Tóm tắt: Công khai kết luận thanh tra là một khâu quan trọng bảo đảm tính công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình trong hoạt động thanh tra. Luật Thanh tra năm 2025 tiếp tục khẳng định nghĩa vụ công khai, đồng thời quy định cụ thể thời hạn và xác lập đăng tải trên Cổng thông tin điện tử là hình thức bắt buộc. Tuy nhiên, từ thực tiễn thi hành pháp luật qua các giai đoạn và những yêu cầu mới của môi trường số, việc công khai kết luận thanh tra vẫn đặt ra các vấn đề về phạm vi thông tin được công khai, cách xử lý thông tin thuộc diện bảo vệ, khả năng tiếp cận thực chất, thời gian duy trì thông tin, cập nhật tình trạng pháp lý của kết luận và công khai kết quả thực hiện kết luận thanh tra. Bài viết phân tích các quy định hiện hành, nhận diện những khó khăn, vướng mắc trong áp dụng và đề xuất giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công khai kết luận thanh tra trong giai đoạn thi hành Luật Thanh tra năm 2025.
1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Kết luận thanh tra là văn bản thể hiện kết quả cuối cùng của quá trình xem xét, đánh giá việc thực hiện chính sách, pháp luật, nhiệm vụ, quyền hạn của đối tượng thanh tra; xác định tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi vi phạm, nguyên nhân, trách nhiệm và biện pháp xử lý, kiến nghị khắc phục. Vì vậy, kết luận thanh tra không chỉ có ý nghĩa đối với cơ quan tiến hành thanh tra và đối tượng thanh tra mà còn liên quan trực tiếp đến hoạt động quản lý nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan. Khi kết luận thanh tra được công khai đúng pháp luật, thông tin về những vấn đề đã được thanh tra, sai phạm được phát hiện và kiến nghị xử lý có điều kiện đi vào đời sống quản lý, trở thành đối tượng của giám sát xã hội.
Nghiên cứu về công khai kết luận thanh tra trước hết xuất phát từ yêu cầu kiểm soát quyền lực và trách nhiệm giải trình. Hoạt động thanh tra sử dụng quyền lực nhà nước để kiểm tra, đánh giá và đưa ra những kết luận có thể tác động đáng kể đến đối tượng thanh tra. Nếu kết quả của hoạt động đó chỉ được lưu hành trong phạm vi hẹp thì khả năng kiểm chứng và giám sát việc thực hiện quyền lực bị hạn chế. Ngược lại, công khai tạo điều kiện để đối tượng thanh tra, cơ quan quản lý, cơ quan dân cử, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, báo chí và người dân biết, theo dõi và giám sát việc xử lý sau thanh tra. Công khai vì vậy không phải là thủ tục phụ sau khi kết thúc thanh tra, mà là một bộ phận của cơ chế bảo đảm tính minh bạch và trách nhiệm giải trình của hoạt động thanh tra.
Thứ hai, việc nghiên cứu nội dung này cần thiết do pháp luật về công khai kết luận thanh tra đã có những thay đổi quan trọng. Từ Luật Thanh tra năm 2010, Luật Thanh tra năm 2022 đến Luật Thanh tra năm 2025, yêu cầu công khai ngày càng được cụ thể hóa về trách nhiệm, thời hạn, phạm vi và hình thức. Đáng chú ý, Điều 37 Luật Thanh tra năm 2025 quy định chậm nhất 10 ngày kể từ ngày ký ban hành kết luận thanh tra, người ra quyết định thanh tra phải công khai; đăng tải trên Cổng thông tin điện tử của cơ quan thanh tra hoặc cơ quan quản lý nhà nước cùng cấp là hình thức bắt buộc và đồng thời phải lựa chọn thêm ít nhất một hình thức khác. Sự thay đổi này cho thấy pháp luật đang chuyển trọng tâm từ việc “có thực hiện công khai” sang yêu cầu bảo đảm thông tin có khả năng tiếp cận rộng rãi hơn.
