Tóm tắt: Từ ngày 01/7/2025, việc sắp xếp lại tổ chức bộ máy, vận hành mô hình chính quyền địa phương hai cấp cùng với việc hoàn thiện hệ thống pháp luật (Luật Thanh tra năm 2025, Luật số 136/2025/QH15 sửa đổi ba luật về tiếp công dân, khiếu nại, tố cáo) đã đặt ra yêu cầu cấp bách phải đổi mới nội dung và phương pháp bồi dưỡng cán bộ, công chức. Bài viết phân tích cơ sở lý luận, đánh giá thực trạng xây dựng tình huống thực tiễn tại Trường Cán bộ Thanh tra và đề xuất một số giải pháp nhằm chuẩn hóa, nâng cao chất lượng công cụ bồi dưỡng quan trọng này.
- Đặt vấn đề
Tiếp công dân, xử lý đơn, giải quyết khiếu nại, tố cáo là lĩnh vực luôn được Đảng và Nhà nước đặc biệt quan tâm, đồng thời cũng là môi trường dễ phát sinh xung đột gay gắt, nhiều vụ việc phức tạp, đa dạng. Đây là công việc đòi hỏi cán bộ, công chức không chỉ nắm vững pháp luật mà còn phải thành thạo nhiều kỹ năng: bóc tách hồ sơ, định danh đúng bản chất đơn thư, đối thoại, kiểm soát cảm xúc đám đông và ra quyết định hợp tình, hợp lý, hợp pháp.
Bối cảnh hiện nay càng làm cho yêu cầu đổi mới bồi dưỡng trở nên bức thiết. Việc vận hành mô hình chính quyền địa phương hai cấp từ ngày 01/7/2025 đã làm thay đổi căn bản thẩm quyền, trình tự, thủ tục trong lĩnh vực này. Cùng thời điểm, Luật Thanh tra năm 2025 tổ chức lại hệ thống cơ quan thanh tra theo hướng tinh gọn; Luật số 136/2025/QH15 (có hiệu lực từ ngày 01/7/2026) điều chỉnh thẩm quyền, bổ sung hình thức tiếp công dân trực tuyến; hệ thống Tòa án được tổ chức lại thành ba cấp, trong đó Tòa án nhân dân khu vực xét xử sơ thẩm các vụ án hành chính. Những thay đổi này đòi hỏi đội ngũ cán bộ, công chức phải nhanh chóng cập nhật để không bị hẫng hụt về nhận thức pháp lý khi thực thi công vụ.
Trong khi đó, hoạt động bồi dưỡng ở nhiều nơi vẫn nặng về truyền đạt văn bản quy phạm pháp luật một chiều, thiếu các ví dụ thực tiễn sinh động, khiến người học khó tiếp thu và khó chuyển hóa tri thức thành hành động. Do vậy, việc chuyển hướng sang các phương pháp giảng dạy tích cực, lấy người học làm trung tâm, mà trọng tâm là xây dựng và sử dụng một hệ thống tình huống thực tiễn chuẩn mực, chính là tiền đề để nâng cao hiệu quả bồi dưỡng.
- Cơ sở lý luận về tình huống thực tiễn phục vụ bồi dưỡng
Trong khoa học giáo dục, “tình huống thực tiễn” được hiểu là một sự kiện, hoàn cảnh hoặc chuỗi diễn biến có thật (hoặc được mô phỏng toàn diện từ thực tế) xảy ra trong đời sống xã hội hay hoạt động chuyên môn; trong đó các yếu tố thông tin, con người và bối cảnh đan xen tạo thành một mâu thuẫn, một bài toán chưa được giải quyết, đòi hỏi người học phải phân tích và đưa ra quyết định hành động để chuyển hóa trạng thái. Nói cách khác, đó là tình huống chứa đựng vấn đề cần giải quyết.
