Trước đó, Thanh tra tỉnh Cà Mau đã triển khai thanh tra về trách nhiệm thực công vụ của cán bộ, công chức, viên chức tại 3 sở và 2 địa phương gồm: Sở Tài nguyên & Môi trường (TN-MT), Sở Giao thông vận tải (GTVT), Sở Kế hoạch & Đầu tư (KH-ĐT), UBND TP.Cà Mau và UBND huyện U Minh.
Còn nhiều hạn chế trong thực hiện công vụ
Theo Kết luận thanh tra, tại Sở TN-MT Cà Mau, qua kiểm tra ngẫu nhiên 121 hồ sơ, tại Sở kiểm tra 44 hồ sơ của 06 lĩnh vực, đoàn thanh tra phát hiện 27 hồ sơ chưa đủ điều kiện giải quyết nhưng chậm trả lời. Tại 3 chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai 03 huyện có 10 trường hợp chưa đủ điều kiện giải quyết nhưng trả lời chậm, 10 hồ sơ trễ hạn (có 05 hồ sơ dư thành phần).
Qua thanh tra tại Sở KH-ĐT, có 64/108 hồ sơ qua kiểm tra thiếu phiếu kiểm soát quá trình giải quyết hồ sơ, những hồ sơ này được tiếp nhận tại bộ phận tiếp nhận và trả kết quả Trung tâm Giải quyết thủ tục hành chính (TTHC) tỉnh.
![]() |
| Thanh tra tỉnh công bố quyết định thanh tra thực hiện công vụ trên địa bàn tỉnh |
Tại Sở GTVT, trong thời kỳ thanh tra, sở này tổ chức kiểm tra 3 phòng chuyên môn, 3 đơn vị trực thuộc, kịp thời chấn chỉnh, khắc phục những hạn chế, thiếu sót như một số công chức, viên chức chưa chấp hành nghiêm giờ giấc làm việc; tham mưu văn bản còn sai về thể thức, hình thức…
Đối với UBND TP. Cà Mau, Đoàn kiểm tra ngẫu nhiên 342 hồ sơ giải quyết TTHC tại 8 phòng chuyên môn và 3 xã, phường thì có 32 hồ sơ trễ thời gian. Bên cạnh đó, qua kiểm tra phát hiện hồ sơ giải quyết còn trễ hạn, thành phần hồ sơ chưa đảm bảo theo thủ tục được công bố, không có giấy tiếp nhận và hẹn trả kết quả, một số trường hợp hồ sơ chưa đủ điều kiện giải quyết nhưng việc trả hồ sơ, yêu cầu bổ sung chưa đảm bảo thời gian…
Còn tại huyện U Minh, qua kiểm tra ngẫu nhiên 125 hồ sơ giải quyết thủ tục hành chính tại các phòng chuyên môn thuộc UBND huyện và 220 hồ sơ tại 2 xã Khánh Tiến và Khánh An phát hiện các hồ sơ tại 2 xã này đều không có phiếu kiểm soát quá trình giải quyết hồ sơ theo mẫu…
Cải cách, nâng cao chất lượng thực thi công vụ
Thanh tra tỉnh đã kiến nghị UBND tỉnh chỉ đạo cải cách chế độ công vụ, nâng cao chất lượng thực thi công vụ, cải thiện chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp. Quan tâm đầu tư cơ sở vật chất, đào tạo nhân lực, đáp ứng yêu cầu việc chuyển đổi số, chính quyền điện tử, chính quyền số. Nhân rộng mô hình, gương tốt, khen thưởng khích lệ cho cá nhân, tổ chức có thành tích tốt. Điều chỉnh, đơn giản hóa TTHC, tăng cường cho cấp xã để người dân dễ tiếp cận và thuận tiện đi lại, giảm bớt chi phí không đáng có.
Cùng với đó, chỉ đạo Sở TN-MT tham mưu UBND tỉnh kiến nghị Bộ TN-MT xem xét, quy định các thủ tục trung gian trước khi hồ sơ được đưa vào bộ phận một cửa thuộc lĩnh vực đất đai thành TTHC để đảm bảo công khai, minh bạch, thuận lợi cho người dân trong quá trình thực hiện. Kịp thời công bố, cập nhật công khai TTHC trên cơ sở dữ liệu quốc gia về TTHC đúng thời gian theo quy định làm căn cứ để địa phương thực hiện việc công bố, công khai danh mục TTHC thuộc thẩm quyền. Hướng dẫn cụ thể thời gian (ngày) để thực hiện nghĩa vụ tài chính; thời gian chờ bổ sung hồ sơ, nếu quá thời gian thì cán bộ kết thúc hồ sơ… Hướng dẫn xử lý đối với trường hợp phải lấy ý kiến phối hợp của các cơ quan liên quan, nhưng cơ quan được lấy ý kiến chậm trả lời dẫn đến trễ hạn giải quyết hồ sơ cho người dân.
Các Sở TN-MT, GTVT, KH-ĐT, UBND thành phố Cà Mau và UBND huyện U Minh tiếp tục phát huy kết quả đã đạt được trong công tác giải quyết TTHC; đồng thời chấn chỉnh, rút kinh nghiệm đối với những tồn tại, hạn chế đã được Đoàn thanh tra chỉ ra, nhằm phục vụ ngày càng tốt hơn cho người dân và doanh nghiệp trong thời gian tới…
Chiều ngày 24/6/2024, Khoa Nghiệp Thanh tra tổ chức Hội thảo khoa học: Góp ý khung đề tài “Xây dựng khung chương trình bồi dưỡng kỹ năng thực hiện kết luận thanh tra và theo dõi, đôn đốc, kiểm tra việc thực hiện kết luận thanh tra, quyết định xử lý về thanh tra”
Trong khuôn khổ kế hoạch thực hiện đề tài nghiên cứu khoa học do TS. Lê Thanh Thủy, Phó Trưởng Khoa Nghiệp vụ Thanh tra, Trường Cán bộ Thanh tra làm chủ nhiệm.. Tham dự Hội thảo có đại diện Ban Giám Hiệu Trường Cán bộ Thanh tra; lãnh đạo, giảng viên 2 khoa; Về phía khách mời có ông Nguyễn Mạnh Hà, Phó Vụ trưởng Vụ II– Thanh tra Chính phủ.

