Từ khóa: phòng, chống tham nhũng; xây dựng pháp luật; kiểm soát quyền lực.
Đặt vấn đề
Điều 2 Hiến pháp năm 2013, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Hiến pháp năm 2013) quy định: Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân; được tổ chức và hoạt động theo Hiến pháp và pháp luật, quản lý xã hội bằng Hiến pháp và pháp luật, đồng thời luôn quan tâm, coi trọng chất lượng, hiệu quả công tác xây dựng pháp luật[1]. Đặc biệt, công tác xây dựng và thi hành pháp luật là đột phá của đột phá trong hoàn thiện thể chế phát triển đất nước và là nhiệm vụ trọng tâm của tiến trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của Nhân dân, do Nhân dân và vì Nhân dân, dưới sự lãnh đạo của Đảng[2].
Nhận thức rõ tầm quan trọng của công tác phòng, chống tham nhũng, đặc biệt, trong lĩnh vực xây dựng pháp luật, ngày 27/6/2024, Bộ Chính trị đã ban hành Quy định số 178-QĐ/TW về kiểm soát quyền lực, phòng, chống tham nhũng tiêu cực trong công tác xây dựng pháp luật (Quy định số 178-QĐ/TW). Điều này thể hiện rõ quyết tâm chính trị của Đảng và Nhà nước trong việc siết chặt kỷ luật, kỷ cương, tăng cường kiểm soát và phòng ngừa các nguy cơ tham nhũng trong tất cả các giai đoạn của quy trình xây dựng pháp luật. Trong kỷ nguyên mới, với những yêu cầu ngày càng cao về chất lượng pháp luật, việc nghiên cứu, đánh giá thực trạng các quy định hiện hành về phòng, chống tham nhũng trong công tác xây dựng pháp luật và đề xuất các giải pháp là thực sự cần thiết nhằm thể chế hóa sâu, rộng, hiệu quả các chủ trương của Đảng trong thực tiễn.
1. Khái quát chung về phòng, chống tham nhũng trong công tác xây dựng pháp luật
1.1. Khái niệm phòng, chống tham nhũng trong công tác xây dựng pháp luật
Khoản 1 Điều 2 Quy định số 178-QĐ/TW quy định: “Công tác xây dựng pháp luật là hoạt động của cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền trong việc đề nghị, kiến nghị xây dựng pháp luật, lập, thông qua, điều chỉnh chương trình xây dựng pháp luật, soạn thảo, lấy ý kiến, trình, tham gia góp ý, phản biện xã hội, thẩm định, thẩm tra, tiếp thu, chỉnh lý, ban hành văn bản quy phạm pháp luật”. Công tác xây dựng pháp luật hướng tới việc hình thành các quy định pháp luật phản ánh đúng ý chí, nguyện vọng của Nhân dân, phù hợp với thực tiễn kinh tế – xã hội, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể tham gia quan hệ xã hội.
Tuy nhiên, trong công tác xây dựng pháp luật, một số trường hợp các chủ thể đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn để hình thành lợi ích nhóm và vụ lợi cá nhân. Theo khoản 4 Điều 2 Quy định số 178-QĐ/TW, “Tham nhũng trong công tác xây dựng pháp luật là hành vi lợi dụng, lạm dụng chức vụ, quyền hạn của người có thẩm quyền trong quá trình xây dựng pháp luật vì mục đích vụ lợi”. Đó là hoạt động phức hợp gồm các hành vi kế tiếp nhau, quan hệ chặt chẽ với nhau, do nhiều cá nhân và nhóm chủ thể có vị trí, chức năng, quyền hạn khác nhau tiến hành nhằm chuyển hóa quyền lợi thành những quy tắc pháp lý, thể hiện chúng dưới những hình thức chính sách, pháp luật (chủ yếu là các văn bản pháp luật)[3]. Điều 5 Quy định số 178-QĐ/TW quy định 06 nhóm hành vi tham nhũng trong công tác xây dựng pháp luật, gồm:
(i) Hành vi cố ý chủ trì ban hành hoặc tham mưu ban hành văn bản quy phạm pháp luật có nội dung thể hiện lợi ích nhóm, cục bộ; cố ý trì hoãn việc đình chỉ, bãi bỏ, thay thế, sửa đổi, bổ sung, ban hành mới văn bản quy phạm pháp luật vì mục đích lợi ích nhóm, cục bộ. Đây có thể coi là một trong những hành vi nguy hiểm nhất trong các hành vi tham nhũng trong công tác xây dựng pháp luật. Việc cố tình đưa những điều khoản “ưu ái” cho một nhóm lợi ích nhất định hoặc trì hoãn việc sửa đổi văn bản pháp luật, thể hiện sự tha hóa quyền lực, coi thường lợi ích công, tạo ra sự bất bình đẳng trong xã hội.