Thứ ba, giữa quy định pháp luật và hiệu quả công khai trên thực tế vẫn có một khoảng cách cần tiếp tục nghiên cứu. Câu hỏi hiện nay không chỉ là kết luận thanh tra đã được công khai hay chưa, mà còn là công khai nội dung nào; phần thông tin nào phải loại trừ; ai quyết định việc loại trừ; kết luận được đăng tải trong bao lâu; khi kết luận được sửa đổi, bổ sung, thu hồi hoặc bị thay thế bởi kết luận thanh tra lại thì thông tin trên môi trường điện tử được cập nhật như thế nào; và sau khi kết luận được công khai, xã hội có thể tiếp tục theo dõi việc thực hiện các kiến nghị hay không. Đây là những vấn đề có ảnh hưởng trực tiếp đến giá trị thực chất của nguyên tắc công khai.
Mặt khác, cần phân biệt “thực trạng công khai kết luận thanh tra” với “thực trạng thi hành Luật Thanh tra năm 2025”. Luật mới có hiệu lực trong thời gian chưa dài, vì vậy các số liệu của giai đoạn trước không thể được sử dụng để kết luận trực tiếp về mức độ tuân thủ Luật năm 2025. Tuy nhiên, những dữ liệu này vẫn có giá trị nhận diện các vấn đề có tính lặp lại, những điểm nghẽn trong tổ chức thực hiện và các yêu cầu mà cơ chế mới phải giải quyết. Trên cơ sở đó, bài viết tập trung làm rõ quy định pháp luật hiện hành, đặt các quy định này trong mối liên hệ với thực tiễn thi hành pháp luật trước đây và đề xuất giải pháp bảo đảm việc công khai kết luận thanh tra thực sự có thể tiếp cận, kiểm chứng và giám sát.
2. QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ CÔNG KHAI KẾT LUẬN THANH TRA VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA TRONG ÁP DỤNG PHÁP LUẬT
2.1. Quy định pháp luật về công khai kết luận thanh tra
Pháp luật thanh tra Việt Nam qua các thời kỳ đều xác định công khai kết luận thanh tra là một nghĩa vụ pháp lý. Điều 39 Luật Thanh tra năm 2010 quy định kết luận thanh tra phải được công khai, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác. Cơ chế thi hành thời kỳ này cho phép sử dụng nhiều hình thức như công bố tại cuộc họp, niêm yết tại trụ sở, thông báo bằng văn bản, thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng, đăng tải trên trang thông tin điện tử và các hình thức cung cấp thông tin khác. Quy định đã tạo nền tảng pháp lý cho việc đưa kết quả thanh tra ra khỏi phạm vi nội bộ của cơ quan nhà nước, nhưng mức độ tiếp cận thông tin phụ thuộc khá nhiều vào hình thức mà cơ quan có thẩm quyền lựa chọn.
Luật Thanh tra năm 2022 tiếp tục phát triển cơ chế này. Khoản 2 Điều 79 quy định kết luận thanh tra phải được công khai toàn văn, trừ nội dung thuộc bí mật nhà nước hoặc bí mật khác theo quy định của luật. Nghị định số 43/2023/NĐ-CP từng cụ thể hóa một số nội dung và cách thức công khai. Điểm đáng chú ý của giai đoạn này là yêu cầu “công khai toàn văn”, qua đó nhấn mạnh nguyên tắc công khai là chủ đạo, còn việc không công khai chỉ là ngoại lệ phải có căn cứ pháp luật. Tuy nhiên, chính cách tiếp cận này cũng đặt ra yêu cầu xử lý kỹ thuật đối với một văn bản có thể đồng thời chứa thông tin công khai và thông tin thuộc các chế độ bảo vệ khác nhau.