Tại Hội thảo, TS. Lê Thanh Thủy đã báo cáo khái quát các nội dung nghiên cứu của đề tài, trong đó đó tập trung vào việc đưa ra khung chương trình bồi dưỡng ngắn hạn về thực hiện kết luận thanh tra và theo dõi, đôn đốc, kiểm tra việc thực hiện kết luận thanh tra, quyết định xử lý về thanh tra. Qua nghiên cứu cho thấy, việc xây dựng tài liệu bồi dưỡng ngắn hạn về thực hiện kết luận thanh tra và theo dõi, đôn đốc, kiểm tra việc thực hiện kết luận thanh tra, quyết định xử lý về thanh tra là nội dung rất cần thiết vì Luật Thanh tra năm 2022 và văn bản hướng dẫn thi hành đã có quy định về khung chương trình bồi dưỡng kỹ năng thực hiện kết luận thanh tra và theo dõi, đôn đốc, kiểm tra việc thực hiện kết luận thanh tra, quyết định xử lý về thanh tra nhưng việc thực hiện trên thực tế vẫn còn hạn chế, vướng mắc. Để thực hiện nghiêm túc, có hiệu quả các quy định của pháp luật về nội dung này, đòi hỏi người lam công tác thanh tra phải được bồi dưỡng, tập huấn. Kết quả của nghiên cứu của đề tài hướng đến đề xuất chương trình bồi dưỡng gồm các chuyên đề: (i) Khái quát về khung chương trình bồi dưỡng kỹ năng thực hiện kết luận thanh tra và kỹ năng theo dõi, đôn đốc, kiểm tra việc thực hiện kết luận thanh tra, quyết định xử lý về thanh tra; (ii) Thực trạng chương trình bồi dưỡng kỹ năng thực hiện kết luận thanh tra và theo dõi, đôn đốc, kiểm tra việc thực hiện kết luận thanh tra, quyết định xử lý về thanh tra; (iii) quan điểm, giải pháp xây dựng khung chương trình bồi dưỡng kỹ năng thực hiện kết luận thanh tra và kỹ năng theo dõi, đôn đốc, kiểm tra việc thực hiện kết luận thanh tra, quyết định xử lý về thanh tra.

Phát biểu tại hội thảo, ông Nguyễn Mạnh Hà, Phó Vụ trưởng Vụ II– Thanh tra Chính phủ đề nghị Ban chủ nhiệm đề tài rà soát lại một số nội dung để đảm bảo đầy đủ, hoàn thiện và logic hơn giữa các chương của đề tài. Cụ thể, tại Chương 2, nên đánh giá thực trạng các quy định của pháp hiện hành về trình tự, thủ tục thực hiện kết luận thanh tra và theo dõi, đôn đốc, kiểm tra việc thực hiện kết luận thanh tra, quyết định xử lý về thanh tra. Tại Chương 3, trong phần sản phẩm khung chương trình bồi dưỡng ngắn hạn, nên phân biệt rõ đối tượng thực hiện kết luận thanh tra và đối tượng theo dõi, đôn đốc, kiểm tra việc thực hiện kết luận thanh tra, quyết định xử lý về thanh tra để từ đó xây dựng được kỹ năng cho từng nhóm đối tượng.
TS. Nguyễn Tuấn Khanh, Phó Hiệu trưởng Trường Cán bộ Thanh tra góp ý nên có sự phân tích các chương trình bồi dưỡng hiện nay đã có nội dung về thực hiện kết luận thanh tra và theo dõi, đôn đốc, kiểm tra việc thực hiện kết luận thanh tra, quyết định xử lý về thanh tra nhưng còn thiếu những nội dung gì, cần bổ sung những nội dung gì, những vướng mắc trong thực tiễn áp dụng các quy định của pháp luật từ đó xác định trọng tâm nhu cầu bồi dưỡng. Đồng thời, khung chương trình nên thiết kế theo hướng: (i) Khái quát về thực hiện kết luận thanh tra, (ii) Khái quát về theo dõi, đôn đốc, kiểm tra việc thực hiện kết luận thanh tra, quyết định xử lý về thanh tra; (iii) Tổ chức thực hiện kết luận thanh tra và tổ chức theo dõi, đôn đốc, kiểm tra việc thực hiện kết luận thanh tra, quyết định xử lý về thanh tra; (iv) Kỹ năng thực hiện kết luận thanh tra; (v) Kỹ năng theo dõi, đôn đốc, kiểm tra việc thực hiện kết luận thanh tra, quyết định xử lý về thanh tra; (vi) Kỹ năng soạn thảo văn bản trong theo dõi, đôn đốc, kiểm tra việc thực hiện kết luận thanh tra, quyết định xử lý về thanh tra.
ThS. Phạm Thị Thu Hiền, CVCC, Phó Hiệu trưởng Trường Cán bộ Thanh tra góp ý nên khái quát hóa một cách ngắn gọn nhất khái niệm về “khung chương trình bồi dưỡng kỹ năng thực hiện kết luận thanh tra và theo dõi, đôn đốc, kiểm tra việc thực hiện kết luận thanh tra, quyết định xử lý về thanh tra”, làm rõ đặc điểm về khung chương trình bồi dưỡng ở các khía cạnh như: đối tượng, nội dung, cấu trúc, hình thức, phương pháp. Bên cạnh đó, ở phần thực trạng nên mô hình hóa, minh họa các ý kiến thu thập được từ khảo sát xã hội học và lược bớt những thực trạng không liên quan trực tiếp tới đề tài.
Kết thúc buổi hội thảo, TS. Lê Thanh Thủy, chủ nhiệm đề tài gửi lời cảm ơn các khách mời, đại biểu và xin được tiếp thu các ý kiến góp ý để hoàn thiện sản phẩm nghiên cứu của đề tài.
Mai Anh
Luôn xem tiếp công dân và giải quyết khiếu nại, tố cáo là nhiệm vụ chính trị quan trọng
Theo UBND tỉnh Bình Dương, quá trình đầu tư, phát triển hệ thống cơ sở hạ tầng, tỉnh Bình Dương đã thực hiện nhiều dự án, công trình trọng điểm nhằm phát triển kinh tế – xã hội. Bên cạnh những kết quả đạt được từ các dự án đầu tư, còn phát sinh đơn khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh liên quan việc quy hoạch, thu hồi đất, giải tỏa, bồi thường, tái định cư của các dự án; phản ánh công tác quản lý nhà nước về đầu tư, đất đai, môi trường giữa cơ quan Nhà nước với người dân, doanh nghiệp.
Từ đó, đặt ra yêu cầu đối với cấp ủy và chính quyền địa phương phải luôn quan tâm, lãnh đạo, chỉ đạo kịp thời, làm tốt công tác tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo, xác định công tác tiếp công dân và giải quyết khiếu nại, tố cáo là nhiệm vụ chính trị quan trọng của các cấp, các ngành, là cầu nối giữa Đảng, Nhà nước và Nhân dân.
