả tích cực, có đột phá trên 3 trụ cột là: chính quyền số, kinh tế số và xã hội số.
Công bố chỉ số đánh giá chuyển đổi số – DTI 2021 của Bộ Thông tin và Truyền thông tại phiên họp lần thứ 3 của Ủy ban Quốc gia về chuyển đổi số (ngày 8/8/2022) cho biết, Thái Nguyên đứng thứ 8/63 tỉnh, thành phố về chuyển đổi số, tăng 4 bậc so với năm 2020.
Sự chỉ đạo quyết liệt, đồng bộ, sát sao của Tỉnh ủy, HĐND tỉnh, UBND tỉnh, thái độ vào cuộc tích cực của các sở ngành được cho là yếu tố đưa Thái Nguyên vào tốp 10 tỉnh, thành đứng đầu về chuyển đổi số.
Là cơ quan chuyên môn của UBND tỉnh, có chức năng tham mưu, giúp UBND tỉnh quản lý nhà nước về thanh tra, tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo và phòng, chống tham nhũng, Thanh tra tỉnh Thái Nguyên đã xác định cải cách hành chính (CCHC) có vai trò quan trọng trong thực hiện nhiệm vụ chính trị, xây dựng, phát triển kinh tế xã hội.
Hướng đến sự hài lòng của người dân, năm 2022, Thanh tra tỉnh đã ban hành kế hoạch cải thiện chỉ số CCHC với các giải pháp tập trung vào cải cách thể chế, thủ tục hành chính, tổ chức bộ máy, chế độ công vụ, tài chính công và hiện đại hóa hành chính.
Thực hiện tốt phong trào thi đua đẩy mạnh chuyển đổi số
| Để bảo vệ hệ thống thông tin phù hợp, Thanh tra tỉnh đã trình và được Sở TTTT phê duyệt cấp độ an toàn hệ thống thông tin đối với Hệ thống thông tin phục vụ nội bộ của Thanh tra tỉnh với cấp độ an toàn hệ thống thông tin cấp độ 2 vào tháng 11/2022. |
Thực hiện Kế hoạch về chuyển đổi số và ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động, năm 2022, Thanh tra tỉnh đã tuyên truyền, quán triệt các báo cáo chuyển đổi số hàng tuần do Sở Thông tin và Truyền thông (TTTT) ban hành; triển khai kế hoạch chuyển đổi số và đảm bảo an toàn thông tin mạng của Thanh tra tỉnh năm 2022; tổ chức thực hiện kế hoạch tổ chức Hội nghị tập huấn về chuyển đổi số Thanh tra tỉnh năm 2022 để tuyên truyền các văn bản của Tỉnh uỷ, UBND tỉnh, Sở TTTT về chuyển đổi số, tập huấn, hướng dẫn triển khai các nhiệm vụ, mục tiêu trong kế hoạch chuyển đổi số.
Quản lý, vận hành trang thông tin điện tử cơ quan với các mục thông tin quy định tại Nghị định số 43/2011/NĐ-CP của Chính phủ quy định về việc cung cấp thông tin và dịch vụ công trực tuyến trên trang thông tin điện tử hoặc cổng thông tin điện tử của cơ quan nhà nước; cung cấp thông tin theo Luật Phòng, chống tham nhũng, Luật Tiếp cận thông tin…
Tiếp tục sử dụng phần mềm hệ thống quản lý văn bản và điều hành do Sở TTTT chuyển giao, hướng dẫn.
100% công chức được lập hòm thư điện tử công vụ của tỉnh phục vụ nhu cầu gửi, nhận văn bản, trao đổi công việc.
Sử dụng tài khoản nhập dữ liệu tại Cơ sở dữ liệu về số liệu báo cáo công tác thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và phòng chống tham nhũng của Thanh tra Chính phủ; Cơ sở dữ liệu về hồ sơ cán bộ, công chức của Sở Nội vụ; Cơ sở dữ liệu về thi đua khen thưởng của tỉnh.
Các ý kiến, kiến nghị phản ánh của người dân được tiếp nhận qua ứng dụng C-Thái Nguyên, đường dây nóng của tỉnh và của Thanh tra tỉnh.
Duy trì hạ tầng công nghệ thông tin cơ bản đảm bảo việc kết nối và chỉ đạo, điều hành thông suốt từ lãnh đạo đến công chức và người lao động.
Thực hiện đăng ký, sử dụng có hiệu quả chữ ký số cho 100% lãnh đạo, trưởng phòng, phó trưởng phòng, kế toán cơ quan. Tất cả các văn bản do Thanh tra tỉnh phát hành (trừ văn bản mật) được gửi và nhận bằng văn bản điện tử có sử dụng chữ ký số chuyên dùng thông qua phần mềm Quản lý văn bản và điều hành.
Triển khai chữ ký số cho 100% công chức Thanh tra tỉnh; tiếp tục sử dụng chữ ký số trong kê khai bảo hiểm xã hội, kê khai thuế thu nhập cá nhân để giao dịch.
Thanh tra tỉnh cũng đã thực hiện cung cấp dịch vụ công trực tuyến mức độ 2 trên Trang thông tin điện tử của cơ quan, tạo đường link liên kết với Cổng dịch vụ công của tỉnh, Cổng dịch vụ công quốc gia.
Thường xuyên rà soát, bảo trì, bảo dưỡng hệ thống mạng và các thiết bị công nghệ thông tin tại cơ quan đảm bảo sự chỉ đạo, điều hành của lãnh đạo trên môi trường mạng được thông suốt.
Thời gian tới, Thanh tra tỉnh Thái Nguyên sẽ tiếp tục thực hiện tốt Kế hoạch về Chuyển đổi số của ngành Thanh tra tỉnh giai đoạn 2021 – 2025, định hướng đến năm 2030 và phong trào thi đua “Ngành Thanh tra tỉnh Thái Nguyên đẩy mạnh chương trình chuyển đổi số” giai đoạn 2021 – 2025.