Luật Thanh tra năm 2025 tiếp tục khẳng định nghĩa vụ công khai nhưng có những điều chỉnh đáng chú ý. Theo Điều 37, chậm nhất 10 ngày kể từ ngày ký ban hành kết luận thanh tra, người ra quyết định thanh tra có trách nhiệm công khai. Việc xác định rõ chủ thể và thời hạn là cơ sở quan trọng để kiểm tra trách nhiệm, hạn chế tình trạng kết luận đã được ban hành nhưng việc công khai bị kéo dài. Luật không tiếp tục sử dụng cụm từ “công khai toàn văn” mà quy định kết luận thanh tra phải được công khai, trừ nội dung thuộc bí mật nhà nước hoặc bí mật khác theo quy định của luật. Cách diễn đạt mới không nên được hiểu là trao quyền tùy nghi lựa chọn nội dung công khai; phần bị loại trừ vẫn phải có căn cứ pháp luật, còn phần thông tin không thuộc diện hạn chế phải được bảo đảm công khai.
Về hình thức, Luật Thanh tra năm 2025 tạo ra thay đổi rõ nét. Đăng tải kết luận thanh tra trên Cổng thông tin điện tử của cơ quan thanh tra hoặc cơ quan quản lý nhà nước cùng cấp là hình thức bắt buộc. Bên cạnh đó, người ra quyết định thanh tra phải thực hiện thêm ít nhất một trong các hình thức: tổ chức cuộc họp công bố kết luận thanh tra hoặc họp báo; thông báo trên ít nhất một phương tiện thông tin đại chúng tại nơi tiến hành thanh tra; niêm yết tại trụ sở làm việc của cơ quan, tổ chức là đối tượng thanh tra. Như vậy, công khai điện tử trở thành “trục chính”, còn các hình thức khác có vai trò bổ sung, mở rộng khả năng tiếp cận phù hợp với tính chất của từng cuộc thanh tra.
Một điểm có liên quan chặt chẽ đến công khai là khoản 4 Điều 36 Luật Thanh tra năm 2025 cho phép người ra quyết định thanh tra sửa đổi, bổ sung kết luận thanh tra đã ban hành trước khi công khai để bảo đảm tính chính xác, khách quan, khả thi. Quy định này cho thấy thời điểm công khai có ý nghĩa pháp lý quan trọng: trước khi công khai, pháp luật cho phép một cơ chế tự rà soát cuối cùng; sau khi công khai, việc thay đổi tình trạng pháp lý của kết luận phải được xử lý thận trọng để không làm sai lệch thông tin mà xã hội đã tiếp cận. Đồng thời, Nghị định số 216/2025/NĐ-CP đã thay thế Nghị định số 43/2023/NĐ-CP, nên khi tổ chức thi hành Luật năm 2025 cần tránh tiếp tục áp dụng máy móc các quy định chi tiết của cơ chế cũ đã hết hiệu lực.
2.2. Những vấn đề đặt ra trong áp dụng pháp luật về công khai kết luận thanh tra
Thứ nhất, mức độ thực hiện công khai trong giai đoạn trước chưa đồng đều giữa các cơ quan, địa phương. Báo cáo giám sát của Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam năm 2017 từng ghi nhận sự chênh lệch đáng kể về hình thức và tỷ lệ công khai: tại Thanh tra Chính phủ, 19/24 kết luận được công bố tại cuộc họp và 19/24 thông báo kết luận được đăng tải; tại Bộ Giao thông vận tải, 37/54 kết luận được công bố tại cuộc họp nhưng chỉ 17/54 được đăng tải; tại Bộ Y tế, 36/36 kết luận được đăng tải; trong khi tỷ lệ đăng tải ở một số địa phương thấp hơn đáng kể. Các số liệu này thuộc giai đoạn pháp luật trước đây và không phản ánh trực tiếp việc thi hành Luật Thanh tra năm 2025, nhưng cho thấy nếu hình thức công khai phụ thuộc nhiều vào lựa chọn của từng cơ quan thì khả năng tiếp cận thông tin có thể rất khác nhau. Việc Luật năm 2025 bắt buộc đăng tải trên Cổng thông tin điện tử là phản ứng lập pháp hợp lý đối với vấn đề này.