(ii) Hành vi nhận tiền, tài sản, lợi ích vật chất hoặc các lợi ích khác dưới mọi hình thức để ban hành hoặc tác động đến cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền trong công tác xây dựng pháp luật nhằm ban hành văn bản quy phạm pháp luật có nội dung thể hiện lợi ích nhóm, cục bộ. Đây là hành vi tham nhũng dễ nhận thấy, làm mất tính khách quan, công bằng của pháp luật, dẫn đến các chính sách quan trọng được đưa ra dựa trên lợi ích cá nhân hoặc lợi ích một nhóm người, mà không dựa trên nhu cầu và lợi ích chung của xã hội.
(iii) Hành vi đưa hối lộ, môi giới hối lộ cho người có thẩm quyền trong công tác xây dựng pháp luật nhằm ban hành văn bản quy phạm pháp luật có nội dung thể hiện lợi ích nhóm, cục bộ.
Hành vi này tạo ra hệ thống pháp luật bị chi phối bởi quyền lực kinh tế, làm suy yếu vai trò điều chỉnh của pháp luật đối với các quan hệ xã hội, làm “méo mó” môi trường kinh doanh, gây khó khăn cho các chủ thể khác và làm giảm hiệu quả quản lý nhà nước.
(iv) Hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn được giao trong công tác xây dựng pháp luật để định hướng truyền thông không bảo đảm khách quan và không đúng sự thật về nội dung chính sách trong công tác xây dựng pháp luật vì vụ lợi. Hành vi này tương đối khó phát hiện trong bối cảnh truyền thông đa dạng như hiện nay. Việc kiểm soát thông tin và định hướng dư luận nhằm che đậy những động cơ vụ lợi đằng sau các chính sách, tạo sự đồng thuận giả tạo và gây khó khăn cho việc phát hiện và đấu tranh phòng, chống tham nhũng.
(v) Hành vi lạm quyền, câu kết với doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân khác để trục lợi trong công tác xây dựng pháp luật. Hành vi này thể hiện sự “móc ngoặc” giữa những người có thẩm quyền trong công tác xây dựng pháp luật với các đối tượng bên ngoài nhằm thu lợi bất chính thông qua việc tạo ra các quy định pháp luật có lợi cho nhóm lợi ích.
(vi) Các hành vi tham nhũng, lợi ích nhóm, cục bộ khác trong công tác xây dựng pháp luật theo quy định của Đảng và pháp luật của Nhà nước. Đây là một điều khoản mở, cho thấy Đảng và Nhà nước đã tiên liệu tính đa dạng, không ngừng biến đổi của các hành vi tham nhũng. Điều này đòi hỏi các cơ quan có thẩm quyền cần theo dõi sát sao, cập nhật liên tục các quy định pháp luật và tăng cường công tác kiểm tra, giám sát để kịp thời phát hiện và xử lý các hành vi tham nhũng mới phát sinh.
Các hành vi tham nhũng trong công tác xây dựng pháp luật diễn ra tinh vi, để lại những hậu quả nghiêm trọng do khả năng tác động của chính sách, pháp luật ở phạm vi và mức độ rộng lớn hơn các hành vi tham nhũng đơn lẻ. Bởi vậy, yêu cầu cấp bách đặt ra là phải có các biện pháp hữu hiệu để phòng ngừa và chống lại các hành vi tham nhũng trong công tác xây dựng pháp luật. Từ các phân tích trên, có thể hiểu, phòng, chống tham nhũng trong công tác xây dựng pháp luật là tổng thể các biện pháp, hoạt động nhằm phòng ngừa, ngăn chặn, phát hiện và xử lý hành vi của người có thẩm quyền trong công tác xây dựng pháp luật đã lợi dụng, lạm dụng chức vụ, quyền hạn được giao trong công tác xây dựng pháp luật vì vụ lợi.