Ngô Tân
(Nguồn: ThanhtraVietNam)

Báo cáo tại hội nghị, trong hơn 02 năm triển khai thực hiện công tác kê khai, kiểm soát tài sản, thu nhập theo Nghị định số 130/2020/NĐ-CP ngày 30/10/2020 của Chính phủ, tại Sở Lao động – Thương binh và Xã hội việc kê khai, minh bạch tài sản, thu nhập đảm bảo thực hiện nghiêm túc, đúng theo quy định. Kịp thời kiểm tra, chấn chỉnh và xử ký những thiếu sót, sai phạm liên quan đến công tác kê khai tài sản, thu nhập góp phần ngăn ngừa, phát hiện và xử lý các hành vi tham nhũng khi được phát hiện.
Tuyên truyền, phổ biến và quán triệt các quy định mới của Luật Phòng, chống tham nhũng về kê khai, kiểm soát tài sản, thu nhập đến toàn thể cán bộ, công chức, viên chức. Ban hành Kế hoạch và các văn bản hướng dẫn tổ chức việc kê khai tài sản, thu nhập, lên danh sách, hướng dẫn và tổ chức thực hiện việc kê khai theo quy định.
Đảm bảo 100% cán bộ, công chức, viên chức có nghĩa vụ kê khai tài sản, thu nhập thực hiện đúng nghĩa vụ kê khai theo quy định. Cụ thể: Năm 2021, triển khai cho 103 công chức, viên chức thực hiện kê khai lần đầu và triển khai thực hiện kê khai tài sản, thu nhập phục vụ cho công tác cán bộ đối với đối với 19 trường hợp. Năm 2022, triển khai thực hiện kê khai tài sản, thu nhập đối với 75 công chức, viên chức trong đó có 55 trường hợp kê khai hằng năm, 02 trường hợp kê khai bổ sung, 03 trường hợp kê khai lần đầu và 15 trường hợp kê khai phục vụ cho công tác cán bộ. Thực hiện công khai bản kê khai tài sản, thu nhập bằng hình thức niêm yết tại cơ quan. Niêm yết công khai đầy đủ, đúng thời hạn các bản kê khai tại bảng thông tin của Sở.
Bên cạnh những kết quả đạt được, trong quá trình triển khai công tác kê khai, kiểm soát tài sản, thu nhập cũng còn một số khó khăn vướng mắc. Qua đó cũng đã nhận diện được một số vấn đề cần làm rõ, cần có hướng dẫn cụ thể hơn để việc thực hiện công tác kiểm soát tài sản, thu nhập được triển khai thuận lợi, đồng bộ, chặt chẽ và hiệu quả đồng thời đề xuất các giải pháp, như:
Một là, về kiểm tra, kiểm soát tài sản, thu nhập:
Văn phòng Sở và Thanh tra Sở được giao nhiệm vụ theo dõi, hướng dẫn, kiểm tra, phối hợp đôn đốc các phòng, đơn vị trực thuộc Sở triển khai thực hiện kê khai tài sản thu nhập đảm bảo theo quy định. Tuy nhiên việc kiểm tra, rà soát dựa trên cơ sở các tài sản đã được kê khai và xem xét việc kê khai có phù hợp về loại tài sản, biến động tài sản. Người có nghĩa vụ kê khai phải chịu trách nhiệm về tính xác thực, trung thực, đầy đủ đối với các nội dung kê khai về tài sản, thu nhập của cá nhân mình.
Vì vậy cần phải tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo để thống nhất nhận thức, trách nhiệm của cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức trong việc thực hiện kê khai tài sản thu nhập và kiểm soát tài sản thu nhập theo quy định của Đảng và Nhà nước. Xác định đây là nhiệm vụ thường xuyên, là một trong những giải pháp quan trọng để phòng ngừa tham nhũng. Tiếp tục tuyên truyền, phổ biến, quán triệt các quy định của Đảng và Nhà nước về phòng, chống tham nhũng, trong đó có Chỉ thị số 33-CT/TW, ngày 03/01/2014 của Bộ Chính trị về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với việc kê khai và kiểm soát việc kê khai tài sản; Luật Phòng chống tham nhũng 2018, Nghị định số 130/2020/NĐ-CP, ngày 30/10/2020 của Chính phủ về kiểm soát tài sản, thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn trong cơ quan, tổ chức, đơn vị.
Hai là, về nội dung kê khai tổng thu nhập giữa hai lần kê khai:
Luật Phòng, chống tham nhũng quy định người có nghĩa vụ kê khai phải kê khai tổng thu nhập giữa 02 lần kê khai. Tuy nhiên theo quy định về phương thức kê khai, có thể có trường hợp công chức sau khi kê khai lần đầu thì nhiều năm sau, thậm chí nhiều chục năm sau mới phát sinh việc kê khai tài sản lần thứ 2 (Ví dụ 01 người là công chức ngạch chuyên viên sẽ phải kê khai lần đầu nhưng sau đó không thuộc diện phải kê khai hàng năm hoặc kê khai bổ sung thì 15 năm sau khi được làm quy trình bổ nhiệm Phó Trưởng phòng hoặc được bổ nhiệm ngạch thanh tra viên sẽ phải kê khai tổng thu nhập trong 15 năm đó). Do đó, sẽ rất khó khăn để theo dõi, kê khai đầy đủ, chính xác thu nhập của gia đình trong thời gian dài như vậy nếu như không có hướng dẫn rõ ngay từ bây giờ.
Trường hợp kê khai tổng thu nhập giữa 02 lần kê khai đối với người thuộc đối tượng phải kê khai hằng nằm nhưng trong năm đã thực hiện 02 lần kê khai phục vụ công tác cán bộ bao gồm cả phục vụ công tác cán bộ về chính quyền và sau đó là kê khai phục vụ công tác cán bộ về đảng. Như vậy trong bản kê khai phục vụ công tác cán bộ về mặt đảng sẽ so sánh với bản kê khai phục vụ công tác cán bộ trước đó hay so sánh với bản kê khai hằng năm của năm trước. Trong bản kê khai hằng năm nội dung thu nhập giữa hai lần kê khai và so sánh tăng, giảm sẽ so sánh với bản kê khai gần nhất phục vụ công tác cán bộ về mặt chính quyền hay bản kê khai phục vụ công tác cán bộ về mặt đảng hiện tại chưa có quy định cụ thể.
