Quyền lực nhà nước được trao cho cơ quan, cá nhân có thẩm quyền để thực hiện mục tiêu công vụ, nhưng luôn tiềm ẩn nguy cơ bị sử dụng sai mục đích, phục vụ lợi ích cá nhân hoặc lợi ích nhóm – vấn đề trung tâm của phòng, chống tham nhũng, đặc biệt trong hoạt động hành pháp gắn với đất đai, đầu tư, tài chính và tài sản công.
Ở Việt Nam, trách nhiệm giải trình đã được hiến định qua nguyên tắc cơ quan nhà nước chịu sự giám sát của Nhân dân (Điều 2, 8 Hiến pháp năm 2013), cụ thể hóa qua Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018 và Nghị định số 59/2019/NĐ-CP. Tuy nhiên, vấn đề không chỉ là có quy định, mà còn là giải trình được thực hiện như thế nào và hệ quả pháp lý của việc không giải trình hoặc giải trình không trung thực.
Ngày 26/10/2025, Bộ Chính trị ban hành Chỉ thị số 53-CT/TW về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với việc thực hiện trách nhiệm giải trình, nhìn nhận thể chế, pháp luật về vấn đề này còn phân tán, chồng chéo, thiếu cơ chế ràng buộc và tiêu chí đánh giá hiệu quả [1]. Ngày 25/5/2026, Chính phủ ban hành Nghị định số 184/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung Nghị định số 59/2019/NĐ-CP, cùng Nghị định số 164/2026/NĐ-CP về kiểm soát tài sản, thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn. Ngày 30/6/2026, Thanh tra Chính phủ ban hành Thông tư số 02/2026/TT-TTCP quy định Khung tiêu chí đánh giá hiệu quả thực hiện trách nhiệm giải trình, có hiệu lực từ 01/7/2026.
1. Mối quan hệ giữa trách nhiệm giải trình và phòng, chống tham nhũng trong hoạt động công vụ
Sự bất cân xứng thông tin giữa chủ thể trao quyền và chủ thể được trao quyền tạo điều kiện để người nắm giữ quyền lực theo đuổi lợi ích riêng nếu không bị buộc phải giải thích cách thức quyền lực được sử dụng [3]. Trách nhiệm giải trình khắc phục khoảng trống này bằng cách buộc chủ thể công quyền chỉ ra căn cứ pháp lý, thẩm quyền, trình tự, lý do và mục đích của quyết định. Tuy nhiên, cơ chế giải trình về mặt hình thức không tự động làm giảm tham nhũng nếu chỉ dừng ở việc gửi một văn bản trả lời chung chung mà không xác định được ai chịu trách nhiệm; trách nhiệm giải trình chỉ thực sự có giá trị khi hình thành được một chuỗi liên tục từ quyền yêu cầu giải trình đến nghĩa vụ cung cấp thông tin, khả năng kiểm chứng, xác định trách nhiệm và áp dụng hậu quả pháp lý.
2. Những nội dung mới của pháp luật Việt Nam về trách nhiệm giải trình trong hoạt động công vụ nhằm phòng, chống tham nhũng
2.1. Những nội dung mới của pháp luật Việt Nam về trách nhiệm giải trình trong hoạt động công vụ nhằm phòng, chống tham nhũng
2.1.1. Hoàn thiện nội dung giải trình theo hướng kiểm soát toàn bộ quá trình thực thi quyền lực
Điều 2 Nghị định số 184/2026/NĐ-CP sửa đổi Điều 3 Nghị định số 59/2019/NĐ-CP, xác định sáu nội dung giải trình và mối liên hệ giữa các nội dung nhằm phòng, chống tham nhũng qua việc thực hiện nghĩa vụ giải trình. Căn cứ pháp lý trả lời câu hỏi quyền lực được sử dụng dựa trên quy phạm nào; về thẩm quyền xác định ai được phép sử dụng quyền lực; trình tự, thủ tục cho biết quyền lực được thực hiện theo cách nào; mục đích và lý do trả lời tại sao quyền lực được sử dụng; nội dung và phương thức phản ánh quyền lực đã được sử dụng ra sao; việc xác định trách nhiệm của các chủ thể liên quan trả lời câu hỏi ai phải chịu trách nhiệm đối với kết quả của quá trình đó.
