Tóm tắt: Việc kiểm tra, rà soát, xử lý các vụ việc khiếu nại, tố cáo phức tạp, kéo dài, vượt cấp lên Trung ương không chỉ nhằm giải quyết những vụ việc tồn đọng mà còn đặt ra yêu cầu xác định chính xác tình trạng pháp lý, kết quả giải quyết, mức độ tổ chức thực hiện và điều kiện kết thúc xử lý đối với từng vụ việc cụ thể. Thực hiện Kế hoạch số 329/KH-TTCP ngày 25/9/2025 của Thanh tra Chính phủ, Thành phố Hồ Chí Minh đã thành lập, kiện toàn Tổ Công tác, tổ chức kiểm tra, rà soát toàn bộ các vụ việc thuộc danh sách; phân công trách nhiệm cho từng cơ quan, đơn vị và tiếp tục phối hợp với Thanh tra Chính phủ trong quá trình xử lý. Từ thực tiễn triển khai, một số vấn đề đáng chú ý được đặt ra như: cần phân biệt giữa việc đã ban hành quyết định, kết luận với việc đã hoàn thành các nội dung phải thực hiện; xử lý các vụ việc đồng thời thuộc nhiều kế hoạch khác nhau; xác minh cụ thể tình trạng đơn thư tại địa phương; củng cố đầy đủ hồ sơ trước khi đề xuất chấm dứt xử lý; đồng thời duy trì cơ chế phối hợp thường xuyên giữa cơ quan Trung ương và địa phương. Đây là những kinh nghiệm có ý nghĩa thực tiễn đối với việc nâng cao chất lượng kiểm tra, rà soát và xử lý các vụ việc phức tạp, kéo dài trong thời gian tới.
1. Đặt vấn đề
Các vụ việc khiếu nại, tố cáo phức tạp, kéo dài thường có lịch sử xử lý qua nhiều thời kỳ, liên quan đến nhiều cơ quan, nhiều văn bản và nhiều giai đoạn tổ chức thực hiện. Vì vậy, việc kiểm tra, rà soát không thể chỉ dừng ở câu hỏi vụ việc đã có quyết định giải quyết khiếu nại, kết luận tố cáo hoặc có văn bản xử lý hay chưa. Vấn đề quan trọng hơn là phải xác định được vụ việc hiện đang ở trạng thái nào: nội dung nào đã được xem xét, giải quyết; kết quả giải quyết đã được thực hiện đến đâu; còn nội dung nào phải tiếp tục thực hiện; cơ quan nào đang chịu trách nhiệm; có phát sinh tình tiết, đơn thư mới hay không và đã đủ điều kiện để xem xét kết thúc việc xử lý hay chưa. Đây chính là yêu cầu đặt ra khi Thành phố Hồ Chí Minh triển khai Kế hoạch số 329/KH-TTCP ngày 25/9/2025 của Thanh tra Chính phủ về kiểm tra, rà soát, xử lý, giải quyết các vụ việc khiếu nại, tố cáo phức tạp, kéo dài, vượt cấp lên Trung ương. Báo cáo số 1062/BC-TTTP-P7 ngày 07/9/2026 của UBND Thành phố Hồ Chí Minh (sau đây viết tắt là Báo cáo số 1062) cho thấy trước khi thực hiện Kế hoạch số 329/KH-TTCP, trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh và các địa phương trước sắp xếp đã có nhiều vụ việc thuộc diện rà soát theo các kế hoạch trước đó của Thanh tra Chính phủ. Điều này đặt ra một yêu cầu có tính nghiệp vụ rất rõ: không thể đánh giá tình trạng của vụ việc chỉ dựa vào một văn bản riêng lẻ, mà phải xem xét toàn bộ quá trình giải quyết và tổ chức thực hiện trên thực tế.