1.2. Ý nghĩa của phòng, chống tham nhũng trong công tác xây dựng pháp luật
Thứ nhất, phòng, chống tham nhũng trong công tác xây dựng pháp luật góp phần bảo vệ chế độ, xây dựng Nhà nước pháp quyền, bảo đảm tính thượng tôn pháp luật. Đấu tranh chống tham nhũng là cuộc đấu tranh gian khó, phức tạp nhưng cần thiết và phải được thực hiện để xây dựng xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, dựa trên lợi ích chung của toàn xã hội.
Thứ hai, phòng, chống tham nhũng trong công tác xây dựng pháp luật góp phần tăng trưởng kinh tế đất nước, nâng cao đời sống Nhân dân. Hệ thống pháp luật minh bạch, công bằng là yếu tố then chốt để thu hút đầu tư, thúc đẩy phát triển kinh tế bền vững. Trong đó, quy trình xây dựng pháp luật minh bạch sẽ tạo ra những văn bản pháp luật chất lượng cao, khả thi, phù hợp với thực tiễn và đáp ứng được yêu cầu phát triển của đất nước.
Thứ ba, phòng, chống tham nhũng trong công tác xây dựng pháp luật giúp củng cố niềm tin của Nhân dân vào chế độ chính trị, duy trì các giá trị đạo đức truyền thống, làm lành mạnh các quan hệ xã hội. Thông qua con đường đấu tranh không khoan nhượng với các hành vi tham nhũng trong công tác xây dựng pháp luật góp phần làm trong sạch bộ máy nhà nước.
1.3. Nguyên tắc phòng, chống tham nhũng trong công tác xây dựng pháp luật
Theo Điều 4 Quy định số 178-QĐ/TW, hoạt động phòng, chống tham nhũng trong công tác xây dựng pháp luật phải tuân thủ một số nguyên tắc sau:
Thứ nhất, bảo đảm sự lãnh đạo, chỉ đạo tập trung, thống nhất, chặt chẽ, toàn diện của Đảng trong kiểm soát quyền lực, phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, lợi ích nhóm, cục bộ trong công tác xây dựng pháp luật.
Thứ hai, kết hợp đồng bộ, chặt chẽ các cơ chế, biện pháp kiểm soát quyền lực, phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, lợi ích nhóm, cục bộ trong công tác xây dựng pháp luật; chủ động phòng ngừa là chính; kịp thời phát hiện, ngăn chặn và xử lý nghiêm các hành vi lợi dụng, lạm dụng chức vụ, quyền hạn, tham nhũng, tiêu cực trong công tác xây dựng pháp luật; bảo vệ đảng viên, cán bộ, công chức, viên chức năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung.
Thứ ba, đề cao trách nhiệm nêu gương của người đứng đầu cấp ủy, tổ chức đảng, cơ quan, tổ chức, trách nhiệm của đảng viên, cán bộ, công chức, viên chức trong phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, lợi ích nhóm, cục bộ trong công tác xây dựng pháp luật.
Thứ tư, bảo đảm thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền trong công tác xây dựng pháp luật; không làm cản trở sự chủ động, sáng tạo, công khai, minh bạch, dân chủ, kịp thời, đồng bộ, thống nhất, khả thi trong công tác xây dựng pháp luật.
Thứ năm, bảo đảm sự giám sát, phản biện, tham gia xây dựng pháp luật của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận, cơ quan báo chí, tổ chức xã hội khác và Nhân dân theo quy định.
2. Thực trạng phòng, chống tham nhũng trong công tác xây dựng pháp luật tại Việt Nam
2.1. Một số kết quả đạt được
Thứ nhất, về hoạt động lãnh đạo, chỉ đạo, kiểm tra, giám sát, kỷ luật của Đảng trong công tác xây dựng pháp luật: trong thời gian qua, Đảng đã ban hành nhiều nghị quyết, chỉ thị, quy định về phòng, chống tham nhũng trong công tác xây dựng pháp luật[4], cũng như ban hành các chủ trương, đường lối, định hướng lớn về xây dựng pháp luật, bảo đảm pháp luật phù hợp với Cương lĩnh, đường lối của Đảng, Hiến pháp và tình hình thực tiễn của đất nước. Qua đó, nhận thức về tầm quan trọng của việc phòng, chống tham nhũng trong công tác xây dựng pháp luật đã được nâng lên. Hệ thống quy định pháp luật về phòng, chống tham nhũng trong công tác xây dựng pháp luật ngày càng được hoàn thiện, trong đó, Quy định số 178-QĐ/TW là bước tiến quan trọng, đặt cơ sở vững chắc, làm tiền đề cho việc thể chế hóa chủ trương, đường lối của Đảng vào các quy định pháp luật cụ thể.