Thứ hai, khó khăn lớn nằm ở việc xác định ranh giới giữa công khai và bảo vệ thông tin. Một kết luận thanh tra có thể chứa thông tin thuộc bí mật nhà nước, bí mật kinh doanh, bí mật ngân hàng, đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, dữ liệu cá nhân hoặc thông tin chịu sự điều chỉnh của pháp luật chuyên ngành. Nếu công khai thiếu rà soát, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân có thể bị xâm phạm; nhưng nếu chỉ cần văn bản có một phần thông tin thuộc diện bảo vệ là không công khai toàn bộ thì nguyên tắc công khai bị thu hẹp quá mức. Vấn đề vì vậy không phải lựa chọn giữa “công khai” và “bí mật”, mà là phải có kỹ thuật tách, che, trích lược hoặc xử lý phần thông tin bị hạn chế trên cơ sở căn cứ pháp luật cụ thể.
Khó khăn tiếp theo là pháp luật hiện hành chưa tạo ra một quy trình nghiệp vụ thống nhất cho việc rà soát thông tin trước khi đăng tải. Trên thực tế có thể phát sinh các câu hỏi: đơn vị nào chủ trì rà soát; ai chịu trách nhiệm xác định nội dung cần che; căn cứ loại trừ có phải được ghi nhận trong hồ sơ hay không; trường hợp có ý kiến khác nhau giữa đơn vị chuyên môn, pháp chế, văn thư hoặc bộ phận quản trị Cổng thông tin điện tử thì ai quyết định. Nếu thiếu quy trình, người thực hiện dễ rơi vào tâm lý an toàn là hạn chế công khai nhiều hơn cần thiết, hoặc ngược lại công khai thông tin chưa được xử lý đầy đủ. Đây là khoảng trống về tổ chức thực hiện cần được khắc phục bằng hướng dẫn nghiệp vụ rõ ràng.
Thứ ba, công khai về hình thức chưa đồng nghĩa với khả năng tiếp cận thực chất. Một tệp kết luận thanh tra được đưa lên Cổng thông tin điện tử có thể đáp ứng yêu cầu đăng tải, nhưng nếu nằm sâu trong nhiều lớp chuyên mục, tên tệp không phản ánh nội dung, không có công cụ tìm kiếm, tệp ở định dạng khó đọc trên thiết bị di động hoặc đường dẫn nhanh chóng bị thay đổi thì khả năng tiếp cận vẫn thấp. Trong môi trường số, tiêu chí đánh giá công khai cần chuyển từ “đã đăng hay chưa” sang “có thể tìm thấy, đọc được, tra cứu được và kiểm chứng được hay không”. Đây là khác biệt quan trọng giữa hoàn thành thủ tục và đạt mục tiêu của công khai.
Thứ tư, thời gian duy trì thông tin công khai trên Cổng thông tin điện tử là vấn đề cần được làm rõ. Theo cơ chế của Luật Thanh tra năm 2022 và Nghị định số 43/2023/NĐ-CP trước đây, việc đăng tải có thời gian tối thiểu nhất định. Luật Thanh tra năm 2025 quy định bắt buộc đăng tải nhưng Điều 37 không trực tiếp xác định thời gian duy trì. Trong khi đó, Nghị định số 216/2025/NĐ-CP đã thay thế Nghị định số 43/2023/NĐ-CP và không phải là sự lặp lại toàn bộ cơ chế công khai cũ. Nếu mỗi cơ quan tự xác định thời gian lưu trên Cổng thông tin điện tử, có thể xuất hiện tình trạng cùng là kết luận thanh tra nhưng thời gian người dân có thể tiếp cận rất khác nhau. Vấn đề này cần được giải quyết theo hướng vừa bảo đảm quyền tiếp cận, vừa phù hợp yêu cầu lưu trữ và quản trị dữ liệu điện tử.