Báo cáo của địa phương này cho thấy, trong thời gian vừa qua chính quyền tỉnh Bình Dương đã lãnh đạo, chỉ đạo đến công tác tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo. Địa phương đã nghiêm túc quán triệt, thực hiện Chỉ thị số 35-CT/TW ngày 26/5/2014 của Bộ Chính trị về việc tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác tiếp công dân và giải quyết khiếu nại, tố cáo (Chỉ thị số 35-CT/TW); Quy định số 11-QĐi/TW ngày 18/02/2019 của Bộ Chính trị về trách nhiệm của người đứng đầu cấp ủy trong việc tiếp công dân, đối thoại trực tiếp với dân và xử lý những phản ánh, kiến nghị của dân; Chỉ thị số 14/CT-TTg ngày 18/5/2012 của Thủ tướng Chính phủ về chấn chỉnh và nâng cao hiệu quả công tác tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo.
Tỉnh cũng đã chủ động ban hành các kế hoạch và tổ chức thực hiện như Kế hoạch số 59-KH/TU ngày 01/8/2014 của Tỉnh ủy và Kế hoạch số 4015/KH-UBND ngày 19/11/2014 của UBND tỉnh về việc thực hiện Kế hoạch số 59-KH/TU ngày 01/8/2014 của Tỉnh ủy về triển khai thực hiện Chỉ thị số 35-CT/TW, trong đó nhấn mạnh vai trò của người đứng đầu trong công tác tiếp công dân, xử lý đơn thư, giải quyết khiếu nại, tố cáo; gắn việc tiếp công dân với theo dõi, kiểm tra, đôn đốc, giải quyết khiếu nại, tố cáo.
![]() |
| Trung tâm hành chính tỉnh Bình Dương. Ảnh: binhduong.gov.vn |
Đáng chú ý, nổi bật vai trò người đứng đầu, Chủ tịch UBND tỉnh đã chỉ đạo sâu sát, quyết liệt, coi công tác tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo là một trong những nhiệm vụ trọng tâm, thường xuyên; tập trung giải quyết các vụ việc khiếu nại, tố cáo phức tạp kéo dài không để phát sinh “điểm nóng”; hạn chế tối đa các vụ việc khiếu nại, tố cáo đông người, phức tạp, kéo dài, bức xúc đến Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh trong thời gian diễn ra các kỳ họp của Trung ương và Quốc hội. Nhờ vậy, hiệu quả công tác tiếp công dân và giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh được nâng cao; quyền khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh của công dân được thực hiện theo đúng quy định pháp luật.
Nâng cao chất lượng giải quyết khiếu nại, tố cáo ngay từ cơ sở
Cũng theo UBND tỉnh Bình Dương, để kịp thời xử lý các tình huống công dân khiếu nại, tố cáo đông người, phức tạp, đảm bảo trật tự an toàn xã hội trong thời gian diễn ra các Kỳ họp Quốc hội khóa XV, Chủ tịch UBND tỉnh thành lập Tổ công tác kiểm tra, rà soát các vụ việc phức tạp, kéo dài, thường xuyên ban hành các Văn bản chỉ đạo Thủ trưởng các sở, ngành và UBND các huyện, thị, thành phố chấn chỉnh công tác tiếp công dân, nắm chắc tình hình khiếu nại, tố cáo trên lĩnh vực, địa bàn phụ trách, tăng cường đối thoại và nâng cao chất lượng giải quyết ngay từ cơ sở; kiểm tra, rà soát các vụ việc có khả năng công dân tập trung khiếu kiện đông người; có biện pháp chủ động ứng phó trong tình huống công dân tập trung khiếu kiện đông người.
Đi cùng với đó, thường xuyên quan tâm, chỉ đạo các cơ quan thông tin đại chúng trên địa bàn tỉnh trong việc tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật nói chung và pháp luật về tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo nói riêng; tập trung đưa tin bài về thành tựu, những điểm nổi bật trong công tác tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo của các cấp chính quyền; đồng thời, chỉ đạo các cơ quan phối hợp hiệu quả trong việc cung cấp thông tin bảo đảm kịp thời, chính xác, trung thực, khách quan, góp phần định hướng dư luận xã hội và hỗ trợ công tác tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo.
Với cách làm sáng tạo, đổi mới cách thức đã đem lại nhiều kết quả tích cực trong công tác tuyên truyền, như việc tuyên truyền Luật Tiếp công dân kết hợp với tuyên truyền pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo, phòng, chống tham nhũng thông qua việc phát sóng Chương trình “Câu chuyện pháp luật” của Đài Phát thanh và Truyền hình tỉnh; các cơ quan, đơn vị trên địa bàn tỉnh cũng đã triển khai nhiều cuộc tuyên truyền với nhiều hình thức phong phú, đa dạng.
Gắn nhiệm vụ thường xuyên với nhiệm vụ tuyên truyền, vừa tiếp công dân vừa giải thích tuyên truyền các quy định của Luật Tiếp công dân cho người dân; mở lớp tập huấn nghiệp vụ về công tác tiếp công dân giúp nâng cao hiểu biết cho cán bộ, công chức về Luật Tiếp công dân, kỹ năng nghiệp vụ trong hoạt động tiếp công dân; tuyên truyền thông qua hoạt động thanh tra trách nhiệm, thanh tra chuyên đề; đăng tin, bài viết về Luật Tiếp công dân trên trang web của cơ quan đơn vị với hơn hàng chục ngàn lượt truy cập. Cạnh đó, việc tuyền truyên phổ biến Luật Tiếp công dân được thực hiện thông qua các buổi sinh hoạt gắn liền với “Ngày pháp luật” tại các đơn vị./.
(Nguồn: ThanhtraVietNam)
Theo Thanh tra Chính phủ, thực hiện Luật Tiếp công dân, Tổng Thanh tra Chính phủ tổ chức tiếp công dân định kỳ tháng 6/2024 để xem xét 02 vụ việc. Vụ việc thứ nhất: Khiếu nại, kiến nghị của ông Nguyễn Đình Chiền, trú tại tổ 2, phường Tân Thịnh, thành phố Thái Nguyên cùng một số công dân liên quan đến việc thực hiện Dự án Xây dựng Trung tâm điều hành Đại học Thái Nguyên; Vụ việc thứ hai: Bà Phạm Thị Miến (đại diện cho 44 hộ dân) trú tại tổ 9, phường Hoàng Văn Thụ, thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên.
![]() |
| Phó Tổng Thanh tra Chính phủ Dương Quốc Huy kết luận tại một buổi tiếp dân định kỳ |
Buổi tiếp công dân định kỳ tháng 6/2024 sẽ Phó Tổng Thanh tra Chính phủ Dương Quốc Huy chủ trì; cùng tham dự có đại diện Trưởng Ban tiếp công dân Trung ương Nguyễn Hồng Điệp và đại diện lãnh đạo Cục thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo khu vực I – Thanh tra Chính phủ.
Cùng dự còn có các cơ quan như đại diện các bộ: Giáo dục và Đào tạo, Tài nguyên và Môi trường, Tài chính và đại diện lãnh đạo UBND tỉnh Thái Nguyên cùng đại diện sở, ngành có liên quan của Tỉnh Thái Nguyên.