Để khắc phục vấn đề này cần có hướng dẫn của cơ quan có thẩm quyền để người có nghĩa vụ kê khai có trách nhiệm theo dõi, cập nhật thu nhập hàng năm của bản thân mình, vợ hoặc chồng và con chưa thành niên. Đây cũng là việc cần phải làm hàng năm để giúp người có nghĩa vụ kê khai xác định mình có thuộc diện phải kê khai bổ sung hay không cũng như sẽ theo dõi được tổng thu nhập trong nhiều năm và kê khai được khi có yêu cầu.
Ba là, về thông tin về tài sản và ghi giá trị tài sản:
Bản thân người trong diện kê khai còn lúng túng khi phải tự định giá một số tài sản trước đây không phải kê khai, xong theo quy định mới phải kê khai. Theo hướng dẫn tại Nghị định số 130/2020/NĐ-CP tài sản, thu nhập phải kê khai có mục các khoản tiền mặt, tiền cho vay, tiền trả trước, tiền gửi cá nhân, tổ chức trong nước, tổ chức nước ngoài tại Việt Nam mà tổng giá trị quy đổi từ 50 triệu đồng trở lên gây khó khăn trong việc xác định (Ví dụ trường hợp quy định kê khai theo loại tài sản phải xác định tổng giá trị của các tài sản cùng loại để xem xét nếu trên 50 triệu đồng thì mới kê khai).
Việc xác định như thế nào là quyền sử dụng thực tế đối với đất chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất rất phức tạp. Mặt khác, quyền sử dụng thực tế có phần đất ở và phần đất trông cây lâu năm cũng rất khó xác định là tách riêng hay gộp chung là đất ở. Nếu phải tách ra thì rất khó xác định phần giá trị người có nghĩa vụ kê khai phải ghi giá trị như thế nào. Trường hợp thửa đất được sử dụng cho nhiều mục đích khác nhau mà trong đó có đất ở thì kê khai vào mục đất ở. Tuy nhiên, việc xác định giá trị còn hiểu khác nhau nên khi thể hiện trong bản kê khai tài sản thiếu sự thống nhất.
Để khắc phục vấn đề này cần có hướng dẫn, quan tâm hỗ trợ của cơ quan có thẩm quyền trong việc kê khai tài sản để kịp thời tháo gỡ các khó khăn, vướng mắc trong quá trình triển khai thực hiện.
Đình Thuyết
(Nguồn:ThanhtraVietNam)
Tăng cường truyền thông, tạo đồng thuận, bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ của hệ thống pháp luật
Nghị quyết 16/NQ-CP ngày 9/2/2023 phiên họp chuyên đề xây dựng pháp luật tháng 1/2023 của Chính phủ đánh giá cao nỗ lực, cố gắng của các bộ, cơ quang ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ đã cơ bản hoàn thành Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2022, các dự án luật, pháp lệnh, dự thảo Nghị quyết được Chính phủ trình Quốc hội bảo đảm tiến độ, nâng cao chất lượng, cụ thể hóa được các chủ trương, đường lối của Đảng, Hiến pháp, các kết luận của Bộ Chính trị, Ban Bí thư, chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và phù hợp với các cam kết quốc tế; bám sát thực tiễn, tháo gỡ khó khăn, vướng mắc về cơ chế, chính sách cũng như xử lý các vấn đề mới phát sinh, tạo cơ sở pháp lý để phát triển kinh tế – xã hội gắn liền với mục đích quốc phòng, an ninh, bảo vệ quyền con người, quyền sở hữu hợp pháp của cá nhân, tổ chức, nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động quản lý nhà nước.
Chính phủ yêu cầu các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ tiếp tục quán triệt, thực hiện nghiêm các chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ trong công tác xây dựng pháp luật; thực hiện nghiêm quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật; trực tiếp chỉ đạo việc xây dựng, hoàn thiện thể chế và tổ chức thi hành pháp luật; có giải pháp khắc phục triệt để các tồn tại, hạn chế trong công tác xây dựng pháp luật; xác định rõ trách nhiệm của các cá nhân, đơn vị trong việc để xảy ra tình trạng chậm, nợ ban hành văn bản quy phạm pháp luật hoặc không bảo đảm chất lượng của văn bản quy phạm pháp luật được ban hành theo thẩm quyền hoặc được giao chủ trì soạn thảo, trình cơ quan có thẩm quyền ban hành.
Trong quá trình tiếp thu, chỉnh lý các dự án luật, đề nghị xây dựng luật cần phối hợp chặt chẽ, có hiệu quả với các cơ quan của Đảng, Quốc hội, cơ quan, tổ chức liên quan khác; lấy ý kiến đối tượng chịu sự tác động trực tiếp, ý kiến của các chuyên gia, nhà khoa học; tham khảo kinh nghiệm quốc tế; tăng cường truyền thông, tạo đồng thuận, bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ của hệ thống pháp luật.
Tổ chức lấy ý kiến Nhân dân đối với dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi)
Thực hiện Nghị quyết số 671/NQ-UBTVQH15 ngày 23 tháng 12 năm 2022 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về việc tổ chức lấy ý kiến Nhân dân đối với dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi), Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 170/NQ-CP ngày 31 tháng 12 năm 2022 về Kế hoạch tổ chức lấy ý kiến Nhân dân đối với dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi), trong đó đã phân công nhiệm vụ cụ thể cho các bộ, ngành, địa phương. Qua báo cáo của Bộ Tài nguyên và Môi trường, đến nay nhiều địa phương đã ban hành Kế hoạch để tổ chức thực hiện việc lấy ý kiến Nhân dân đối với dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi). Tuy nhiên, qua phản ánh thì tiến độ triển khai lấy ý kiến Nhân dân ở nhiều bộ, ngành, địa phương còn rất chậm.