Thứ năm, chưa có cơ chế thật rõ để cập nhật tình trạng pháp lý của kết luận sau khi đã công khai. Kết luận thanh tra có thể liên quan đến kiến nghị của đối tượng thanh tra, hoạt động thanh tra lại hoặc các quyết định xử lý tiếp theo; trong một số trường hợp thông tin ban đầu có thể được sửa đổi, bổ sung, thay thế hoặc không còn giá trị áp dụng ở một phần nội dung. Nếu Cổng thông tin điện tử chỉ lưu bản đã đăng ban đầu mà không thể hiện trạng thái hiện hành, người sử dụng có nguy cơ dựa vào thông tin đã thay đổi. Ngược lại, nếu xóa hoàn toàn bản cũ thì lịch sử pháp lý và khả năng kiểm chứng cũng bị mất. Do đó, yêu cầu phù hợp hơn là quản lý theo phiên bản và trạng thái, liên kết bản cũ với văn bản làm thay đổi tình trạng pháp lý của nó.
Thứ sáu, công khai kết luận thanh tra chưa được kết nối đầy đủ với công khai việc thực hiện kết luận. Số liệu tổng hợp trong các báo cáo công tác ngành Thanh tra cho thấy tỷ lệ kết luận hoàn thành đầy đủ nội dung phải thực hiện còn biến động: năm 2023 là 5.442/8.691 kết luận, đạt 62,6%; năm 2024 là 4.468/6.771, đạt 66,0%; năm 2025 là 4.655/7.882, đạt 59,1%. Những số liệu này phản ánh kết quả thực hiện kết luận thanh tra nói chung, không phải tỷ lệ công khai. Tuy nhiên, chúng gợi ra một vấn đề đáng chú ý: nếu xã hội chỉ biết kết luận đã kiến nghị thu hồi bao nhiêu, xử lý trách nhiệm ra sao, yêu cầu khắc phục những gì nhưng không biết các kiến nghị đó đã được thực hiện đến đâu thì chu trình giám sát chưa hoàn chỉnh.
Theo đó, công khai cần được nhìn nhận theo một chu trình thông tin: công khai kết luận; xác định rõ trách nhiệm phải thực hiện; theo dõi tiến độ; và cung cấp thông tin về kết quả cuối cùng trong phạm vi pháp luật cho phép. Không nhất thiết mọi thông tin của giai đoạn theo dõi, đôn đốc đều phải công khai với cùng mức độ như kết luận thanh tra, nhưng cần có cơ chế để những kiến nghị có ý nghĩa công cộng, đặc biệt là thu hồi tài sản, khắc phục cơ chế, chính sách và xử lý trách nhiệm, có thể được theo dõi một cách phù hợp. Nếu không có mắt xích này, công khai kết luận dễ dừng lại ở việc thông báo “đã phát hiện gì” mà chưa trả lời đầy đủ “đã xử lý đến đâu”.
Thứ bảy, trách nhiệm và cơ chế kiểm soát việc thực hiện nghĩa vụ công khai cần cụ thể hơn ở cấp độ tổ chức thực hiện. Luật đã xác định người ra quyết định thanh tra có trách nhiệm công khai trong thời hạn 10 ngày, nhưng để kiểm soát được nghĩa vụ này cần có dữ liệu về ngày ký, ngày đăng tải, hình thức công khai bổ sung, người thực hiện thao tác đăng, nội dung đã được xử lý trước khi đăng và việc cập nhật sau đó. Nếu không có dấu vết nghiệp vụ, việc kiểm tra trách nhiệm khi chậm công khai, công khai thiếu hoặc công khai sai sẽ khó thực hiện. Vì vậy, công khai kết luận thanh tra cần được coi là một quy trình có thể kiểm tra, chứ không chỉ là một thao tác hành chính cuối cùng.
3. GIẢI PHÁP, KIẾN NGHỊ
Một là, cần hoàn thiện hướng dẫn về phạm vi thông tin được công khai và quy trình xử lý phần thông tin không được công khai. Nguyên tắc cần được xác định rõ: công khai là nghĩa vụ; không công khai là ngoại lệ và phải dựa trên căn cứ luật định. Đối với kết luận có nội dung thuộc diện bảo vệ, cơ quan có thẩm quyền cần thực hiện rà soát theo từng phần thông tin, xác định căn cứ pháp lý của việc loại trừ và áp dụng biện pháp kỹ thuật phù hợp như che thông tin, trích lược hoặc tạo bản công khai. Không nên sử dụng lý do chung chung “văn bản có nội dung mật” để loại toàn bộ kết luận khỏi phạm vi công khai khi chỉ một phần thông tin thuộc diện hạn chế.