Nhìn dưới góc độ phòng, chống tham nhũng, đây là quá trình “giải phẫu” một quyết định hành chính, hành vi hành chính. Nó cho phép chuyển hoạt động kiểm soát từ việc chỉ nhìn vào kết quả sang xem xét cả căn cứ, động cơ, quy trình và trách nhiệm. Điều này đặc biệt cần thiết đối với những lĩnh vực có nguy cơ tham nhũng cao như đất đai, quy hoạch, đầu tư, xây dựng, tài chính công và tài sản công.
2.1.2. Lần đầu xác lập tương đối rõ các nguyên tắc thực hiện trách nhiệm giải trình
Nghị định số 184/2026/NĐ-CP bổ sung Điều 3a, quy định việc giải trình phải dựa trên các nguyên tắc bảo đảm chính xác, đầy đủ, kịp thời, khách quan, đúng thẩm quyền và trình tự; bảo đảm công khai, minh bạch và tạo thuận lợi cho chủ thể yêu cầu tiếp cận thông tin; đồng thời phải bảo vệ các loại bí mật theo pháp luật, Đồng thời, nguyên tắc gắn trách nhiệm giải trình với chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và yêu cầu cá nhân trực tiếp thực hiện nhiệm vụ, công vụ phải chủ động giải trình và chịu trách nhiệm về nội dung giải trình của mình. Quy định này có ý nghĩa trong việc khắc phục hiện tượng “hòa tan trách nhiệm” trong cơ quan hành chính. Một quyết định có thể đi qua nhiều bộ phận, nhiều cấp và nhiều cá nhân. Nếu trách nhiệm chỉ thuộc về “cơ quan” một cách chung chung thì khi phát sinh sai phạm rất khó xác định trách nhiệm cá nhân. Việc gắn giải trình với cá nhân trực tiếp thực hiện công vụ góp phần làm rõ đường đi của trách nhiệm trong nội bộ bộ máy cơ quan nhà nước.
2.1.3. Đa dạng hóa hình thức giải trình và thích ứng với môi trường số
Điều 3b Nghị định số 184/2026/NĐ-CP quy định giải trình có thể được thực hiện trực tiếp tại cuộc họp, buổi làm việc hoặc bằng văn bản; văn bản có thể được gửi bằng giấy hoặc qua môi trường điện tử. Mặc dù đây là thay đổi về kỹ thuật, nhưng giải trình qua môi trường điện tử có tiềm năng tạo ra hiệu quả trong kiểm soát quyền lực nhà nước. Bởi, quá trình tiếp nhận yêu cầu giải trình, thời điểm phản hồi, nội dung giải trình và tài liệu kèm theo đã được ghi nhận, lưu trữ và truy xuất làm căn cứ để chủ thể giải trình không phủ nhận, trì hoãn hoặc thay đổi thông tin sau khi giải trình.
Định hướng này thống nhất với Chỉ thị số 53-CT/TW khi Bộ Chính trị yêu cầu đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số, xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về trách nhiệm giải trình, bảo đảm kết nối từ Trung ương đến cơ sở và xây dựng cổng thông tin phục vụ việc tiếp nhận, phản hồi yêu cầu giải trình.[1]
2.1.4. Xác định cụ thể hành vi vi phạm về trách nhiệm giải trình
Một trong những điểm mới quan trọng nhất của Nghị định số 184/2026/NĐ-CP là bổ sung Điều 5a, nhận diện bảy nhóm hành vi vi phạm, gồm: không giải trình khi có yêu cầu hợp pháp; cố ý giải trình không đầy đủ hoặc không trung thực; cố ý kéo dài thời gian; cung cấp thông tin sai lệch, che giấu thông tin hoặc cản trở yêu cầu giải trình; không báo cáo người đứng đầu; cung cấp thông tin không được phép công khai hoặc cho chủ thể không liên quan; không lưu trữ, quản lý hồ sơ giải trình theo quy định.[2] Việc liệt kê các hành vi này có ý nghĩa đặc biệt bởi nó làm thay đổi vị trí pháp lý của nghĩa vụ giải trình. Nếu pháp luật chỉ quy định “phải giải trình” nhưng không xác định thế nào là vi phạm thì việc bảo đảm thực hiện sẽ gặp khó khăn. Khi hành vi không trung thực, trì hoãn hoặc che giấu thông tin được định danh, trách nhiệm giải trình bắt đầu có công cụ khi được xem xét là một cơ chế kiểm soát tham nhũng.