Bên cạnh đó, Đảng tiến hành kiểm tra, giám sát các tổ chức đảng, đảng viên trong các cơ quan nhà nước có thẩm quyền xây dựng pháp luật về việc chấp hành các chủ trương, nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, đặc biệt là các quy định về phòng, chống tham nhũng. Đảng đã ban hành các quy định nghiêm khắc về kỷ luật đối với đảng viên vi phạm, gồm cả các hành vi tham nhũng trong quá trình tham gia xây dựng pháp luật.
Thứ hai, về hoạt động kiểm soát quyền lực giữa các cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền thông qua việc thực hiện các quy trình, thủ tục trong công tác xây dựng pháp luật: hệ thống pháp luật Việt Nam quy định một quy trình chặt chẽ bảo đảm sự phối hợp, kiểm soát lẫn nhau giữa các cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền từ khâu lập đề nghị xây dựng pháp luật, thông qua chính sách, đưa vào chương trình xây dựng pháp luật, soạn thảo, thẩm định, thẩm tra đến ban hành, công khai văn bản quy phạm pháp luật. Công tác xây dựng pháp luật tại các bộ, ngành, địa phương ngày càng được quan tâm, coi trọng. Trên cơ sở Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới, ngày 17/5/2025, Quốc hội ban hành Nghị quyết số 197/2025/QH15 về một số cơ chế, chính sách đặc biệt tạo đột phá trong xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật (Nghị quyết số 197/2025/QH15).
Thứ ba, về hoạt động giám sát, kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật: hệ thống pháp luật Việt Nam đã quy định cụ thể về hoạt động giám sát của Quốc hội, Hội đồng nhân dân; hoạt động kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chủ tịch nước, Đoàn Chủ tịch Ủy ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tổng Kiểm toán nhà nước, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân các cấp, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh[5]; hoạt động thanh tra của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong công tác xây dựng pháp luật để kịp thời phát hiện và xử lý các văn bản trái pháp luật, không phù hợp với thực tiễn hoặc có tiềm ẩn nguy cơ tham nhũng.
Thứ tư, về hoạt động giám sát, phản biện xã hội, tham gia xây dựng pháp luật của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận, tổ chức xã hội khác, cơ quan báo chí và Nhân dân: Hiến pháp năm 2013 và Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 đã quy định vai trò giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, cũng như trách nhiệm của cơ quan chủ trì soạn thảo trong việc lấy ý kiến góp ý, tham vấn, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, tổ chức xã hội khác, cơ quan báo chí và Nhân dân với hình thức lấy ý kiến đa dạng.
Thứ năm, về hoạt động của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý hành vi vi phạm pháp luật trong công tác xây dựng pháp luật: pháp luật Việt Nam quy định hình thức xử lý đối với các hành vi vi phạm pháp luật trong công tác xây dựng pháp luật tùy từng mức độ và tính chất của hành vi vi phạm mà có thể bị xử lý kỷ luật, xử lý hành chính hoặc xử lý hình sự. Việc xử lý hành vi vi phạm được thực hiện nghiêm minh, không có vùng cấm, không có ngoại lệ nhằm răn đe và phòng ngừa các hành vi tham nhũng trong xây dựng pháp luật. Một số vụ việc vi phạm trong công tác xây dựng pháp luật đã bị phát hiện và xử lý, thể hiện tính nghiêm minh của công cuộc phòng, chống tham nhũng.
2.2. Một số hạn chế, vướng mắc
Thứ nhất, ngoài Quy định số 178-QĐ/TW, hệ thống văn bản quy phạm pháp luật hiện hành chưa có định nghĩa “tham nhũng trong công tác xây dựng pháp luật”, chưa có tiêu chí cụ thể, rõ ràng xác định hành vi tham nhũng trong công tác xây dựng pháp luật.
Thứ hai, một số cơ quan chủ trì soạn thảo đề xuất đưa vào chương trình các dự án luật, pháp lệnh chưa đủ căn cứ, chưa thực sự cần thiết, hồ sơ đề nghị được chuẩn bị sơ sài, không đầy đủ hồ sơ theo quy định. Bên cạnh đó, còn có sự lạm dụng việc áp dụng trình tự, thủ tục rút gọn trong xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật. Một số văn bản khi đề xuất xây dựng theo trình tự, thủ tục rút gọn có phạm vi nội dung ít hoặc đơn giản, tuy nhiên, trong quá trình xây dựng cơ quan chủ trì soạn thảo lại đề xuất mở rộng phạm vi điều chỉnh nên các nội dung mới không được nghiên cứu tổng kết hoặc đánh giá kỹ lưỡng làm ảnh hưởng đến chất lượng dự thảo văn bản.