Hai là, cần chuẩn hóa quy trình công khai kết luận thanh tra trong nội bộ cơ quan thanh tra. Quy trình nên bao gồm tối thiểu các bước: xác định thời điểm phát sinh nghĩa vụ công khai; rà soát nội dung; xác định phần thông tin phải bảo vệ; phê duyệt bản dùng để công khai; lựa chọn hình thức công khai bổ sung; đăng tải; ghi nhận thời điểm và đường dẫn; kiểm tra khả năng truy cập; lưu vết hồ sơ; theo dõi và cập nhật khi tình trạng pháp lý của kết luận thay đổi. Việc chuẩn hóa quy trình sẽ giảm sự phụ thuộc vào kinh nghiệm cá nhân và tạo căn cứ rõ ràng để xác định trách nhiệm khi xảy ra sai sót.
Ba là, cần quy định hoặc hướng dẫn thống nhất về thời gian duy trì kết luận thanh tra trên Cổng thông tin điện tử. Trong điều kiện chuyển đổi số, nên tiếp cận theo hướng kết luận thanh tra là dữ liệu cần được lưu giữ và tra cứu ổn định, thay vì chỉ xuất hiện trong một khoảng thời gian ngắn rồi biến mất khỏi hệ thống. Trường hợp cần hạn chế hiển thị vì lý do pháp lý hoặc kỹ thuật phải có nguyên tắc rõ ràng. Đồng thời, cần phân biệt thời gian “đăng tải để thực hiện nghĩa vụ công khai” với thời gian “lưu trữ, cung cấp khả năng tra cứu” để tránh đồng nhất hai yêu cầu có mục đích khác nhau.
Bốn là, xây dựng cơ chế cập nhật tình trạng pháp lý của kết luận thanh tra trên môi trường điện tử. Mỗi kết luận nên có các trường thông tin tối thiểu như số, ngày ban hành, cơ quan ban hành, đối tượng thanh tra, lĩnh vực, ngày công khai, tình trạng hiệu lực/thực hiện và liên kết đến văn bản sửa đổi, bổ sung, thay thế hoặc kết luận thanh tra lại có liên quan. Khi có thay đổi, hệ thống không nên đơn thuần xóa bản cũ mà cần gắn cảnh báo và liên kết đến văn bản hiện hành. Cách làm này vừa bảo đảm tính toàn vẹn của dữ liệu, vừa giúp người sử dụng tránh nhầm lẫn về giá trị pháp lý của tài liệu đã công khai.
Năm là, từng bước gắn công khai kết luận thanh tra với thông tin về thực hiện kết luận thanh tra. Có thể nghiên cứu công khai theo nhóm chỉ tiêu tổng hợp và những nội dung không thuộc diện hạn chế, như số tiền đã thu hồi so với số phải thu hồi, tình trạng thực hiện kiến nghị xử lý hành chính, tiến độ khắc phục cơ chế, chính sách và trạng thái hoàn thành của các kiến nghị chính. Cách tiếp cận này không đồng nghĩa công khai toàn bộ hồ sơ theo dõi, đôn đốc; mục tiêu là tạo ra mức thông tin đủ để xã hội biết kiến nghị thanh tra có được thực hiện hay không. Đây là bước chuyển từ công khai “kết quả phát hiện” sang công khai “hiệu quả xử lý”.
Sáu là, tăng cường kiểm tra trách nhiệm công khai bằng các chỉ tiêu có thể đo lường. Cơ quan thanh tra có thể theo dõi tỷ lệ kết luận được công khai đúng thời hạn; số ngày từ khi ký đến khi đăng tải; tỷ lệ đường dẫn còn truy cập được; tỷ lệ kết luận được cập nhật khi có thay đổi; số trường hợp phải đính chính do công khai sai hoặc thiếu; và mức độ công khai kết quả thực hiện sau thanh tra. Những chỉ tiêu này giúp chuyển việc đánh giá từ nhận xét định tính sang quản trị bằng dữ liệu, đồng thời phát hiện sớm đơn vị hoặc khâu nghiệp vụ có nguy cơ không tuân thủ.
