
“Sau Hội nghị là bắt tay thực hiện được ngay”
Tại Hội nghị, Tổng Bí thư nêu rõ, về cơ bản chủ trương đã rõ, phương án, kế hoạch, lộ trình triển khai đã cụ thể. Đây là điểm mới trong tổ chức quán triệt, triển khai các Nghị quyết của Đảng theo hướng rõ người, rõ việc, rõ cách làm, rõ trách nhiệm, rõ thời gian hoàn thành, sau Hội nghị là bắt tay thực hiện được ngay.
Tổng Bí thư nhấn mạnh, sau Hội nghị các cơ quan, đơn vị, địa phương xác định được những công việc cần làm trong thời gian tới. Từng cán bộ, đảng viên cũng đã hình dung ra được trách nhiệm cá nhân trong “cuộc cách mạng” chung của đất nước. Các cấp ủy, tổ chức đảng có trách nhiệm tiếp tục nghiên cứu, quán triệt đầy đủ, thấu đáo, kỹ lưỡng các nội dung của Nghị quyết và xây dựng kế hoạch, chương trình hành động cụ thể để thực hiện.
Trước yêu cầu cùng lúc phải triển khai một khối lượng công việc rất lớn, phạm vi rộng, thời gian ngắn, chất lượng cao, nhiều việc chưa có tiền lệ và để thống nhất trong lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức thực hiện, Tổng Bí thư yêu cầu, phải xác định quyết tâm chính trị cao nhất trong lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 11, xác định đây là một “cuộc cách mạng” về sắp xếp bộ máy tổ chức, sắp xếp đơn vị hành chính và cải cách, đổi mới để phát triển đất nước. Các cấp ủy, tổ chức đảng, người đứng đầu các cấp phải sâu sát, quyết liệt trong lãnh đạo, chỉ đạo, quán triệt cho đội ngũ cán bộ, đảng viên nhận thức đầy đủ, sâu sắc tầm quan trọng đặc biệt của chủ trương này, tạo được sự thống nhất nhận thức, tư tưởng trong toàn Đảng và lan tỏa ra toàn xã hội, quyết tâm thực hiện thắng lợi các mục tiêu, định hướng mà Trung ương đã đề ra. Tập trung lãnh đạo, chỉ đạo các cơ quan triển khai quyết liệt các công việc trên tinh thần “đúng vai, thuộc bài”, phối hợp đồng bộ, nhịp nhàng, chặt chẽ từ Trung ương đến các địa phương và giữa các địa phương với nhau, không được có tư tưởng “quyền anh, quyền tôi”, địa phương này, địa phương kia, tất cả vì lợi ích chung của đất nước, vì nhân dân.
Các cấp ủy, tổ chức đảng triển khai các công việc trên tinh thần “vừa chạy vừa xếp hàng”, nhưng phải thận trọng, chắc chắn, bài bản, không nóng vội, chủ quan; có thứ tự ưu tiên, làm việc nào chắc việc đó, làm việc này phải tính đến việc khác liên quan và phải thực hiện đúng các quy trình thủ tục theo quy định, không làm tắt, làm ẩu, làm qua loa, đại khái bất cứ công việc nào. Bám sát các mốc thời gian trong kế hoạch, bảo đảm các công việc được thực hiện đúng tiến độ thời gian quy định, nhất là các mốc thời gian quan trọng. Khuyến khích các địa phương, cơ quan, đơn vị hoàn thành sớm các công việc trước mốc thời gian quy định trên tinh thần “ổn định sớm để phát triển”. Tăng cường thông tin, tuyên truyền tạo sự đồng thuận trong xã hội, phát huy đầy đủ quyền làm chủ của nhân dân, tôn trọng, lắng nghe ý kiến của nhân dân, các quy trình, thủ tục lấy ý kiến nhân dân phải được thực hiện theo đúng quy định, nhất là những nội dung liên quan đến sửa đổi, bổ sung Hiến pháp, sáp nhập các tỉnh, sáp nhập các xã.
“Đất nước là quê hương”
Về thực hiện chủ trương sắp xếp, tổ chức lại đơn vị hành chính và xây dựng chính quyền địa phương 2 cấp, Tổng Bí thư nhấn mạnh, triển khai thực hiện chủ trương này sẽ tác động nhất định đến tâm tư, tình cảm của cán bộ, đảng viên và nhân dân – Đây là điều dễ hiểu bởi mỗi con người Việt Nam chúng ta đều in sâu trong ký ức những hình ảnh về quê quán, nơi chôn rau cắt rốn của mình. Tuy nhiên, trước yêu cầu phát triển mới của đất nước, chúng ta phải thay đổi về tư duy, tầm nhìn; thống nhất về nhận thức, tư tưởng; phải vượt lên chính mình, hy sinh lợi ích cá nhân vì lợi ích chung của đất nước; vượt qua những băn khoăn, lo lắng, tâm lý, thói quen bình thường; vượt qua những tâm lý, tâm trạng vùng miền để hướng tới tư duy, tầm nhìn rộng lớn hơn – “đất nước là quê hương”.
Tổng Bí thư đề nghị cần tiếp tục quán triệt sâu sắc, tinh gọn bộ máy của hệ thống chính trị, sáp nhập tỉnh, không tổ chức cấp huyện, sáp nhập xã không chỉ đơn thuần là vấn đề điều chỉnh tổ chức bộ máy, địa giới hành chính mà còn là vấn đề điều chỉnh không gian kinh tế, điều chỉnh sự phân công, phân cấp, phân bổ nguồn lực cho phát triển.
Tổng Bí thư lưu ý khắc phục cả 2 khuynh hướng: Sáp nhập các xã, phường quá rộng như một “cấp huyện thu nhỏ” dẫn đến không quán xuyến được địa bàn, không chủ động phục vụ được nhân dân, dẫn đến biến chủ trương không tổ chức cấp huyện thành không tổ chức cấp xã. Sáp nhập các xã, phường quá nhỏ, dẫn đến hạn chế về không gian, dư địa phát triển, đầu mối nhiều hơn dẫn đến cồng kềnh, kém hiệu quả. Ban Thường vụ các tỉnh phải bàn bạc, tính toán rất kỹ, trên tinh thần tầm nhìn lâu dài, vì nước, vì dân để có phương án bố trí, sắp xếp hợp lý nhất.
![]() |
Tiêu chí đầu tiên để bố trí cán bộ là vì yêu cầu công việc
Về công tác cán bộ, Tổng Bí thư đề nghị các cấp ủy, tổ chức đảng cần thực hiện nghiêm nguyên tắc Đảng thống nhất lãnh đạo xây dựng tổ chức bộ máy, công tác cán bộ, quản lý đội ngũ cán bộ và biên chế của hệ thống chính trị; phải hết sức công tâm, khách quan trong bố trí cán bộ; thực hiện đầy đủ các quy định, hướng dẫn về công tác cán bộ bảo đảm công khai, minh bạch, tăng cường kiểm soát quyền lực, gắn quyền lực với trách nhiệm cá nhân. Không để xảy ra tình trạng mất đoàn kết, lợi ích nhóm, chạy chức, chạy quyền, cục bộ, bè phái, tham nhũng, lãng phí trong công tác bố trí, sắp xếp cán bộ, sắp xếp tổ chức bộ máy và đơn vị hành chính các cấp.
Tổng Bí thư đặc biệt yêu cầu làm tốt công tác lựa chọn, bố trí lãnh đạo, nhất là người đứng đầu các cơ quan cấp tỉnh, cấp xã sau khi sáp nhập; phải tính toán đồng bộ, liên thông giữa cả 4 giai đoạn: Bố trí cán bộ sau khi hợp nhất – Nhân sự Đại hội Đảng cấp tỉnh, cấp xã – Nhân sự Đại hội Đảng lần thứ XIV – Nhân sự Bầu cử Quốc hội và HĐND các cấp. Công tác nhân sự đã rất quan trọng, nay lại càng quan trọng hơn trước yêu cầu mới.
Tiêu chí đầu tiên để bố trí cán bộ là vì yêu cầu công việc, sau đó mới đến các tiêu chí khác. Nhân sự lãnh đạo các cấp và nhân sự Đại hội XIV phải hội tụ “đủ đức – đủ tài – đủ tâm – đủ tầm – đủ sức – đủ nhiệt huyết cách mạng” để gánh vách trọng trách lịch sử của đất nước. Trong tình hình hiện nay, không có chỗ cho những cán bộ cơ hội, bon chen, trung bình chủ nghĩa, lừng chừng, ngại đổi mới, thu vén cá nhân.
Những ai tự thấy mình không đáp ứng yêu cầu thì tự nguyện rút lui, nhường chỗ cho người xứng đáng hơn – tự nguyện đứng về phía sau vì sự phát triển cũng là hành động bản lĩnh, dũng cảm, đáng tự hào, đáng được khen ngợi. Việc lựa chọn, bố trí cán bộ lãnh đạo các cơ quan ở địa phương sau khi sáp nhập, hợp nhất là trách nhiệm của Ban Thường vụ cấp ủy theo phân cấp, phải bàn bạc, thống nhất để bố trí “đúng người, đúng việc” theo tinh thần Kết luận số 150-KL/TW của Bộ Chính trị về hướng dẫn xây dựng nhân sự cấp ủy cấp tỉnh thuộc diện hợp nhất, sáp nhập và cấp xã thành lập mới.
Không vì sắp xếp tổ chức mà lơ là nhiệm vụ nào
Về văn kiện đại hội đảng các cấp, Tổng Bí thư yêu cầu, các tỉnh ủy, thành ủy tập trung lãnh đạo tổ chức thảo luận thật kỹ lưỡng, sâu sắc, hiệu quả các quan điểm, mục tiêu, chủ trương, định hướng lớn nêu tại dự thảo các văn kiện Đại hội XIV của Đảng; khẩn trương xây dựng, hoàn thiện dự thảo văn kiện của cấp mình, phải hoàn thành dự thảo trước ngày 30/6/2025 (bao gồm cả đối với các tỉnh sau khi sáp nhập). Mặc dù chưa sáp nhập chính thức nhưng phải tư duy, suy nghĩ để vạch ra đường lối phát triển của tỉnh mới thành lập, xã mới thành lập dựa trên cơ sở không gian, dư địa và nguồn lực mới.
Về triển khai Nghị quyết Hội nghị Trung ương 11 cùng lúc với thực hiện các công việc lớn quan trọng của đất nước, Tổng Bí thư lưu ý, tất cả các công việc này đều rất quan trọng và đều phải thực hiện theo đúng mục tiêu yêu cầu đề ra, không vì sắp xếp tổ chức mà lơ là nhiệm vụ nào. Các tỉnh ủy, thành ủy cần khẩn trương khắc phục những tồn tại, hạn chế mà 19 đoàn kiểm tra của Bộ Chính trị, Ban Bí thư đã chỉ ra, đặc biệt là khắc phục tình trạng một bộ phận lãnh đạo, cán bộ có tâm lý chờ đợi, nghe ngóng sắp xếp tổ chức nên hạn chế tính quyết liệt trong triển khai công việc… Trước mắt, tập trung tổ chức tốt các hoạt động Kỷ niệm 50 năm ngày Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước; 80 năm Cách mạng tháng 8 và Quốc khánh 2/9, khơi dậy khí thế hào hùng của cả dân tộc năm xưa, biến thành động lực để thực hiện tốt những nhiệm vụ quan trọng, cấp bách, mang tính cách mạng mà toàn đảng, toàn dân, toàn quân ta đang ra sức thực hiện ngày hôm nay.
Công việc phía trước rất bộn bề, khẩn trương. Chính vì vậy, Tổng Bí thư đề nghị các cán bộ, đảng viên từ Trung ương đến cơ sở phát huy cao độ tinh thần trách nhiệm trước Đảng, Nhà nước và Nhân dân, tập trung lãnh đạo, chỉ đạo với quyết tâm cao nhất để hoàn thành các mục tiêu Nghị quyết Hội nghị lần thứ 11 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII đã đề ra, chuẩn bị nền tảng vững chắc tiến tới Đại hội XIV của Đảng, đưa đất nước vững vàng tiến vào kỷ nguyên vươn mình phát triển giàu mạnh của dân tộc Việt Nam.
(Nguồn: ThanhtraVietNam)
Sáng ngày 16/4/2025, Thanh tra Chính phủ phối hợp với Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tổ chức tiếp công dân định kỳ tháng 4/2025. Công dân được tiếp là bà Nguyễn Thị Yến và 06 hộ dân khiếu nại liên quan đến dự án xây dựng Trường tiểu học Vĩnh Lộc B, xã Vĩnh Lộc B, huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh.
Về phía Thanh tra Chính phủ có Phó Tổng Thanh tra Chính phủ Dương Quốc Huy chủ trì buổi tiếp; cùng tham dự buổi tiếp có Trưởng Ban Tiếp Công dân Trung ương – Nguyễn Hồng Điệp; Cục Trưởng Cục III, TTCP – Đào Trung Kiên, cùng cán bộ, công chức có liên quan.
Về phía Thành phố Hồ Chí Minh có ông Dương Ngọc Hải – Phó Chủ tịch Thường trực UBND Thành phố; ông Trần Văn Bảy – Chánh Thanh tra Thành phố, cùng lãnh đạo các sở, ban ngành, quận, huyện có liên quan đến vụ việc cùng tham dự.
![]() |
| Chánh Thanh tra TPHCM – Trần Văn Bảy. Ảnh: Thanh Thủy |
![]() |
| Đại diện huyện Bình Chánh. Ảnh: Thanh Thủy |
![]() |
| Đại diện Sở Tài nguyên và Môi trường TP. Ảnh: Thanh Thủy |
Tại buổi tiếp công dân bà Yến thay mặt các hộ dân trình bày và cho rằng, việc chính quyền thu hồi và cưỡng chế thu hồi đất của các hộ dân để thực hiện dự án xây dựng Trường tiểu học Vĩnh Lộc B, xã Vĩnh Lộc B, huyện Bình Chánh không đúng quy định của pháp luật, cụ thể: Dự án không được Hội đồng nhân dân Thành phố phê duyệt, không công khai bản đồ quy hoạch, diện tích xây dựng trường.
![]() |
| Trưởng Ban Tiếp Công dân Trung ương – Nguyễn Hồng Điệp phát biểu tại buổi tiếp. Ảnh: Thanh Thủy |
Ủy ban nhân dân huyện Bình Chánh không giải quyết đơn thư do các cơ quan khác chuyển đến, chỉ có văn bản thông tin tiến độ giải quyết đơn thư của người dân, không cung cấp đầy đủ hồ sơ pháp lý của các cấp chính quyền Thành phố Hồ Chí Minh phê duyệt dự án xây dựng Trường Tiểu học Vĩnh Lộc B theo yêu cầu của người dân…
Sau khi nghe ý kiến của công dân, Phó Chủ tịch UBND huyện Bình Chánh đã báo cáo làm rõ thêm một số nội dung thực hiện dự án. Đồng thời, khẳng định đây là dự án đầu tư công và đã được Hội đồng nhân dân Thành phố phê duyệt.
![]() |
| Phó Chủ tịch Thường trực UBND TPHCM phát biểu tại buổi tiếp. Ảnh: Thanh Thủy |
Tiếp đó, ý kiến đại diện Sở Tài nguyên và Môi trường TP, Chánh Thanh tra Thành phố cũng đã làm rõ thêm một số nội dung mà người dân còn thắc mắc.
Tại buổi tiếp Trưởng Ban Tiếp Công dân Trung ương – Nguyễn Hồng Điệp cho rằng, việc công khai hồ sơ pháp lý đến với người dân chưa được kịp thời, hơn nữa lãnh đạo huyện Bình Chánh chưa thường xuyên tiếp công dân đặc biệt là các hộ dân nằm trong dự án này, dẫn đến người dân đi khiếu nại vượt cấp lên Thành phố và cả Trung ương.
![]() |
| Công dân được tiếp. Ảnh: Thanh Thủy |
Phát biểu tại buổi tiếp công dân, Phó Chủ tịch UBND Thành phố Hồ Chí Minh – Dương Ngọc Hải khẳng định, đây là dự án đầu tư công. Vì vậy, việc thực hiện dự án phải tuân thủ đúng quy định của Luật Đầu tư công.
Về việc thắc mắc của người dân, Phó Chủ tịch Thường trực UBND Thành phố yêu cầu huyện Bình Chánh phối hợp với các sở, ngành có liên quan rà soát lại hồ sơ pháp lý và công khai cho người dân biết và thực hiện.
![]() |
| Phó Tổng Thanh tra Chính phủ – Dương Quốc Huy phát biểu tại buổi tiếp công dân. Ảnh: Thanh Thủy |
Phát biểu kết luận buổi tiếp công dân, Phó Tổng Thanh tra Chính phủ – Dương Quốc Huy đề nghị UBND Thành phố Hồ Chí Minh, trên cơ sở đã xem xét giải quyết, vận dụng hết chế độ chính sách thì chỉ đạo các cơ quan chức năng xem xét giải quyết dứt điểm vụ việc theo thẩm quyền, đảm bảo quyền lợi của người dân theo quy định pháp luật, không để người dân khiếu nại vượt cấp lên các cơ quan Trung ương; đồng thời, thông báo đến Thanh tra Chính phủ trước ngày 15/6/2025.
Phó Tổng Thanh tra Chính phủ cũng đề nghị UBND Thành phố chỉ đạo các sở, ngành có liên quan nghiên cứu, rà soát các quy định hiện hành các chế độ chính sách có thể vận dụng hỗ trợ thêm cho người dân để đảm bảo những nhu cầu, quyền lợi chính đáng của người dân.
Nguồn: ThanhtraVietNam
Sáng ngày 16/4/2025, Trường Cán bộ Thanh tra (TCBTT) long trọng tổ chức Lễ Khai giảng lớp Bồi dưỡng Kỹ năng chỉ đạo, điều hành cơ quan Thanh tra Khóa 01 năm 2025 cho công chức ngành Thanh tra trên phạm vi cả nước.
Thực hiện Quyết định số 192/QĐ-TCBTT ngày 09/4/2025 của Hiệu trưởng TCBTT, sáng ngày 16/4/2025, TCBTT tổ chức Lễ Khai giảng lớp Bồi dưỡng Kỹ năng chỉ đạo, điều hành cơ quan Thanh tra Khóa 01 năm 2025 cho 35 công chức ngành Thanh tra trên phạm vi cả nước. Khóa học được tổ chức giảng dạy trực tiếp tại Trung tâm Đào tạo, bồi dưỡng Nha Trang, TCBTT từ ngày 16/4/2025 đến ngày 18/4/2025.

Tham dự khai giảng có TS. Nguyễn Tuấn Khanh, Phó Bí thư Đảng ủy, Phó Hiệu trưởng Nhà trường; Ông Tạ Hồng Quang, Chánh thanh tra tỉnh Khánh Hòa; Ông Bùi Mạnh Cường, Phó Trưởng phòng Đào tạo, TCBTT; Ông Nguyễn Hữu Vịnh, Phó Giám đốc phụ trách Trung tâm Đào tạo, bồi dưỡng Nha Trang; đại diện các phòng, khoa, cùng toàn thể các học viên.