2. Thực trạng kiểm tra, rà soát, xử lý các vụ việc khiếu nại, tố cáo phức tạp, kéo dài, vượt cấp lên trung ương tại Thành phố Hồ Chí Minh
2.1. Số lượng vụ việc khiếu nại, tố cáo phức tạp, kéo dài, vượt cấp lên trung ương
Theo Báo cáo số 1062, danh sách ban đầu thực hiện Kế hoạch số 329/KH-TTCP có 48 vụ việc. Qua rà soát, xác định có 02 vụ việc trùng lặp, do đó Thành phố Hồ Chí Minh thực hiện kiểm tra, rà soát và xử lý đối với 46 vụ việc. Xét theo tính chất đơn, 46 vụ việc gồm:
| Tính chất vụ việc | Số vụ | Tỷ lệ |
| Khiếu nại | 9 | 19,57% |
| Tố cáo | 2 | 4,35% |
| Kiến nghị, phản ánh | 30 | 65,22% |
| Tranh chấp dân sự, kinh tế | 5 | 10,87% |
| Tổng cộng | 46 | 100% |
Nếu phân loại theo nội dung chủ yếu thì các vấn đề liên quan đến đất đai, bồi thường, nhà ở, tài sản và dự án chiếm tỷ trọng lớn. Cụ thể, có 04 vụ về đất đai; 13 vụ về bồi thường, hỗ trợ, giải phóng mặt bằng, tái định cư; 23 vụ liên quan nhà ở, nhà đất, tài sản, dự án nhà ở, khu dân cư, chung cư; và 06 vụ thuộc các lĩnh vực khác. Như vậy, riêng ba nhóm đầu đã có 40/46 vụ việc, tương đương khoảng 86,96% tổng số vụ việc được rà soát.
Cơ cấu này cho thấy một đặc điểm đáng lưu ý: phần lớn các vụ việc phức tạp, kéo dài đều gắn với những lĩnh vực có quan hệ pháp lý nhiều lớp, hồ sơ hình thành qua thời gian dài và quyền, lợi ích của nhiều chủ thể có thể đan xen với quá trình quản lý, triển khai công trình, dự án.
2.2. Cơ chế chỉ đạo tập trung và phân công rõ trách nhiệm
Một trong những điểm đáng chú ý trong cách tổ chức thực hiện của Thành phố Hồ Chí Minh là việc thiết lập cơ chế chỉ đạo, rà soát tập trung:
Ngày 23/10/2025, Ủy ban nhân dân Thành phố ban hành Quyết định số 8285/QĐ-UBND thành lập Tổ Công tác kiểm tra, rà soát, xử lý, giải quyết các vụ việc khiếu nại, tố cáo phức tạp, kéo dài, vượt cấp lên Trung ương, do Chủ tịch Ủy ban nhân dân Thành phố làm Tổ trưởng.
Tiếp đó, Tổ Công tác ban hành Quyết định số 2312/QĐ-TCT ngày 24/10/2025 thành lập Tổ Giúp việc để thực hiện nhiệm vụ rà soát, xử lý các vụ việc; tham mưu, theo dõi, đôn đốc, tổng hợp tiến độ và chuẩn bị hồ sơ, tài liệu phục vụ hoạt động của Tổ Công tác.
Ngày 15/12/2025, Thành phố tiếp tục ban hành Quyết định số 3202/QĐ-UBND kiện toàn Tổ Công tác, trong đó Thanh tra Thành phố được giao làm cơ quan thường trực, thực hiện nhiệm vụ tham mưu, tổng hợp và phối hợp theo dõi quá trình xử lý các vụ việc.
Cách tổ chức này có ý nghĩa quan trọng đối với những vụ việc phức tạp, kéo dài. Thay vì để từng cơ quan xử lý riêng rẽ theo từng chuyên ngành, Thành phố hình thành một đầu mối theo dõi chung, đồng thời phân công trách nhiệm cụ thể cho các sở, ngành và địa phương. Qua đó, việc rà soát không chỉ nhằm trả lời câu hỏi “vụ việc thuộc thẩm quyền của ai”, mà còn phải xác định rõ cơ quan chủ trì, cơ quan phối hợp, công việc phải tiếp tục thực hiện, kết quả cần hoàn thành và tiến độ thực hiện.
2.3. Không đồng nhất “đã có quyết định” với “đã giải quyết xong”
Một trong những vấn đề thực tiễn nổi bật được Báo cáo số 1062 chỉ ra là tình trạng xử lý các vụ việc không hoàn toàn giống nhau. Có vụ việc đã được cơ quan có thẩm quyền xem xét, giải quyết và không còn phát sinh đơn; có vụ đã có kết luận thanh tra nhưng vẫn còn nội dung phải tổ chức thực hiện; có vụ việc đang được cơ quan Công an điều tra, xác minh; một số vụ vẫn tiếp tục được cơ quan có thẩm quyền rà soát, xử lý. Do đó, việc xác định tình trạng của vụ việc phải dựa trên hồ sơ, toàn bộ quá trình giải quyết và kết quả tổ chức thực hiện, chứ không thể chỉ căn cứ vào việc đã ban hành một quyết định, kết luận hoặc văn bản xử lý. Đây là vấn đề có ý nghĩa đặc biệt đối với việc xác định điều kiện chấm dứt giải quyết khiếu nại, tố cáo. Một vụ việc đã có kết luận thanh tra nhưng nội dung của kết luận vẫn đang trong quá trình tổ chức thực hiện thì về mặt thực tế chưa thể đánh giá giống với một vụ việc mà toàn bộ kết luận đã được thực hiện xong.