Bảy là, phát triển cơ sở dữ liệu kết luận thanh tra theo hướng tập trung hoặc có khả năng liên thông, tìm kiếm và khai thác. Cổng thông tin điện tử không nên chỉ là nơi chứa các tệp văn bản rời rạc. Dữ liệu cần được chuẩn hóa theo cơ quan ban hành, thời gian, lĩnh vực, đối tượng, nội dung kiến nghị, tình trạng thực hiện và tình trạng pháp lý. Công cụ tìm kiếm cần cho phép lọc theo các trường thông tin cơ bản; tài liệu cần ở định dạng dễ đọc và bảo đảm khả năng truy cập ổn định. Khi đó, công khai không chỉ phục vụ quyền được biết mà còn tạo nguồn dữ liệu cho quản lý nhà nước, nghiên cứu chính sách, nhận diện rủi ro và phòng ngừa vi phạm.
Tám là, cần nâng cao năng lực của đội ngũ thực hiện công khai, đặc biệt ở giao điểm giữa nghiệp vụ thanh tra, pháp luật về bảo vệ thông tin và kỹ năng quản trị dữ liệu số. Người thực hiện phải nhận diện được thông tin thuộc diện hạn chế, hiểu nguyên tắc xử lý dữ liệu cá nhân, biết kiểm tra bản điện tử trước khi đăng và nhận thức rõ trách nhiệm pháp lý của việc công khai. Đồng thời, cần phân công rõ trách nhiệm giữa người ra quyết định thanh tra, đơn vị tham mưu nghiệp vụ, bộ phận pháp chế, văn thư và đơn vị quản trị Cổng thông tin điện tử để tránh tình trạng “nhiều người tham gia nhưng không rõ ai chịu trách nhiệm cuối cùng”.
Tóm lại, Luật Thanh tra năm 2025 đã tạo bước tiến quan trọng khi xác định rõ thời hạn công khai và bắt buộc đăng tải kết luận thanh tra trên Cổng thông tin điện tử. Tuy nhiên, hiệu quả của quy định không chỉ phụ thuộc vào việc văn bản có được đưa lên mạng trong thời hạn hay không. Giá trị thực chất của công khai nằm ở khả năng người dân và các chủ thể có liên quan có thể tìm thấy, tiếp cận, hiểu đúng tình trạng pháp lý, kiểm chứng và theo dõi việc thực hiện kết luận. Vì vậy, trọng tâm của giai đoạn hiện nay cần chuyển từ “hoàn thành thủ tục công khai” sang “bảo đảm công khai có thể tiếp cận, có thể kiểm chứng và có thể giám sát”. Đây là điều kiện để công khai kết luận thanh tra thực sự trở thành công cụ nâng cao trách nhiệm giải trình, kiểm soát quyền lực và hiệu lực, hiệu quả của hoạt động thanh tra.
GVC.TS Lê Thanh Thủy
Phó trưởng khoa Nghiệp vụ Thanh tra
TÀI LIỆU THAM KHẢO
- Quốc hội (2010), Luật Thanh tra số 56/2010/QH12.
- Quốc hội (2022), Luật Thanh tra số 11/2022/QH15.
- Quốc hội (2025), Luật Thanh tra số 84/2025/QH15.
- Chính phủ (2023), Nghị định số 43/2023/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Thanh tra (đã hết hiệu lực).
- Chính phủ (2025), Nghị định số 216/2025/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và hướng dẫn thi hành Luật Thanh tra.
- Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (2017), Báo cáo kết quả giám sát thực hiện công khai kết luận thanh tra.
- Thanh tra Chính phủ, Báo cáo tổng kết công tác ngành Thanh tra các năm 2023, 2024, 2025.
- Luận án Tiến sỹ của Lê Thanh Thủy (2024), kết quả khảo sát sử dụng trong nghiên cứu về nguyên tắc công khai trong hoạt động thanh tra.