Thay mặt Ban Giám hiệu, Phó Hiệu trưởng nhiệt liệt chào đón các học viên tham dự khóa học. Trong thời gian học tập, các học viên sẽ được các giảng viên của Nhà trường, giảng viên nguyên là lãnh đạo cục, vụ của Thanh tra Chính phủ giảng dạy, trao đổi một số chuyên đề đặc thù đồng thời có một lượng thời gian phù hợp để trao đổi, hỏi đáp, chia sẻ các kinh nghiệm của các chuyên gia và học viên. TCBTT đã sắp xếp lịch học, giảng viên một cách khoa học và phù hợp để đảm bảo lớp học sẽ đạt kết quả tốt nhất.
Phó Hiệu trưởng nhấn mạnh, ngoài các lớp bồi dưỡng nghiệp vụ thanh tra viên, thanh tra viên chính, thanh tra viên cao cấp và nghiệp vụ Trưởng đoàn Thanh tra, TCBTT đã dày công xây dựng nhiều chương trình bồi dưỡng ngắn hạn, chuyên sâu trong phạm vi quản lý Nhà nước của Thanh tra Chính phủ và đã nhận được sự đánh giá rất cao của các đơn vị, bộ ngành và địa phương, cụ thể như: Tổ trưởng Tổ xác minh giải quyết khiếu nại, tố cáo; Tiếp công dân; Xác minh tài sản thu nhập; Kỹ năng xử phạt vi phạm hành chính; Bồi dưỡng đối với lãnh đạo, quản lý cấp phòng; ngạch chuyên viên và chuyên viên chính;…

Kết thúc Lễ Khai giảng, Phó Hiệu trưởng chúc cho khóa học thành công tốt đẹp và chúc các học viên nhiều sức khỏe, hoàn thành tốt nhiệm vụ học tập.
Ngay sau Lễ Khai giảng, TS. Đinh Văn Minh, nguyên Vụ trưởng Vụ Pháp chế, Thanh tra Chính phủ giảng chuyên đề: “Phương pháp chỉ đạo, điều hành các cơ quan thanh tra”./.
Thế Nghĩa
Sáng ngày 15/4/2025, Trường Cán bộ Thanh tra (TCBTT) tổ chức khai giảng lớp Bồi dưỡng Nghiệp vụ Thanh tra viên chính Khóa 04 năm 2025 cho 157 công chức ngành thanh tra của các tỉnh phía Bắc theo hình thức học trực tuyến (Online).
Thực hiện Quyết định số 174/QĐ-TCBTT ngày 02/4/2025 của Trường Cán bộ Thanh tra, sáng ngày 15/4/2025, TCBTT tổ chức khai giảng lớp Bồi dưỡng Nghiệp vụ Thanh tra viên chính Khóa 04 năm 2025 cho 157 công chức thanh tra của các tỉnh phía Bắc theo hình thức học trực tuyến (Online). Khóa học được tổ chức trong giờ hành chính từ ngày 15/4/2025 đến ngày 21/5/2025.

Tham dự khai giảng có Thầy Vũ Văn Chiến, Hiệu trưởng TCBTT; ThS. Đào Quốc Trưởng, Trưởng phòng Đào tạo; đại diện các phòng, khoa, Trung tâm Tư liệu, Khoa học và Dịch vụ cùng toàn thể các học viên.
Thay mặt Ban Giám hiệu, Hiệu trưởng nhiệt liệt chào đón các học viên tham dự khóa học. Trong thời gian học tập, các học viên sẽ được các giảng viên của Nhà trường, giảng viên kiêm chức giảng dạy, trao đổi 08 chuyên đề thuộc phần kiến thức chung, 10 chuyên đề thuộc phần kỹ năng nghiệp vụ và tham gia thực hành các tình huống giả định liên quan đến nghiệp vụ thanh tra, tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo và phòng, chống, tham nhũng, tiêu cực.

Trong bối cảnh sắp xếp, sáp nhập và tinh gọn bộ máy chính quyền nói chung và của ngành thanh tra nói riêng, TCBTT đặc biệt quan tâm đến các khóa học trong giai đoạn này và đã sắp xếp lịch học, giảng viên một cách khoa học và phù hợp để đảm bảo lớp học sẽ đạt kết quả tốt nhất. Ban Giám hiệu Nhà trường đề nghị toàn thể các học viên của lớp tập trung tối đa cho việc học tập, nghiên cứu, tuân thủ nghiêm túc các quy định của Nhà trường để khóa học có kết quả cao.
Hiệu trưởng nhấn mạnh, ngoài các lớp bồi dưỡng nghiệp vụ thanh tra viên, thanh tra viên chính và thanh tra viên cao cấp, TCBTT đã dày công xây dựng nhiều chương trình bồi dưỡng ngắn hạn, chuyên sâu trong phạm vi quản lý Nhà nước của Thanh tra Chính phủ và đã nhận được sự đánh giá rất cao của các đơn vị, bộ ngành và địa phương, cụ thể như: Nghiệp vụ Trưởng đoàn Thanh tra; Tổ trưởng Tổ xác minh giải quyết khiếu nại, tố cáo; Tiếp công dân; Xác minh tài sản thu nhập; Kỹ năng xử phạt vi phạm hành chính; Bồi dưỡng đối với lãnh đạo, quản lý cấp phòng; ngạch chuyên viên và chuyên viên chính;…
Kết thúc Lễ Khai giảng, Hiệu trưởng chúc cho khóa học thành công tốt đẹp và chúc các học viên nhiều sức khỏe, hoàn thành tốt nhiệm vụ học tập.
Ngay sau Lễ Khai giảng, Thầy Vũ Văn Chiến, Hiệu trưởng giảng chuyên đề: “Quản lý Nhà nước về công tác thanh tra, tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo và phòng, chống tham nhũng”./.
Thế Nghĩa
I. Nhận thức chung về giám định trong hoạt động thanh tra
Giám định nói chung là hoạt động khoa học, sử dụng những kiến thức chuyên môn, kinh nghiệm thực tiễn, phương tiện kỹ thuật để nghiên cứu, xem xét một hiện tượng hoặc một vấn đề mà cơ quan nhà nước hoặc tổ chức, cá nhân cần tìm hiểu và xác định, giúp cho con người có nhận thức khách quan để giải quyết vấn đề nào đó một cách chính xác trên cơ sở khoa học. Theo quy định của pháp luật hiện hành, có thể tạm chia hoạt động giám định thành 02 loại hình: Một là, loại hình giám định tố tụng (giám định tư pháp): Đây là lĩnh vực duy nhất cho đến nay có luật chuyên ngành điều chỉnh, phạm vi hoạt động chỉ phục vụ cho tố tụng, nghĩa là để kết luận về chuyên môn những vấn đề có liên quan đến hoạt động khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự, giải quyết vụ việc dân sự, vụ án hành chính theo trưng cầu của cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng hoặc theo yêu cầu của người yêu cầu giám định. Hai là, loại hình giám định ngoài tố tụng (giám định dịch vụ). Đây là loại hình giám định rất rộng, giám định trong hoạt động thanh tra thuộc loại này, trong hoạt động thanh tra, giám định chỉ là một biện pháp nghiệp vụ, một hoạt động mang tính chất hành chính, quản lý được tiến hành nhằm mục đích làm căn cứ cho việc kết luận thanh tra.
Thanh tra là nội dung không thể thiếu của quản lý nhà nước, là giai đoạn cuối cùng trong chu trình quản lý, có vai trò kiểm định, đánh giá hiệu quả của quản lý nhà nước. Phạm vi hoạt động thanh tra của cơ quan thanh tra rất rộng, ở đâu có quản lý ở đó có thanh tra nên nội dung giám định trong hoạt động thanh tra cũng rất phong phú. Trong hoạt động thanh tra, kết luận giám định là căn cứ quan trọng, tin cậy, bởi đây là nhận xét, đánh giá bằng văn bản của người giám định về đối tượng giám định theo nội dung trưng cầu, yêu cầu giám định, được coi là chứng cứ làm cơ sở cho việc giải quyết vụ việc cần chứng minh, nếu việc giám định đó được tiến hành theo đúng quy định sẽ góp phần công khai, minh bạch trong mọi hoạt động, đặc biệt cần thiết cho hoạt động thanh tra.
Chính vì vậy, giám định trong hoạt động thanh tra là việc người giám định sử dụng kiến thức, phương tiện, phương pháp khoa học, kỹ thuật, nghiệp vụ để kết luận những vấn đề về chuyên môn, kỹ thuật có liên quan đến hoạt động thanh tra theo trưng cầu của người ra quyết định thanh tra hoặc theo yêu cầu của người yêu cầu giám định nhằm cung cấp các căn cứ cho việc kết luận thanh tra của các cơ quan thanh tra.
Giám định có vai trò quan trọng hoạt động thanh tra, đặc biệt là những cuộc thanh tra liên quan đến tài chính, ngân hàng, xây dựng, tài nguyên môi trường. Thời gian qua, hoạt động giám định trong hoạt động thanh tra đã phục vụ ngày càng tốt hơn cho hoạt động thanh tra, góp phần quan trọng vào việc kết luận thanh tra được chính xác, khách quan và đúng pháp luật. Tuy nhiên, thực tế thời gian qua cho thấy việc trưng cầu giám định về những vấn đề liên quan đến nội dung thanh tra rất ít được thực hiện nên kết quả công giám định trong hoạt động thanh tra còn khiêm tốn. Hiệu quả giám định trong hoạt động thanh tra còn dừng lại ở mức độ nhất định, như chưa đáp ứng yêu cầu của hoạt động thanh tra trong bối cảnh phát triển nền kinh tế thị trường hiện nay; việc trưng cầu giám định trong nhiều trường hợp còn chưa trúng, chưa đúng với yêu cầu đặt ra của vụ việc; chất lượng kết luận giám định trong một số trường hợp chưa bảo đảm; việc giám định chưa được thực hiện theo quy trình, quy chuẩn thống nhất nên có tình trạng mâu thuẫn giữa các kết luận giám định, gây phức tạp cho hoạt động thanh tra, điển hình trong hoạt động giám định thiệt hại trong các cuộc thanh tra về tài chính, xây dựng; thời gian giám định thường kéo dài, ảnh hưởng nghiêm trọng đến thời hạn thanh tra; việc chi trả, thanh toán các chế độ bồi dưỡng giám định, các chi phí cần thiết khác của các cơ quan thanh tra còn chậm và chưa có kế hoạch từ đầu năm khiến cho các tổ chức, cá nhân chuyên môn né tránh, từ chối tiếp nhận trưng cầu giám định, làm cho việc trưng cầu giám định càng trở lên khó khăn hơn, thậm chí là ách tắc. Việc giải thích, bảo vệ kết luận giám định của người giám định trong hoạt động thanh tra chưa được chú trọng, còn nhiều hạn chế.
Nguyên nhân của những hạn chế, khó khăn, vướng mắc trên thì có nhiều, song tựu trung lại có một số nguyên nhân chủ yếu sau đây: Nhận thức về giám định trong hoạt động thanh tra còn hạn chế; việc xây dựng, ban hành văn bản liên quan đến giám định trong hoạt động thanh tra vẫn còn chậm, chưa kịp thời tháo gỡ những vướng mắc, bất cập về giám định trong hoạt động thanh tra; công tác lãnh đạo, chỉ đạo và trách nhiệm của Thủ trưởng cơ quan hành chính, người ra quyết định thanh tra trong công tác giám định trong hoạt động thanh tra còn chưa được ưu tiên thực hiện; sự phối hợp thiếu chặt chẽ giữa các cơ quan, tổ chức, đơn vị trong công tác giám định trong hoạt động thanh tra; vệc tổng kết thực tiễn công tác giám định trong hoạt động thanh tra chưa được chú trọng; công tác cán bộ và đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ, công chức làm công tác thanh tra và người giám định giám định trong hoạt động thanh tra còn lúng túng, gặp nhiều vướng mắc; công tác tuyên truyền pháp luật, về vai trò, ý nghĩa, tầm quan trọng của công tác giám định trong hoạt động thanh tra còn chưa được chú trọng; lợi ích của các tổ chức, cá nhân thực hiện giám định nói chung, giám định ngoài tố tụng nói riêng chưa được bảo đảm; kinh phí cho việc trưng cầu và thực hiện giám định trong hoạt động thanh tra chưa được bảo đảm.
Để nâng cao hơn nữa chất lượng, hiệu quả hoạt động thanh tra mà trực tiếp là kết luận thanh tra, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ ngày càng cao của cơ quan thanh tra, cần phải đề xuất một hệ thống giải pháp từ nâng cao nhận thức cho đến hoàn thiện pháp luật và sau cùng nhưng quan trọng nhất là tổ chức thực hiện pháp luật về giám định trong hoạt động thanh tra. Trong bài viết này, tác giả chỉ tập trung nghiên cứu đề xuất các giải pháp tổ chức thực hiện nhằm nâng cao hiệu quả giám định trong hoạt động thanh tra.
II. Một số giải pháp tổ chức thực hiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả giám định trong hoạt động thanh tra
1. Nâng cao vai trò, trách nhiệm của Thủ trưởng cơ quan hành chính, Thủ trưởng các cơ quan thanh tra và các chủ thể tiến hành thanh tra trong hoạt động thanh tra nói chung, trong công tác giám định trong hoạt động thanh tra nói riêng
Một là, đối với Thủ trưởng cơ quan hành chính, Thủ trưởng các cơ quan thanh tra.
Theo quy định của pháp luật thanh tra thì Thủ trưởng cơ quan hành chính, Thủ trưởng các cơ quan thanh tra là người ra quyết định thanh tra và cũng chính là người quyết định trưng cầu giám định có vai trò rất quan trọng trong quá trình tổ chức chỉ đạo và quyết định đến chất lượng, hiệu quả cuộc thanh tra. Không chỉ đặt ra mục đích, yêu cầu mà còn thường xuyên chỉ đạo, quán xuyến toàn bộ diễn biến cuộc thanh tra. Với tư cách là người quyết định trưng cầu giám định, kết luận thanh tra, người ra quyết định có vai trò quan trọng trong việc bảo đảm chất lượng của kết luận giám định cũng như kết luận thanh tra. Vì vậy, trong thời gian tới cần nâng cao vai trò, trách nhiệm của Thủ trưởng cơ quan hành chính, Thủ trưởng các cơ quan thanh tra là người ra quyết định thanh tra trong những việc sau đây:
– Chỉ đạo thường xuyên việc triển khai các biện pháp nghiệp vụ trong quá trình thanh tra, trong đó có biện pháp trưng cầu giám định. Người ra quyết định phải thường xuyên bám sát hoạt động của Đoàn thanh tra, kịp thời chỉ đạo Đoàn thanh tra tiến hành các hoạt động để giải quyết các vấn đề của nội dung cuộc thanh tra, những nội dung về chuyên môn kỹ thuật cần thiết phải trưng cầu giám định nhưng phải bảo đảm đúng tiến độ, thời gian quy định. Trường hợp cần thiết hướng dẫn, chỉ đạo Đoàn thanh tra tập trung làm rõ hơn vấn đề chủ yếu, trọng tâm, cơ bản; những nội dung cần yêu cầu đối tượng thanh tra phải giải trình, những nội dung của kết luận giám định chưa rõ cần yêu cầu đối tượng thanh tra phải giải trình, người giám định giải thích để phục vụ cho việc kết luận từng vấn đề cũng như kết luận cuộc thanh tra, tránh tình trạng sau này khi chuẩn bị kết luận đối tượng sẽ giải trình thêm mất nhiều thời gian không cần thiết. Đồng thời, xử lý kịp thời các tình huống phát sinh mà Trưởng Đoàn thanh tra cần phải xin ý kiến, đề xuất trưng cầu giám định, cũng như áp dụng các biện pháp theo thẩm quyền xử lý đối với những hành vi cản trở, chống đối của đối tượng hoặc của cơ quan, tổ chức có liên quan.
– Bám sát, chỉ đạo thường xuyên hoạt động trưng cầu giám định (nếu có), hoạt động của Đoàn thanh tra nhằm phát hiện và kịp thời xử lý, chấn chỉnh các sai phạm, lệch lạc của thành viên trong Đoàn khi tiến hành thanh tra; xử lý, khắc phục tình trạng mở rộng nội dung phạm vi cuộc thanh tra không đúng quy định. Chỉ đạo, hướng dẫn Trưởng Đoàn thanh tra bám sát hoạt động trưng cầu giám định (nếu có), xây dựng Báo cáo kết quả thanh tra có trọng tâm, trọng điểm, giải quyết những vấn đề cốt lõi đặt ra trên cơ sở bám sát mục đích, yêu cầu, nội dung của cuộc thanh tra; trường hợp cần thiết đề xuất những vấn đề cần phải xin ý kiến của các cơ quan có liên quan hoặc thủ trưởng cơ quan nhà nước có thẩm quyên để tạo sự thống nhất ngay từ đầu đối với những vụ việc phức tạp, có ý kiến khác nhau, dư luận xã hội quan tâm.
– Yêu cầu Trưởng Đoàn thanh tra báo cáo thường xuyên về tình hình triển khai biện pháp trưng cầu giám định (nếu có), diễn biến, kết quả, các vấn đề phát sinh cần phải xử lý. Báo cáo bằng văn bản hoặc trực tiếp bằng miệng, qua điện thoại. Người ra quyết định phải thường xuyên nắm bắt diễn biễn hoạt động trưng cầu giám định (nếu có), thu thập các thông tin có thể nắm được đầy đủ tính chất, mức độ phức tạp của cuộc thanh tra, để chuẩn bị những tư liệu cần thiết cho việc nghiên cứu, xây dựng kết luận thanh tra. Do đó khi nhận được kết luận giám định, báo cáo kết quả thanh tra do Trưởng Đoàn gửi về, người ra quyết định có thể nắm được toàn bộ tình hình, kết quả cuộc thanh tra. Những đề xuất, kiến nghị của Trưởng Đoàn được Người ra quyết định nhìn nhận, đánh giá một cách thấu đáo, khách quan, đầy đủ. Tránh được tình trạng phải nghiên cứu, xem xét trong thời gian dài, kết luận thanh tra kém chất lượng, không được thực hiện đầy đủ, nghiêm túc.
– Nghiên cứu, xem xét kết luận giám định, báo cáo kết quả thanh tra, xây dựng kết luận thanh tra. Khi có kết luận giám định, báo cáo kết quả thanh tra, người ra quyết định còn phải nghiên cứu một cách kỹ lưỡng, xem xét đánh giá vấn đề dưới nhiều góc độ, khía cạnh, với góc độ rộng, sâu hơn, trong nhiều mối quan hệ, với sự tác động, chi phối của các yếu tố. Trên cơ sở xem xét tình hình thực tiễn, các quy định pháp luật, yêu cầu công tác quản lý, bối cảnh cụ thể trực tiếp mà nhìn nhận, đánh giá vấn đề một cách khách quan, toàn diện, tránh phiến diện, áp đặt ý chí chủ quan, suy diễn. Người ra quyết định cần có sự tin tưởng nhất định ý kiến của Trưởng Đoàn thanh tra thông qua báo cáo kết quả thanh tra. Song không phải vì vậy mà không đặt ra tình huống có vấn đề để phản biện một cách khoa học, từ đó đưa ra sự nhìn nhận đánh giá một cách khách quan, toàn diện. Trong thực tế có nhiều lý do mà báo cáo của Trưởng Đoàn không phản ánh đầy đủ kết quả thanh tra hoặc không đánh giá được tính chất, mức độ vi phạm của đối tượng. Từ đó đưa ra nhận định, kết luận thiếu cơ sở, không có sức thuyết phục, bị đối tượng phản ứng, giải trình, khiếu nại kéo dài, kết luận được thực hiện trong thực tế.