Tương tự, trường hợp cơ quan có thẩm quyền đã giải quyết khiếu nại, tố cáo nhưng vẫn còn nhiệm vụ liên quan đến công trình, dự án hoặc một kế hoạch xử lý khác thì cần tách bạch các nhóm nhiệm vụ để xác định chính xác phần nào đã hoàn thành và phần nào vẫn phải tiếp tục theo dõi.
2.4. Cần tách bạch vụ việc khiếu nại, tố cáo với việc xử lý khó khăn của công trình, dự án
Báo cáo số 1062 cho thấy trong số các vụ việc đang tiếp tục rà soát, có trường hợp đồng thời thuộc diện Thành phố theo dõi theo Kế hoạch số 34/KH-UBND ngày 07/8/2025 về xử lý vướng mắc các công trình, dự án, khu đất tồn đọng. Đây là một tình huống thực tiễn đáng chú ý bởi một vụ việc có thể có hai “yêu cầu giải quyết” song song cùng tồn tại: (i) một mặt liên quan đến việc xem xét, giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh; (ii) một mặt liên quan đến việc tháo gỡ khó khăn, vướng mắc của công trình, dự án.
Hai quá trình này có liên quan nhưng không đồng nhất với nhau. Do đó, khi rà soát theo Kế hoạch số 329/KH-TTCP, cần đánh giá riêng kết quả xử lý khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh; trong khi việc xử lý các khó khăn, vướng mắc của dự án tiếp tục thực hiện theo nhiệm vụ, kế hoạch tương ứng. Việc phân định như vậy giúp tránh tình trạng một nội dung chưa hoàn thành của dự án làm cho toàn bộ vụ việc bị đánh giá là “chưa giải quyết”, hoặc ngược lại, việc khiếu nại đã được giải quyết lại dẫn đến cách hiểu rằng mọi vướng mắc của dự án cũng đã kết thúc.
Đây có thể xem là một trong những kinh nghiệm quan trọng rút ra từ thực tiễn Thành phố Hồ Chí Minh: một vụ việc phức tạp cần được phân tách thành từng nhóm quan hệ pháp lý, từng nhiệm vụ và từng kết quả xử lý cụ thể.
2.5. “Chấm dứt xử lý” phải có hồ sơ và căn cứ đầy đủ
Một nội dung được Báo cáo số 1062 đặc biệt lưu ý là điều kiện để đề xuất chấm dứt xử lý vụ việc. Qua kiểm tra tại địa phương, có trường hợp không xác định được cụ thể công dân có đơn khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh; đồng thời không phát sinh đơn liên quan đến vụ việc trong một thời gian. Tuy nhiên, việc “không có đơn mới” chưa đủ để khẳng định vụ việc đã đủ điều kiện kết thúc. Cơ quan rà soát vẫn phải kiểm tra, xác minh tình trạng đơn thư tại địa phương, lập hồ sơ, tài liệu chứng minh kết quả xác minh và xác định đúng đối tượng, hình thức cũng như thủ tục xử lý phù hợp, đúng quy định pháp luật.
Đối với những vụ việc đã được cơ quan có thẩm quyền xem xét, giải quyết và không còn phát sinh khiếu kiện, việc đề xuất chấm dứt xử lý cũng phải dựa trên hồ sơ kiểm tra, xác nhận, rà soát kết quả giải quyết và việc tổ chức thực hiện. Nói cách khác, “không còn đơn khiếu nại, tố cáo” là một yếu tố để xem xét, nhưng không phải yếu tố duy nhất.
Điều cần thiết là hình thành một chuỗi tài liệu đủ để chứng minh rằng: (i) vụ việc đã được xem xét đầy đủ; (ii) kết quả giải quyết đã được xác định; (iii) nội dung phải thực hiện đã được kiểm tra; (iv) tình trạng đơn thư đã được xác minh; (v) đủ căn cứ pháp lý và thực tiễn để quyết định bước xử lý tiếp theo. Cách tiếp cận này giúp hạn chế tình trạng kết thúc vụ việc chỉ về mặt thủ tục nhưng sau đó lại tiếp tục phát sinh đơn thư do những nội dung thực chất chưa được làm rõ.
3. Kinh nghiệm rút ra từ thực tiễn Thành phố Hồ Chí Minh
Từ quá trình triển khai Kế hoạch số 329/KH-TTCP, Báo cáo số 1062 đã trực tiếp rút ra nhiều kinh nghiệm có giá trị thực tiễn.