Buổi tiếp công dân định kỳ tháng 6/2024 được tổ chức vào ngày 25/6/2024 (thứ Ba), vụ việc thứ nhất: từ 14 giờ 00 phút; vụ việc thứ hai: từ 15 giờ 15 phút.
Địa điểm tiếp công dân tại Tổ 13, phường Túc Duyên, thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên./.
Chiều ngày 24/6, Trường Cán bộ Thanh tra (CBTT) tổ chức Lễ Bế giảng lớp bồi dưỡng nghiệp vụ thanh tra viên khóa 09 năm 2024 cho 115 học viên đến từ Thanh tra Bộ Quốc phòng và các bộ, ngành Trung ương và một số tỉnh, thành phố trong cả nước.
Tham dự Lễ Bế giảng có Thầy Vũ Văn Chiến, Bí thư Đảng uỷ, Hiệu trưởng Trường CBTT; ThS. Đào Quốc Trưởng, Trưởng phòng Đào tạo; Đại tá Nguyễn Đình Thắng, trợ lý cán bộ ngành, Thanh tra Bộ Quốc phòng; đại diện các phòng, khoa, Trung tâm Tư liệu, Khoa học và Dịch vụ cùng toàn thể các học viên.

Sau hơn một tháng, các học viên đã hoàn thành toàn bộ chương trình học tập với khối lượng kiến thức tương đối lớn, được thiết kế khoa học, đảm bảo đáp ứng các yêu cầu của thực tiễn công việc. Phần đánh giá cuối khóa được thực hiện hợp lý, khoa học, tránh được áp lực cho học viên. Học viên phải vượt qua 02 bài kiểm tra về kiến thức, kỹ năng và quy trình nghiệp vụ. Cùng với đó, sau mỗi kỹ năng, học viên được thực hành, vận dụng những kiến thức vừa học để xử lý những tình huống cụ thể. Điều này không chỉ giúp học viên nắm chắc kiến thức về mặt lý thuyết mà quan trọng hơn là vận dụng kiến thức đó vào thực tiễn công việc. Ngoài thực hành các kỹ năng trên, học viên còn được thực hành tình huống giả định về công tác thanh tra và công tác tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo. Chương trình học tập được xây dựng phù hợp, trình tự các bài giảng bố trí logic với một thời lượng thích hợp; nội dung các chuyên đề thiết thực và đáp ứng những yêu cầu của thực tiễn, việc kết hợp giữa lý thuyết và thực hành đã góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả của công tác giảng dạy.


Kết thúc khoá học, căn cứ vào kết quả học tập, ý thức chấp hành nội quy, quy chế của Nhà trường, 100% học viên của lớp đủ điều kiện được Hiệu trưởng TCBTT cấp Chứng chỉ. Tập thể lớp đã bình bầu và lựa chọn được một số học viên tiêu biểu đại diện cho phong trào học tập, công tác của lớp. Hiệu trưởng TCBTT đã quyết định tặng giấy khen và kỷ niệm chương.

Kết thúc Lễ Bế giảng, Hiệu trưởng Vũ Văn Chiến chúc mừng toàn thể các học viên đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ học tập, tuyên dương các học viên đã có đóng góp cho hoạt động của Nhà trường và của lớp. Phó Hiệu trưởng gửi lời chúc sức khỏe, hạnh phúc, thành công tới toàn thể các học viên tham dự khóa học.
Thế Nghĩa
Công tác tiếp công dân, xử lý đơn thư đóng vai trò quan trọng trong hoạt động của Đảng, Nhà nước
Lúc sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dành nhiều sự quan tâm đến công tác tiếp công dân nói riêng cũng như công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo nói chung. Theo đó, vào những ngày đầu tháng 10 năm 1945 trong một bài báo Hồ Chủ tịch đã chỉ đạo chính quyền các cấp “Phải chấp đơn, phải xử kiện cho dân mỗi khi người ta đem tới” và ngày 23/11/1945 Người đã ký Sắc lệnh số 64/SL về thành lập Ban thanh tra đặc biệt và đã xác định một trong những nhiệm vụ của Ban thanh tra đặc biệt là “Nhận các đơn khiếu nại”; có quyền gặp trực tiếp người lãnh đạo cơ quan nhà nước để bày tỏ nguyện vọng hoặc kiến nghị với các cơ quan nhà nước. Ban thanh tra đặc biệt có trách nhiệm “phải chấp đơn, phải xử kiện cho dân mỗi khi người ta đem tới”, cũng như phải tiếp dân khi người dân đến gặp trực tiếp.
Xuyên suốt, công tác tiếp công dân, xử lý đơn thư có tầm quan trọng trong hoạt động của Đảng, Nhà nước và các cơ quan, tổ chức của hệ thống chính trị ở nước ta. Nhận thức rõ được tầm quan trọng của công tác này, Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều Nghị quyết, Chỉ thị, văn bản pháp luật về tiếp công dân, xử lý đơn thư. Ngày 23/9/1989, Ban Bí thư có Thông báo số 164-TB/TW về việc tiếp công dân và bảo vệ Trụ sở tiếp công dân của Trung ương Đảng và Nhà nước, trong đó quy định Trụ sở tiếp công dân chung của Trung ương Đảng, Quốc hội, Hội đồng Nhà nước và Hội đồng Bộ trưởng (tại Hà Nội) được thành lập “để tiếp cán bộ, đảng viên, nhân dân lên Trung ương khiếu tố, kiến nghị và phản ánh tình hình.
Văn phòng Trung ương, Văn phòng Quốc hội và Hội đồng Nhà nước, Hội đồng Bộ trưởng cử cán bộ có đủ năng lực, thẩm quyền đến Trụ sở để tiếp, xử lý phần việc thuộc cơ quan mình”, Trụ sở được đặt tại địa chỉ số 1 phố Mai Xuân Thưởng, phường Thuỵ Khuê, quận Tây Hồ, thành phố Hà Nội. Đến năm 1993 tiếp tục thành lập Trụ sở Tiếp công dân của Trung ương Đảng và Nhà nước tại TP. Hồ Chí Minh. Phụ trách Trụ sở được giao cho Cục I, Cục III thuộc Thanh tra Chính phủ, nội dung liên quan đến tiếp nhận và xử lý đơn thư thuộc Văn phòng Thanh tra Chính phủ. Năm 2013, hợp nhất bộ phận tiếp công dân thuộc Cục I, Cục III và bộ phận xử lý đơn thư thuộc Văn phòng Thanh tra Chính phủ thành lập Vụ Tiếp dân và Xử lý đơn thư.