Hai là, đối với các chủ thể trực tiếp tiến hành thanh tra
Trưởng Đoàn thanh tra, các thành viên khác của Đoàn thanh tra trong quá trình thực hiện nhiệm vụ của mình phải đề cao ý thức trách nhiệm, tổ chức thực hiện các nhiệm vụ nói chung, nhiệm vụ đánh giá, đề xuất sử dụng kết luận giám định nói riêng một cách khách quan, công tâm và tuân thủ các quy định của pháp luật.
Đối với Trưởng Đoàn thanh tra, để làm tốt vai trò của Trưởng Đoàn thanh tra phải nhận thức đúng vị trí, vai trò, nhiệm vụ, quyền hạn của mình, các nguyên tắc công tác, phương pháp công tác của Trưởng Đoàn trong quá trình tổ chức, chỉ đạo hoạt động của Đoàn thanh tra; thực hiện kiến nghị với người ra quyết định thanh tra áp dụng biện pháp thuộc nhiệm vụ, quyền hạn của người ra quyết định thanh tra, chẳng hạn như: Kiến nghị với người ra quyết định thanh tra áp dụng biện pháp trưng cầu giám định. Ngoài ra, Trưởng Đoàn thanh tra phải làm tốt công tác chính trị, tư tưởng trong quá trình thanh tra, không chỉ đối với Đoàn thanh tra mà còn cả đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân là đối tượng thanh tra, các cơ quan, tổ chức, cá nhân khác có liên quan nhằm tạo ra nhận thức thống nhất về mục đích, yêu cầu của việc giám định và đánh giá, sử dụng kết luận giám định trong việc kết luận thanh tra. Trưởng Đoàn thanh tra phải là hạt nhân đoàn kết, quy tụ cán bộ, thành viên trong Đoàn thanh tra thực hiện các nhiệm vụ được giao; thường xuyên kiểm tra, đôn đốc các thành viên Đoàn thanh tra thực hiện các nhiệm vụ được giao trong đó có việc trưng cầu giám định trong hoạt động thanh tra.
Đối với các thành viên khác của Đoàn thanh tra, trong quá trình thực hiện nhiệm vụ thanh tra, phải tuân thủ quy chế hoạt động của Đoàn thanh tra, 05 điều kỷ luật đối với cán bộ thanh tra, chấp hành sự phân công thực hiện nhiệm vụ của Trường Đoàn thanh tra, bám sát hoạt động giám định trong quá trình thanh tra (nếu có); khách quan, công tâm trong quá trình xem xét, đánh giá kết luận giám định và việc thực hiện chính sách, pháp luật, nhiệm vụ của đối tượng thanh tra; thực hiện kiến nghị Trưởng đoàn thanh tra áp dụng biện pháp thuộc nhiệm vụ, quyền hạn của Trưởng đoàn thanh tra để hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao. Khi lấy mẫu giám định cần lưu ý đảm bảo thủ tục chặt chẽ, phương tiện bảo quản mẫu cần đảm bảo theo yêu cầu của nhà sản xuất, tránh làm hư hỏng vật giám định thì việc giám định sẽ không được công nhận. Trường hợp sau khi có kết quả giám định mà xác định được hành vi vi phạm thì đối tượng thanh tra phải chi trả kinh phí giám định.
2. Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức làm công tác thanh tra, người giám định trong công tác giám định trong hoạt động thanh tra
Một là, về đội ngũ cán bộ tiến hành thanh tra
Trong những năm qua, đội ngũ cán bộ thanh tra đã không ngừng từng bước phát triển cả về số lượng và chất lượng, góp phần quan trọng trong việc thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chính trị của Ngành. Tuy nhiên, bên cạnh đó vẫn còn những hạn chế, bất cập, đó là do đặc điểm tổ chức của ngành, nên chúng ta chưa có đội ngũ công chức thanh tra ổn định và chuyên nghiệp. Trình độ và năng lực của nhiều công chức thanh tra chưa ngang tầm với yêu cầu nhiệm vụ, còn bất cập về nhiều mặt như tri thức và năng lực thực thi nhiệm vụ cũng như khả năng vận dụng khoa học công nghệ hiện đại trong công tác còn rất hạn chế. Số công chức đào tạo mới có đủ trình độ chuyên môn nhưng lại thiếu kinh nghiệm và ứng xử trong lĩnh vực thanh tra. Chất lượng đội ngũ công chức thanh tra chưa đồng đều, trình độ năng lực thực tế chưa tương xứng với văn bằng. Bên cạnh đó, tinh thần trách nhiệm, ý thức tổ chức kỷ luật của một số công chức còn yếu, phong cách làm việc chậm đổi mới; tinh thần phục vụ nhân dân chưa cao, số lượng, cơ cấu đội ngũ công chức chưa đáp ứng được yêu cầu trước mắt và lâu dài; còn tồn tại tình trạng hẫng hụt giữa các thế hệ công chức trong cơ quan thanh tra; ở một số nơi thiếu đội ngũ cán bộ nòng cốt kế cận có kinh nghiệm và trình độ chuyên môn cao, đặc biệt là thanh tra cấp huyện. Trong khi đó, công tác giám định trong hoạt động thanh tra là hoạt động đặc thù, cần có kỹ năng, kiến thức, kỹ thuật, nghiệp vụ để chuẩn bị, tiến hành và đánh giá, sử dụng kết luận giám định của Đoàn thanh tra khi thực hiện trưng cầu giám định.
Chính vì thực tiễn trên mà yêu cầu nâng cao chất lượng, trình độ của đội ngũ công chức tiến hành thanh tra cả về năng lực chuyên môn, cả về nghiệp vụ thanh tra trong giai đoạn hiện nay là cần thiết, đòi hỏi phải có những giải pháp hữu hiệu nhằm xây dựng đội ngũ công chức ngành Thanh tra vững mạnh, chuyên nghiệp.
Thứ nhất, cần nâng cao năng lực trình độ của đội ngũ công chức làm công tác này. Đặc biệt, phẩm chất đạo đức của công chức thanh tra phải được đặt lên hàng đầu. Mỗi công chức làm công tác thanh tra phải thật sự gương mẫu, chấp hành nghiêm túc pháp luật. Cùng với đó, cần có cơ chế đánh giá năng lực của công chức trong ngành Thanh tra để xác định nhu cầu đào tạo bồi dưỡng nhằm thực hiện công tác đào tạo, bồi dưỡng có hiệu quả, tạo được đội ngũ công chức trong tương lai đáp ứng được yêu cầu mà thực tế của ngành đặt ra, từ đó xác định nội dung, chương trình phương pháp đào tạo, bồi dưỡng phù hợp
Thứ hai, đổi mới chương trình và phương pháp đào tạo bồi dưỡng công chức trong ngành Thanh tra. Hiện nay, Trường Cán bộ Thanh tra trực thuộc Thanh tra Chính phủ là đơn vị có chức năng đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ đối với công chức ngành Thanh tra. Tuy nhiên, cần đưa vào chương trình bồi dưỡng nghiệp vụ thanh tra viên đối với những công chức mới vào ngành về những lĩnh vực như: xây dựng cơ bản, tài chính, quản lý đất đai, tín dụng, chứng khoán… là những lĩnh vực mà thanh tra thường xuyên tiếp cận. Cần trang bị những kiến thức cơ bản về kỹ năng, những kinh nghiệm thanh tra, những ứng xử cần thiết trong quá trình thanh tra… đặc biệt là việc trưng cầu giám định trong hoạt động thanh tra. Đồng thời, tiếp tục đổi mới chương trình đào tạo, bồi dưỡng theo hướng xây dựng các tình huống cụ thể diễn ra trong thực tế để học viên tự giải quyết nhằm nâng cao kỹ năng giải quyết công việc của công chức, tránh tình trạng học lý thuyết suông, không gắn với thực tế, không được thực hành nên cảm thấy nhàm chán. Nội dung chương trình giảng dạy cần cập nhật kiến thức, thông tin trong và ngoài nước, giúp học viên có được cái nhìn thực tế mới mẻ và có thể áp dụng vào việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ được giao. Đối với nghiệp vụ giám định trong hoạt động thanh tra, cần nâng cao kỹ năng xác định nội dung cần trưng cầu giám định, về sự cần thiết phải trưng cầu giám định cần xem xét toàn diện tránh tình trạng cứng nhắc, thiếu linh hoạt hoặc cứ kết luận mà không tiến hành trưng cầu giám định. Tham mưu cho người ra quyết định trưng cầu giám định trình tự, thủ tục và cơ quan, tổ chức, cá nhân thực hiện giám định; kinh nghiệm cung cấp mẫu vật cho người giám định; kỹ năng lập văn bản chặt chẽ đối với người giám định; kỹ năng đánh giá, sử dụng kết luận giám định…
Thứ ba, cần gắn đào tạo, bồi dưỡng với sử dụng công chức. Khi sử dụng đúng người, đúng chuyên môn không những nâng cao được hiệu quả công việc, cá nhân phát huy được năng lực của mình mà còn tạo ra tâm lý tích cực cho quá trình phấn đấu của công chức. Đó chính là sự trọng dụng kiến thức, kỹ năng có được của công chức. Ngược lại sử dụng công chức không đúng quy hoạch đào tạo, sẽ là sự lãng phí lớn về chi phí đào tạo bồi dưỡng, về nguồn nhân lực. Trong thực tế, nhu cầu nhân lực của ngành Thanh tra nhiều nhưng khó tuyển dụng, nhất là ở cấp huyện, do đó việc sử dụng công chức trái ngành nghề vẫn còn xảy ra, chưa phát huy hết năng lực chuyên môn của công chức và công chức ít nhiều còn gặp khó khăn khi thực thi nhiệm vụ. Vì vậy, cần tạo điều kiện cho công chức thanh tra được học hỏi, trao đổi kinh nghiệm thực tế trong ngành, đó là điều kiện để họ dễ dàng tiếp cận thực tiễn và bổ sung những hụt hẫng trong kinh nghiệm công tác và kiến thức chuyên môn của mình. Trên cơ sở đó, khi tiến hành thanh tra, họ sẽ thực hiện các quyền của mình một cách hiệu quả, phù hợp với yêu cầu của thực tế.
Hai là, về đội ngũ người giám định trong hoạt động thanh tra
Việc giám định đòi hỏi người giám định phải là người có kiến thức, kinh nghiệm cần thiết về lĩnh vực cần giám định được người ra quyết định thanh tra trưng cầu hoặc theo yêu cầu của người yêu cầu giám định theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, đội ngũ giám định viên ngoài tố tụng chưa thực sự được quan tâm, xây dựng, phát triển một cách bài bản, tổng thể, còn thiếu về số lượng và hạn chế về chất lượng. Hầu hết các tổ chức giám định đều thiếu giám định viên chuyên trách so với yêu cầu nhiệm vụ, tình trạng chảy máu nguồn nhân lực trong các tổ chức giám định đang diễn ra ngày càng mạnh, trong khi đó chưa có giải pháp khắc phục. Nhiều giám định viên hiện có chưa được đào tạo một cách bài bản về nghiệp vụ giám định và kiến thức pháp lý cần thiết.
Chính vì vậy, Thủ trưởng các cơ quan hành chính nhà nước cần nâng cao tinh thần trách nhiệm và quan tâm hơn đến đội ngũ người giám định ngoài tố tụng và quản lý hoạt động của giám định viên thuộc lĩnh vực ngành quản lý; chủ động trong việc giới thiệu, cử cá nhân, tổ chức có đủ điều kiện thực hiện giám định theo vụ việc trên cơ sở yêu cầu của cơ quan thanh tra. Tăng cường chỉ đạo giám định viên của ngành mình thực hiện đúng quy định về thời hạn giám định khi các cơ quan thanh tra trưng cầu để bảo đảm tính đồng bộ, tương thích về thời gian trưng cầu giám định với quy định của pháp luật về thanh tra; có giải pháp, biện pháp để khắc phục tình trạng chậm trễ trong tiếp nhận, thực hiện giám định trong thời gian qua theo đề nghị của cơ quan trưng cầu giám định, gây ảnh hưởng đến tiến độ các cuộc thanh tra trên lĩnh vực đất đai, tài chính, tài sản, xây dựng, truyền thông, chứng khoán, công nghệ thông tin… Lựa chọn và cử giám định viên ngành mình tham gia các lớp đào tạo, bồi dưỡng do Bộ, ngành chủ quản tổ chức; chủ động xây dựng chương trình, kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ giám định ngoài tố tụng; kiến thức pháp luật cho các giám định viên thuộc lĩnh vực quản lý.
Thực hiện lựa chọn, đề nghị bổ nhiệm giám định viên; công bố danh sách người giám định theo vụ việc, tổ chức giám định theo vụ việc; lựa chọn những người (cá nhân) đáp ứng được các tiêu chuẩn và các tổ chức (đơn vị) đáp ứng được điều kiện quy định, lập danh sách, kèm theo hồ sơ gửi về các cấp có thẩm quyền công bố theo quy định. Thực hiện rà soát, kiện toàn thường xuyên người giám định theo vụ việc thuộc lĩnh vực ngành mình quản lý; tổ chức bồi dưỡng nghiệp vụ cho giám định viên thuộc lĩnh vực ngành quản lý; lựa chọn và cử giám định viên tham gia các lớp tập huấn bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ do Thanh tra Chính phủ tổ chức, đồng thời chủ động tổ chức các lớp bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ cho giám định viên, người giám định theo vụ việc thuộc thẩm quyền quản lý của đơn vị mình và chịu trách nhiệm về chất lượng hoạt động của giám định viên do ngành quản lý; tuyên truyền, phổ biến các văn bản pháp luật có liên quan đến hoạt động giám định ngoài tố tụng thuộc lĩnh vực ngành quản lý.
Tăng cường việc phối hợp giữa các cơ quan thanh tra với các Bộ, ngành và địa phương trong công tác tổ chức tuyên truyền, phổ biến kiến thức pháp luật về giám định ngoài tố tụng trong lĩnh vực xây dựng, ngân hàng, tài chính… cho đội ngũ giám định viên và người trưng cầu giám định. Các cơ quan thanh tra cần chủ động phối hộ với các Bộ, ngành và địa phương trong công tác giám định liên quan đến lĩnh vực thuộc phạm vi, địa bàn quản lý. Phối hợp trong việc rà soát, kiện toàn tổ chức, cá nhân có chức năng giám định ngoài tố tụng nhằm đảm bảo số lượng, chất lượng, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ công tác giám định trong từng lĩnh vực như bổ nhiệm, cấp thẻ giám định viên; công nhận tổ chức, cá nhân giám định viên ngoài tố tụng ở Bộ, ngành, địa phương và đăng tải danh sách trên Cổng thông tin điện tử của Bộ, ngành, Ủy ban nhân dân các cấp phục vụ việc trưng cầu giám định của các cơ quan có nhu cầu, trong đó có cơ quan thanh tra. Phối hợp trong việc bảo đảm kinh phí, trang thiết bị, phương tiện giám định và điều kiện vật chất cần thiết khác cho cá nhân, tổ chức giám định ngoài tố tụng thuộc thẩm quyền quản lý. Phối hợp trong công tác thanh, kiểm tra việc chấp hành pháp luật đối với công tác giám định; kịp thời phát hiện, chấn chỉnh, tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc, xử lý nghiêm các hành vi tiêu cực, né tránh, từ chối giám định, cố tình ban hành kết luận giám định không đúng. Phối hợp trong việc quy định chế độ, chính sách để thu hút cá nhân, tổ chức có năng lực tham gia hoạt động giám định tư pháp. Phối hợp trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện giám định, kết luận giám định đối với các vụ việc được trưng cầu, yêu cầu giám định, đặc biệt là đối với các cuộc thanh tra có phạm vi rộng, phức tạp, liên quan đến giám định của nhiều lĩnh vực đảm bảo kịp thời, chính xác, khách quan;
Tăng cường sự phối hợp giữa các cơ quan thanh tra với các cơ quan quản lý giám định ngoài tố tụng trong việc xác định nhu cầu giám định trong hoạt động thanh tra và đánh giá chất lượng hoạt động giám định ngoài tố tụng. Trách nhiệm của các cơ quan thanh tra trong việc thông tin, phối hợp với các cơ quan quản lý cấp tỉnh và cấp trung ương để đánh giá nhu cầu, bảo đảm hiệu quả quản lý công tác giám định trong hoạt động thanh tra cũng như tăng cường chất lượng người giám định trong hoạt động thanh tra, nâng cao hiệu quả hoạt động giám định trong hoạt động thanh tra.
Các cơ quan thanh tra cần phối hợp tốt vời cơ quan, tổ chức thực hiện giám định, nghiên cứu các quy định mới của pháp luật về giám định trong từng lĩnh vực để đảm bảo trưng cầu đúng đối tượng, nội dung giám định và trưng cầu các tổ chức, cá nhân giám định đáp ứng điều kiện, tiêu chuẩn theo quy định, phù hợp với đối tượng, nội dung giám định. Phối hợp trong việc cung cấp kịp thời, đầy đủ hồ sơ, tài liệu, đối tượng giám định theo yêu cầu của cá nhân, tổ chức thực hiện giám định; kịp thời thực hiện hoặc đề nghị cơ quan có thẩm quyền áp dụng các biện pháp theo quy định của pháp luật để bảo vệ người giám định hoặc người thân thích của người giám định để người giám định yên tâm thực hiện giám định; tạm ứng, thanh toán kịp thời chi phí, tiền bồi dưỡng giám định cho các tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động giám định ngoài tố tụng. Bởi vì, trên thực tế, vẫn còn tình trạng tổ chức, cá nhân giám định từ chối, né tránh khi được trưng cầu giám định; một số cơ quan tiến hành thanh tra trưng cầu chưa đúng đối tượng, nội dung giám định, trưng cầu tổ chức, cá nhân không có chức năng, năng lực giám định, chưa bàn giao đầy đủ hồ sơ, tài liệu, đối tượng giám định; một số địa phương chưa chủ động trong việc rà soát, bổ nhiệm, công nhận, đăng tải danh sách tổ chức, cá nhân giám định phục vụ việc trưng cầu của cơ quan tiến hành thanh tra; một số vụ việc giám định có kết luận giám định chưa chính xác, phải giám định lại… vì vậy, cần tăng cường việc phối hợp giữa các cơ quan, tổ chức, đơn vị trong công tác giám định trong hoạt động thanh tra.
4. Chú trọng tổng kết thực tiễn công tác giám định trong hoạt động thanh tra
Qua tổng kết thực tiễn, các cơ quan có thẩm quyền sẽ kịp thời tìm ra những bất cập, hạn chế trong tổ chức thực hiện pháp luật về giám định trong hoạt động thanh tra, để từ đó có những biện pháp cụ thể về hoàn thiện hệ thống pháp luật và tổ chức thực hiện pháp luật về giám định trong hoạt động thanh tra phù hợp.