Thứ ba, một số báo cáo tổng kết thực tiễn thi hành các quy định pháp luật không khảo sát, đánh giá kỹ thực trạng tại các vùng, miền, địa phương; báo cáo đánh giá tác động chính sách chưa xác định rõ vấn đề cần giải quyết, mục tiêu của chính sách, giải pháp để thực hiện chính sách, nội dung đánh giá tác động còn thiếu thông tin, số liệu đáng tin cậy, chủ yếu sử dụng phương pháp định tính; báo cáo rà soát quy định pháp luật có liên quan, báo cáo lồng ghép vấn đề bình đẳng giới còn hình thức, thiếu thông tin.
Thứ tư, một số trường hợp tổ chức lấy ý kiến dự thảo văn bản quy phạm pháp luật còn hình thức, thủ tục, chưa có trọng tâm; không bảo đảm đúng thời hạn luật định; không lấy ý kiến đầy đủ của đối tượng chịu sự tác động trực tiếp của văn bản. Việc tập hợp, xử lý các ý kiến góp ý chưa được quy chuẩn hóa, nhiều ý kiến tổng hợp trùng lặp hoặc bỏ sót. Việc phản hồi ý kiến góp ý chưa được chú trọng, chất lượng ý kiến đóng góp nhìn chung chưa cao, nhất là đối với những vấn đề mới, phức tạp, còn nhiều tranh luận.
Thứ năm, một số dự thảo văn bản quy phạm pháp luật không quy định rõ thủ tục hành chính hoặc quy định thủ tục hành chính rườm rà, phức tạp, không cần thiết; quy định điều kiện kinh doanh không dựa trên yêu cầu quản lý nhà nước, nguyên tắc bình đẳng trong kinh doanh. Ngôn ngữ sử dụng trong văn bản có tính chất tùy nghi khi giao nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm cho cơ quan, tổ chức; quy định các trường hợp ngoại lệ và miễn trừ quá nhiều hoặc không hợp lý. Quy trình xây dựng thông tư, thông tư liên tịch hiện còn có tình trạng “đóng kín”, thiếu cơ chế phản biện từ bên ngoài hiệu quả. Do đó, thông tư được ban hành tiềm ẩn rủi ro là sẽ chỉ tập trung phản ánh ý chí chủ quan của bộ, ngành mà không quan tâm đúng mức đến nhu cầu của các chủ thể khác, nhất là các đối tượng xã hội chịu sự tác động của thông tư[6].
Thứ sáu, trình độ, kỹ năng của một bộ phận công chức, người được giao trách nhiệm hoạch định chính sách, pháp luật, thể chế chưa ngang tầm với yêu cầu của công việc đặc biệt khó khăn và phức tạp này. Việc đầu tư vào xây dựng pháp luật, thể chế chưa được coi là đầu tư phát triển để có chủ trương đầu tư thỏa đáng, nhất là đầu tư cho giai đoạn xây dựng chính sách, soạn thảo văn bản[7]. Chính sách tiền lương và thu nhập chưa hấp dẫn để huy động các chuyên gia, nhà khoa học đầu ngành đóng góp vào quá trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật. Việc ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật còn một số tồn tại, hạn chế.
3. Một số kiến nghị, giải pháp
3.1. Hoàn thiện quy định về phòng, chống tham nhũng trong công tác xây dựng pháp luật ở Việt Nam
Thứ nhất, quy phạm hóa các nội dung liên quan đến phòng, chống tham nhũng trong công tác xây dựng pháp luật, đặc biệt, quy phạm hóa các nội dung tại Quy định số 178-QĐ/TW theo hướng làm rõ khái niệm, tiêu chí, cách xác định các “hành vi tham nhũng trong công tác xây dựng pháp luật” ngay trong các văn bản quy phạm pháp luật để làm căn cứ pháp lý cụ thể, thống nhất cho việc hiện thực hóa các chủ trương của Đảng, Nhà nước.