Đặc biệt, việc coi giải trình không trung thực và che giấu thông tin là hành vi vi phạm tạo ra mối liên hệ trực tiếp với phòng, chống tham nhũng. Tham nhũng thường gắn với che giấu thông tin và tạo lập lý do bề ngoài cho quyết định vụ lợi. Vì vậy, xử lý hành vi làm sai lệch quá trình giải trình chính là bảo vệ tính toàn vẹn của cơ chế phát hiện và kiểm soát tham nhũng.
2.1.5. Tăng trách nhiệm của người đứng đầu và cá nhân trực tiếp thực thi công vụ
Nghị định số 184/2026/NĐ-CP còn tạo chuyển biến đáng chú ý khi yêu cầu người đứng đầu chịu trách nhiệm nếu để xảy ra vi phạm về trách nhiệm giải trình trong cơ quan, đơn vị mình. Trong khi đó, cá nhân thực thi nhiệm vụ phải chủ động giải trình, cung cấp đầy đủ, chính xác thông tin, báo cáo người đứng đầu và chịu trách nhiệm trước người đứng đầu cũng như trước pháp luật về nội dung giải trình (Điều 5). Cách thiết kế này hình thành hai tầng trách nhiệm: trách nhiệm trực tiếp của người thực thi công vụ và trách nhiệm quản lý của người đứng đầu. Đây là điểm quan trọng trong phòng, chống tham nhũng bởi nhiều sai phạm trong bộ máy hành chính không chỉ xuất phát từ hành vi của một cá nhân mà còn liên quan đến sự buông lỏng kiểm tra, giám sát hoặc có sự dung túng cho hành vi né tránh trách nhiệm giải trình của cấp trên với cấp dưới.
2.1.6. Chuyển từ “quy định nghĩa vụ” sang “đo lường hiệu quả” trách nhiệm giải trình
Đây là bước tiến nổi bật nhất của Nghị định số 184/2026/NĐ-CP khi bổ sung cơ chế xây dựng Khung tiêu chí và Bộ tiêu chí đánh giá hiệu quả thực hiện trách nhiệm giải trình. Thông tư số 02/2026/TT-TTCP tiếp tục cụ thể hóa cơ chế này.
Theo Thông tư số 02/2026/TT-TTCP của Thanh tra Chính phủ, việc đánh giá được thực hiện trên thang 100 điểm, gồm năm nhóm: tính đầy đủ, chính xác, kịp thời – tối đa 30 điểm; tuân thủ trình tự, thủ tục – 20 điểm; công khai, minh bạch – 15 điểm; mức độ đáp ứng yêu cầu của chủ thể yêu cầu giải trình – 25 điểm; xử lý vi phạm trong thực hiện trách nhiệm giải trình – 10 điểm. [6] Điểm đáng chú ý là Thông tư không ban hành một bộ tiêu chí cứng áp dụng đồng nhất cho mọi cơ quan, mà chỉ quy định khung với năm nhóm tiêu chí và thang điểm, điểm tối đa cho từng nhóm, để các bộ, ngành tự cụ thể hóa thành tiêu chí thành phần phù hợp đặc thù quản lý nhưng vẫn thống nhất về nguyên tắc, phương pháp, nhằm tránh áp đặt máy móc đồng thời khắc phục tình trạng mỗi nơi đánh giá một kiểu. Việc đánh giá không chỉ dựa vào câu hỏi hình thức là đã có văn bản trả lời hay chưa, mà xem xét toàn diện: giải trình có đúng thẩm quyền, đúng thời hạn, có đủ căn cứ pháp lý, có làm rõ nguyên nhân và biện pháp khắc phục, có hồ sơ kiểm chứng, và sau giải trình có dẫn đến khắc phục hạn chế hay xử lý trách nhiệm tương ứng hay không. Kết quả đánh giá được xác định là một trong các căn cứ phục vụ đánh giá, phân loại cán bộ, công chức, viên chức, trách nhiệm người đứng đầu, thi đua, khen thưởng, kỷ luật, nhưng không thay thế các quy trình đánh giá cán bộ đã có mà bổ sung thêm một kênh thông tin có căn cứ, có dữ liệu, có khả năng kiểm chứng.