Công tác tổng kết rút kinh nghiệm hoạt động giám định trong quá trình thanh tra của các cơ quan thanh tra, đặc biệt là Thanh tra Chính phủ là một trong nhiều biện pháp nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động này. Thông qua hoạt động tổng kết, rút kinh nghiệm, các cơ quan thanh tra nhà nước có thể đánh giá một cách tổng quát về thực trạng hoạt động giám định trong quá trình thanh tra; thấy được những mặt mạnh, mặt yếu của hoạt động giám định trong quá trình thanh tra; tìm ra các nguyên nhân của những hạn chế; từ đó có biện pháp chấn chỉnh, khắc phục kịp thời. Ngoài ra, tổng kết rút kinh nghiệm sẽ có được những bài học quý báu trong hoạt động giám định trong quá trình thanh tra; thấy được những nhân tố tích cực ở một ngành, lĩnh vực hoặc địa phương để từ đó phổ biến, nhân rộng ra các cấp, các ngành, góp phần đưa hoạt động giám định trong quá trình thanh tra đạt hiệu lực, hiệu quả. Các cơ quan thanh tra cần coi đây là nhiệm vụ quan trọng nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động giám định trong quá trình thanh tra. Trong thời gian tới, cần xác định rõ việc tổng kết, đánh giá, rút kinh nghiệm về hoạt động này là nội dung cần phải được thực hiện đồng thời với việc tổng kết công tác thanh tra hàng năm.
Công tác tổng kết, đánh giá hoạt động giám định trong quá trình thanh tra phải được thực hiện thường xuyên, liên tục. Định kỳ sáu tháng, 01 năm phải có những sơ kết, tổng kết và nhận định về những ưu điểm, nhược điểm trong việc thực hiện hoạt động giám định trong quá trình thanh tra và phổ biến sâu rộng trong các cơ quan Thanh tra. Bên cạnh đó, việc tổng kết và đánh giá thực tiễn hoạt động giám định trong quá trình thanh tra cũng cần được coi là một nội dung trong báo cáo công tác thanh tra lên cơ quan cấp trên và phải rút ra được những bài học làm kinh nghiệm cho những giai đoạn tiếp theo đối với hoạt động này. Khẩn trương nghiên cứu hoàn thiện quy trình về nghiệp vụ giám định trong quá trình thanh tra làm cơ sở pháp lý cho việc tổ chức thực hiện, nâng cao hiệu quả giám định trong quá trình thanh tra.
5. Bảo đảm cơ sở vật chất cho các tổ chức giám định ngoài tố tụng và chính sách, chế độ ưu đãi đối với cá nhân, tổ chức thực hiện giám định ngoài tố tụng
Nhằm khắc phục tình trạng thiếu thốn, không bảo đảm về cơ sở vật chất cho các tổ chức giám định ngoài tố tụng, nhất là các tổ chức giám định liên quan đến công nghệ thông tin, chứng khoán, tài nguyên môi trường… như hiện nay, thì Thủ trưởng các cơ quan hành chính nhà nước quy định cụ thể việc bảo đảm cơ sở vật chất, kinh phí, trang thiết bị, phương tiện và các điều kiện cần thiết khác cho các tổ chức giám định ngoài tố tụng, trong đó cần quy định danh mục cơ sở vật chất, trang thiết bị, phương tiện giám định tối thiểu. Trên cơ sở đó, các Bộ, ngành chủ quản và Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh phải có trách nhiệm trang bị và bảo đảm cho các tổ chức này.
Ngoài các chế độ, chính sách mà pháp luật quy định, đối với đội ngũ giám định viên chuyên trách hưởng lương từ ngân sách nhà nước thì có chế độ ngạch bậc lương riêng, chế độ phụ cấp ưu đãi nghề, chế độ phụ cấp thâm niên và chế độ khác (nếu có); đối với tổ chức giám định ngoài công lập được hưởng chế độ ưu đãi về tín dụng, đất đai, thuế và các chính sách khác theo quy định của Chính phủ…
6. Tăng cường kiểm tra, giám sát hoạt động của Đoàn thanh tra, trong đó có hoạt động giám định trong quá trình thanh tra, xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm
Để nâng cao chất lượng các cuộc thanh tra mà trước hết là nâng cao chất lượng hoạt động giám định trong quá trình thanh tra, kết luận thanh tra thì việc tăng cường kỷ cương, kỷ luật trong hoạt động thanh tra, trong quá trình thanh tra là vấn đề thiết thực đang đặt ra. Trong Luật Thanh tra cũng đã quy định người ra quyết định phải thường xuyên chỉ đạo, kiểm tra Đoàn thanh tra nói chung và hoạt động giám định trong quá trình thanh tra nói riêng. Vì vậy, việc kiểm tra, đôn đốc, giám sát hoạt động của Trưởng Đoàn thanh tra, thành viên Đoàn thanh tra trong việc thực hiện nhiệm vụ được giao mà một trong những nhiệm vụ đó là hoạt động giám định trong quá trình thanh tra là việc làm hết sức cần thiết. Thường xuyên nắm bắt diễn biến, kết quả hoạt động giám định trong quá trình thanh tra, xử lý các tình huống phát sinh; kịp thời phát hiện hành vi tham nhũng, tiêu cực, lợi dụng quyền thanh tra để gây khó khăn, phiền hà cho đối tượng được thanh tra qua hoạt động giám định. Để tăng cường kỷ cương, kỷ luật trong hoạt động giám định trong quá trình thanh tra, cần có quy định phát huy tính tích cực, chủ động của Trưởng Đoàn thanh tra và các thành viên của Đoàn thanh tra trong việc kiến nghị người ra quyết định trưng cầu giám định, đồng thời hạn chế các hành vi tham nhũng, tiêu cực phát sinh.
7. Bố trí nguồn kinh phí đảm bảo cho hoạt động giám định trong quá trình thanh tra
Luật Thanh tra quy định người ra quyết định thanh tra có quyền trưng cầu giám định về vấn đề liên quan đến nội dung thanh tra; kinh phí trưng cầu giám định do cơ quan tiến hành thanh tra chi trả, trường hợp đối tượng thanh tra có sai phạm thì kinh phí giám định sẽ do đối tượng thanh tra chi trả, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác. Tuy nhiên, để thực hiện quyền này thì khó khăn gặp phải là vấn đề kinh phí bỏ ra ban đầu lấy từ đâu để giám định? Trên thực tế chi phí cho giám định thường rất lớn. Ví dụ, việc trưng cầu giám định chất lượng, công trình xây dựng sẽ đòi hỏi nhiều kinh phí và công sức, bao gồm: Giám định chất lượng, công trình xây dựng cần có không gian, thời gian và các chuyên đủ kiến thức và kinh nghiệm chuyên môn có liên quan. Người lãnh đạo bộ phận khảo sát phải là người thông hiểu các luật, các quy chuẩn về xây dựng, có trình độ chuyên môn cao để có thể đề ra nội dung khảo sát thích hợp. Đồng thời, có khả năng phân tích tìm ra nguyên nhân của việc vi phạm. Trong bộ phận khảo sát cần có mặt của các chuyên gia sử dụng các thiết bị thí nghiệm tại hiện trường cũng như việc thực hiện lấy mẫu và thí nghiệm trong phòng thí nghiệm. Ngoài chi phí chuyên gia thì chi phí khấu hao máy móc, phương tiện, thiết bị; chi phí vật tư tiêu hao; chi phí sử dụng dịch vụ thực nghiệm, xét nghiệm… đòi hỏi kinh phí rất lớn. Việc chi trả cho giám định theo quy định, trước hết phải lấy kinh phí từ cơ quan yêu cầu để chi trả. Đây là vấn đề khó cho cơ quan thanh tra hiện nay. Hơn nữa nếu trên cơ sở kết quả giám định mà sau này kết luận thanh tra xác định đối tượng thanh tra không làm sai thì cơ quan thanh tra sẽ phải chi trả toàn bộ các chi phí giám định đó, sau đó mới xem xét trách nhiệm của người yêu cầu giám định để quy trách nhiệm bồi thường vật chất của người đó cho cơ quan. Chính vì sự phức tạp và vướng mắc này mà đôi khi Đoàn thanh tra thường e dè, cân nhắc thận trọng khi kiến nghị người có thẩm quyền thực hiện trưng cầu giám định. Chình vì vậy, cần thiết phải có giải pháp để giải quyết vấn đề này, tạo điều kiện để Đoàn thanh tra hoàn thành tốt nhiệm vụ.
Thanh tra Chính phủ phối hợp Bộ Tài chính nghiên cứu bố trí nguồn kinh phí cho hoạt động giám định trong quá trình thanh tra hàng năm. Thanh tra Chính phủ cần chủ động xây dựng kế hoạch, dự kiến nguồn kinh phí cụ thể chi tiết nhất có thể cho việc giám định theo Kế hoạch thanh tra hàng năm; chi phí bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ giám định cho người tiến hành thanh tra; kinh phí xây dựng quy chế phối hợp giữa các cơ quan thanh tra với các cơ quan, tổ chức, đơn vị liên quan đến hoạt động giám định trong quá trình thanh tra…
Trước mắt, Thanh tra Chính phủ chủ động phối hợp với Bộ Tài chính nghiên cứu có cơ chế sử dụng nguồn kinh phí đã thu hồi được sau thanh tra. Nguồn kinh phí dự kiến chi cho hoạt động giám định trong quá trình thanh tra nằm ngoài nguồn kinh phí theo quy định tại Nghh phí theo quy định tại hanhngày 06/9/2023 của Ủcủa phí theo quy định tạ quy đphí theo quy định tại hanh tra nằm ngoài nguồn nh nghiên cứu có cơ chế sử dụng nguồn k qua thanh tra sau khi nộp vào ngân sách nhà nước.
Về lâu dài, kinh phí cho hoạt động giám định trong quá trình thanh tra cần có mục chi ngân sách riêng bảo đảm cho việc giám định trong hoạt động thanh tra và quy định cơ chế tài chính sử dụng chi phí giám định trong hoạt động thanh tra. Một cách tiếp cận khác là kinh phí cho hoạt động giám định trong quá trình thanh tra cần đưa vào và trở thành một mục trong quá trình xây dựng và hoàn thiện Quỹ bồi thường nhà nước có thể bao gồm trong đó cả những chi phí rủi ro này.
Mặt khác, nguồn kinh phí cho hoạt động giám định trong quá trình thanh tra được bảo đảm thì cũng góp phần tạo sức hấp dẫn cho cơ quan, tổ chức, cá nhân thực hiện việc giám định trong quá trình thanh tra, đặc biệt là tổ chức, cá nhân giám định ngoài khu vực nhà nước tham gia giám định. Bởi vì, lợi ích của các tổ chức, cá nhân thực hiện giám định được bảo đảm là nguyên nhân quan trọng của việc các cơ quan, tổ chức, cá nhân chuyên môn có năng lực và kinh nghiệm, chuyên gia giỏi tham gia thực hiện giám định trong hoạt động thanh tra./.
ThS. Lê Đức Trung
Trưởng phòng, Viện Chiến lược và Khoa học thanh tra
1. Giới thiệu
Trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, việc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa (XHCN) trở thành nhiệm vụ trọng tâm của Đảng Cộng sản Việt Nam và Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam. Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 09/11/2022 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII đã khẳng định yêu cầu tiếp tục hoàn thiện thể chế, nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của bộ máy nhà nước, trong đó thanh tra là công cụ then chốt để bảo đảm pháp luật được thực thi nghiêm minh, chống tham nhũng, lãng phí
Nghị quyết số 27-NQ/TW nhấn mạnh rằng việc xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng là nhiệm vụ trọng tâm của đổi mới hệ thống chính trị. Quá trình này phải được đặt trong tổng thể công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, nhằm phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, huy động sự tham gia của cả hệ thống chính trị với quyết tâm cao, nỗ lực lớn, hành động quyết liệt, kiên trì, hiệu quả, hướng tới mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.
Trong bối cảnh đó, hoạt động thanh tra đóng vai trò quan trọng trong việc bảo đảm pháp luật được thực thi nghiêm minh, phòng chống tham nhũng, lãng phí, góp phần xây dựng bộ máy nhà nước trong sạch, vững mạnh. Việc đổi mới tổ chức và hoạt động thanh tra không chỉ đáp ứng yêu cầu của Nghị quyết số 27-NQ/TW mà còn là yếu tố then chốt để nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước, tạo niềm tin cho Nhân dân và cộng đồng quốc tế về quyết tâm xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN của Việt Nam.
2. Cơ sở lý luận và thực tiễn
2.1. Vai trò của thanh tra trong Nhà nước pháp quyền XHCN
Trong Nhà nước pháp quyền XHCN, hoạt động thanh tra không chỉ là công cụ giám sát việc tuân thủ pháp luật mà còn góp phần nâng cao trách nhiệm của các cơ quan nhà nước, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người dân. Theo Điều 4 của Luật Thanh tra năm 2022, hoạt động thanh tra phải “tuân theo pháp luật, dân chủ, công khai, khách quan, kịp thời, chính xác”. Điều này nhấn mạnh tầm quan trọng của việc thực hiện thanh tra một cách minh bạch và công bằng, nhằm củng cố niềm tin của công chúng đối với hệ thống pháp luật và quản lý nhà nước.
Trong bối cảnh hiện nay, khi Việt Nam đang tích cực xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN, hoạt động thanh tra đóng vai trò then chốt trong việc bảo đảm thượng tôn pháp luật. Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 09/11/2022 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII đã nhấn mạnh yêu cầu “đổi mới mạnh mẽ phương thức quản lý, kiểm tra, giám sát” để thích ứng với những thách thức về tham nhũng, suy thoái tư tưởng. Việc đổi mới này nhằm tăng cường hiệu lực, hiệu quả của hoạt động thanh tra, đáp ứng yêu cầu của giai đoạn phát triển mới.
Hoạt động thanh tra còn góp phần bảo đảm trật tự, kỷ cương trong quản lý nhà nước, tăng cường pháp chế XHCN. Với chức năng giám sát hoạt động của các đối tượng bị quản lý, thanh tra giúp phát hiện và ngăn chặn kịp thời các hành vi vi phạm pháp luật, góp phần xây dựng bộ máy nhà nước trong sạch, vững mạnh. Ngoài ra, thanh tra còn đóng vai trò quan trọng trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, tổ chức, góp phần tạo môi trường xã hội công bằng, dân chủ và văn minh.
Trong quá trình hội nhập quốc tế, việc nâng cao vai trò của thanh tra càng trở nên cấp thiết. Thanh tra không chỉ giúp bảo đảm việc thực thi nghiêm minh pháp luật trong nước mà còn góp phần nâng cao uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế, tạo điều kiện thuận lợi cho hợp tác và phát triển. Do đó, việc tiếp tục đổi mới, hoàn thiện tổ chức và hoạt động của các cơ quan thanh tra là nhiệm vụ quan trọng, góp phần thực hiện thành công mục tiêu xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN trong giai đoạn mới.
2.2. Thực trạng tổ chức và hoạt động thanh tra tại Việt Nam
Hệ thống thanh tra tại Việt Nam hiện nay bao gồm Thanh tra Chính phủ, thanh tra các bộ, ngành và thanh tra tại địa phương (cấp tỉnh, cấp huyện). Tuy nhiên, trong quá trình hoạt động, hệ thống này đã bộc lộ một số hạn chế cần được khắc phục để nâng cao hiệu quả và hiệu lực.
Thứ nhất, chồng chéo chức năng giữa các cấp
Một trong những vấn đề nổi bật là sự chồng chéo chức năng giữa các cơ quan thanh tra ở các cấp khác nhau. Theo một số nghiên cứu, vị trí, vai trò và chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan thanh tra chưa phù hợp; tổ chức bộ máy còn thiếu tính hệ thống, chưa tạo ra sự chủ động, độc lập cần thiết để đảm bảo tính khách quan, kịp thời trong quá trình hoạt động; quyền hạn của các cơ quan thanh tra chưa tương xứng với nhiệm vụ được giao. Điều này dẫn đến việc thực hiện nhiệm vụ thanh tra chưa đạt hiệu quả cao, gây lãng phí nguồn lực và giảm hiệu quả quản lý nhà nước.
Thứ hai, thiếu nguồn lực chuyên môn
Bên cạnh đó, nguồn lực chuyên môn trong các cơ quan thanh tra còn hạn chế. Mặc dù đã có những nỗ lực trong việc đào tạo và nâng cao trình độ cán bộ thanh tra, nhưng thực tế cho thấy, nhiều cán bộ chưa đáp ứng được yêu cầu chuyên môn, đặc biệt trong các lĩnh vực phức tạp như tài chính, ngân hàng, đất đai. Việc thiếu hụt nguồn nhân lực chất lượng cao ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng và hiệu quả của hoạt động thanh tra.
Thứ ba, ứng dụng công nghệ còn chưa đạt yêu cầu
Việc ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động thanh tra còn chậm, chưa đáp ứng được yêu cầu của thời đại công nghệ số. Mặc dù đã có những bước tiến trong việc triển khai các hệ thống quản lý và xử lý thông tin, nhưng tỷ lệ ứng dụng thực tế còn thấp. Điều này dẫn đến việc quản lý, theo dõi và đánh giá hoạt động thanh tra chưa hiệu quả, gây khó khăn trong việc tổng hợp và phân tích dữ liệu để đưa ra các quyết định kịp thời và chính xác.
Những hạn chế trên đòi hỏi cần có sự đổi mới mạnh mẽ trong tổ chức và hoạt động của hệ thống thanh tra tại Việt Nam. Việc xác định rõ chức năng, nhiệm vụ của từng cấp thanh tra, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin là những giải pháp cần thiết để nâng cao hiệu quả hoạt động thanh tra, góp phần xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN trong giai đoạn hiện nay.
3. Yêu cầu đổi mới từ Nghị quyết số 27-NQ/TW
Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 9/11/2022 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam đã đề ra những định hướng chiến lược nhằm tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam trong giai đoạn mới. Trong đó, việc đổi mới tổ chức và hoạt động thanh tra được xác định là một trong những nhiệm vụ trọng tâm để nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước.
3.1. Tăng cường tính độc lập của cơ quan thanh tra
Nghị quyết nhấn mạnh việc xây dựng cơ chế đảm bảo các cơ quan thanh tra hoạt động khách quan, không bị chi phối bởi lợi ích cục bộ [12]. Điều này đòi hỏi phải xác định rõ vị trí, chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của các cơ quan thanh tra trong hệ thống chính trị, đảm bảo sự độc lập tương đối trong hoạt động nghiệp vụ. Luật Thanh tra năm 2022 cũng quy định rõ ràng về nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan thanh tra và thanh tra viên, nhằm đảm bảo tính khách quan, minh bạch trong hoạt động thanh tra.
3.2. Ứng dụng công nghệ số trong hoạt động thanh tra
Trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia, việc ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động thanh tra là yêu cầu cấp thiết. Nghị quyết 27-NQ/TW đề ra nhiệm vụ đẩy mạnh chuyển đổi số trong tiếp nhận, xử lý đơn thư và giám sát hoạt động thanh tra, nhằm nâng cao hiệu quả, giảm thiểu sai sót và tăng cường tính minh bạch. Luật Thanh tra năm 2022 cũng đã cập nhật các quy định liên quan đến việc ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động thanh tra, đáp ứng yêu cầu của thời đại công nghệ số.
3.3. Tăng cường phối hợp liên ngành
Nghị quyết cũng nhấn mạnh việc nâng cao hiệu quả phối hợp giữa các cơ quan thanh tra, kiểm toán, điều tra và viện kiểm sát. Sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan này sẽ giúp phát hiện và xử lý kịp thời các hành vi vi phạm pháp luật, đảm bảo tính thống nhất và hiệu quả trong hoạt động giám sát. Luật Thanh tra năm 2022 đã quy định cụ thể về trách nhiệm phối hợp giữa các cơ quan trong hoạt động thanh tra, tạo cơ sở pháp lý cho việc thực hiện nhiệm vụ này.