Áp dụng vào lĩnh vực chuyên môn, tình huống thực tiễn phục vụ bồi dưỡng nghiệp vụ tiếp công dân, xử lý đơn, giải quyết khiếu nại, tố cáo là một vụ việc, hoàn cảnh hoặc xung đột pháp lý – xã hội có thật (hoặc được mô phỏng) chứa đựng các hành vi, quyết định bị phản ứng; được thiết kế có chủ đích nhằm đặt học viên vào vị trí của người thực thi công vụ, buộc họ vận dụng quy định pháp luật kết hợp với kỹ năng bổ trợ để phân loại, đối thoại, xác minh và đưa ra phương án giải quyết dứt điểm.
Một tình huống thực tiễn hoàn chỉnh thường được cấu thành từ năm yếu tố: bối cảnh (không gian, thời gian, môi trường pháp lý); chủ thể (các bên tham gia với quyền lợi, tâm lý khác nhau); diễn biến sự việc; mâu thuẫn (yếu tố cốt lõi, nếu thiếu thì chỉ còn là một câu chuyện kể); và yêu cầu giải quyết. Để phục vụ tốt cho bồi dưỡng, tình huống còn phải đáp ứng các tiêu chí: không quá tường minh theo kiểu đúng – sai rõ ràng; mô phỏng được tính đa dạng, phức tạp của thông tin thực tế; cài cắm được trạng thái tâm lý của các chủ thể; và mỗi lựa chọn hành động của học viên đều gắn với việc phân tích hậu quả.
Giá trị của phương pháp này thể hiện trên nhiều phương diện. Đối với học viên, tình huống giúp phát triển tư duy phản biện, rèn luyện kỹ năng bóc tách bản chất đơn thư và bản lĩnh quản trị cảm xúc. Đối với giảng viên, tình huống làm thay đổi vai trò từ người truyền đạt một chiều thành người điều phối. Đối với cơ quan quản lý nhà nước, quá trình xây dựng và phân tích tình huống thường làm lộ ra những điểm bất cập, chồng chéo của pháp luật, trở thành nguồn tư liệu quý để tham mưu hoàn thiện thể chế.
- Thực trạng xây dựng tình huống thực tiễn tại Trường Cán bộ Thanh tra
Thời gian qua, việc chuyển dịch phương pháp giảng dạy từ truyền đạt lý thuyết thuần túy sang ứng dụng tình huống thực tiễn tại Trường Cán bộ Thanh tra đã đạt những kết quả tích cực. Trường đã tổ chức nhiều buổi thực hành đóng vai tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo; biên soạn hệ thống tài liệu bồi dưỡng theo các ngạch (thanh tra viên, thanh tra viên chính, thanh tra viên cao cấp) với phần bài tập tình huống đi kèm. Năm 2024, Trường khai trương kênh Youtube “ITC Channel” để giải đáp chính sách pháp luật và giới thiệu các tình huống thực tiễn. Đặc biệt, năm 2025, đội ngũ chuyên gia, giảng viên của Trường đã biên soạn cuốn Cẩm nang tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh, tổng hợp 50 tình huống thực tiễn được thiết kế bài bản theo mạch tố tụng hành chính. Trường cũng phát huy hiệu quả hình thức diễn án giả định và khai thác tốt chất xám từ đội ngũ chuyên gia thực tế.
Có thể khái quát bốn kết quả nổi bật: các tình huống bám sát trục thời gian và quy trình tố tụng hành chính, giúp học viên hình thành phản xạ tư duy hệ thống; kho tình huống tập trung vào đất đai, bồi thường, giải phóng mặt bằng – những lĩnh vực phát sinh phần lớn đơn thư; việc chuyển từ đọc tình huống trên giấy sang tổ chức các phiên đối thoại giả định giúp học viên rèn luyện kỹ năng thực chiến; và kỹ thuật mã hóa danh tính công dân tạo ra hành lang an toàn, vừa bảo đảm tính nhân văn, vừa không làm giảm tính thách thức của bài tập.