Để bảo đảm thực hiện tốt Nghị quyết số 671/NQ-UBTVQH15 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội và Nghị quyết số 170/NQ-CP của Chính phủ, phát huy quyền làm chủ, huy động trí tuệ, tâm huyết của toàn thể các tầng lớp Nhân dân trong việc xây dựng dự án Luật đất đai (sửa đổi), ngày 11/2/2023, Chính phủ ban hành Công điện số 32/CĐ-TTg về việc tổ chức lấy ý kiến Nhân dân đối với dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi).
Theo đó, Thủ tướng Chính phủ yêu cầu: Bộ trưởng các bộ, cơ quan ngang bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ khẩn trương tổ chức lấy ý kiến đóng góp về dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) của cán bộ, công chức, viên chức, chuyên gia, nhà khoa học, nhà quản lý, các đơn vị trực thuộc, các tổ chức xã hội – nghề nghiệp, các doanh nghiệp trong phạm vi quản lý của Bộ, ngành mình; tổng hợp, xây dựng Báo cáo kết quả lấy ý kiến Nhân dân gửi Bộ Tài nguyên và Môi trường theo đúng thời hạn trong Nghị quyết số 170/NQ-CP của Chính phủ.
Đồng thời, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương: Khẩn trương tổ chức lấy ý kiến Nhân dân đối với dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) đối với các đối tượng trên địa bàn, chú trọng đến các tầng lớp Nhân dân, chính sách về đất đai có tính đặc trưng của vùng, miền. Tổng hợp, xây dựng Báo cáo kết quả lấy ý kiến Nhân dân gửi về Bộ Tài nguyên và Môi trường theo đúng thời hạn trong Nghị quyết số 170/NQ-CP của Chính phủ. Các địa phương chưa triển khai kế hoạch lấy ý kiến Nhân dân phải nghiêm túc kiểm điểm việc chậm ban hành Kế hoạch, chậm tổ chức lấy ý kiến Nhân dân đối với dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi).

Trong khi đó, Bộ Tài nguyên và Môi trường có trách nhiệm, tổ chức các đoàn công tác để theo dõi, đôn đốc việc tổ chức lấy ý kiến Nhân dân về dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi); thường xuyên cập nhật, báo cáo Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ về tiến độ góp ý dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) trên trang website lấy ý kiến Nhân dân; tiến độ tổ chức lấy ý kiến Nhân dân của các Bộ, ngành và địa phương; tập trung mọi nguồn lực để tổ chức việc lấy ý kiến Nhân dân, giải trình tiếp thu ý kiến của Nhân dân về dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi), bảm đảm chất lượng, thời gian trong Nghị quyết số 170/NQ-CP của Chính phủ.
Trước đó, tại Nghị quyết 16/NQ-CP ngày 9/2/2023 phiên họp chuyên đề xây dựng pháp luật tháng 1/2023, Chính phủ cũng yêu cầu Bộ trưởng Bộ Tư pháp chủ trì, phối hợp Bộ trưởng Bộ Xây dựng, Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường tổ chức nghiên cứu, báo cáo Phó Thủ tướng Trần Hồng Hà về việc xây dựng dự thảo Nghị quyết của Quốc hội hoặc Đề nghị xây dựng Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của các luật liên quan đến đất đai, bất động sản để xử lý các khó khăn, vướng mắc hiện nay, tạo hành lang pháp lý và động lực phát triển kinh tế – xã hội.
Tăng cường công cụ kiểm tra, giám sát, xử lý vi phạm tại Luật tài nguyên nước (sửa đổi)
Liên quan đến việc sửa đổi toàn diện Luật Tài nguyên nước năm 2012, Nghị quyết chuyên đề xây dựng pháp luật tháng 1/2023 cũng yêu cầu nội dung chính sách của dự thảo Luật cần tập trung tăng cường phân cấp quản lý, gắn với phân bổ nguồn lực và nâng cao trách nhiệm người đứng đầu, tăng cường công cụ kiểm tra, giám sát, xử lý vi phạm. Đồng thời, quy định cụ thể, đầy đủ về trách nhiệm của các bộ, cơ quan, tổ chức có liên quan, bảo đảm đồng bộ, tránh chồng chéo, bỏ sót, tăng cường công tác phối hợp và cải cách thủ tục hành chính để nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước. Chú ý các chính sách về bảo vệ công trình cấp nước sinh hoạt; bảo vệ, quản lý nguồn nước, dòng chảy tự nhiên, an toàn hồ chứa, đập,… gắn với chính sách bảo vệ môi trường và phát triển các phương thức vận tải phù hợp để phát triển kinh tế; cần có các cơ chế tài chính, chính sách thuế, giá, phí bảo đảm đồng bộ, hiệu quả về lâu dài, phù hợp với các nguyên tắc của kinh tế thị trường, đồng bộ với các chính sách khác về quản lý tài nguyên nước.
Về đề nghị xây dựng Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật cảnh vệ, Chính phủ cơ bản thống nhất với đề xuất của Bộ Công an về mục tiêu và nội dung 04 chính sách, trong đó lưu ý cần thống nhất về tiêu chí xác định đối tượng cảnh vệ, các biện pháp cảnh vệ khả thi, hiệu quả, phù hợp với thông lệ quốc tế; tăng cường trang thiết bị hiện đại, có chế độ chính sách hợp lý để thực hiện các biện pháp cảnh vệ chủ động, hiệu quả trong tình hình mới; tăng cường quyền hạn của lực lượng cảnh vệ để bảo đảm việc thực hiện nhiệm vụ của lực lượng này, làm rõ nhiệm vụ của lực lượng cảnh vệ thực hiện ở địa phương để quy định phù hợp, bảo đảm không phát sinh tổ chức bộ máy mới, không làm tăng biên chế trong Quân đội nhân dân, Công an nhân dân theo đúng chủ trương của Đảng…
Bên cạnh đó, Chính phủ cũng thống nhất sự cần thiết lập Đề nghị xây dựng Luật Việc làm nhằm thể chế hóa cụ thể hơn đường lối, chủ trương của Đảng và Nhà nước về phát triển nguồn nhân lực, giải quyết việc làm, hỗ trợ phát triển thị trường lao động, cải cách chính sách bảo hiểm thất nghiệp phù hợp với điều kiện, yêu cầu của thời kỳ mới, bảo đảm tính đồng bộ, thống nhất với các quy định tại các luật liên quan, cũng như hướng tới giải quyết hiệu quả các vướng mắc của thực tiễn.