Một là, rà soát phải đi vào từng vụ việc và toàn bộ quá trình giải quyết
Không nên chỉ rà soát văn bản cuối cùng. Cần đối chiếu nội dung khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh với quyết định giải quyết, kết luận thanh tra, văn bản xử lý và kết quả tổ chức thực hiện; từ đó xác định nội dung nào đã giải quyết, nội dung nào đã thực hiện và nội dung nào còn tiếp tục xử lý.
Hai là, phải phân biệt giữa quyết định đã ban hành và kết quả tổ chức thực hiện
Đối với vụ việc đã có quyết định giải quyết, kết luận thanh tra hoặc văn bản xử lý, cần kiểm tra xem các nội dung trong đó đã được tổ chức thực hiện đến đâu. Nếu còn nội dung chưa thực hiện, phải xác định rõ nội dung, cơ quan chịu trách nhiệm và tình trạng thực hiện. Đây là cơ sở để đánh giá đúng tình trạng thực tế của vụ việc.
Ba là, một vụ việc thuộc nhiều phạm vi khác nhau phải được tách nội dung để theo dõi
Đối với các vụ việc vừa nằm trong Kế hoạch số 329/KH-TTCP vừa liên quan đến việc xử lý khó khăn của công trình, dự án, cần theo dõi riêng kết quả của từng nhiệm vụ. Việc kiểm tra, rà soát khiếu nại, tố cáo không thay thế việc xử lý các khó khăn của dự án và ngược lại.
Bốn là, không xác định được người khiếu kiện cụ thể thì phải tổ chức xác minh
Trường hợp qua rà soát chưa xác định được công dân cụ thể có đơn hoặc không phát sinh đơn liên quan đến vụ việc, cơ quan chức năng vẫn cần kiểm tra tình trạng đơn thư tại địa phương và lập hồ sơ thể hiện kết quả xác minh. Hồ sơ này là căn cứ quan trọng để xác định tình trạng thực tế và lựa chọn hình thức xử lý phù hợp.
Năm là, đề xuất chấm dứt xử lý phải dựa trên hồ sơ đầy đủ
Đối với vụ việc đã được xem xét, giải quyết và không còn phát sinh khiếu kiện, trước khi đề xuất chấm dứt xử lý cần củng cố đầy đủ tài liệu thể hiện quá trình giải quyết, kết quả thực hiện và tình trạng đơn thư. Không nên coi việc không còn đơn trong một khoảng thời gian là căn cứ duy nhất.
Sáu là, giao nhiệm vụ phải đi cùng cơ chế theo dõi và trách nhiệm cụ thể
Đối với các vụ việc còn tiếp tục rà soát, xử lý, phải xác định rõ cơ quan chủ trì, cơ quan phối hợp, công việc cần thực hiện, kết quả phải hoàn thành và thời hạn thực hiện. Cơ quan thường trực phải theo dõi, đôn đốc, cập nhật tiến độ và tổng hợp những vấn đề khó khăn, vướng mắc hoặc vượt thẩm quyền để báo cáo cấp có thẩm quyền xem xét.
Bảy là, phối hợp giữa Trung ương và địa phương phải được duy trì thường xuyên
Trong quá trình thực hiện, Thành phố Hồ Chí Minh đã làm việc với Tổ Công tác số 03 của Thanh tra Chính phủ nhằm trao đổi, làm rõ và thống nhất những vấn đề liên quan đến kết quả rà soát. Báo cáo xác định việc phối hợp này cần tiếp tục được duy trì; đối với những nội dung còn ý kiến khác nhau hoặc chưa thống nhất về phương án xử lý thì cần kịp thời tổng hợp, trao đổi và thống nhất trước khi tổ chức thực hiện.
4. Kiến nghị hoàn thiện cơ chế rà soát các vụ việc phức tạp, kéo dài
Thực tiễn Thành phố Hồ Chí Minh cho thấy việc giải quyết các vụ việc phức tạp, kéo dài không chỉ phụ thuộc vào chất lượng của quyết định giải quyết ban đầu mà còn phụ thuộc đáng kể vào khâu theo dõi, tổ chức thực hiện và xác định điểm kết thúc của vụ việc. Vì vậy, Báo cáo số 1062 đặt ra một số vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện.