3.4. Tích hợp các tiêu chuẩn quốc tế về minh bạch
Một điểm mới đáng chú ý trong Nghị quyết 27-NQ/TW là việc tích hợp các tiêu chuẩn quốc tế về minh bạch, như Khuyến nghị của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD) về quản trị công vào quy trình thanh tra. Việc áp dụng các tiêu chuẩn này sẽ giúp nâng cao chất lượng và hiệu quả của hoạt động thanh tra, đồng thời tăng cường uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế.
Những yêu cầu đổi mới từ Nghị quyết số 27-NQ/TW đặt ra nhiệm vụ cấp thiết cho các cơ quan thanh tra trong việc nâng cao tính độc lập, ứng dụng công nghệ số, tăng cường phối hợp liên ngành và áp dụng các tiêu chuẩn quốc tế về minh bạch. Việc thực hiện hiệu quả những định hướng này sẽ góp phần quan trọng vào việc xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam trong giai đoạn mới [12].
4. Giải pháp đổi mới
4.1. Cơ cấu tổ chức linh hoạt
Để giảm thiểu sự chồng chéo và tăng cường hiệu quả, cần thí điểm mô hình thanh tra chuyên ngành tập trung, giảm bớt các cấp trung gian. Ví dụ, việc triển khai mô hình Thanh tra Đô thị thông minh tại Thành phố Hồ Chí Minh có thể giúp tăng cường hiệu quả quản lý đô thị, đồng thời giảm thiểu sự phức tạp trong cơ cấu tổ chức.
4.2 Số hóa quy trình
Việc ứng dụng công nghệ số trong hoạt động thanh tra là xu hướng tất yếu. Triển khai nền tảng “Thanh tra số” tích hợp trí tuệ nhân tạo (AI) có thể giúp dự báo rủi ro tham nhũng, nâng cao hiệu quả giám sát và phát hiện sớm các hành vi vi phạm. Kinh nghiệm từ Hàn Quốc cho thấy, việc áp dụng AI trong thanh tra giúp phân tích xu hướng và dự báo các khu vực có rủi ro cao, từ đó tập trung nguồn lực vào những lĩnh vực cần thiết.
4.3. Đào tạo nguồn nhân lực
Nâng cao năng lực cho đội ngũ cán bộ thanh tra là yếu tố then chốt. Xây dựng chương trình đào tạo liên kết với Học viện Hành chính Quốc gia và các tổ chức quốc tế như Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB) sẽ giúp cập nhật kiến thức mới, kỹ năng phân tích dữ liệu và ứng dụng công nghệ trong hoạt động thanh tra. Học viện Hành chính và Quản trị công (Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh) hiện đang thực hiện đào tạo 21 chương trình, bao gồm các chương trình liên kết quốc tế, tạo điều kiện cho cán bộ thanh tra nâng cao trình độ chuyên môn.
4.4. Hoàn thiện thể chế và chính sách
Cần tiếp tục hoàn thiện thể chế, chính sách liên quan đến hoạt động thanh tra để đảm bảo tính đồng bộ và hiệu quả. Việc rà soát, sửa đổi các văn bản pháp luật liên quan, như Nghị định số 61/2018/NĐ-CP, nhằm đáp ứng yêu cầu phân cấp và phân quyền mạnh mẽ hơn, tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động thanh tra ở các cấp.
4.5. Tăng cường minh bạch và trách nhiệm giải trình
Đẩy mạnh việc công khai, minh bạch trong hoạt động thanh tra, đồng thời tăng cường trách nhiệm giải trình của các cơ quan, tổ chức và cá nhân liên quan. Việc này không chỉ nâng cao hiệu quả phòng, chống tham nhũng mà còn củng cố niềm tin của người dân vào hệ thống thanh tra.
Những thách thức hiện tại đòi hỏi ngành thanh tra phải có những giải pháp đột phá, toàn diện. Việc cải cách cơ cấu tổ chức, ứng dụng công nghệ số, nâng cao năng lực cán bộ, hoàn thiện thể chế và tăng cường minh bạch là những bước đi cần thiết để nâng cao hiệu quả hoạt động thanh tra, góp phần xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam trong giai đoạn mới.
5. Kinh nghiệm quốc tế và bài học cho Việt Nam
5.1. Mô hình Ủy ban Chống tham nhũng độc lập (ICAC) của Hồng Kông
Hồng Kông (Trung Quốc) là một trong những điển hình thành công nhất trên thế giới về kiểm soát tham nhũng, với mô hình Ủy ban Chống tham nhũng Độc lập (ICAC – Independent Commission Against Corruption). Thành lập vào năm 1974, ICAC có ba chức năng chính: phòng ngừa tham nhũng, điều tra vi phạm và nâng cao nhận thức cộng đồng.
Một trong những yếu tố quan trọng giúp ICAC hoạt động hiệu quả là cơ chế bảo vệ người tố cáo. Chính quyền Hồng Kông đã ban hành các quy định nghiêm ngặt nhằm bảo vệ danh tính và quyền lợi của người tố cáo, tạo động lực để công dân mạnh dạn tham gia vào công tác phòng, chống tham nhũng. Việt Nam có thể học hỏi kinh nghiệm này bằng cách hoàn thiện Luật Tố cáo, tăng cường chế tài bảo vệ người tố giác tội phạm tham nhũng, đồng thời xây dựng hệ thống phản hồi nhanh cho các vụ tố cáo có bằng chứng xác thực.
Ngoài ra, ICAC còn thực hiện minh bạch hóa tài sản và thu nhập của quan chức nhà nước, yêu cầu công khai thông tin tài chính định kỳ để giám sát các dấu hiệu bất thường. Việt Nam có thể áp dụng biện pháp này bằng cách hoàn thiện hệ thống kê khai tài sản điện tử, kết nối với cơ sở dữ liệu quốc gia về tài chính công.
5.2. Mô hình tích hợp thanh tra vào quản trị số của Singapore
Singapore được đánh giá là quốc gia có nền quản trị minh bạch hàng đầu thế giới, với sự kết hợp chặt chẽ giữa công tác thanh tra và ứng dụng công nghệ số trong quản lý nhà nước. Chính phủ Singapore đã xây dựng nền tảng dữ liệu tập trung về thanh tra, khiếu nại và xử lý vi phạm, giúp kết nối và chia sẻ thông tin giữa các cơ quan như Cục Điều tra hành vi tham nhũng (CPIB – Corrupt Practices Investigation Bureau), Kiểm toán Nhà nước và các đơn vị thực thi pháp luật.
Một sáng kiến quan trọng của Singapore là hệ thống phân tích dữ liệu lớn (Big Data) kết hợp với trí tuệ nhân tạo (AI) để giám sát hoạt động của quan chức nhà nước, tự động phát hiện các dấu hiệu tham nhũng, gian lận tài chính hoặc xung đột lợi ích. Việc triển khai các công nghệ này giúp nâng cao tính chủ động trong thanh tra, giảm thiểu tình trạng phát hiện muộn các sai phạm và tăng hiệu quả trong công tác giám sát. Việt Nam có thể học hỏi kinh nghiệm này bằng cách triển khai nền tảng “Thanh tra số” theo mô hình AI, giúp dự báo và phát hiện sớm các nguy cơ vi phạm trong khu vực công.
Một yếu tố quan trọng khác là mô hình hợp tác công – tư (PPP) trong chuyển đổi số. Singapore đã hợp tác với các doanh nghiệp công nghệ để phát triển hệ thống giám sát minh bạch tài chính công, giúp kiểm soát chặt chẽ dòng tiền và hạn chế thất thoát ngân sách. Việt Nam có thể triển khai cơ chế này bằng cách hợp tác với các doanh nghiệp viễn thông, công nghệ để xây dựng nền tảng kiểm soát giao dịch tài chính công, đảm bảo mọi khoản chi tiêu của cơ quan nhà nước đều được giám sát theo thời gian thực.
5.3. Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
Từ các mô hình thành công trên thế giới, Việt Nam có thể rút ra một số bài học quan trọng trong công tác đổi mới thanh tra, cụ thể:
Một là, tăng cường tính độc lập và trách nhiệm giải trình của cơ quan thanh tra
Trong bối cảnh công tác thanh tra ngày càng giữ vai trò quan trọng trong việc bảo vệ tính liêm chính của bộ máy nhà nước, việc tăng cường tính độc lập và trách nhiệm giải trình của các cơ quan thanh tra là yêu cầu cấp thiết. Điều này đòi hỏi xây dựng một cơ chế hoạt động minh bạch, trong đó cơ quan thanh tra không chịu sự can thiệp của bất kỳ tổ chức, cá nhân nào nhằm bảo vệ tính khách quan, công bằng trong quá trình thanh tra, kiểm tra và xử lý sai phạm.
Một trong những giải pháp quan trọng là thiết lập và hoàn thiện cơ chế đảm bảo hoạt động của các cơ quan thanh tra không bị chi phối bởi lợi ích cục bộ hay áp lực chính trị, từ đó nâng cao hiệu quả phát hiện, phòng ngừa và xử lý hành vi tham nhũng, tiêu cực. Để làm được điều này, cần học hỏi mô hình của Ủy ban Độc lập chống tham nhũng Hồng Kông (ICAC), một cơ quan đã chứng minh được hiệu quả trong việc phòng, chống tham nhũng nhờ vào cơ chế hoạt động độc lập, có quyền hạn mạnh mẽ và được giám sát chặt chẽ bởi các thiết chế khác nhau nhằm đảm bảo tính minh bạch và công bằng.
Bên cạnh đó, việc hoàn thiện khung pháp lý cũng là một yếu tố quan trọng để bảo đảm hoạt động thanh tra đạt hiệu quả cao hơn. Trong đó, Luật Tố cáo cần được tiếp tục sửa đổi, bổ sung theo hướng đảm bảo quyền lợi và an toàn tuyệt đối cho người tố cáo tham nhũng. Việc bảo vệ danh tính và đảm bảo an toàn cho người tố cáo không chỉ giúp khuyến khích công dân tham gia vào công cuộc đấu tranh chống tham nhũng mà còn hạn chế tình trạng trả thù, trù dập, vốn là một trong những rào cản lớn đối với công tác tố giác tham nhũng hiện nay.
Tóm lại, việc nâng cao tính độc lập và trách nhiệm giải trình của cơ quan thanh tra không chỉ giúp hệ thống thanh tra hoạt động hiệu quả hơn mà còn góp phần củng cố niềm tin của nhân dân vào bộ máy nhà nước, tạo tiền đề quan trọng cho một nền quản trị minh bạch, liêm chính.
Hai là, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số trong công tác thanh tra
Trong bối cảnh cách mạng công nghiệp 4.0 đang diễn ra mạnh mẽ, việc ứng dụng công nghệ số vào công tác thanh tra là một xu thế tất yếu nhằm nâng cao hiệu quả giám sát, phát hiện và xử lý vi phạm trong quản lý nhà nước. Một trong những giải pháp quan trọng là triển khai hệ thống phân tích dữ liệu lớn (Big Data) và trí tuệ nhân tạo (AI) trong giám sát hoạt động của cán bộ, công chức, giúp phát hiện sớm các dấu hiệu bất thường liên quan đến tham nhũng, lạm dụng chức quyền. Các thuật toán AI có khả năng phân tích khối lượng dữ liệu khổng lồ từ giao dịch tài chính, kê khai tài sản, lịch sử công tác, đơn thư tố cáo và các nguồn thông tin khác để nhận diện những bất thường, từ đó đưa ra cảnh báo sớm cho cơ quan thanh tra.
Bên cạnh đó, việc xây dựng cổng thông tin điện tử tích hợp đóng vai trò quan trọng trong việc tạo điều kiện cho người dân tham gia giám sát và phản ánh các vi phạm trong quản lý nhà nước theo thời gian thực. Hệ thống này cần được thiết kế để đảm bảo tính bảo mật, thuận tiện, minh bạch, cho phép người dân gửi phản ánh kèm theo bằng chứng cụ thể (hình ảnh, video, tài liệu), đồng thời có cơ chế xử lý nhanh chóng, hiệu quả. Nhờ đó, cơ quan thanh tra có thể chủ động hơn trong việc tiếp nhận thông tin, phân tích và xử lý kịp thời các vụ việc có dấu hiệu sai phạm.
Ba là, minh bạch hóa tài chính công và tài sản của cán bộ nhà nước
Minh bạch hóa tài chính công và tài sản của cán bộ, công chức là một trong những biện pháp hữu hiệu để phòng, chống tham nhũng, tạo niềm tin trong xã hội. Một trong những giải pháp trọng tâm là hoàn thiện hệ thống kê khai tài sản điện tử, đảm bảo mọi giao dịch tài chính của quan chức cấp cao đều có thể kiểm soát và đối chiếu dữ liệu. Việc chuyển đổi từ hình thức kê khai giấy sang hệ thống điện tử giúp nâng cao tính chính xác, giảm thiểu gian lận và tạo điều kiện cho công tác thanh tra, kiểm tra được thực hiện hiệu quả hơn.
Song song với đó, cần xây dựng cơ chế giám sát độc lập bằng cách kết hợp các tổ chức xã hội, cơ quan báo chí và tổ chức nghiên cứu để theo dõi, phân tích dữ liệu tài chính và tài sản của quan chức. Cơ chế này không chỉ giúp nâng cao tính minh bạch mà còn tăng cường sự tham gia của công chúng trong việc giám sát hoạt động của bộ máy nhà nước. Một hệ thống kiểm tra chặt chẽ, có sự phối hợp giữa nhiều bên sẽ giúp hạn chế tình trạng “kê khai tài sản hình thức” và đảm bảo các quy định về minh bạch tài chính được thực thi nghiêm túc.
Bốn là, tăng cường phối hợp liên ngành và hợp tác quốc tế
Trong bối cảnh hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, công tác thanh tra không thể hoạt động đơn lẻ mà cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan trong nước cũng như hợp tác với các tổ chức quốc tế nhằm nâng cao hiệu quả giám sát, điều tra và xử lý vi phạm. Trước hết, cần thiết lập cơ chế kết nối dữ liệu giữa Thanh tra Chính phủ, Kiểm toán Nhà nước, Viện Kiểm sát Nhân dân tối cao và các cơ quan thực thi pháp luật để đảm bảo quá trình thanh tra – điều tra – xét xử được thống nhất và xuyên suốt. Việc chia sẻ dữ liệu giúp giảm thiểu sự trùng lặp trong công tác kiểm tra, thanh tra, đồng thời tăng cường khả năng phát hiện, xử lý kịp thời những hành vi vi phạm pháp luật.
Bên cạnh đó, việc mở rộng hợp tác với các tổ chức quốc tế như Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB), Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD), Chương trình Phát triển Liên hợp quốc (UNDP) là rất cần thiết nhằm cập nhật các tiêu chuẩn và phương pháp thanh tra hiện đại. Các tổ chức này không chỉ cung cấp nguồn lực tài chính, hỗ trợ kỹ thuật mà còn chia sẻ kinh nghiệm quốc tế về các mô hình chống tham nhũng, quản trị công tốt nhất. Học hỏi các kinh nghiệm thành công từ quốc tế sẽ giúp Việt Nam hoàn thiện thể chế, nâng cao năng lực của các cơ quan thanh tra và đảm bảo hiệu quả thực thi pháp luật trong bối cảnh mới.
Tóm lại, việc đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số, minh bạch hóa tài chính, tài sản và tăng cường phối hợp trong nước cũng như hợp tác quốc tế là những giải pháp quan trọng để nâng cao hiệu quả công tác thanh tra, góp phần xây dựng một nền quản trị công minh bạch, liêm chính và hiệu quả.
5.4. Kết luận
Những bài học từ Hồng Kông và Singapore cho thấy rằng cải cách thanh tra không thể chỉ dựa vào việc tăng cường kiểm soát, mà cần phải kết hợp giữa đổi mới thể chế, ứng dụng công nghệ số và tăng cường trách nhiệm giải trình.
Việt Nam cần có một chiến lược tổng thể nhằm cải cách hệ thống thanh tra theo ba hướng chính:
(i) Củng cố cơ chế giám sát độc lập, nâng cao trách nhiệm giải trình, bảo vệ người tố cáo và xây dựng hệ thống kê khai tài sản minh bạch.
(ii) Ứng dụng mạnh mẽ công nghệ số, triển khai nền tảng “Thanh tra số”, tích hợp AI và Big Data để phát hiện sớm các sai phạm, giảm thiểu nguy cơ tham nhũng.
(iii) Phối hợp liên ngành chặt chẽ, kết nối dữ liệu thanh tra – kiểm toán – tư pháp và mở rộng hợp tác quốc tế để tiếp cận các tiêu chuẩn quản trị công hiện đại.
Bằng cách áp dụng những bài học kinh nghiệm quốc tế một cách linh hoạt và phù hợp với điều kiện chính trị – kinh tế – xã hội của Việt Nam, công tác thanh tra sẽ ngày càng minh bạch, hiệu quả hơn, góp phần quan trọng vào việc xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN vững mạnh, liêm chính và phát triển bền vững.
6. Kết luận và kiến nghị
Trong bối cảnh cải cách hành chính và xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN, đổi mới tổ chức và hoạt động thanh tra không chỉ là yêu cầu tất yếu mà còn là nhiệm vụ sống còn để hiện thực hóa tầm nhìn của Nghị quyết số 27-NQ/TW. Hệ thống thanh tra cần phát huy vai trò nòng cốt trong việc bảo đảm kỷ luật, kỷ cương, đấu tranh chống tham nhũng, tiêu cực, đồng thời đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế và ứng dụng khoa học công nghệ vào quản trị nhà nước. Tuy nhiên, để đạt được những mục tiêu này, cần triển khai đồng bộ một số giải pháp trọng yếu:
Thứ nhất, hoàn thiện khung pháp lý về thanh tra và giám sát
Luật Thanh tra năm 2022 đã có nhiều sửa đổi nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động thanh tra, nhưng vẫn còn những khoảng trống cần tiếp tục được điều chỉnh. Để đảm bảo tính độc lập và khách quan, cần sửa đổi theo hướng tăng cường quyền tự chủ của các cơ quan thanh tra. Đồng thời, cần bổ sung các quy định cụ thể về xử lý vi phạm trong hoạt động thanh tra, chế tài đối với hành vi cản trở, can thiệp bất hợp pháp vào quá trình thanh tra.
Thứ hai, đầu tư mạnh mẽ vào ứng dụng công nghệ số trong thanh tra
Trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp 4.0, việc hiện đại hóa hoạt động thanh tra thông qua chuyển đổi số là xu thế tất yếu. Cần xây dựng hệ thống giám sát thời gian thực, kết nối với Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, dữ liệu tài chính và các nền tảng quản lý hành chính công để nâng cao khả năng phát hiện sai phạm. Học tập kinh nghiệm từ Singapore và Hàn Quốc, Việt Nam có thể triển khai nền tảng “Thanh tra số” tích hợp trí tuệ nhân tạo (AI) để phân tích dữ liệu lớn, dự báo rủi ro tham nhũng và tự động hóa quy trình giám sát. Việc ứng dụng công nghệ không chỉ giúp tăng tốc độ xử lý thông tin mà còn giảm thiểu sự can thiệp của con người, qua đó nâng cao tính khách quan và minh bạch trong hoạt động thanh tra.