Liên quan đến việc xét tặng “Giải thưởng Hồ Chí Minh”; “Giải thưởng Nhà nước” về văn học, nghệ thuật năm 2021, Chính phủ giao Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch chủ trì, phối hợp với Bộ Tư pháp, Bộ Nội vụ và các cơ quan liên quan nghiên cứu, sửa đổi Nghị định số 90/2014/NĐ-CP và Nghị định số 133/2018/NĐ-CP để giải quyết các vướng mắc trong thực tiễn về việc xét tặng “Giải thưởng Hồ Chí Minh”, “Giải thưởng Nhà nước” trong lĩnh vực văn học nghệ thuật.
| Chính phủ thống nhất điều chỉnh thời gian trình một số dự án Luật như sau: Luật Công chứng (sửa đổi); Luật Địa chất và Khoáng sản; Luật Quy hoạch đô thị và nông thôn: Đưa 03 dự án Luật này vào Chương trình năm 2024, trình Quốc hội cho ý kiến tại Kỳ họp thứ 7 (tháng 5/2024) và thông qua tại Kỳ họp thứ 8 (tháng 10/2024) để bảo đảm nguồn lực thực hiện, bảo đảm chất lượng, tiến độ xây dựng các dự án luật và cân đối Chương trình năm 2023 và Chương trình năm 2024.
Luật Dân số (sửa đổi) đưa vào Chương trình năm 2024, trình Quốc hội cho ý kiến tại Kỳ họp thứ 8 (tháng 10/2024) và thông qua tại Kỳ họp thứ 9 (tháng 5/2025) để bảo đảm tính gối đầu của Chương trình năm 2024 và Chương trình năm 2025. Tràng An (Nguồn: ThanhtraVietNam) |
Chánh Thanh tra TP Thái Bình Chu Đức Cảnh đánh giá, thời gian qua, TP đã thực hiện nề nếp chế độ tiếp công dân (TCD) định kỳ; cùng với đó, tăng cường TCD đột xuất để kịp thời đối thoại, chỉ đạo giải quyết khiếu nại (KN), tố cáo (TC), kiến nghị của công dân. Nhiều đơn vị thực hiện tốt việc đối thoại, giải thích, qua đó, đã giải quyết đúng pháp luật, có tình, có lý, dứt điểm nhiều vụ việc ngay từ cơ sở.

Giải quyết đơn thư KN, TC đạt 100%
Những năm qua, TP Thái Bình luôn xác định, công tác TCD, giải quyết KN, TC, kiến nghị, phản ánh là nhiệm vụ chính trị quan trọng, thường xuyên nên đã tập trung chỉ đạo đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến các văn bản quy định về nội dung này.
Thực hiện nghiêm chế độ TCD thường xuyên, định kỳ theo quy định. Năm 2022, UBND TP và các phường, xã trên địa bàn đã tiếp 331 lần với 561 lượt người (giảm 12,5% so với năm 2021); tiếp nhận 527 đơn.
Qua phân loại, có 206 đơn đủ điều kiện xử lý. Trong đó, có 43 đơn KN, TC thuộc thẩm quyền (19 KN, 24 TC); 163 đơn không thuộc thẩm quyền (9 KN, TC; 154 kiến nghị, phản ánh).
Quá trình xử lý đơn, cơ quan chuyên môn của TP đã giải thích, hướng dẫn công dân rút 2 đơn KN; tạm dừng 2 đơn KN; rút đơn TC và chuyển sang kiến nghị 4 đơn; giải quyết 11/11 đơn KN, kết luận 2/2 đơn TC, đạt tỷ lệ 100%.
Để tăng cường công tác phân loại, xử lý, theo dõi việc giải quyết đơn, Cơ quan Thanh tra TP đã tham mưu UBND TP ban hành quyết định quy định về tiếp nhận, phân loại, xử lý đơn KN, TC, kiến nghị, phản ánh.
Qua đó, việc giải quyết KN, TC được kiểm tra, xác minh, kết luận đảm bảo khách quan, rõ ràng, đúng trình tự, thủ tục, thẩm quyền theo quy định của pháp luật. Các quyết định giải quyết KN, kết luận nội dung TC có hiệu lực pháp luật được các đơn vị, cá nhân liên quan tổ chức thực hiện và chấp hành nghiêm túc.
Nhiều vụ việc được giải quyết dứt điểm ngay từ cơ sở
Chánh Thanh tra TP Thái Bình Chu Đức Cảnh đánh giá, thời gian qua, TP đã thực hiện nền nếp chế độ TCD định kỳ; cùng với đó, tăng cường TCD đột xuất để kịp thời đối thoại, chỉ đạo giải quyết KN, TC, kiến nghị của công dân; nhiều đơn vị thực hiện tốt việc đối thoại, giải thích, qua đó, đã giải quyết đúng pháp luật, có tình, có lý, dứt điểm nhiều vụ việc ngay từ cơ sở.
Công tác tiếp nhận, phân loại, xử lý đơn được thực hiện kịp thời; chất lượng giải quyết các vụ việc KN, TC có nhiều chuyển biến tích cực, đảm bảo trình tự, thủ tục và nội dung; việc phối hợp giữa các đơn vị ngày càng chặt chẽ, hiệu quả.
Kết quả công tác TCD, giải quyết KN, TC, kiến nghị, phản ánh đã góp phần tích cực đảm bảo ổn định tinh hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội; tăng cường kỷ luật, kỷ cương hành chính, tạo điều kiện, môi trường thuận lợi cho việc triển khai các nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã hội của TP.