Bên cạnh đó, thực trạng cũng bộc lộ những hạn chế mang tính hệ thống. Một là, khâu biên soạn chưa kịp số hóa và thiết kế các kịch bản mang tính chuyển tiếp phức tạp, chưa phản ánh đậm nét sự thay đổi phân cấp thẩm quyền trong mô hình chính quyền hai cấp và thẩm quyền của hệ thống Tòa án sau cải cách. Hai là, nhiều tình huống vẫn bị thiết kế theo lối mòn của một bài tập kiểm tra kiến thức trên giấy với tư duy “đáp án đóng”, vô tình triệt tiêu kỹ năng quan trọng nhất là nghệ thuật đối thoại, hòa giải. Ba là, các tình huống mới mô tả được phần bề nổi mà chưa lột tả được các yếu tố tạo hiệu ứng áp lực như sự kích động của đám đông, hành vi quay phim, phát trực tiếp của các đối tượng cơ hội. Bốn là, việc tiếp cận, trích xuất hồ sơ các vụ việc tố cáo tham nhũng, lợi ích nhóm gặp rào cản lớn do tính chất bảo mật, khiến kho tình huống ở mảng này còn mỏng và chưa đủ tầm với đối tượng cán bộ quản lý cấp cao.
Nguyên nhân của những hạn chế nêu trên chủ yếu đến từ ba nhóm: cơ chế phối hợp, chia sẻ dữ liệu tình huống gốc giữa cơ sở đào tạo với các cơ quan thực tế chưa thông suốt, chưa có hành lang pháp lý cho việc này; áp lực về năng lực và thời gian của đội ngũ biên soạn vốn phải gánh khối lượng giờ dạy lớn; và ảnh hưởng của tư duy dạy học truyền thống, truyền thụ một chiều cùng với sự hạn chế về hạ tầng kỹ thuật cho phòng học mô phỏng.
- Một số giải pháp
Để khắc phục những hạn chế trên và đáp ứng yêu cầu của bối cảnh mới, cần triển khai đồng bộ hệ giải pháp về cả cơ chế, con người và công nghệ.
Thứ nhất, xây dựng và ban hành bộ khung chuẩn tình huống thực tiễn mẫu. Việc này bảo đảm mọi tình huống dù do ai biên soạn cũng đạt sự thống nhất về chất lượng và tính sư phạm. Theo quan điểm chuẩn mực, mỗi tình huống nên có cấu trúc ba phần gắn kết: hồ sơ gốc về sự kiện; hệ thống câu hỏi gợi mở phân tầng theo cấp độ tư duy (nhận diện – kỹ năng, tâm lý – giải quyết); và cẩm nang dành cho giảng viên (gồm đáp án cứng về pháp lý, đáp án mềm về kỹ năng ứng xử và cảnh báo rủi ro). Trọng tâm nên tập trung vào ba nhóm tình huống điển hình và phức tạp nhất: kỹ năng phân loại, xử lý đơn thư (đơn nặc danh, đơn vừa khiếu nại vừa tố cáo, đơn gửi vượt cấp); tiếp công dân và đối thoại (tiếp đoàn đông người, xử lý hành vi quá khích, livestream); và giải quyết vụ việc cụ thể trong các lĩnh vực nhạy cảm như tranh chấp, bồi thường đất đai.
Thứ hai, thiết lập hành lang thu thập dữ liệu tình huống gốc. Trường cần tham mưu ban hành quy chế phối hợp giữa nhà trường với Ban Tiếp công dân Trung ương, các cục, vụ và thanh tra các tỉnh, thành phố để định kỳ chia sẻ các hồ sơ vụ việc phức tạp, các bản án hành chính đã có hiệu lực. Song song đó phải ban hành quy trình nghiêm ngặt về mã hóa, bảo mật thông tin (thay đổi tên tuổi, địa danh, số hiệu văn bản) nhưng giữ nguyên các mốc thời gian, số liệu và bản chất hành vi – vốn là căn cứ để tính thời hiệu và áp dụng điều khoản luật.
Thứ ba, phát triển mô hình biên soạn kết hợp giữa giảng viên và chuyên gia thực tiễn. Mỗi bộ tình huống nên là sản phẩm của ít nhất hai chủ thể: một giảng viên cơ hữu mạnh về phương pháp luận, cấu trúc sư phạm và một chuyên gia, thanh tra viên cao cấp đang trực tiếp công tác mạnh về tính thời sự, sự gai góc của vụ việc. Cần tạo điều kiện cho giảng viên cơ hữu đi biệt phái, tham gia các đoàn giải quyết khiếu nại hoặc các buổi tiếp công dân để tự làm mới tư duy biên soạn.