Thứ ba, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ thanh tra gắn với tiêu chuẩn đạo đức công vụ
Đạo đức nghề nghiệp của cán bộ thanh tra có vai trò quyết định đến hiệu quả hoạt động giám sát và thực thi pháp luật. Cần thiết lập cơ chế đánh giá cán bộ dựa trên hiệu quả công việc và phản hồi từ người dân, qua đó tạo động lực thúc đẩy tính liêm chính, trách nhiệm và chuyên môn. Đồng thời, hệ thống thanh tra cần đẩy mạnh đào tạo chuyên sâu về kỹ năng điều tra tài chính, phân tích dữ liệu và quản trị rủi ro để thích ứng với các phương thức vi phạm ngày càng tinh vi. Hợp tác với các tổ chức quốc tế như OECD, UNDP, Ngân hàng Thế giới để học tập kinh nghiệm và nâng cao năng lực thanh tra cũng là một trong những hướng đi cần ưu tiên.
Tóm lại, đổi mới tổ chức và hoạt động thanh tra không chỉ là yêu cầu cấp bách mà còn là yếu tố quyết định để nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước, bảo đảm pháp quyền, tăng cường minh bạch và trách nhiệm giải trình. Việc hoàn thiện pháp luật, ứng dụng công nghệ và nâng cao chất lượng nhân lực sẽ là những giải pháp đột phá giúp hệ thống thanh tra đáp ứng yêu cầu của thời kỳ mới, góp phần xây dựng một nền hành chính công khai, minh bạch và phục vụ lợi ích của nhân dân.
Lê Văn Hùng
Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh
1. Nội dung cơ bản của Quy định số 178-QĐ/TW ngày 27/6/2024 của Bộ Chính trị về kiểm soát quyền lực, phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trong công tác xây dựng pháp luật
Ngày 27/6/2024, Bộ Chính trị đã ban hành Quy định số 178-QĐ/TW về kiểm soát quyền lực, phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trong công tác xây dựng pháp luật. Quy định này áp dụng đối với cấp uỷ, tổ chức đảng, đảng viên, cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền trong công tác xây dựng pháp luật và tổ chức, cá nhân khác có liên quan. Quy định này gồm 04 Chương, 18 Điều có hiệu lực kể từ 27/6/2024. Một số nội dung cơ bản của Quy định như sau:
Công tác xây dựng pháp luật là hoạt động của cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền trong việc đề nghị, kiến nghị xây dựng pháp luật, lập, thông qua, điều chỉnh chương trình xây dựng pháp luật, soạn thảo, lấy ý kiến, trình, tham gia góp ý, phản biện xã hội, thẩm định, thẩm tra, tiếp thu, chỉnh lý, ban hành văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL).
Kiểm soát quyền lực trong công tác xây dựng pháp luật là việc sử dụng cơ chế, biện pháp nhằm bảo đảm cấp ủy, tổ chức đảng, đảng viên và cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền trong công tác xây dựng pháp luật thực hiện nghiêm nhiệm vụ, quyền hạn được giao trong công tác xây dựng pháp luật; phòng ngừa, ngăn chặn, phát hiện, xử lý hành vi vi phạm quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước, nhất là hành vi tham nhũng, tiêu cực, lợi ích nhóm, cục bộ trong công tác xây dựng pháp luật.
Về các hành vi tham nhũng trong công tác xây dựng pháp luật, Điều 5 quy định: (i) Cố ý chủ trì ban hành hoặc tham mưu ban hành VBQPPL có nội dung thể hiện lợi ích nhóm, cục bộ; cố ý trì hoãn việc đình chỉ, bãi bỏ, thay thế, sửa đổi, bổ sung, ban hành mới VBQPPL vì mục đích lợi ích nhóm, cục bộ; (2) Nhận tiền, tài sản, lợi ích vật chất hoặc các lợi ích khác dưới mọi hình thức để ban hành hoặc tác động đến cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền trong công tác xây dựng pháp luật nhằm ban hành VBQPPL có nội dung thể hiện lợi ích nhóm, cục bộ; (3) Đưa hối lộ, môi giới hối lộ cho người có thẩm quyền trong công tác xây dựng pháp luật; (4) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn được giao trong công tác xây dựng pháp luật để định hướng truyền thông không bảo đảm khách quan và không đúng sự thật về nội dung chính sách trong công tác xây dựng pháp luật vì vụ lợi; (5) Lạm quyền, câu kết với doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân khác để trục lợi trong công tác xây dựng pháp luật.
Về các hành vi tiêu cực trong công tác xây dựng pháp luật, Điều 6 quy định: (1) Cố ý không chấp hành nguyên tắc, thẩm quyền, trình tự, thủ tục trong công tác xây dựng pháp luật hoặc cố ý che giấu, báo cáo không trung thực với cơ quan có thẩm quyền về tình hình thực tiễn, về nội dung ý kiến góp ý của cơ quan, tổ chức, cá nhân hoặc cố ý đưa những nội dung mới vào dự thảo văn bản khác với những chính sách hoặc nội dung đã được cấp có thẩm quyền thông qua mà không báo cáo cấp lãnh đạo có thẩm quyền dẫn đến VBQPPL không bảo đảm tính hợp hiến, tính hợp pháp hoặc tính thống nhất với hệ thống pháp luật hoặc có nhiều sơ hở và bị lợi dụng gây ra thiệt hại cho Nhà nước, tổ chức, cá nhân; (2) Thiếu trách nhiệm, buông lỏng lãnh đạo, quản lý trong công tác xây dựng pháp luật; bao che, cố ý không báo cáo, không xử lý các hành vi tham nhũng, tiêu cực, lợi ích nhóm, cục bộ trong cơ quan, tổ chức, địa phương do mình trực tiếp quản lý trong công tác xây dựng pháp luật; (3) Sử dụng trái quy định tài chính, tài sản công, tài sản của tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân đóng góp, tài trợ, viện trợ trong công tác xây dựng pháp luật; (4) Móc nối, câu kết với các thế lực thù địch, phản động và các phần tử cơ hội, bất mãn chính trị nhằm tuyên truyền tư tưởng, quan điểm trái với chủ trương, quy định của Đảng trong công tác xây dựng pháp luật; thu thập, chuyển giao cho nước ngoài hoặc tổ chức, cá nhân khác trái quy định của pháp luật các thông tin, tài liệu liên quan đến công tác xây dựng pháp luật; lợi dụng việc phản ánh, góp ý kiến, phản biện xã hội trong công tác xây dựng pháp luật để chống phá Đảng và Nhà nước.
Về nguyên tắc kiểm soát quyền lực, phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trong công tác xây dựng pháp luật: (1) Bảo đảm sự lãnh đạo, chỉ đạo, tập trung, thống nhất, chặt chẽ, toàn diện của Đảng trong kiểm soát quyền lực, phòng, chống tham nhũng tiêu cực, lợi ích nhóm, cục bộ trong công tác xây dựng pháp luật; (2) Kết hợp đồng bộ, chặt chẽ các cơ chế, biện pháp kiểm soát quyền lực, phòng, chống tham nhũng tiêu cực, lợi ích nhóm, cục bộ trong công tác xây dựng pháp luật, chủ động phòng ngừa là chính; kịp thời phát hiện ngăn chặn và xử lý nghiêm minh các hành vi lợi dụng, lạm dụng chức vụ, quyền hạn, tham nhũng, tiêu cực trong công tác xây dựng pháp luật; bảo vệ đảng viên, cán bộ, công chức, viên chức năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung; (3) Đề cao trách nhiệm nêu gương của người đứng đầu cấp ủy, tổ chức đảng, cơ quan, tổ chức, trách nhiệm của đảng viên, cán bộ, công chức, viên chức trong phòng, chống tham nhũng tiêu cực, lợi ích nhóm, cục bộ trong công tác xây dựng pháp luật; (4) Bảo đảm thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền trong công tác xây dựng pháp luật; không làm cản trở sự chủ động, sáng tạo, công khai, minh bạch, dân chủ, kịp thời, đồng bộ, thống nhất, khả thi trong công tác xây dựng pháp luật; (5) Bảo đảm sự giám sát, phản biện, tham gia xây dựng pháp luật của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận, cơ quan báo chí, tổ chức xã hội khác và nhân dân theo quy định.
Về phương thức kiểm soát quyền lực trong công tác xây dựng pháp luật, Khoản 1 Điều 4 Quy định số 178-QĐ/TW quy định kiểm soát được thực hiện thông qua các hoạt động sau: (1) Hoạt động lãnh đạo, chỉ đạo, kiểm tra, giám sát, kỷ luật của Đảng trong công tác xây dựng pháp luật; (2) Kiểm soát quyền lực giữa các cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền thông qua việc thực hiện các quy trình, thủ tục trong công tác xây dựng pháp luật; (3) Giám sát VBQPPL của Quốc hội, hội đồng nhân dân các cấp; Kiểm tra VBQPPL của Chính phủ, bộ, cơ quan ngang bộ, hội đồng nhân dân, uỷ ban nhân dân; (4) Thanh tra, kiểm tra nội bộ của các cơ quan nhà nưóc có thẩm quyền trong công tác xây dựng pháp luật; (5) Giám sát, phản biện xã hội, tham gia xây dựng pháp luật của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận, tổ chức xã hội khác, cơ quan báo chí và Nhân dân; (6) Hoạt động xử lý hành vi vi phạm pháp luật trong công tác xây dựng pháp luật của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
Về biện pháp phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, lợi ích nhóm, cục bộ trong công tác xây dựng pháp luật, bao gồm: (1) Thực hiện các hoạt động kiểm soát quyền lực trong công tác xây dựng pháp luật quy định tại Khoản 1, Điều 4 Quy định số 178-QĐ/TW; (2) Hoàn thiện hệ thống pháp luật về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, lợi ích nhóm, cục bộ, bảo đảm đầy đủ, đồng bộ, thống nhất, khả thi. Thường xuyên giám sát, kiểm tra công tác xây dựng pháp luật, rà soát, hệ thống hoá VBQPPL để phòng ngừa, phát hiện, xử lý hành vi tham nhũng, tiêu cực, lợi ích nhóm, cục bộ trong công tác xây dựng pháp luật và kịp thời ban hành, sửa đổi, bổ sung hoặc kiến nghị ban hành, sửa đổi, bổ sung VBQPPL; tiếp tục hoàn thiện Luật Ban hành VBQPPL và các quy định có liên quan; cụ thể hoá về đối tượng, phương thức tham gia phản biện, góp ý kiến xây dựng pháp luật; (3) Thông tin, tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức, trách nhiệm cho đảng viên, cán bộ, công chức, viên chức và Nhân dân trong phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, lợi ích nhóm, cục bộ trong công tác xây dựng pháp luật; (4) Thực hiện công khai, minh bạch trong tổ chức, hoạt động của cơ quan, tổ chức; trách nhiệm giải trình; kiểm soát xung đột lợi ích; thực hiện quy tắc ứng xử; ứng dụng khoa học – công nghệ và các biện pháp phòng ngừa tham nhũng khác trong cơ quan, tổ chức theo quy định của Đảng và quy định của pháp luật về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực; (5) Căn cứ vào tính chất, mức độ vi phạm, xử lý hành vi tham nhũng, tiêu cực, lợi ích nhóm, cục bộ trong công tác xây dựng pháp luật bằng các biện pháp kỷ luật đảng, kỷ luật hành chính, xử lý vi phạm hành chính, xử lý hình sự theo quy định của Đảng và pháp luật của Nhà nước; (6) Đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức làm công tác xây dựng pháp luật; xây dựng tổ chức bộ máy, bố trí kinh phí phù hợp cho công tác xây dựng pháp luật.
Về xử lý vi phạm, tổ chức, cá nhân có hành vi vi phạm phải bị xử lý nghiêm minh theo quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước và quy định của cơ quan, tổ chức, đơn vị. Trường hợp đã xử lý kỷ luật, nhưng xét thấy cần thiết thì cấp có thẩm quyền phải kiên quyết điều chuyển người vi phạm khỏi vị trí công tác đang đảm nhiệm, thay thế, cho thôi giữ chức, miễn nhiệm, từ chức, không bố trí công tác liên quan đến hoạt động xây dựng pháp luật. Đối với việc xử lý trách nhiệm khi để xảy ra hành vi vi phạm tham nhũng, tiêu cực trong công tác xây dựng pháp luật, Quy định đã phân biệt rõ việc xử lý đối với tổ chức và đối với lãnh đạo cấp ủy, tổ chức đảng, cơ quan, tổ chức, đơn vị khi để xảy ra hành vi vi phạm tham nhũng, tiêu cực trong công tác xây dựng pháp luật, trường hợp loại trừ trách nhiệm, miễn hoặc giảm trách nhiệm đối với lãnh đạo cấp ủy, tổ chức đảng, cơ quan, tổ chức, đơn vị.
2. Trách nhiệm của Viện Chiến lược và Khoa học thanh tra thực hiện quy định về kiểm soát quyền lực, phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trong công tác xây dựng pháp luật
Thực hiện Quy định số 178-QĐ/TW ngày 27/6/2024 của Bộ Chính trị về kiểm soát quyền lực, phòng chống tham nhũng, tiêu cực trong công tác xây dựng pháp luật, ngày 20/8/2024, Ban Cán sự Đảng Thanh tra Chính phủ đã ban hành Kế hoạch số 35-KH/BCSĐ để quán triệt và tổ chức thực hiện nghiêm túc, đầy đủ, chất lượng, có hiệu quả các nội dung, yêu cầu, nhiệm vụ được nêu tại Quy định này. Từ đó, nhằm tạo sự chuyển biến đồng bộ, nâng cao nhận thức, quyết tâm chính trị, trách nhiệm của đảng viên, công chức, viên chức Thanh tra Chính phủ trong công tác xây dựng pháp luật. Các vụ, cục, đơn vị quán triệt và triển khai thực hiện Quy định số 178-QĐ/TW, tập trung các nội dung có liên quan trực tiếp đến chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình, nhất là những đơn vị được giao soạn thảo, góp ý, thẩm định, kiểm tra, rà soát VBQPPL.
Viện Chiến lược và Khoa học thanh tra (Viện CL&KHTT) là đơn vị sự nghiệp công lập thuộc Thanh tra Chính phủ, có chức năng nghiên cứu và xây dựng chiến lược, chính sách; nghiên cứu khoa học và quản lý hoạt động khoa học của Thanh tra Chính phủ trong các lĩnh vực thanh tra, tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo và phòng, chống tham nhũng, tiêu cực phục vụ chức năng quản lý nhà nước của Thanh tra Chính phủ. Thời gian qua, Viện CL&KHTT đã thực hiện nhiều nhiệm vụ chuyên môn theo Kế hoạch và đột xuất; trong đó, có một số nhiệm vụ quan trọng, nội dung phức tạp, như chủ trì, phối hợp xây dựng các văn bản pháp luật: Quyết định số 2213/QĐ-TTg ngày 8/12/2015 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành Chiến lược phát triển ngành Thanh tra đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030; Nghị định số 90/2013/NĐ-CP ngày 08/8/2013 của Chính phủ quy định trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước trong việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn được giao; Thông tư 02/2014/TT-TTCP ngày 29/4/2014 của Thanh tra Chính phủ quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành một số điều của Nghị định số 90/2013/NĐ-CP ngày 08/8/2013 của Chính phủ quy định trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước trong việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn được giao; Thông tư số 07/2013/TT-TTCP ngày 31/10/2013 của Thanh tra Chính phủ quy định quy trình giải quyết khiếu nại hành chính… Ngoài ra, Viện CL&KHTT cũng tham gia góp ý nhiều dự thảo VBQPPL khi được gửi lấy ý kiến. Như vậy, liên quan trực tiếp đến chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định, Viện CL&KHTT có trách nhiệm triển khai thực hiện Quy định 178-QĐ/TW và Kế hoạch 35-KH/BCSĐ ở 02 góc độ:
(1) Thực hiện nhiệm vụ được giao chủ trì, phối hợp với các cục, vụ, đơn vị liên quan trong xây dựng VBQPPL.
(2) Thực hiện nghiên cứu, cung cấp cơ sở khoa học nhằm hoàn thiện pháp luật về kiểm soát quyền lực, phòng chống tham nhũng, tiêu cực trong công tác xây dựng pháp luật.
2.1. Trách nhiệm trong thực hiện nhiệm vụ được giao chủ trì, phối hợp xây dựng VBQPPL
2.1.1. Trách nhiệm của cấp ủy và người đứng đầu cấp ủy
Một là, lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện nghiêm túc các nguyên tắc, quy định về công tác xây dựng pháp luật; bảo đảm sự phối hợp chặt chẽ giữa các cấp ủy, tổ chức đảng của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền trong công tác xây dựng pháp luật; lãnh đạo, chỉ đạo thể chế hoá kịp thời, chính xác, đầy đủ chủ trương, quy định của Đảng thành pháp luật của Nhà nước.
Hai là, báo cáo kịp thời, đầy đủ, trung thực những nội dung quan trọng, những vấn đề lớn còn có ý kiến khác nhau của dự thảo VBQPPL và đề xuất hướng xử lý; tham mưu việc báo cáo, xin ý kiến các cơ quan có thẩm quyền của Đảng về những vấn đề lớn của dự thảo VBQPPL theo quy định tại Điều 14 của Quy định số 178-QĐ/TW.
Ba là, lãnh đạo thực hiện các biện pháp phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, lợi ích nhóm, cục bộ trong công tác xây dựng pháp luật. Thường xuyên tự kiểm tra, kịp thời phát hiện, báo cáo hành vi tham nhũng, tiêu cực, lợi ích nhóm cục bộ, trong công tác xây dựng pháp luật; đồng thời, tham mưu lãnh đạo Thanh tra Chính phủ đề nghị cơ quan, người có thẩm quyền đình chỉ việc thi hành, sửa đổi, bổ sung hoặc bãi bỏ một phần hoặc toàn bộ văn bản; kiến nghị cơ quan có thẩm quyền xử lý cơ quan, tổ chức, cá nhân có hành vi vi phạm pháp luật, tham nhũng, tiêu cực trong công tác xây dựng pháp luật.
Bốn là, thực hiện trách nhiệm nêu gương của người đứng đầu trong công tác xây dựng pháp luật theo quy định của Đảng; chịu trách nhiệm trước cấp ủy cấp trên về việc lãnh đạo cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền bảo đảm tiến độ, chất lượng, tuân thủ trình tự, thủ tục trong công tác xây dựng pháp luật; chịu trách nhiệm khi để xảy ra tham nhũng, tiêu cực, lợi ích nhóm, cục bộ trong công tác xây dựng pháp luật.
2.1.2. Trách nhiệm của tổ chức và người đứng đầu tổ chức
Một là, đề cao trách nhiệm người đứng đầu tổ chức trong lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện nghiêm các quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước trong công tác xây dựng pháp luật.
Hai là, bảo đảm văn bản pháp luật được xây dựng đúng thẩm quyền, bảo đảm tiến độ, chất lượng, tuân thủ trình tự, thủ tục theo quy định pháp luật; bảo đảm tính chính xác, khách quan, minh bạch trong quá trình xây dựng dự thảo VBQPPL.