Bên cạnh kết quả đạt được, hiện nay, tình hình KN, TC trên địa bàn TP Thái Bình vẫn còn tiềm ẩn yếu tố phức tạp, nhất là trong lĩnh vực quản lý, sử dụng đất đai, giải phóng mặt bằng các dự án; công tác tuyên truyền chưa sâu rộng; việc TCD định kỳ đã có nhiều chuyển biến tích cực nhưng còn đơn vị chưa thường xuyên; việc giải quyết KN, TC, kiến nghị, phản ánh có vụ việc còn chậm…
Lý giải điều này, Chánh Thanh tra TP Thái Bình cho rằng, do chính sách, pháp luật có nhiều thay đổi, còn bất cập, vướng mắc trong thực hiện.
Cùng với đó, người đứng đầu một số đơn vị có việc còn chưa quyết liệt; đội ngũ công chức làm nhiệm vụ TCD, xử lý, giải quyết đơn thư tại phường, xã còn kiêm nhiệm, chưa đáp ứng tốt yêu cầu; nhận thức của một bộ phận nhân dân về pháp luật còn hạn chế…
Thời gian tới, để nâng cao hơn nữa chất lượng, hiệu quả công tác TCD, giải quyết KN, TC, theo ông Chu Đức Cảnh, cần tiếp tục tham mưu tổ chức quán triệt và thực hiện hiệu quả các nghị quyết, chỉ thị của Trung ương, Quốc hội, Chính phủ, các văn bản pháp luật về TCD, giải quyết KN, TC.
Đẩy mạnh và nâng cao hơn nữa chất lượng công tác tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật về công tác này với nhiều hình thức, nội dung phù hợp từng nhóm đối tượng.
Đồng thời, thực hiện nền nếp chế độ TCD, nâng cao trách nhiệm của người đứng đầu địa phương, đơn vị; tăng cường tiếp xúc, chủ động đối thoại, giải quyết kịp thời, đúng pháp luật các vụ việc thuộc thẩm quyền ngay từ khi mới phát sinh, không để xảy ra bức xúc, bất bình trong nhân dân; tiếp tục rà soát, giải quyết dứt điểm các vụ việc còn tồn đọng, phức tạp, kéo dài trên cơ sở chính sách, pháp luật và phù hợp với thực tế.
Đặc biệt, tăng cường thanh tra, kiểm tra trách nhiệm của thủ trưởng các đơn vị, chủ tịch UBND phường, xã trong thực hiện quy định của pháp luật về TCD, giải quyết KN, TC nhằm khắc phục kịp thời những hạn chế, tồn tại, cũng như tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong thực tiễn.
Ngoài ra, cũng cần quan tâm bồi dưỡng, nâng cao trình độ nghiệp vụ cho đội ngũ công chức làm công tác chuyên môn và tiếp tục đầu tư cơ sở vật chất, phát huy việc ứng dụng công nghệ thông tin, nhất là việc công khai, liên thông giữa các đơn vị trong TCD, giải quyết KN, TC.
Trọng Tài
(Nguồn: Báo Thanhtra.com.vn)
Khiếu nại là quyền cơ bản được Hiến pháp năm 2013 ghi nhận và bảo vệ, tại Điều 30 quy định “Mọi người có quyền khiếu nại, tố cáo với cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền về những việc làm trái pháp luật của cơ quan, tổ chức, cá nhân; cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền phải tiếp nhận, giải quyết khiếu nại, tố cáo.

Người bị thiệt hại có quyền được bồi thường về vật chất, tinh thần và phục hồi danh dự theo quy định của pháp luật.”, Luật Khiếu nại năm 2011 và các văn bản hướng dẫn thi hành đã cụ thể hóa các quy định của Hiến pháp theo hướng cho phép công dân, cơ quan, tổ chức hoặc cán bộ, công chức theo thủ tục, trình tự, thẩm quyền mà pháp luật quy định, có quyền đề nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền xem xét lại quyết định hành chính, hành vi hành chính của cơ quan hành chính nhà nước, của người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước hoặc quyết định kỷ luật cán bộ, công chức khi có căn cứ cho rằng quyết định hoặc hành vi đó là trái pháp luật, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của mình. Theo đó, cơ quan có thẩm quyền giải quyết vụ việc đó phải có trách nhiệm giải quyết khiếu nại đúng thẩm quyền, theo đúng trình tự, thủ tục và đúng thời hạn. Luật Khiếu nại và Nghị định số 75/2012/NĐ – CP ngày 03/10/2012 của Chính phủ về hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Khiếu nại; Nghị định số 124/2020/NĐ-CP ngày 19/10/2020 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Khiếu nại (thay thế Nghị định số 75/2012/NĐ-CP) đều quy định việc giải quyết khiếu nại được giải quyết theo trình tự, thủ tục giải quyết lần đầu và trình tự thủ tục giải quyết lần hai hoặc chuyển vụ việc sang Tòa án để giải quyết theo thủ tục tố tụng. Vấn đề đặt ra là đối với các vụ việc đã được giải quyết và quyết định giải quyết khiếu nại về hành chính đã có hiệu lực pháp luật, đã hết thời hiệu khởi kiện ra Tòa án nhân dân nhưng công dân vẫn tiếp tục khiếu nại thì có xem xét tiếp nhận giải quyết nữa hay cần có “điểm dừng” theo quy định pháp luật hiện hành. Thực tế số lượng các vụ việc này không ít, vẫn tồn tại và thường là những vụ việc phức tạp, kéo dài, nếu tiếp tục giải quyết sẽ do cơ quan hành chính nhà nước thực hiện hay do Tòa án thụ lý thì đều cần được nghiên cứu cả về cơ sở pháp lý và thực tiễn khi sửa đổi, bổ sung Luật Khiếu nại năm 2011 để đảm bảo tính hợp hiến, hợp pháp, tính khả thi và đảm bảo tối đa quyền lợi của người khiếu nại.