3. Ý nghĩa của những quy định mới về trách nhiệm giải trình đối với phòng, chống tham nhũng
Một là, góp phần chuyển trọng tâm từ phát hiện tham nhũng sang phòng ngừa nguy cơ tham nhũng
Trách nhiệm giải trình không thay thế thanh tra, điều tra hay xử lý tham nhũng, mà tạo cơ chế phòng ngừa: khi biết quyết định của mình có thể phải được giải thích, người có thẩm quyền phải cân nhắc kỹ hơn trước khi sử dụng quyền lực.
Hai là, thu hẹp không gian cho quyết định thiếu minh bạch và tăng khả năng phát hiện dấu hiệu bất thường, tham nhũng
Yêu cầu giải thích mục đích, lý do của quyết định giúp nhận diện những trường hợp quyết định hợp pháp về hình thức nhưng thực chất nhằm tạo lợi ích cho một chủ thể cụ thể; sự mâu thuẫn giữa căn cứ pháp lý, quyết định và lời giải trình của các cá nhân liên quan có thể trở thành dấu hiệu để cơ quan thanh tra xem xét. Nghị định số 184/2026/NĐ-CP đồng thời phân định thẩm quyền xử lý vụ việc có dấu hiệu tham nhũng theo cấp bậc đối tượng (Chương Va), qua đó giải trình và thanh tra bổ trợ cho nhau.
Ba là, cá thể hóa trách nhiệm và mở rộng sự tham gia giám sát của xã hội
Quy định mới yêu cầu cá nhân trực tiếp thực hiện nhiệm vụ chủ động giải trình, đồng thời người đứng đầu chịu trách nhiệm khi để xảy ra vi phạm trong đơn vị, hạn chế việc lấy cơ cấu tổ chức làm lý do che chắn cho quyết định sai trái. Chỉ thị số 53-CT/TW còn đặt trách nhiệm giải trình trong mối liên hệ với quyền tiếp cận thông tin của báo chí, người dân, doanh nghiệp và vai trò giám sát của cơ quan dân cử, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, mở rộng trách nhiệm giải trình sang giám sát xã hội.
Kết luận. Mối quan hệ giữa trách nhiệm giải trình và phòng, chống tham nhũng bắt nguồn từ bản chất của việc thực thi quyền lực công: khi một chủ thể được trao quyền quyết định đối với nguồn lực, quyền và lợi ích của người khác, nguy cơ sử dụng quyền lực cho lợi ích riêng luôn hiện hữu. Chỉ thị số 53-CT/TW, Nghị định số 184/2026/NĐ-CP và Thông tư số 02/2026/TT-TTCP đã cụ thể hóa yêu cầu đó thành nguyên tắc, hành vi vi phạm, trách nhiệm cá nhân và tiêu chí đánh giá đo lường được, đánh dấu bước chuyển sang một chế định có thể tổ chức thực hiện và kiểm chứng.
Ths. Trần Thị Thu Hà – Khoa nghiệp vụ 2, Trường Cán bộ thanh tra
TÀI LIỆU THAM KHẢO
- Bộ Chính trị. (2025). Chỉ thị số 53-CT/TW ngày 26/10/2025 về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với việc thực hiện trách nhiệm giải trình của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong hoạt động công vụ.
- Chính phủ. (2026). Nghị định số 184/2026/NĐ-CP ngày 25/5/2026 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 59/2019/NĐ-CP ngày 01/7/2019 quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Phòng, chống tham nhũng.
- Bovens, M. (2007). Analysing and assessing accountability: A conceptual framework. European Law Journal, 13(4), 447–468. https://doi.org/10.1111/j.1468-0386.2007.00378.x.
- Quốc hội. (2018). Luật Phòng, chống tham nhũng số 36/2018/QH14 ngày 20 tháng 11 năm 2018.
- Thanh tra Chính phủ. (2026). Thông tư số 02/2026/TT-TTCP ngày 30/6/2026 quy định Khung tiêu chí đánh giá hiệu quả thực hiện trách nhiệm giải trình trong thực hiện nhiệm vụ, công vụ.