Thứ tư, ứng dụng công nghệ trong số hóa kho dữ liệu và phòng học mô phỏng. Cần số hóa toàn bộ kho tình huống dưới dạng hồ sơ điện tử, tích hợp sơ đồ thửa đất, video clip mô phỏng để học viên truy cập nghiên cứu trước khi lên lớp và kết nối với hệ thống học liệu số phục vụ đào tạo trực tuyến. Đồng thời, đầu tư phòng diễn án và mô phỏng tiếp công dân giả định có trang bị camera, hệ thống âm thanh để ghi hình quá trình thực hành, phục vụ việc phân tích, rút kinh nghiệm.
Thứ năm, bảo đảm cơ chế đãi ngộ và thẩm định tình huống. Việc biên soạn, mã hóa và thiết kế thành công một tình huống chuẩn mực cần được quy đổi sang số giờ giảng dạy hoặc đề tài nghiên cứu khoa học một cách thỏa đáng. Bộ tình huống mẫu, trước khi đưa vào giáo trình chính thức, phải qua Hội đồng chuyên môn thẩm định với sự tham gia của nhà khoa học, lãnh đạo ngành thanh tra và đại diện từ hệ thống Tòa án hành chính, để bảo đảm tính đa chiều, chặt chẽ dưới cả góc nhìn tư pháp.
- Kết luận
Xây dựng tình huống thực tiễn là một hướng đi tất yếu và có ý nghĩa chiến lược trong đổi mới phương pháp bồi dưỡng nghiệp vụ tiếp công dân, xử lý đơn, giải quyết khiếu nại, tố cáo. Trong bối cảnh mô hình chính quyền địa phương hai cấp và hệ thống pháp luật vừa được hoàn thiện căn bản, đây không chỉ là công việc mang tính hình thức mà là một khoản đầu tư chiến lược vào chất lượng nguồn nhân lực. Việc triển khai đồng bộ, kiên trì các giải pháp về cơ chế, con người và công nghệ sẽ giúp Trường Cán bộ Thanh tra từng bước hình thành một ngân hàng tình huống thực tiễn có chất lượng, thường xuyên được cập nhật, qua đó góp phần nâng cao năng lực, bản lĩnh và tính chuyên nghiệp của đội ngũ cán bộ, công chức, góp phần giữ vững niềm tin của nhân dân đối với bộ máy nhà nước./.
ThS. Đào Thị Thu Hà
Phòng Nghiên cứu và Hợp tác, Trường Cán bộ Thanh tra
TÀI LIỆU THAM KHẢO
- Quốc hội (2024), Luật Đất đai số 31/2024/QH15, Hà Nội.
- Quốc hội (2025), Luật Thanh tra số 84/2025/QH15, Hà Nội.
- Quốc hội (2025), Luật số 136/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tiếp công dân, Luật Khiếu nại, Luật Tố cáo, Hà Nội.
- Chính phủ (2025), Nghị định số 141/2025/NĐ-CP ngày 12/6/2025 quy định về phân định thẩm quyền của chính quyền địa phương 02 cấp trong lĩnh vực quản lý nhà nước của Thanh tra Chính phủ, Hà Nội.
- Thanh tra Chính phủ (2021), Thông tư số 04/2021/TT-TTCP quy định quy trình tiếp công dân và Thông tư số 05/2021/TT-TTCP quy định quy trình xử lý đơn khiếu nại, đơn tố cáo, đơn kiến nghị, phản ánh, Hà Nội.
- Trường Cán bộ thanh tra (2025), Cẩm nang tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh, Hà Nội.
- Đinh Văn Minh (2023), “Hoàn thiện thể chế về tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bối cảnh cải cách hành chính hiện nay”, Tạp chí Thanh tra, số 5/2023.