Thứ hai, hoàn thiện quy trình xây dựng pháp luật, đẩy mạnh phản biện xã hội, nâng cao tính công khai, minh bạch, dân chủ và tăng cường sự tham gia của các chủ thể liên quan. Để bảo đảm việc lấy ý kiến thực chất, không mang tính hình thức, Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 cần quy định chi tiết, rõ ràng hơn về cơ chế phản hồi, quyền hạn của người góp ý và biện pháp xử lý trong trường hợp cơ quan chủ trì soạn thảo không tiếp thu, không giải trình thỏa đáng các ý kiến góp ý.
Thứ ba, nâng cao quy định chế tài về trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong công tác xây dựng pháp luật, cần cá thể hóa trách nhiệm, tránh quy định trách nhiệm chung chung, trách nhiệm tập thể. Mặt khác, phải có cơ chế và quy định bảo vệ, khuyến khích những người dám nghĩ, dám làm, bứt phá, đổi mới, sáng tạo vì sự nghiệp chung, không ngại va chạm, tích cực đấu tranh chống tham nhũng, tiêu cực[8].
Thứ tư, khắc phục sơ hở, bất cập trong các văn bản pháp luật chuyên ngành, đặc biệt là những lĩnh vực dễ xảy ra tham nhũng như quản lý, sử dụng đất đai, tài nguyên, khoáng sản; cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước; thu, chi ngân sách; đầu tư xây dựng; tài chính, ngân hàng, thuế, hải quan; các chế độ, định mức, tiêu chuẩn[9]… Trên cơ sở Nghị quyết số 197/2025/QH15, các bộ, ngành, địa phương cần khẩn trương rà soát tổng thể các quy định pháp luật, phát hiện các quy định tiềm ẩn nguy cơ phát sinh tiêu cực, tham nhũng để có cơ chế xử lý, khắc phục kịp thời.
Thứ năm, minh bạch, cắt giảm các quy định về điều kiện đầu tư kinh doanh, rà soát danh mục, giảm bớt các ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện. Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 cần quy định riêng quy trình ban hành, sửa đổi các văn bản quy phạm pháp luật có chứa quy định về điều kiện đầu tư kinh doanh, thủ tục hành chính so với các văn bản pháp luật khác; cần bổ sung đánh giá tác động chính sách về nguy cơ tham nhũng; đối thoại, lấy ý kiến rộng rãi người dân, doanh nghiệp trực tiếp liên quan đến các văn bản quy phạm pháp luật này.
Thứ sáu, cụ thể hóa các chính sách về bảo đảm nguồn nhân lực, nguồn kinh phí và cơ sở vật chất cho công tác xây dựng pháp luật, cơ chế tài chính đặc thù, tương xứng cho công tác xây dựng pháp luật; thu hút, sử dụng hiệu quả và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực xây dựng pháp luật; tăng cường chuyển đổi số, ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong công tác xây dựng pháp luật bảo đảm yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
3.2. Nâng cao hiệu quả thi hành các quy định về phòng, chống tham nhũng trong công tác xây dựng pháp luật ở Việt Nam
Thứ nhất, thông tin, tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức, trách nhiệm cho đảng viên, cán bộ, công chức, viên chức và Nhân dân về tầm quan trọng của việc phòng, chống tham nhũng trong công tác xây dựng pháp luật.
Thứ hai, xây dựng tổ chức bộ máy, đào tạo, bồi dưỡng trình độ, trau dồi phẩm chất, ý thức đạo đức công vụ và tinh thần trách nhiệm đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức làm công tác xây dựng pháp luật chuyên nghiệp, hiệu quả, có năng lực. Thu hút sự tham gia của các tổ chức xã hội, các hiệp hội và các chuyên gia, nhà khoa học để nâng cao chất lượng soạn thảo, thẩm định, thẩm tra, phát hiện và hạn chế tối đa việc lồng ghép, cài cắm “lợi ích nhóm”, tham nhũng trong quá trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật.
Thứ ba, thực hiện công khai, minh bạch toàn bộ quy trình xây dựng pháp luật, đặc biệt, thực hiện nghiêm việc đăng tải dự thảo để lấy ý kiến; bảo đảm các điều kiện để Nhân dân, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên, các tổ chức xã hội, tổ chức xã hội – nghề nghiệp, doanh nghiệp, hiệp hội, cơ quan báo chí tham gia vào quy trình xây dựng chính sách, pháp luật, cũng như trách nhiệm giải trình đầy đủ ý kiến góp ý của cơ quan, tổ chức, cá nhân.