![]() |
| Trụ sở Tiếp công dân Trung ương tại Hà Nội. Ảnh: P.V |
Đến ngày 25/11/2013, Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá XIII ban hành Luật Tiếp công dân số 42/2013/QH13 có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2014, đây là văn bản có tính pháp lý cao nhất từ trước đến nay, quy định đầy đủ và toàn diện hơn về tổ chức và hoạt động tiếp công dân của các cơ quan, tổ chức, đơn vị trong hệ thống chính trị, là cơ sở pháp lý quan trọng để nâng cao hơn nữa hiệu quả hoạt động tiếp công dân.
Thực hiện Luật Tiếp công dân số 42/2013/QH13, ngày 14/7/2014 Tổng Thanh tra Chính phủ đã ban hành Quyết định số 1616/QĐ-TTCP thành lập Ban Tiếp công dân Trung ương, thay thế Vụ Tiếp dân và Xử lý đơn thư quy định tại Điều 3, Nghị định số 83/2012/NĐ-CP ngày 9/10/2012 của Chính phủ. Ban Tiếp công dân trung ương có chức năng tham mưu, giúp Tổng Thanh tra Chính phủ quản lý nhà nước về công tác tiếp công dân, xử lý đơn thư khiếu nại, tố cáo của công dân theo quy định của pháp luật; quản lý thống nhất việc xử lý đơn thư gửi đến Thanh tra Chính phủ; chịu trách nhiệm trực tiếp quản lý Trụ sở Tiếp công dân Trung ương tại Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh.
Trụ sở Tiếp công dân Trung ương tại Hà Nội ở số 1 Ngô Thì Nhậm, quận Hà Đông và Trụ sở Tiếp công dân Trung ương tại Thành phố Hồ Chí Minh ở số 35 Hồ Ngọc lãm, quận Bình Tân là nơi tiếp công dân đến khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh với các cơ quan của Đảng, Chủ tịch nước, các cơ quan của Quốc hội, Chính phủ, gồm 08 cơ quan: Văn phòng Trung ương, Ủy ban Kiểm tra Trung ương, Ban Nội chính Trung ương, Văn phòng Chủ tịch nước, Văn phòng Chính phủ, Ban Dân nguyện thuộc Ủy ban thường vụ Quốc hội, Thanh tra Chính phủ, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.
Quyết tâm vượt khó, trưởng thành qua thời gian
Ngày đầu thành lập, vào năm 2014 Ban có tổng số 40 cán bộ, công chức, viên chức và người lao động, với 33 biên chế công chức hành chính (04 lãnh đạo Ban, 12 lãnh đạo cấp phòng, 17 công chức nghiệp vụ, 01 viên chức biệt phái, 06 nhân viên hợp đồng 68), được tổ chức thành 04 phòng: Tổng hợp; Xử lý đơn thư; Tiếp dân 1 tại Hà Nội và Tiếp dân 2 tại thành phố Hồ Chí Minh.
Ngày 06/08/2018, Tổng Thanh tra Chính phủ ban hành Quyết định số 705/QĐ-TTCP quy định nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức, hoạt động của Ban. Theo đó, cơ cấu tổ chức của Ban gồm: Trưởng ban, các Phó Trưởng ban và 05 phòng chuyên môn (phòng Tổng hợp, phòng Tiếp công dân 1, phòng Tiếp công dân 2, phòng Xử lý đơn thư và phòng Theo dõi, đôn đốc). Số lượng cán bộ, công chức và người lao động được giao tại Ban là 43, hiện nay Ban có tổng số 42 cán bộ, công chức, người lao động (34 tại Hà Nội, 08 tại Thành phố Hồ Chí Minh); trong đó có 33 biên chế công chức hành chính và 09 hợp đồng theo Nghị định 111/2022/NĐ-CP ngày 30/12/2022 của Chính phủ.
Việc thành lập Ban TCDTW thể hiện sự quan tâm của Đảng và Nhà nước đối với công tác tiếp dân, nhằm nâng cao trách nhiệm của các cơ quan nhà nước trong công tác tiếp công dân, xử lý đơn thư khiếu nại, tố cáo, đồng thời làm tốt công tác tiếp công dân là thể hiện bản chất tốt đẹp của Nhà nước ta là Nhà nước của dân, do dân và vì dân; góp phần tăng cường mối liên hệ giữa nhân dân với Đảng, Nhà nước. Mặt khác, công tác tiếp công dân giúp cho Đảng, Nhà nước tiếp nhận được những thông tin phản hồi từ thực tế, những vấn đề nảy sinh trong cuộc sống, từ đó đề ra những chủ trương, quyết sách đúng đắn, hợp lòng dân.
Càng ý nghĩa hơn, khi cách đây 10 năm, tại buổi công cố quyết định thành lập Ban TCDTW, tập thể cán bộ, công chức, người lao động của Ban vinh dự được đón Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc dự và chỉ đạo. Phó Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đánh giá cao sự cố gắng, nỗ lực, tinh thần trách nhiệm cao, sẵn sàng nhận nhiệm vụ tại đơn vị mới, bảo đảm Ban TCDTW hoạt động kịp thời và triển khai ngay các công việc theo chức năng, nhiệm vụ được giao của Thanh tra Chính phủ, Văn phòng Trung ương Đảng, Ủy ban Kiểm tra Trung ương, Văn phòng Chủ tịch nước, Văn phòng Chính phủ, Ban dân nguyện – Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Phó Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc yêu cầu Ban TCDTW phải tập trung thực hiện những nhiệm vụ cụ thể như: Quán triệt, thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ của Ban TCDTW; tổ chức chu đáo việc tiếp công dân đến khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh (KNTC, KNPA) với Đảng và Nhà nước tại Trụ sở TCDTW; tổ chức tiếp nhận, phân loại, xử lý đơn KNTC, KNPA; tăng cường theo dõi, đôn đốc kiểm tra việc tiếp nhận, giải quyết KNTC, KNPA do Ban TCDTW chuyển đơn; làm tốt công tác chuẩn bị, tham mưu để các đồng chí lãnh đạo Đảng và Nhà nước và lãnh đạo các cơ quan Trung ương tiếp công dân.
Với các ý kiến chỉ đạo, cũng như kỳ vọng của các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, đặc biệt là Tổng Thanh tra Chính phủ, tập thể lãnh đạo, cán bộ, công chức, người lao động của Ban TCDTW luôn đoàn kết, thống nhất, nỗ lực, vượt khó, phát huy tích cực, ưu điểm, khắc phục tồn tại, hạn chế để luôn hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao.
(Nguồn: ThanhtraVietNam)
Công khai, minh bạch, “nói thẳng”, “nói thật”
Đó là tinh thần của buổi đối thoại vừa được UBND thành phố Hải Phòng tổ chức vào chiều 20/6 giữa Chủ tịch UBND Thành phố và đại diện của 91 hộ dân đề nghị được cấp đất tại Dự án giao đất cho công dân làm nhà ở năm 2003 tại khu Đồng Giáp, phường Nam Hải, quận Hải An, thành phố Hải Phòng.