Thứ nhất, cần nghiên cứu, tổng kết thực tiễn để hoàn thiện các quy định liên quan đến tiếp công dân, khiếu nại, tố cáo và xử lý các vụ việc phức tạp, kéo dài, vượt cấp; đặc biệt đối với những tình huống thực tế chưa được quy định hoặc hướng dẫn thật rõ. Một vấn đề đáng chú ý là cần nghiên cứu hướng dẫn cụ thể hơn về căn cứ, điều kiện, thẩm quyền, trình tự, hình thức và hồ sơ chấm dứt xử lý vụ việc.
Thứ hai, cần nghiên cứu xây dựng tiêu chí và quy trình rà soát thống nhất. Thực tế có thể phát sinh các trường hợp rất khác nhau: vụ việc đã được giải quyết nhưng vẫn còn tổ chức thực hiện kết luận; không xác định được công dân cụ thể tiếp tục khiếu kiện; nội dung khiếu nại đã được giải quyết nhưng công trình, dự án liên quan vẫn còn vướng mắc; hoặc một vụ việc đồng thời nằm trong nhiều phạm vi quản lý khác nhau. Nếu thiếu tiêu chí và quy trình thống nhất, cùng một trạng thái vụ việc có thể được đánh giá khác nhau giữa các cơ quan hoặc địa phương. Do đó, Báo cáo đề xuất nghiên cứu xây dựng tiêu chí và quy trình rà soát thống nhất, trong đó làm rõ việc phân loại vụ việc; rà soát quá trình và kết quả giải quyết; kiểm tra kết quả tổ chức thực hiện; xác minh tình trạng đơn thư; xác định những nội dung còn phải tiếp tục xử lý; hoàn thiện hồ sơ; và xác định điều kiện để chấm dứt xử lý.
Thứ ba, cần xác định cụ thể cơ quan chủ trì, phối hợp, công việc, kết quả và thời hạn hoàn thành đối với những vụ việc còn tiếp tục giải quyết; đồng thời tăng cường trao đổi giữa cơ quan Trung ương và địa phương đối với các vụ việc còn ý kiến khác nhau. Báo cáo cũng đề nghị đối với các Bộ, ngành Trung ương, trong những vụ việc thuộc lĩnh vực quản lý nhà nước chuyên ngành hoặc liên quan đến việc áp dụng pháp luật chuyên ngành, cần tăng cường phối hợp, kịp thời có ý kiến đối với những khó khăn, vướng mắc thuộc phạm vi quản lý; đồng thời qua thực tiễn cần rà soát, kiến nghị sửa đổi hoặc hướng dẫn các quy định chuyên ngành còn vướng mắc, chưa thống nhất.
Kết luận
Thực tiễn kiểm tra, rà soát các vụ việc khiếu nại, tố cáo phức tạp, kéo dài, vượt cấp tại Thành phố Hồ Chí Minh cho thấy “giải quyết vụ việc” và “kết thúc vụ việc” là hai vấn đề có liên quan nhưng không hoàn toàn đồng nhất. Một vụ việc có thể đã có quyết định giải quyết nhưng vẫn còn nội dung phải tổ chức thực hiện. Một nội dung khiếu nại có thể đã được xử lý nhưng dự án liên quan vẫn còn khó khăn cần giải quyết theo một kế hoạch khác. Ngược lại, việc không còn phát sinh đơn thư cũng chưa đương nhiên đồng nghĩa với việc hồ sơ đã đủ căn cứ để chấm dứt xử lý.
Chính vì vậy, giá trị nổi bật từ thực tiễn Thành phố Hồ Chí Minh là cách tiếp cận rà soát theo toàn bộ quá trình của vụ việc: từ nội dung ban đầu, các quyết định và kết luận đã ban hành, kết quả tổ chức thực hiện, tình trạng đơn thư, nhiệm vụ còn tồn tại cho đến việc xác định cơ quan chịu trách nhiệm và điều kiện kết thúc. Cách tiếp cận này đồng thời đòi hỏi một cơ chế chỉ đạo tập trung, phân công rõ trách nhiệm, hồ sơ đầy đủ và sự phối hợp thường xuyên giữa các cơ quan Trung ương với địa phương.
Nếu các kinh nghiệm thực tiễn này tiếp tục được tổng kết và thể chế hóa thành tiêu chí, quy trình kiểm tra, rà soát thống nhất, đây sẽ là cơ sở quan trọng để nâng cao hiệu quả xử lý các vụ việc khiếu nại, tố cáo phức tạp, kéo dài, hạn chế tình trạng xử lý lặp lại và sử dụng hiệu quả hơn nguồn lực của cơ quan hành chính nhà nước.
Th.S Đặng Thùy Trâm
Trưởng Phòng QT – TV, Trường Cán bộ Thanh tra