Thực hiện chỉ đạo của Chính phủ về việc thực hiện kiến nghị của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về công tác tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo; trong đó giao Thanh tra Chính phủ “chủ trì, phối hợp Bộ Tư pháp và các cơ quan có liên quan nghiên cứu, kiến nghị cấp có thẩm quyền ban hành quy định điều kiện xem xét lại quyết định giải quyết khiếu nại về hành chính đã có hiệu lực pháp luật, đã hết thời hiệu khởi kiện ra Tòa án nhân dân nhưng công dân vẫn tiếp tục khiếu nại”. Thanh tra Chính phủ có văn bản xin ý kiến của các bộ, cơ quan ngang bộ, Uỷ ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương đánh giá việc thực hiện pháp luật tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo. Trên cơ sở tổng hợp, nghiên cứu ý kiến các bộ, ngành, địa phương và các quy định pháp luật hiện hành cho thấy:
Ngày 24/5/2018, Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành Báo cáo kết quả giám sát việc giải quyết, trả lời kiến nghị của cử tri gửi đến kỳ họp thứ 4, Quốc hội khóa XIV (Báo cáo số 279/BC-UBTVQH14), trong báo cáo có đề cập: “Chất lượng một số văn bản được ban hành có nội dung còn chưa đúng với quy định của luật và thực tiễn, ví dụ Điều 42 Luật Khiếu nại, sau khi vụ việc khiếu nại được xem xét, giải quyết lần hai, nếu công dân không đồng tình với kết quả giải quyết thì khởi kiện tại Tòa hành chính theo quy định của Luật Tố tụng hành chính. Tuy nhiên, Điều 20 Nghị định số 75/2012/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều của Luật Khiếu nại lại quy định: Tổng Thanh tra Chính phủ, Bộ trưởng… trong một số trường hợp có quyền yêu cầu giải quyết lại vụ việc sau khi vụ việc đã được xem xét giải quyết lần hai. Quy định như vậy là chưa đúng với tinh thần của Điều 42 Luật Khiếu nại, nên trên thực tế, người dân ít khởi kiện ra Tòa án khi không đồng tình với quyết định giải quyết khiếu nại lần hai mà khiếu nại vượt cấp để được xem xét, giải quyết lại vụ việc”. Ủy ban Thường vụ Quốc hội đề nghị Chính phủ nghiên cứu sửa đổi Nghị định số 75/2012/NĐ-CP về nội dung còn chưa phù hợp với Luật Khiếu nại nhằm bảo đảm tính thống nhất của hệ thống pháp luật.
Ngày 08/11/2018, Chính phủ có Báo cáo số 542/BC-CP về quy định xem xét lại việc giải quyết khiếu nại có vi phạm pháp luật gửi Ủy ban Thường Vụ Quốc hội. Theo đó, Chính phủ báo cáo và đề nghị Ủy ban Thường vụ Quốc hội trong khi chưa sửa đổi, bổ sung Luật Khiếu nại cho phép Chính phủ giữ nguyên quy định này tại Điều 20 Nghị định số 75/2012/NĐ-CP, tạo cơ sở pháp lý để Chính phủ chỉ đạo Thanh tra Chính phủ và các bộ, ngành tiếp tục rà soát, chỉ đạo giải quyết dứt điểm các vụ việc khiếu nại tồn đọng, phức tạp, góp phần ổn định tình hình an ninh, trật tự, nhất là trong dịp Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIII và bầu cử Quốc hội khóa XV.
Ngày 14/3/2019, Tổng thư ký Quốc hội có Văn bản số 2663/TTKQH-TH thông báo ý kiến chỉ đạo của Ủy ban Thường vụ Quốc hội: “(1). Quy định tại Điều 20 của Nghị định số 75/2012/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều của Luật Khiếu nại năm 2011 là chưa đúng với Điều 11 và Điều 42 của Luật này. Đề nghị Chính phủ chỉ đạo các cơ quan hữu quan thực hiện kiến nghị giám sát của Ủy ban Thường vụ Quốc hội liên quan đến nội dung này đã được nêu tại Báo cáo số 279/BC-UBTVQH14 ngày 24/5/2018 để bảo đảm phù hợp với Luật Khiếu nại. (2). Trong quá trình thực hiện Luật Khiếu nại, nếu có nội dung vướng mắc, bất cập, đề nghị Chính phủ chỉ đạo tổng kết, đánh giá, đề xuất sửa đổi, bổ sung theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật”.
Ngày 20/10/2020, Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành Báo cáo số 579/ BC-UBTVQH14 kết quả tiếp công dân, xử lý đơn thư và giám sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân gửi đến Quốc hội năm 2020, trong đó kiến nghị với Chính phủ chỉ đạo cơ quan có thẩm quyền tham mưu, đề xuất ban hành quy định về điều kiện xem xét lại quyết định giải quyết khiếu nại về hành chính đã có hiệu lực pháp luật, đã hết thời hiệu khởi kiện ra tòa nhưng công dân vẫn tiếp tục khiếu nại;…
Một số bộ, ngành, địa phương (Bộ Tư pháp, Bộ Tài nguyên và Môi trường…) cũng có ý kiến thống nhất với ý kiến của Thanh tra Chính phủ về việc Luật Khiếu nại không có quy định xem xét, giải quyết lại các quyết định giải quyết đã có hiệu lực pháp luật, đã hết thời hiệu khởi kiện ra Tòa án nhưng công dân vẫn tiếp tục khiếu nại là không có cơ sở. Đồng thời, đề nghị Thanh tra Chính phủ hướng dẫn thực hiện Điều 38 Nghị định số 124/2020/NĐ-CP; rà soát, tổng kết Luật Khiếu nại và các văn bản hướng dẫn, tổng kết công tác giải quyết khiếu nại, đặc biệt là các vụ việc khiếu nại phức tạp, đông người, tồn đọng trong nhiều năm, các vụ việc khiếu nại đã có quyết định giải quyết khiếu nại lần hai nhưng công dân không lựa chọn khởi kiện vụ án hành chính (hoặc khởi kiện nhưng Tòa án không thụ lý do đã hết thời hiệu) mà vẫn tiếp tục gửi đơn, thư khiếu nại và các hình thức đơn thư khác đề nghị xem xét, giải quyết… Từ đó, củng cố thông tin, lập luận để có báo cáo chính thức tới Chính phủ việc có đề xuất sửa đổi, bổ sung quy định về xem xét giải quyết lại khiếu nại đã có hiệu lực pháp luật, đã hết thời hiệu khởi kiện ra Tòa án nhân dân nhưng công dân vẫn tiếp tục khiếu nại hay không.