Thực hiện chỉ đạo của Tổng Thanh tra Chính phủ, Trưởng ban Tiếp công dân Trung ương (TCDTW) Nguyễn Hồng Điệp đã tham gia đối thoại cùng Chủ tịch UBND Thành phố với các hộ dân tại Dự án khu Đồng Giáp.
Ghi nhận tinh thần cầu thị, giải quyết dứt điểm vấn đề về kiến nghị của các hộ dân của người đứng đầu UBND Thành phố khi Hội nghị đối thoại được tổ chức với tinh thần cởi mở, rõ ràng, công khai, minh bạch, “nói thẳng”, “nói thật”, người dân được bày tỏ hết nội dung kiến nghị, đề nghị, lẫn tâm tư, tình cảm trong suốt thời gian vừa qua khi vấn đề chưa được giải quyết dứt điểm.
UBND thành phố Hải Phòng cũng đã mời các cơ quan Trung ương cùng tham dự Hội nghị như: Văn phòng Chính phủ, Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ Tài Chính, Thanh tra Chính phủ, Ban Tiếp công dân Trung ương và Liên Đoàn Luật sự Việt Nam; cùng sự tham gia của các đồng chí trưởng các ban, sở, ngành của Thành phố như: Ban Nội Chính, Ban Tuyên giáo, Ban Dân vận, Công an Thành phố, Sở Tài chính, Xây dựng, Tài nguyên và Môi trường,…
Các công dân kiến nghị, đề nghị 03 nội dung: (1) Đề nghị UBND Thành phố báo cáo đề xuất với Chính phủ hoặc trong phạm vi thẩm quyền của mình bố trí quỹ đất hợp lý giao cho 91 hộ dân, trường hợp có trượt giá thì người dân sẽ bổ sung theo yêu cầu của Dự án; (2) Nếu thực sự không thể có cách nào khác để giao đất cho dân, buộc phải hoàn trả tiền thì đề nghị chính quyền đối thoại trực tiếp với 91 hộ dân để thống nhất phương án hoàn trả tiền đảm bảo có lý, có tình, không thể đơn phương áp giá hoàn trả cho dân, vì tiền thu của 91 hộ dân đã sử dụng vào công trình của Dự án; (3) đề nghị cơ quan có thẩm quyền làm rõ và trả lời cho người dân biết việc điều chỉnh quy hoạch Dự án khu Đồng Giáp, chuyển đổi chủ đầu tư, san lấp mặt bằng, phân lô bán, đúng hay sai?
![]() |
| Toàn cảnh buổi đối thoại. Ảnh: CTV |
Dưới sự điều hành của Chủ trì Hội nghị, lần lượt các nội dung kiến nghị của công dân được đại diện Thanh tra Thành phố, Sở Tài nguyên và Môi trường, Sở Tài chính, UBND quận Hải An báo cáo làm rõ, với tinh thần rõ ràng, không né tránh và đi đến cùng của vấn đề để giải quyết dứt điểm vụ việc.
Đáng chú ý, trước đây khi UBND Thành phố ban hành Quyết định số 969/QĐ-UB ngày 07/5/2003 phê duyệt kế hoạch giao đất cho người dân làm nhà ở năm 2003 tại khu Đồng Giáp, xã Nam Hải (giao đất cho 75 hộ); UBND huyện An Hải (nay là quận Hải An) đã ban hành Quyết định số 335/QĐ-UB ngày 08/5/2003 phê duyệt danh sách giao đất cho các hộ dân để làm nhà ở, với số hộ dân được phê duyệt là 157 hộ (tăng 82 hộ), UBND xã Nam Hải đã tạm thu tiền sử dụng đất đối với 125 hộ dân (thời điểm thu tiền năm 2005, số tiền các hộ dân đã nộp ít nhất là 30 triệu đồng và nhiều nhất là 140 triệu đồng).
Ý kiến của đại diện các cơ quan tại Hội nghị đều thống nhất, chủ trương giao đất cho các hộ dân của UBND Thành phố là đúng quy định, tuy nhiên khi triển khai thực hiện, địa phương đã thực hiện không đúng, để xảy ra vi phạm, ảnh hưởng đến quyền lợi của người dân, gây bức xúc dẫn đến khiếu kiện kéo dài.
Trong thời gian vừa qua, sau khi tiếp nhận kiến nghị của các hộ dân, UBND Thành phố đã tích cực, kịp thời chỉ đạo các sở, ngành, địa phương liên quan kiểm tra, rà soát, đề xuất hướng giải quyết, đảm bảo tối đa quyền lợi cho người dân. Tuy nhiên, việc xử lý tháo gỡ vướng mắc, khó khăn này phải đảm bảo tuân thủ các quy định của pháp luật, đúng đối tượng và đúng thẩm quyền.
Xem xét kỹ lưỡng, thấu tình, đạt lý, đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp của người dân
Phát biểu ý kiến tại Hội nghị đối thoại, vẫn theo quan điểm xuyên suốt của Trụ sở TCDTW, của Ban TCDTW và cá nhân Trưởng ban TCDTW Nguyễn Hồng Điệp, luôn là cầu nối giữa người dân và chính quyền, làm sao để “ba mặt một lời”, nói hết, trình bày hết, rõ ràng vấn đề, vẫn với một tinh thần, quyền lợi chính đáng, hợp pháp của người dân, dù nhỏ, dù ít, thì chính quyền vẫn phải quan tâm, giải quyết cho người dân, đừng “quay lưng” lại với người dân.
![]() |
| Trưởng ban Tiếp công dân Trung ương Nguyễn Hồng Điệp phát biểu. Ảnh: CTV |
Trưởng ban TCDTW hết sức chia sẻ với bà con, khi vụ việc đã diễn ra trong thời gian khá dài và người dân đã gửi đơn lên Trụ sở TCDTW, lên các cơ quan Trung ương trong thời gian vừa qua, “không dễ dàng gì” khi vẫn hy vọng, chờ đợi, mong ngóng trong suốt 20 năm như vậy. Do đó, nếu các cấp chính quyền chúng ta chỉ đơn thuần xem xét, giải quyết “cứng nhắc” theo quy định thì vô tình sẽ làm người dân xa rời chính quyền, và ở trường hợp này, người dân đã nộp tiền vào ngân sách nhà nước để thực hiện giải phóng mặt bằng, để xây dựng hạ tầng kỹ thuật tại Dự án khu Đồng Giáp.