Thứ tư, tăng cường chuyển đổi số, ứng dụng trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn trong công tác xây dựng và thi hành pháp luật để nâng cao hiệu quả, giảm thiểu các thủ tục hành chính rườm rà, tạo điều kiện cho người dân, doanh nghiệp tham gia hoạt động đầu tư sản xuất kinh doanh.
Thứ năm, tăng cường công tác kiểm tra, rà soát, xử lý văn bản quy phạm pháp luật trái pháp luật, xử lý nghiêm trách nhiệm của các chủ thể khi để xảy ra tham nhũng trong công tác xây dựng pháp luật; phát huy vai trò của báo chí, truyền thông trong việc phát hiện, kiến nghị xử lý tham nhũng.
Kết luận
Việt Nam đang đứng trước yêu cầu cần phải có các chủ trương, quyết sách mạnh mẽ mang tính chiến lược và cách mạng về xây dựng, hoàn thiện thể chế, nhất là xây dựng và thi hành pháp luật để tạo xung lực mới đưa đất nước phát triển bứt phá trong kỷ nguyên mới – kỷ nguyên vươn mình phát triển giàu mạnh, thịnh vượng của dân tộc[10]. Trong bối cảnh đó, yêu cầu về phòng, chống tham nhũng trong công tác xây dựng pháp luật được đặt ra và trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết. Đây là nhiệm vụ khó khăn nhưng vô cùng quan trọng. Phòng, chống tham nhũng trong công tác xây dựng pháp luật thành công góp phần xây dựng hệ thống pháp luật trong sạch, hiệu lực, hiệu quả, tạo nền tảng vững chắc cho sự phát triển bền vững và củng cố niềm tin của Nhân dân vào Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam./.
ThS. Lê Thị Thu Hằng
Học viện Công nghệ Bưu chính viễn thông
NCS. Trần Thị Phương Liên
Học viện Tài chính
[1]. Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 09/11/2022 Hội nghị lần thứ 6 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới.
[2]. Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới (Nghị quyết số 66-NQ/TW).
[3]. PGS. TS. Nguyễn Quốc Sửu (2022), Phòng, chống tham nhũng và kiểm soát vận động chính sách trong quy trình xây dựng pháp luật, https://www.tapchicongsan.org.vn/, truy cập ngày 15/5/2025.
[4]. Nghị quyết số 04-NQ/TW ngày 30/10/2016 Hội nghị lần thứ 4 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” đề ra nhiệm vụ: “Các cấp ủy, tổ chức đảng chỉ đạo rà soát, hoàn thiện các quy định, văn bản quy phạm pháp luật về quản lý, điều hành bảo đảm công khai, minh bạch, góp phần xóa bỏ cơ chế “xin – cho”, “duyệt – cấp”; ngăn chặn, đẩy lùi tham nhũng, tiêu cực, “lợi ích nhóm”; Kết luận số 19-KL/TW ngày 14/10/2021 của Bộ Chính trị về định hướng chương trình xây dựng pháp luật nhiệm kỳ Quốc hội khóa XV nêu rõ: “Siết chặt kỷ luật, kỷ cương, đề cao trách nhiệm, nhất là người đứng đầu trong xây dựng pháp luật; chống tiêu cực ngay trong công tác xây dựng pháp luật, không bị chi phối, tác động bởi các hành vi không lành mạnh của bất cứ tổ chức, cá nhân nào, không để xảy ra tình trạng lồng ghép “lợi ích nhóm”, lợi ích cục bộ của cơ quan quản lý nhà nước trong văn bản pháp luật”; Kết luận số 12-KL/TW ngày 06/4/2022 của Bộ Chính trị về tiếp tục tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực đề cập đến một số nội dung như: “Khẩn trương rà soát, bổ sung, hoàn thiện thể chế phòng ngừa tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, nhất là cơ chế kiểm soát quyền lực trong các lĩnh vực, hoạt động dễ phát sinh tham nhũng, tiêu cực; trách nhiệm người đứng đầu, trách nhiệm giải trình, bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch”; Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới đề ra quan điểm chỉ đạo: “Thực hiện nghiêm kỷ cương, kỷ luật, các quy định về kiểm soát quyền lực, phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, “lợi ích nhóm” trong xây dựng và thi hành pháp luật”.
[5]. Điều 62, Điều 63 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025.