Ba là, báo cáo kịp thời, đầy đủ, trung thực với cấp ủy, tổ chức đảng, lãnh đạo Thanh tra Chính phủ đối với những nội dung quan trọng, những vấn đề lớn còn có ý kiến khác nhau của dự thảo VBQPPL và phương án, quan điểm xử lý.
Bốn là, tổ chức thực hiện các biện pháp phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, lợi ích nhóm, cục bộ trong công tác xây dựng pháp luật. Xử lý các trường hợp xung đột lợi ích trong công tác xây dựng pháp luật theo quy định. Kịp thời phát hiện, nhắc nhở, chấn chỉnh, báo cáo và xử lý nghiêm hành vi tham nhũng, tiêu cực, lợi ích nhóm, cục bộ trong công tác xây dựng pháp luật.
Năm là, chịu trách nhiệm về nội dung và thời hạn tham gia góp ý dự thảo VBQPPL khi được đề nghị tham gia góp ý kiến.
Sáu là, người đứng đầu tổ chức chịu trách nhiệm trực tiếp khi để xảy ra hành vi tham nhũng, tiêu cực, lợi ích nhóm, cục bộ trong công tác xây dựng pháp luật của người do mình trực tiếp quản lý, giao nhiệm vụ; chịu trách nhiệm liên đới trong trường hợp đã giao cấp phó của mình chịu trách nhiệm trực tiếp phụ trách công tác xây dựng pháp luật. Trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, người đứng đầu chịu trách nhiệm về việc không hoàn thành nhiệm vụ của cơ quan, tổ chức theo quy định pháp luật.
2.1.3. Trách nhiệm của đảng viên, viên chức
Một là, thực hiện đầy đủ, nghiêm túc các nguyên tắc, quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước đối với nhiệm vụ, quyền hạn được giao trong công tác xây dựng pháp luật.
Hai là, nắm vững chủ trương, quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước, điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên, tình hình thực tiễn về các vấn đề có liên quan đến chính sách mà mình tham mưu, đề xuất. Bảo đảm khách quan, minh bạch, công tâm, kịp thời, chính xác, thận trọng, chặt chẽ trong tham mưu, đề xuất về công tác xây dựng pháp luật.
Ba là, chịu trách nhiệm về nội dung tham mưu, đề xuất và được bảo lưu ý kiến trong công tác xây dựng pháp luật
Bốn là, kịp thời báo cáo lãnh đạo xử lý trong trường hợp còn ý kiến khác nhau và biết có xung đột lợi ích khi thực hiện nhiệm vụ trong công tác xây dựng pháp luật.
Năm là, kịp thời báo cáo cấp có thẩm quyền xử lý khi phát hiện có dấu hiệu tham nhũng, tiêu cực, lợi ích nhóm, cục bộ trong công tác xây dựng pháp luật.
Sáu là, có trách nhiệm phát hiện, lắng nghe ý kiến của Nhân dân, phản ánh, kiến nghị, tố giác, tố cáo, cung cấp thông tin, tài liệu cho cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền về hành vi tham nhũng, tiêu cực, lợi ích nhóm, cục bộ trong công tác xây dựng pháp luật, hành vi bao che, tiếp tay cho hành vi tham nhũng, tiêu cực, lợi ích nhóm, cục bộ trong công tác xây dựng pháp luật. Không được xuyên tạc, vu khống, bịa đặt, cố ý phản ánh, tố cáo, cung cấp thông tin không đúng sự thật cho cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền.
2.2. Trách nhiệm thực hiện nghiên cứu, cung cấp cơ sở khoa học nhằm hoàn thiện pháp luật về kiểm soát quyền lực, phòng chống tham nhũng, tiêu cực trong công tác xây dựng pháp luật
Một là, tiếp tục nghiên cứu làm rõ những vấn đề lý luận cơ bản về hoạt động xây dựng pháp luật; nguy cơ, biểu hiện của tham nhũng, tiêu cực, lợi ích nhóm, cục bộ trong công tác xây dựng pháp luật; quyền lực trong công tác xây dựng pháp luật; trách nhiệm, nội dung và phương thức kiểm soát quyền lực trong công tác xây dựng pháp luật.
Hai là, tiếp tục nghiên cứu, phân tích, bình luận, đánh giá về thực trạng tham nhũng, tiêu cực, lợi ích nhóm, cục bộ trong công tác xây dựng pháp luật, nhất là biểu hiện thông qua từng giai đoạn cụ thể của quá trình xây dựng pháp luật; và thực tiễn kiểm soát quyền lực, phòng chống tham nhũng, tiêu cực trong công tác đó.
Ba là, tiếp tục nghiên cứu cụ thể hóa các quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam về kiểm soát quyền lực, phòng chống tham nhũng, tiêu cực trong xây dựng chính sách – pháp luật; nghiên cứu chuyên sâu về các nhóm giải pháp chuyên biệt thực hiện nhiệm vụ trọng tâm hàng đầu trong tiến trình xây dựng và hoàn thiện NNPQ là: “Hoàn thiện hệ thống pháp luật và cơ chế tổ chức thực hiện pháp luật nghiêm minh, nhất quán; bảo đảm thượng tôn Hiến pháp và pháp luật; nâng cao chất lượng nguồn nhân lực pháp luật. Hoàn thiện cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước, đẩy mạnh PCTN, tiêu cực…” theo tinh thần của Nghị quyết số 27-NQ/TW, ngày 09/11/2022 của Ban Chấp hành TW Đảng Khóa VIII về “Tiếp tục xây dựng và hoàn thiện NNPQ XHCN Việt Nam trong giai đoạn mới”.
Bốn là, tiếp tục nghiên cứu những nhóm nhiệm vụ – giải pháp quan trọng về hoàn thiện khung thể chế về xây dựng, ban hành chính sách, pháp luật tại Nghị quyết số 168/NQ-CP của Chính phủ ngày 11/10/2023 về việc ban hành Chiến lược Quốc gia PCTN, tiêu cực đến năm 2030 hướng tới mục tiêu: Khắc phục những sơ hở, bất cập trong chính sách, pháp luật trên các lĩnh vực kinh tế – xã hội, nhất là những lĩnh vực dễ phát sinh tham nhũng, tiêu cực như tổ chức cán bộ; quản lý tài chính, ngân sách, tài sản công, quản lý vốn nhà nước đầu tư vào doanh nghiệp, đầu tư, xây dựng, đấu thầu, đấu giá; đất đai, tài nguyên, khoáng sản; tín dụng, ngân hàng; thuế, hải quan và các lĩnh vực khác liên quan trực tiếp đến người dân, doanh nghiệp…
Năm là, tiếp tục nghiên cứu các giải pháp tổ chức thực hiện tăng cường kiểm soát quyền lực trong hoạt động xây dựng pháp luật; nâng cao năng lực của cơ quan và cán bộ, công chức làm công tác chuyên trách về PCTN và xây dựng chính sách, pháp luật; phát huy vai trò của các chủ thể xã hội trong PCTN trong xây dựng chính sách, pháp luật…./.
TS. Tạ Thu Thủy
Phó Trưởng phòng Nghiên cứu và Hợp tác phát triển,
Viện Chiến lược và Khoa học thanh tra
Xây dựng và hoàn thiện thể chế luôn được Đảng và Nhà nước Việt Nam xác định là nhiệm vụ trọng tâm, là một trong ba đột phá chiến lược được Đại hội Đảng toàn quốc lần thư XIII đề ra. Công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, lợi ích nhóm, lợi ích cục bộ trong xây dựng pháp luật luôn được đề cao. Qua đó, công tác xây dựng pháp luật trong những năm qua ở Việt Nam được tăng cường và đạt được nhiều kết quả quan trọng, hệ thống pháp luật không ngừng được hoàn thiện, cơ bản bảo đảm thống nhất, khả thi, điều chỉnh hầu hết mọi lĩnh vực của đời sống xã hội; qua đó tạo lập môi trường pháp lý đầy đủ, an toàn, thuận lợi cho sự nghiệp phát triển kinh tế, xã hội.
Chính sách, pháp luật về kiểm soát quyền lực để phòng, chống tham nhũng, tiêu cực (PCTN, TC) trong công tác xây dựng pháp luật được hoàn thiện tương đối đầy đủ, đồng bộ từ khâu lập chương trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL) đến thông qua VBQPPL với sự tham gia của rất nhiều các chủ thể khác nhau như kiểm soát quyền lực từ bên ngoài (lấy ý kiến của nhân dân, đối tượng chịu sự tác động của VBQPPL, giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên); kiểm soát quyền lực giữa các cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền (hoạt động thẩm định, góp ý, thẩm tra, tiếp thu, chỉnh lý, thông qua VBQPPL); kiểm soát quyền lực giữa cấp trên với cấp dưới, kiểm tra, giám sát của Đảng với cơ quan, tổ chức, cá nhân trong xây dựng VBQPPL…
Tuy nhiên, qua tổng kết cho thấy, một số quy định của pháp luật còn bất cập, sơ hở, chồng chéo, chưa rõ ràng, tiềm ẩn nguy cơ lợi dụng để tham nhũng, tiêu cực; tính khả thi, tính dự báo chưa cao, chưa đáp ứng được yêu cầu thực tiễn, ảnh hưởng đến tính ổn định của hệ thống pháp luật; các quy định nhằm kiểm soát quyền lực để PCTN, TC, lợi ích nhóm, cục bộ trong xây dựng pháp luật còn chưa đầy đủ, thiếu cụ thể, nằm rải rác ở nhiều văn bản khác nhau, quá trình thực hiện còn chưa nghiêm, ý thức, trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, cá nhân có chức năng tham mưu, đề xuất trong xây dựng pháp luật chưa cao, cá biệt vẫn còn tồn tại tư duy nhiệm kỳ, cài cắm lợi ích cục bộ, tạo cơ chế “xin-cho” vào các dự án, dự thảo VBQPPL; một số quy định của pháp luật chưa theo kịp sự thay đổi thường xuyên của đời sống kinh tế – xã hội, nhưng quy trình sửa đổi, bổ sung còn rườm rà, tốn thời gian dẫn đến chưa kịp thời điểu chỉnh những phát sinh mới trong xã hội[1]…
Xuất phát từ những hạn chế, bất cập nêu trên, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Đảng ta đã đề ra 06 nhiệm vụ trọng tâm, 03 đột phá chiến lược, trong đó yêu cầu: “Tiếp tục đẩy mạnh đấu tranh phòng, chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, “lợi ích nhóm”, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” trong nội bộ” và “hoàn thiện đồng bộ hệ thống pháp luật nhằm phát huy mạnh mẽ dân chủ xã hội chủ nghĩa, quyền làm chủ của nhân dân; đồng thời xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong sạch, vững mạnh; tăng cường kiểm tra, giám sát, kiểm soát quyền lực bằng hệ thống pháp luật”.
Bộ Chính trị cũng đã ban hành Kết luận số 21/KL-TW và Kế hoạch số 03-KH/TW về tiếp tục thực hiện Nghị quyết Hội nghị trung ương 4, khóa XIII về đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn đảng và hệ thống chính trị; kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá”, trong đó nhấn mạnh “Chú trọng hoàn thiện hệ thống pháp luật đầy đủ, đồng bộ, thống nhất, kịp thời, khả thi, ổn định, công khai, minh bạch. Đồng thời, siết chặt kỷ luật, kỷ cương, đề cao trách nhiệm, nhất là người đứng đầu trong công tác xây dựng pháp luật, không để bị chi phối, tác động bởi các hành vi không lành mạnh của bất cứ tổ chức, cá nhân nào, không để xảy ra tình trạng lồng ghép “lợi ích nhóm”, lợi ích cục bộ của cơ quan quản lý nhà nước trong văn bản pháp luật”.
Tổng Bí thư Tô Lâm cũng yêu cầu đổi mới mạnh mẽ công tác lập pháp, chuyển đổi tư duy xây dựng pháp luật theo hướng vừa bảo đảm yêu cầu quản lý nhà nước, vừa khuyến khích sáng tạo, giải phóng toàn bộ sức sản xuất, khơi thông nguồn lực để phát triển. Luật chỉ quy định những vấn đề khung, những vấn đề có tính nguyên tắc; những vấn đề biến động thường xuyên thì giao cho Chính phủ, địa phương quy định. Thường xuyên đánh giá hiệu quả chính sách để kịp thời điều chỉnh những bất cập mâu thuẫn, giảm thiểu thất thoát, lãng phí nguồn lực. Tâp trung kiểm soát quyền lực trong xây dựng pháp luật, siết chặt kỷ cương, kỷ luật, đề cao trách nhiệm, kiên quyêt chống tham nhũng, tiêu cực, lợi ích nhóm.
Trên tinh thần chỉ đạo chung của Trung ương, Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn cũng đã yêu cầu các cơ quan của Quốc hội và các cơ quan hữu quan trong công tác xây dựng pháp luật phải ngắn gọn, quy định những nội dung đúng thẩm quyền của Quốc hội, bám sát thực tiễn; không quy định những vấn đề thuộc thẩm quyền của Quốc hội. Đối với những vấn đề mới, đang trong quá trình vận động, thực tiễn biến động thường xuyên thì cần bám sát yêu cầu của Nghị quyết số 27-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong giai đoạn mới, chỉ quy định khung, nguyên tắc và giao cho Chính phủ, các bộ, ngành, địa phương quy định để bảo đảm linh hoạt trong điều hành, phù hợp với thực tiễn. Bảo đảm phân cấp, phân quyền gắn với quy định rõ nhiệm vụ, quyền hạn, nâng cao năng lực thực thi….
Để khắc phục những vấn đề nêu trên, Hội nghị lần thứ 6, Ban Chấp hành trung ương khóa XIII thông qua Nghị quyết số 27-NQ/TW về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới, Bộ Chính trị ban hành Kế hoạch số 11-KH/TW thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ 6, yêu cầu khẩn trương tham mưu xây dựng “Quy định về kiểm soát quyền lực, phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, lợi ích nhóm, cục bộ trong công tác xây dựng pháp luật” và Chỉ thị về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong công tác thể chế hóa chủ trương, đường lối của Đảng về phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực thành pháp luật của Nhà nước.
Ngày 27/6/2024, Bộ Chính trị ban hành Quy định số 178-QĐ/TW về kiểm soát quyền lực, phòng, chống tham nhũng tiêu cực trong công tác xây dựng pháp luật (Quy định số 178). Quy định này ban hành đã tạo lập 02 lớp về mặt pháp lý để bảo đảm tăng cường hiệu quả cao nhất trong kiểm soát quyền lực, phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực trong công tác xây dựng pháp luật, đó là pháp luật quy định về thẩm quyền, trình tự, thủ tục trong soạn thảo, thông qua, ban hành VBQPPL, kiểm tra, giám sát VBQPPL (Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật) và quy định của Đảng về kiểm soát quyền lực, phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trong công tác xây dựng pháp luật.
Quy định số 178 có phạm vi điều chỉnh về kiểm soát quyền lực, phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trong công tác xây dựng pháp luật và được áp dụng đối với cấp ủy, tổ chức đảng, đảng viên, cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền trong công tác xây dựng pháp luật và tổ chức, cá nhân khác có liên quan. Quy định gồm 04 chương và 18 điều, có nội dung chính quy định về nguyên tắc, phương thức, nội dung, trách nhiệm kiểm soát quyền lực, phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trong công tác xây dựng pháp luật. Cụ thể như sau:
1. Về nguyên tắc, phương thức kiểm soát quyền lực, phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trong công tác xây dựng pháp luật
Thứ nhất, Quy định đề ra 05 nguyên tắc kiểm soát quyền lực, phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trong công tác xây dựng pháp luật, gồm:
(1) Bảo đảm sự lãnh đạo, chỉ đạo, tập trung, thống nhất, chặt chẽ, toàn diện của Đảng.
(2) Kết hợp đồng bộ, chặt chẽ các cơ chế, biện pháp kiểm soát quyền lực, phòng, chống tham nhũng tiêu cực, lợi ích nhóm, cục bộ trong công tác xây dựng pháp luật, chủ động phòng ngừa là chính; kịp thời phát hiện ngăn chặn và xử lý nghiêm minh các hành vi vi phạm; bảo vệ đảng viên, cán bộ, công chức, viên chức năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung.
(3) Đề cao trách nhiệm nêu gương của người đứng đầu cấp ủy, tổ chức đảng, cơ quan, tổ chức, trách nhiệm của đảng viên, cán bộ, công chức, viên chức.
(4) Bảo đảm thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền; không làm cản trở sự chủ động, sáng tạo, công khai, minh bạch, dân chủ, kịp thời, đồng bộ, thống nhất, khả thi trong công tác xây dựng pháp luật.
(5) Bảo đảm sự giám sát, phản biện, tham gia xây dựng pháp luật của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận, cơ quan báo chí, tổ chức xã hội khác và nhân dân theo quy định.
Thứ hai, cơ chế kiểm soát quyền lực, phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trong công tác xây dựng pháp luật bao gồm cơ chế kiểm soát quyền lực từ các cơ quan có thẩm quyền của Đảng đối với các cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong công tác xây dựng pháp luật; giữa các cơ quan nhà nước có thẩm quyền và trong nội bộ các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền; từ Mặt trận Tổ quốc, nhân dân, báo chí đối với các cơ quan có thẩm quyền trong công tác xây dựng pháp luật, gồm:
– Hoạt động lãnh đạo, chỉ đạo, kiểm tra, giám sát, kỷ luật của Đảng.
– Hoạt động kiểm soát quyền lực giữa các cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền thông qua việc thực hiện quy trình, thủ tục xây dựng pháp luật.
– Hoạt động giám sát văn bản quy phạm pháp luật của Quốc hội, hội đồng nhân dân các cấp; hoạt động kiểm tra của Chính phủ, bộ, cơ quan ngang bộ, hội đồng nhân dân, ủy ban nhân dân.
– Hoạt động thanh tra, kiểm tra nội bộ của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong công tác xây dựng pháp luật.
– Hoạt động giám sát, phản biện xã hội, tham gia xây dựng pháp luật của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận, tổ chức xã hội khác, cơ quan báo chí và Nhân dân.
– Hoạt động của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý hành vi vi phạm pháp luật trong công tác xây dựng pháp luật.
2. Nội dung, trách nhiệm kiểm soát quyền lực, phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trong công tác xây dựng pháp luật
Để bảo đảm tính hiệu quả trong phòng ngừa, phát hiện, xử lý các hành vi tham nhũng, tiêu cực trong công tác xây dựng pháp luật, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác này, Quy định đã làm rõ các khái niệm và liệt kê các nhóm hành vi cụ thể về “tham nhũng”, “lợi ích nhóm”, “lợi ích cục bộ”, “tiêu cực” trong công tác xây dựng pháp luật; đồng thời quy định rõ, cụ thể hơn về trách nhiệm, quyền hạn của cấp ủy, tổ chức đảng, cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền trong kiểm soát quyền lực, phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trong công tác xây dựng pháp luật; quy định về nội dung, thẩm quyền, chủ thể trong việc xin ý kiến của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, cấp ủy đảng cấp trên về những vẫn đề lớn, quan trọng của dự thảo các văn bản quy phạm pháp luật nhằm bảo đảm tăng cường sự lãnh đạo toàn diện, tuyệt đối của Đảng đối với các mặt quan trọng của thể chế chính trị, kinh tế – xã hội, tổ chức bộ máy, quốc phòng, an ninh, đối ngoại và bảo đảm quyền con người
3. Về xử lý vi phạm
Tổ chức, cá nhân có hành vi vi phạm phải bị xử lý nghiêm minh theo quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước và quy định của cơ quan, tổ chức, đơn vị. Trường hợp đã xử lý kỷ luật, nhưng xét thấy cần thiết thì cấp có thẩm quyền phải kiên quyết điều chuyển người vi phạm khỏi vị trí công tác đang đảm nhiệm, thay thế, cho thôi giữ chức, miễn nhiệm, từ chức, không bố trí công tác liên quan đến hoạt động xây dựng pháp luật.