Trưởng ban TCDTW khẳng định sự cầu thị của UBND Thành phố thể hiện qua việc chỉ đạo rà soát, giải quyết nhiều lần và đặc biệt là buổi đối thoại của đồng chí Chủ tịch UBND Thành phố ngày hôm nay, đối chiếu, xem xét các quy định của pháp luật về đất đai, đầu tư xây dựng qua từng thời kỳ, ông Nguyễn Hồng Điệp cũng rất thẳng thắn khi khẳng định, vấn đề giao đất cho 91 hộ dân là rất khó để thực hiện, do đó chỉ còn phương án UBND Thành phố cân nhắc phương án hợp lý trả lại tiền cho các hộ dân, có xem xét đến các yếu tố phù hợp với thực tiễn và quá trình lịch sử trước đây khi người dân thực hiện nộp tiền vào ngân sách nhà nước. “Rõ ràng là của đau con xót, nhưng giải quyết, xử lý phải theo đúng thủ tục, trình tự của pháp luật, bà con chúng ta cũng cần đặt mình vào vị trí của đồng chí Chủ tịch UBND Thành phố để hiểu và chia sẻ với chính quyền, đồng chí Chủ tịch hơn ai hết muốn đảm bảo quyền lợi cho bà con chúng ta”, Trưởng ban TCDTW chia sẻ.
Cũng tại Hội nghị, Trưởng ban TCDTW cũng “mách nước” cho người Chủ trì Hội nghị khi đề xuất, sau khi có báo cáo đầy đủ, tổng thể của sở, ngành, địa phương về vụ việc, UBND Thành phố cần đề xuất một buổi làm việc với Thanh tra Chính phủ về việc thực hiện Kết luận Thanh tra số 2993 và xử lý sau thanh tra, cùng sự tham gia của Bộ Tài Nguyên và Môi trường, Bộ Tài chính. “Nếu làm xong việc này thì rõ ràng là chính quyền thành phố Hải Phòng cũng đã hết lòng, hết sức với bà con rồi”, ông Nguyễn Hồng Điệp chia sẻ thêm khi kết thúc phần phát biểu của mình.
Xuyên suốt cả quá trình tổ chức Hội nghị cho đến khi kết luận, Chủ tịch UBND Thành phố rất thẳng thắn và không né tránh khi khẳng định, vụ việc đã xảy ra trong thời gian dài nhưng chưa được giải quyết dứt điểm, và để xảy ra vụ việc phức tạp, kéo dài như thế này có một phần trách nhiệm của cơ quan hành chính nhà nước cấp xã, cấp huyện.
![]() |
| Chủ tịch UBND thành phố Hải Phòng Nguyễn Văn Tùng phát biểu. Ảnh: CTV |
Trên quan điểm bảo đảm quyền, lợi ích hợp của người dân, nhưng các thức xử lý, giải quyết phải theo đúng quy định của pháp luật, đến nay quá trình rà soát kỹ, cẩn thận, hết tất cả các nội dung đề nghị của bà con, cùng các ý kiến thống nhất của đại diện các cơ quan Trung ương tham gia buổi đối thoại, Chủ tịch UBND Thành phố khẳng định không thể giao đất cho 91 hộ dân và UBND Thành phố sẽ thực hiện phương án trả lại tiền cho các hộ dân, phải giải quyết dứt điểm vụ việc, không để kéo dài hơn nữa, “vì nếu kéo dài thì 20 năm sau chúng ta lại vẫn ngồi đây và nói về những vấn đề như ngày hôm nay”, – rõ ràng với cách đối thoại mộc mạc, gần gũi nhưng rất có trọng tâm đã đạt hiệu quả. Và người đứng đầu UBND Thành phố cũng mộc mạc khi chia sẻ “các bác cần phải chia sẻ với chính quyền, và các bác cũng cần đặt mình vào vị trí của em, ngày hôm nay, vị trí Chủ tịch UBND Thành phố đang giải quyết việc cho các bác, để hiểu, chia sẻ và cùng với chính quyền giải quyết vấn đề”.
Chủ tịch UBND Thành phố giao Sở Tài chính đề xuất phương án trả lại số tiền 3,2 tỷ người dân đã nộp vào ngân sách, thực hiện ngay trong tháng 6/2024. Đồng thời, giao Văn phòng UBND Thành phố tham mưu để Chủ tịch UBND Thành phố làm việc với Thanh tra Chính phủ, Bộ Tài Chính, Bộ Tài nguyên và Môi trường về việc thực hiện Kết luận Thanh tra số 2993 của Thanh tra Chính phủ, cũng như cơ chế hỗ trợ bà con về việc tính lãi suất hoặc trượt giá cho bà con, với tinh thần “được đồng nào hay đồng ấy, hỗ trợ thêm cho bà con”, và sau bước này, đề nghị bà con chia sẻ, phối hợp cùng UBND Thành phố./.
Ngày 21/6, Viện Chiến lược và Khoa học thanh tra (CL&KHTT) đã tổ chức hội thảo với chủ đề “Tác động của chính sách đất đai và những vấn đề đặt ra đối với công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trong đấu giá quyền sử dụng đất (SDĐ), đấu thầu dự án có SDĐ”, do ThS Trần Đại Nghĩa, chuyên gia chính sách pháp lý dự án đầu tư trình bày.

Đây là chủ đề nằm trong đề tài khoa học cấp bộ “Phòng, chống tham nhũng trong đấu giá quyền sử dụng đất, đấu thầu dự án có sử dụng đất”, do ThS Nguyễn Sỹ Giao, Viện CL&KHTT làm chủ nhiệm.
Theo ThS Nguyễn Sỹ Giao, hành vi tham nhũng, tiêu cực trong lĩnh vực đấu giá quyền SDĐ, đấu thầu dự án có SDĐ được thực hiện một cách tinh vi, có hệ thống, kéo dài qua nhiều giai đoạn và khó phát hiện, ngăn chặn. Khác với các hoạt động kinh tế khác, hoạt động đấu giá quyền SDĐ, đấu thầu dự án có SDĐ bao gồm nhiều khâu, diễn ra ở nhiều không gian khác nhau, phạm vi rộng, khó kiểm soát…
Nguyên nhân của việc tham nhũng, tiêu cực trong lĩnh vực đấu giá quyền SDĐ, đấu thầu dự án có SDĐ là xuất phát từ giá trị đất đai. Trong nền kinh tế thị trường cùng với quá trình đô thị hóa làm cho đất trở thành loại tài sản có giá trị đặc biệt lớn, kích thích lòng tham và tính vụ lợi của con người, nhất là nhũng người có nhiều khả năng và điều kiện thực hiện hành vi tham nhũng, tiêu cực trong lĩnh vực quản lý đất đai.