Qua công tác theo dõi thi hành pháp luật về khiếu nại, thực tiễn cho thấy các vụ việc khiếu nại đã được giải quyết lần hai nhưng công dân không đồng ý và chủ yếu vẫn tiếp tục khiếu nại hoặc chuyển sang tố cáo để được giải quyết bằng thủ tục hành chính, chỉ một số ít vụ việc được khởi kiện tại Toà án theo thủ tục tố tụng. Nguyên nhân của tình trạng này là do tâm lý người dân luôn ưu tiên lựa chọn giải quyết bằng thủ tục hành chính, bởi các vụ việc khiếu nại, nhất là các vụ việc khiếu nại liên quan đến đất đai thường rất phức tạp, cần có quá trình quản lý, theo dõi các hồ sơ, tài liệu, các vấn đề đền bù về kinh tế mới nắm bắt cụ thể và có điều kiện thuận lợi cho việc giải quyết quyền lợi của người khiếu nại, đây cũng là trách nhiệm của cơ quan quản lý nhà nước. Bên cạnh đó, nhiều ý kiến của các cơ quan chức năng cũng có đề xuất theo hướng khuyến khích người dân lựa chọn Toà án để giải quyết các vụ việc khiếu nại, đặc biệt là các vụ việc tranh chấp liên quan đến đất đai thì nên chuyển toàn bộ sang Toà án giải quyết nhằm đảm bảo tính khách quan, khả thi, sự tuân thủ, chấp hành của các đối tượng khi bản án có hiệu lực pháp luật.
Nghiên cứu các quy định pháp luật hiện hành nhận thấy:
Tại khoản 7 Điều 11 Luật Khiếu nại năm 2011 quy định “khiếu nại đã có quyết định giải quyết khiếu nại lần hai” thuộc một trong các trường hợp không được thụ lý giải quyết và Điều 42 quy định “… người khiếu nại không đồng ý với quyết định giải quyết khiếu nại lần hai thì có quyền khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án theo quy định của Luật Tố tụng hành chính”.
Thực hiện đề nghị của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chính phủ sửa đổi Nghị định số 75/2012/NĐ-CP đã bỏ quy định tại Điều 20 của Nghị định số 75/2012/NĐ-CP. Tại Điều 38 Nghị định số 124/2020/NĐ-CP ngày 19/10/2020 quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Khiếu nại (thay thế Nghị định số 75/2012/NĐ-CP) quy định: “Khi phát hiện việc giải quyết khiếu nại vi phạm pháp luật, gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức, Thủ tướng Chính phủ yêu cầu người có thẩm quyền hoặc giao Tổng Thanh tra Chính phủ, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ kiểm tra, báo cáo Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo giải quyết”.
Tại Điều 9 Thông tư số 05/2021/TT-CP ngày 01/10/2021 của Thanh tra Chính phủ về quy trình xử lý đơn khiếu nại, đơn tố cáo, đơn kiến nghị, phản ánh quy định về xử lý đơn khiếu nại đối với quyết định giải quyết khiếu nại đã có hiệu lực pháp luật: “1. Đơn khiếu nại đối với quyết định giải quyết khiếu nại đã có hiệu lực pháp luật theo quy định tại Điều 44 Luật Khiếu nại thì người xử lý đơn không thụ lý, không chuyển đơn mà hướng dẫn người khiếu nại khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án nhân dân có thẩm quyền theo quy định của pháp luật về tố tụng hành chính, trừ trường hợp được quy định tại khoản 2 Điều này. 2. Đơn khiếu nại đối với quyết định giải quyết khiếu nại đã có hiệu lực pháp luật nhưng qua nghiên cứu, xem xét phát hiện việc giải quyết khiếu nại vi phạm pháp luật, gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức được quy định tại Điều 38 Nghị định số 124/2020/NĐ-CP ngày 19 tháng 10 năm 2020 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Khiếu nại thì người xử lý đơn phải báo cáo để người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị mình xem xét, quyết định theo quy định của pháp luật”.
Luật Khiếu nại, Nghị định số 124/2020/NĐ-CP, Thông tư số 05/2021/TT-CP không quy định cơ chế để xem xét, giải quyết lại các quyết định giải quyết khiếu nại đã có hiệu lực pháp luật, nhằm tạo “điểm dừng” trong giải quyết khiếu nại và khuyến khích người dân khởi kiện vụ án hành chính khi không đồng ý với quyết định hành chính, hành vi hành chính hoặc không đồng ý với quyết định giải quyết khiếu nại. Các quy định tại Nghị định số 124/2020/NĐ-CP, Thông tư số 05/2021/TT-CP thể hiện đúng tinh thần của Luật Khiếu nại và chỉ đạo của Ủy ban Thường vụ Quốc hội tại Báo cáo số 279/BC-UBTVQH14, Văn bản số 2663/TTKQH-TH. Vì vậy, việc nghiên cứu, kiến nghị cấp có thẩm quyền ban hành quy định điều kiện xem xét lại quyết định giải quyết khiếu nại hành chính đã có hiệu lực pháp luật, đã hết thời hiệu khởi kiện ra Tòa án nhân dân nhưng công dân vẫn tiếp tục khiếu nại theo quy định hiện hành là chưa đủ cơ sở. Thời gian tới, nếu Luật Khiếu nại được sửa đổi, bổ sung cần tiếp tục nghiên cứu các vấn đề lý luận và thực tiễn, tính khả thi để đề xuất các quy định cụ thể về vấn đề này nhằm đảm bảo cơ sở pháp lý cho việc thực hiện.
ThS. Nguyễn Thị Hồng Thắm,
Vụ Pháp chế, Thanh tra Chính phủ
(Nguồn: Viện Chiến lược Khoa học Thanh tra)