Đối với việc xử lý trách nhiệm khi để xảy ra hành vi vi phạm tham nhũng, tiêu cực trong công tác xây dựng pháp luật, Quy định đã phân biệt rõ việc xử lý đối với tổ chức và đối với lãnh đạo cấp ủy, tổ chức đảng, cơ quan, tổ chức, đơn vị khi để xảy ra hành vi vi phạm tham nhũng, tiêu cực trong công tác xây dựng pháp luật, trường hợp loại trừ trách nhiệm, miễn hoặc giảm trách nhiệm đối với lãnh đạo cấp ủy, tổ chức đảng, cơ quan, tổ chức, đơn vị.
Ngoài ra, Quy định còn đề cập đến nhiều nội dung liên quan đến triển khai thực hiện; trong đó giao cho các đảng đoàn, ban cán sự đảng chỉ đạo việc rà soát, sửa đổi, bổ sung các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan, bảo đảm đồng bộ, thống nhất với Quy định; các ban đảng ở trung ương, đảng đoàn, ban cán sự đảng tăng cường công tác kiểm soát, kiểm tra, giám sát công tác xây dựng pháp luật, rà soát văn bản quy phạm pháp luật để phát hiện sơ hở, bất cập, có nguy cơ tham nhũng, tiêu cực, tạo cơ chế “xin-cho”, lợi ích nhóm, cục bộ để kịp thời sửa đổi, bổ sung.
Để thực hiện có hiệu quả Quy định số 178-QĐ/TW, cũng như bảo đảm đổi mới căn bản quy trình xây dựng pháp luật theo chỉ đạo của Trung ương, ngày 19/02/2025, Quốc hội đã thông qua Luật Ban hành Văn bản quy phạm pháp luật (Luật số 64/2025/QH15) với rất nhiều đổi mới nhằm đáp ứng yêu cầu thực tiễn theo hướng tiếp tục đơn giản hóa hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, tăng cường kiểm soát quyền lực cũng như phân định rõ quyền lập pháp và quyền lập quy; đổi mới trình tự, thủ tục, thẩm quyền trong công tác soạn thảo, tham gia, thẩm tra, tiếp thu, chỉnh lý dự án văn bản quy phạm pháp luật cũng như tăng cường vai trò của cấp ủy trong công tác xây dựng pháp luật…
Có thể thấy rằng, bên cạnh quy trình xây dựng pháp luật rất chặt chẽ, được luật hóa với sự tham gia của rất nhiều chủ thể nhằm giám sát, kiểm soát lẫn nhau để ngăn chặn tham nhũng, lợi ích nhóm, lợi ích cục bộ thì việc Bộ Chính trị ban hành Quy định số 178-QĐ/TW đã góp phần quan trọng vào công cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực của đất nước. Tuy nhiên, Việt Nam đang trong quá trình sắp xếp, tinh gọn tổ chức bộ máy của cả hệ thống chính trị với rất nhiều điểm đổi mới; bên cạnh đó là những đổi mới tư duy, quy trình xây dựng pháp luật trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 đòi hỏi cần tiếp tục nghiên cứu, sửa đổi Quy định số 178-QĐ/TW nhằm đáp ứng tốt hơn yêu cầu đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trong công tác xây dựng pháp luật trong giai đoạn mới; phúc đáp yêu cầu xây dựng đất nước trong kỷ nguyên mới – “kỷ nguyên vươn mình của dân tộc”./.
TS. Hoàng Nam Hải
Vụ trưởng Vụ Tư pháp, Văn phòng Quốc hội
[1] Theo Tổng Bí thư Tô Lâm phát biểu tại phiên khai mạc Kỳ họp thứ 8, Quốc hội khóa XV (tháng 10/2024) cho thấy, trong 03 điểm nghẽn lớn nhất trong phát triển kinh tế – xã hội hiện nay là thể chế, hạ tầng và nhân lực thì thể chế là điểm nghẽn của điểm nghẽn, chất lượng xây dựng và hoàn thiện chưa đáp ứng được yêu cầu của thực tiễn, chồng chéo, nhiều quy định còn khó khăn, cản trở việc thực thi, gây thất thoát, láng phí, chưa khơi thông nguồn lực trong nhân dân. Bên cạnh đó, việc lợi dụng xây dựng, hoàn thiện thể chế, pháp luật để tác động, lái hướng, chống phá, trục lợi nếu không sáng suốt, bản lĩnh vì sự nghiệp chung, thể chế không phù hợp sẽ tạo ra những khúc quanh trong phát đất nước.
Thể chế hóa các chủ trương của Đảng, Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa X ban hành Pháp lệnh thực hành tiết kiệm, chống lãng phí năm 1998; Quốc hội đã thông qua Luật Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí năm 2005 và năm 2013; Chính phủ ban hành Nghị định số 68/2006/NĐ-CP ngày 18/7/2006 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí; Nghị định số 84/2014/NĐ-CP ngày 08/9/2014 quy định chi tiết một số điều của Luật Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí và đề ra các nhiệm vụ, giải pháp trong Chương trình tổng thể của Chính phủ về thực hành tiết kiệm, chống lãng phí tại Quyết định số 1658/QĐ-TTg ngày 30/12/2022 của Thủ tướng Chính phủ.
Thực hiện các nghị quyết, chỉ thị, kết luận của Trung ương Đảng, Bộ Chính trị, Ban Bí thư và quy định của pháp luật, các cấp, các ngành, cán bộ, công chức, viên chức đã xác định rõ hơn trách nhiệm trong chỉ đạo, thực hiện nhiệm vụ thực hành tiết kiệm, chống lãng phí. Kết quả cho thấy tình hình kinh tế xã hội có những chuyển biến tích cực và đạt được kết quả quan trọng trên nhiều lĩnh vực; giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, lạm phát được kiểm soát, tăng trưởng đạt mức cao so với các nước trong khu vực và thế giới, các cân đối lớn của nền kinh tế được bảo đảm. Công tác thực hành tiết kiệm, chống lãng phí được đẩy mạnh và phát huy trên nhiều lĩnh vực, góp phần huy động, quản lý, sử dụng có hiệu quả nguồn nhân lực, vật lực, tài lực, bảo đảm quốc phòng, an ninh, đối ngoại, an sinh xã hội, phúc lợi xã hội của đất nước.
Bên cạnh kết quả đã đạt được, lãng phí còn diễn ra khá phổ biến, dưới nhiều dạng thức khác nhau, đã và đang gây ra nhiều hệ lụy nghiêm trọng cho phát triển. Công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực đã chỉ ra qua các vụ án, vụ việc cho thấy một số bộ, ngành, cán bộ, công chức, viên chức còn gây thất thoát, lãng phí nghiêm trọng trong quá trình thực hiện các dự án đầu tư công; các vụ việc liên quan đến các lĩnh vực như quản lý tài chính, tín dụng, tài sản công, đầu tư công, đất đai, tài nguyên, khoáng sản, quản lý vốn Nhà nước tại doanh nghiệp, quản lý, sử dụng lao động và thời gian lao động,…; ở một số cơ quan, đơn vị có tình trạng đánh giá, bố trí, sử dụng cán bộ, công chức, viên chức chưa đúng người, đúng việc, thiếu khách quan, toàn diện, chưa tạo được môi trường làm việc bình đẳng để tạo cơ hội cho cán bộ, công chức, viên chức yên tâm công tác, cống hiến.
Những hạn chế này là một trong những nguyên nhân gây suy giảm nguồn lực con người, nguồn lực tài chính, giảm hiệu quả sản xuất, tăng gánh nặng chi phí, gây cạn kiệt tài nguyên, gây suy giảm lòng tin của người dân với Đảng, Nhà nước, tạo rào cản vô hình trong phát triển kinh tế – xã hội, bỏ lỡ thời cơ phát triển của đất nước. Việc thực hiện các nghị quyết, chỉ thị, văn bản pháp luật về phòng, chống lãng phí trong thực tế vẫn còn hạn chế; hệ thống tiêu chuẩn, định mức, chế độ, một số chưa phù hợp thực tế nhưng chậm được sửa đổi, bổ sung; xử lý lãng phí chưa được đề cao, thường gắn với xử lý vụ việc tham nhũng, tiêu cực; công tác đánh giá, bố trí, sử dụng cán bộ, công chức, viên chức còn cảm tính, chưa thực sự khách quan trong khi chính sách bảo vệ cán bộ, công chức, viên chức năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm chưa hình thành trong thực tế dẫn đến sự hoài nghi, thậm chí mất đoàn kết nội bộ trong một số cơ quan, đơn vị;… Do vậy, cần quan tâm đến vai trò, trách nhiệm của các cấp ủy, tổ chức đảng và sự nêu gương của người đứng đầu, đặc biệt là của từng cán bộ, công chức, viên chức trong công tác thực hành tiết kiệm, chống lãng phí.
Tiết kiệm, chống lãng phí đã được Hiến pháp năm 2013 quy định: “Cơ quan, tổ chức, cá nhân phải thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, phòng, chống tham nhũng trong hoạt động kinh tế – xã hội và quản lý nhà nước”. Trên cơ sở đó, Luật Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí năm 2013 quy định trách nhiệm của cán bộ, công chức, viên chức, viên chức: “(1). Thực hiện chương trình, kế hoạch, mục tiêu, chỉ tiêu tiết kiệm và yêu cầu chống lãng phí được giao. (2). Quản lý, sử dụng vốn nhà nước, tài sản nhà nước được giao đúng mục đích, định mức, tiêu chuẩn, chế độ; giải trình và chịu trách nhiệm cá nhân về việc để xảy ra lãng phí thuộc phạm vi quản lý, sử dụng. (3). Tham gia hoạt động thanh tra nhân dân, tham gia giám sát, đề xuất các biện pháp, giải pháp thực hành tiết kiệm, chống lãng phí trong cơ quan, tổ chức và trong lĩnh vực công tác được phân công; kịp thời phát hiện, ngăn chặn và xử lý hành vi gây lãng phí theo thẩm quyền”.
Như vậy, cán bộ, công chức, viên chức có trách nhiệm cần phải đảm bảo trong việc thực hành tiết kiệm, chống lãng phí bao gồm thực hiện chương trình, kế hoạch, mục tiêu, chỉ tiêu tiết kiệm và chồng lãng phí được giao; trách nhiệm trong việc quản lý, sử dụng vốn, tài sản nhà nước đúng mục đích, định mức, tiêu chuẩn, chế độ; đồng thời, chịu trách nhiệm (kỷ luật, bồi thường, khắc phục,…) và giải trình về việc để xảy ra lãng phí nếu vi phạm. Bên cạnh đó, cán bộ, công chức, viên chức tham gia vào hoạt động thanh tra, giám sát và đề xuất các biện pháp nhằm hạn chế, khắc phục lãng phí trong cơ quan, tổ chức để ngăn chặn và xử lý hành vi gây vi phạm.
Nghị định số 84/2014/NĐ-CP ngày 08/9/2014 của Chính phủ quy định cụ thể về trách nhiệm của cán bộ, công chức, viên chức thực hiện bồi thường trong thực hành tiết kiệm, chống lãng phí: Cán bộ, công chức, viên chức, viên chức và người lao động làm việc trong cơ quan, tổ chức sử dụng ngân sách nhà nước có hành vi vi phạm, không thực hiện hoặc thực hiện không đúng các quy định tại các Điều 27, 32, 45, 53 và 58 của Luật Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí và người đứng đầu doanh nghiệp nhà nước có hành vi vi phạm, không thực hiện hoặc thực hiện không đúng quy định tại Điều 61, 62 của Luật Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, để xảy ra lãng phí, gây thiệt hại phải có nghĩa vụ bồi thường thiệt hại theo quy định tại Nghị định này. Cán bộ, công chức, viên chức, viên chức vi phạm các quy định của pháp luật gây thiệt hại tài sản của cơ quan, tổ chức mà không thuộc quy định tại khoản 1 Điều này thì có nghĩa vụ bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật về xử lý trách nhiệm vật chất đối với cán bộ, công chức, viên chức hoặc pháp luật về xử lý kỷ luật viên chức và trách nhiệm bồi thường, hoàn trả của viên chức.
Trên cơ sở đó, việc xem xét, xử lý trách nhiệm bồi thường sẽ căn cứ vào lỗi, tính chất của hành vi lãng phí gây thiệt hại, mức độ lãng phí, thiệt hại thực tế gây ra để quyết định mức và phương thức bồi thường thiệt hại; bảo đảm khách quan, công bằng và công khai. Trách nhiệm bồi thường được xác định tương ứng với mức độ trách nhiệm và vi phạm của từng người. Trường hợp không xác định được mức độ trách nhiệm và vi phạm của từng người thì trách nhiệm bồi thường được chia đều cho từng người. Khi có hành vi lãng phí gây thiệt hại, người đứng đầu cơ quan, tổ chức phải tiến hành xác minh sơ bộ đánh giá giá trị thiệt hại và lập biên bản về nội dung vụ việc để làm căn cứ xem xét xử lý trách nhiệm bồi thường thiệt hại; người có thẩm quyền ra quyết định về bồi thường thiệt hại có trách nhiệm thành lập Hội đồng xử lý trách nhiệm bồi thường thiệt hại để xem xét, giải quyết việc bồi thường thiệt hại. Trường hợp ngay sau khi phát hiện có hành vi lãng phí, gây thiệt hại phải bồi thường, người có nghĩa vụ bồi thường có đơn xin tự nguyện bồi thường, hoàn trả thiệt hại và được người có thẩm quyền ra quyết định về bồi thường thiệt hại đồng ý bằng văn bản về mức, phương thức và thời hạn bồi thường thì không phải thành lập Hội đồng xử lý trách nhiệm bồi thường thiệt hại, mức bồi thường thiệt hại trong trường hợp này không được thấp hơn giá trị thiệt hại sơ bộ được đánh giá theo quy định.
Thực hành tiết kiện, chống lãng phí là nhiệm vụ quan trọng không chỉ của cán bộ, công chức, viên chức mà còn là nhiệm vụ quan trọng của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội, có vị trí tương đương với phòng, chống tham nhũng, tiêu cực; cần được tiến hành mạnh mẽ, kiên quyết, kiên trì, đồng bộ, có trọng tâm, trọng điểm, kết hợp chặt chẽ giữa phòng ngừa, phát hiện, xử lý và sử dụng đồng bộ các biện pháp chính trị, tư tưởng, tổ chức, hành chính, kinh tế, hình sự. Do đó, việc kịp thời phát hiện và xử lý người có hành vi vi phạm các quy định, trách nhiệm về thực hành tiết kiện, chống lãng phí cần quan tâm hơn nữa. Người phát hiện lãng phí có quyền cung cấp thông tin cho người đứng đầu cơ quan, tổ chức nơi để xảy ra lãng phí, thủ trưởng cơ quan cấp trên trực tiếp, cơ quan thanh tra, kiểm tra, kiểm toán nhà nước để xem xét giải quyết hoặc cung cấp cho các phương tiện thông tin đại chúng để đưa tin theo quy định và phải chịu trách nhiệm về tính trung thực, tính chính xác của thông tin phát hiện. Trường hợp cố ý cung cấp thông tin sai sự thật, lợi dụng thông tin gây ảnh hưởng đến hoạt động của cơ quan, tổ chức, uy tín của người khác thì bị xử lý theo quy định của pháp luật.
Để khắc phục tồn tại, hạn chế, tháo gỡ khó khăn, vướng mắc, cơ bản đáp ứng yêu cầu thực tiễn, đẩy mạnh công tác thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, cần nâng cao nhận thức, tổ chức thực hiện nghiêm chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về công tác thực hành tiết kiệm, chống lãng phí; Chiến lược quốc gia phòng, chống lãng phí đến năm 2035 của Thủ tướng Chính phủ; đồng thời, xem đây là nhiệm vụ trọng tâm, thường xuyên của cả hệ thống chính trị và xã hội, trước hết là của các cấp uỷ, tổ chức đảng, từng cơ quan, đơn vị, địa phương; là văn hoá ứng xử của mỗi cán bộ, công chức, viên chức, nhất là người đứng đầu, cán bộ lãnh đạo, quản lý, góp phần nâng cao hiệu quả việc huy động, phân bổ, sử dụng các nguồn lực kinh tế – xã hội cho phát triển đất nước. Các cấp, các ngành, cơ quan, đơn vị, địa phương phải xây dựng kế hoạch, chương trình cụ thể, nêu cao trách nhiệm của cấp uỷ, tổ chức đảng, người đứng đầu trong lãnh đạo, chỉ đạo công tác thực hành tiết kiệm, chống lãng phí gắn với thực hiện chức trách, nhiệm vụ được giao; cán bộ, công chức, viên chức nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý phải gương mẫu, vận động gia đình, nhân dân tích cực tham gia thực hành tiết kiệm, chống lãng phí. Gắn thực hành tiết kiệm, chống lãng phí với xây dựng, chỉnh đốn Đảng, ngăn chặn, đẩy lùi suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống; xây dựng bộ máy nhà nước tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả; xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức liêm chính nhất là người đứng đầu các cấp đủ phẩm chất, năng lực, uy tín ngang tầm nhiệm vụ trong điều kiện mới. Trong quá trình thực hiện chức trách, nhiệm vụ cán bộ, công chức, viên chức phải tự giác tuân thủ các quy định của pháp luật, làm gương về việc chấp hành nội quy, quy chế của cơ quan, đơn vị, tổ chức; sử dụng tiền, tài sản được giao đúng mục đích, định mức, tiêu chuẩn đã xác định. Thực hiện cơ chế khuyến khích và bảo vệ cán bộ năng động, đổi mới, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám đột phá, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung. Tăng cường công tác kiểm tra, thanh tra, giám sát và xử lý nghiêm đối với người vi phạm trong thực hành tiết kiệm, chống lãng phí; kiên quyết đưa ra khỏi bộ máy nhà nước những cán bộ, công chức, viên chức suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống, không hoàn thành nhiệm vụ công vụ, có hành vi lãng phí gây thiệt hại đến tiền, tài sản của Nhà nước. Tăng cường, biểu dương, khen thưởng, nhân rộng các điển hình, sáng kiến; có biện pháp thiết thực bảo vệ người đấu tranh, tố giác hành vi gây lãng phí, thất thoát. Bên cạnh đó, với chức trách, nhiệm vụ của mình, người lãnh đạo, chủ trì các cơ quan, đơn vị trong phạm vi công việc được giao phải cùng tập thể cấp ủy, chính quyền, đoàn thể tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục để cán bộ, công chức, viên chức hiểu đúng, thực hiện nghiêm túc chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, các nghị quyết, chỉ thị, hướng dẫn, quy định của các cấp đối với việc thực hành tiết kiệm, chống lãng phí.
ThS. Nguyễn Thị Hồng Thắm
Cục II, Thanh tra Chính phủ