Bên cạnh đó, xuất phát từ địa vị pháp lý của chủ thể đối với đất đai, theo ThS Nguyễn Sỹ Giao, mặc dù pháp luật đất đai quy định Quốc hội, HĐND các cấp, Chính phủ, UBND các cấp thực hiện quyền đại diện chủ sở hữu toàn dân về đất đai trong phạm vi cả nước và từng địa phương. Song thực tế, tuy về mặt pháp lý, người đứng đầu Quốc hội, HĐND các cấp, chính phủ, UBND các cấp không phải là chủ thể sử hữu đất đai, nhưng họ lại được trao rất nhiều quyền lực trong “hiện thực hóa” việc ký các quyết định giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích SDĐ; thu hồi đất, cấp giấy chứng nhận quyền SDĐ, phê duyệt quy hoạch, kế hoạch SDĐ và xác định giá đất… vô hình trung các chủ thể này được trao rất nhiều quyền lực trong quyết định phân bổ đất đai cho các nhu cầu khác nhau của xã hội.
“Nếu không có cơ chế pháp lý hữu hiện để giám sát, kiểm soát việc thực thi quyền lực của các đối tượng này thì dễ nảy sinh sự lạm dụng quyền lực, “tha hóa quyền lực” trong việc phân bổ nguồn lực đất đai vì lợi ích nhóm. Bởi lẽ, nguồn lực đất đai của quốc gia là có hạn và ngày càng khan hiếm; trong lúc đó nhu cầu SDD vào các mục đích khác nhau của xã hội ngày càng tăng. Sự mất cân đối giữa cung và cầu đất đai đã tạo ra khả năng dễ dàng tìm kiếm lợi nhuận giữa người có đất với người không có đất”, chủ nhiệm đề tài nêu.
Hơn nữa, trong điều kiện kinh tế thị trường thì đất đai ngày càng có giá trị, do đó để tiếp cận và được Nhà nước giao đất, cho thuê đất qua hình thức đấu giá đất, đấu thầu dự án có SDĐ, không ít doanh nghiệp, cá nhân, tổ chức cạnh tranh không lành mạnh bằng cách cấu kết, bắt tay với người đại diện cơ quan Nhà nước có thẩm quyền giao đất, cho thuê đất (người có quyền ký các quyết định giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích SDĐ…) nhằm đạt được lợi ích tối đa cho mình. Điều này được thực hiện trong bối cảnh thẩm quyền tập trung quá lớn trong việc cấp đất không được kiểm tra, giám sát hiệu quả đã tạo điều kiện cho tham nhũng.
![]() |
| Toàn cảnh hội thảo. Ảnh: TH |
Tại hội thảo, ThS Trần Đại Nghĩa, chuyên gia chính sách pháp lý dự án đầu tư đã trình bày tác động của chính sách đất đai và những vấn đề đặt ra đối với công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trong đấu giá quyền SDĐ, đấu thầu dự án có SDĐ.
Theo đó, việc đấu thầu dự án có SDĐ phải trải qua 4 các giai đoạn: Sơ bộ năng lực kinh nghiệm; đấu thầu (mời thầu, dự thầu, đóng thầu, mở thầu kỹ thuật, mở thầu tài chính, công bố kết quả); ký kết hợp đồng và nếu là liên doanh thì lập doanh nghiệp dự án và công nhận chủ đầu tư danh nghiệp dự án.
Về quy trình lựa chọn nhà đầu tư thực hiện dự án đầu tư có SDĐ cũng bao gồm các giai đoạn như: Chuẩn bị kế hoạch lựa chọn nhà đầu tư; tổ chức lựa chọn và đánh giá hồ sơ; thẩm định, phê duyệt công khai kết quả và đàm phán ký kết hợp đồng.
Tuy nhiên, thực tiễn có những vướng mắc trong quá trình đó, ThS Trần Đại Nghĩa chỉ ra, trước đấu thầu chưa rõ tiêu chí về xác định phương thức tiếp cận đất đai là đấu thầu hay chấp thuận; khó tiếp cận thông tin hồ sơ dự án; việc tài trợ quy hoạch làm giảm sự công bằng giữa các nhà đầu tư.
Trong đấu thầu, thời gian phát hành hồ sơ mời ngắn; kết thúc 30 ngày nếu có một nhà đầu tư quan tâm là đóng hồ sơ, hay là hồ sơ liên doanh không phân rõ trách nhiệm, mượn hồ sơ. Ngoài ra, việc chứng minh năng lực không đạt, thông tin tính toán m3 không đầy đủ cũng là những vướng mắc trong đấu thầu.
Sau đấu thầu, quy hoạch có thể bị điều chỉnh tăng; nhà đầu tư chậm thực hiện dự án do chậm trong công tác đền bù, giải phóng mặt bằng hay dự án bị điều chỉnh nhiều lần.
Đối với việc đấu giá quyền SDĐ, ThS Trần Đại Nghĩa cho biết, quy trình lựa chọn nhà đầu tư thông qua đấu giá quyền SDĐ trải qua 7 giai đoạn, đó là: Lập phương án đấu giá; chuẩn bị hồ sơ và quyết định đấu giá; xây dựng và phê duyệt giá khởi điểm; lựa chọn đơn vị thực hiện bán đấu giá; thực hiện và giám sát cuộc bán đấu giá quyền SDĐ; phê duyệt kết quả đấu giá; thực hiện nghĩa vụ tài chính và cấp giấy chứng nhận quyền SDĐ.
Tuy nhiên, quy trình này cũng có các vướng mắc, theo ThS Trần Đại Nghĩa, trước đấu giá, khó tiếp cận thông tin hồ sơ dự án; đặt cọc tham gia còn thấp, nên dễ xảy ra “quân xanh, quân đỏ”; xác định giá khởi điểm chưa chính xác.
Trong đấu giá, việc tiến hành đấu giá trực tiếp tiềm ẩn rủi ro bị “quây đấu giá”; doanh nghiệp trúng đấu giá nhưng không thực hiện nghĩa vụ tài chính; doanh nghiệp không đủ năng lực vẫn tham gia đấu giá.
Sau đấu giá, nhiều khu đất bị điều chỉnh tăng chỉ tiêu so với lúc đem đấu giá; nhiều doanh nghiệp không có năng lực, thực hiện dự án không đúng tiến độ cam kết; việc để giá bất động sản tăng phi mã làm giảm sức cạnh tranh của nền kinh tế.
ThS Trần Đại Nghĩa đưa ra một số biện pháp giải quyết những vướng mắc về đấu giá SDD và đấu thầu dự án có SDĐ. Theo đó, các phương thức tiếp cận đất đai chưa rõ ràng, cần phải điều chỉnh cho phù hợp; minh bạch trong quá trình thực hiện quy hoạch; thời gian trong đấu giá cần được kéo dài hơn; tăng điều kiện cho doanh nghiệp tham gia đấu giá; đề nghị thực hiện đấu giá trực tuyến; phải thu hồi dự án khi chậm triển khai.