[6]. TS. Nguyễn Quốc Văn (2024), Một số vấn đề về phòng, chống tham nhũng trong xây dựng pháp luật ở Việt Nam hiện nay, https://tapchicongsan.org.vn/, truy cập ngày 15/5/2025.
[7]. GS. TS. Hoàng Thế Liên (2024), Cải cách thể chế, pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới, Kỷ yếu Hội thảo khoa học cấp quốc gia Đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới, Bộ Tư pháp, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, tr. 16.
[8]. ThS. Nguyễn Đức Hùng (2021), Hoàn thiện cơ chế, chính sách, pháp luật về phòng chống tham nhũng, https://lsvn.vn/, truy cập ngày 18/5/2025.
[9]. TS. Lê Khánh Ly, Đàm Văn Lợi (2023), Hoàn thiện cơ chế phòng ngừa, ngăn chặn tham nhũng trong thiết chế quyền lực nhà nước ở Việt Nam, https://noichinh.vn/, truy cập ngày 10/5/2025.
[10]. TS. Nguyễn Văn Cương (2024), Hệ thống pháp luật Việt Nam qua 80 năm xây dựng, hoàn thiện và yêu cầu bức thiết của việc đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật, Kỷ yếu Hội thảo khoa học cấp quốc gia Đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới, Bộ Tư pháp, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, tr. 36.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Đinh Văn Minh (2022), Phòng, chống tham nhũng trong xây dựng chính sách, pháp luật ở Việt Nam, https://mt.gov.vn/thanhtra/tin-tuc/1161/82474/ phong–chong-tham-nhung-trong-xay-dung-chinh-sach–phap-luat-o-viet-nam.aspx, truy cập ngày 15/5/2025.
2. GS. TS. Hoàng Thế Liên (2024), Cải cách thể chế, pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới, Kỷ yếu Hội thảo khoa học cấp quốc gia Đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới, Bộ Tư pháp, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh.
3. PGS. TS. Nguyễn Quốc Sửu (2022), Phòng, chống tham nhũng và kiểm soát vận động chính sách trong quy trình xây dựng pháp luật, https:// www.tapchicongsan.org.vn/media-story/-/asset_publisher/V8hhp4dK31Gf/content/phong-chong-tham-nhung-va-kiem-soat-van-dong-chinh-sach-trong-quy-trinh-xay-dung-phap-luat/, truy cập ngày 14/5/2025.
4. ThS. LS. Nguyễn Đức Hùng (2021), Hoàn thiện cơ chế, chính sách, pháp luật về phòng chống tham nhũng, https://lsvn.vn/hoan-thien-co-che-chinh-sach-phap-luat-ve-phong-chong-tham-nhung1623638587-a105148.html, truy cập ngày 18/5/2025.
5. TS. Lê Khánh Ly, Đàm Văn Lợi (2023), Hoàn thiện cơ chế phòng ngừa, ngăn chặn tham nhũng trong thiết chế quyền lực nhà nước ở Việt Nam, https://noichinh.vn/nghien-cuu-trao-doi/202312/ky-2-mot-so-giai-phap-gop-phan-hoan-thien-co-che-phong-ngua-ngan-chan-tham-nhung-o-viet-nam-trong-thoi-gian-toi-hoan-thien-co-che-phong-ngua-ngan-chan-tham-nhung-trong-thiet-che-quyen-luc-nha-nuoc-o-v-313291/, truy cập ngày 10/5/2025.
6. TS. Nguyễn Quốc Văn (2024), Một số vấn đề về phòng, chống tham nhũng trong xây dựng pháp luật ở Việt Nam hiện nay, https://www. tapchicongsan.org.vn/web/guest/chinh-tri-xay-dungdang/-/2018/957002/mot-so-van-de-ve-phong%2Cchong-tham-nhung-trong-xay-dung-phap-luat-o-viet-nam-hien-nay.aspx, truy cập ngày 15/5/2025.
7. TS. Nguyễn Văn Cương (2024), Hệ thống pháp luật Việt Nam qua 80 năm xây dựng, hoàn thiện và yêu cầu bức thiết của việc đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật, Kỷ yếu Hội thảo khoa học cấp quốc gia Đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới, Bộ Tư pháp, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh.
(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật số Kỳ 2 (435) tháng 8/2025)
https://danchuphapluat.vn/mot-so-van-de-ve-phong-chong-tham-nhung-trong-cong-tac-xay-dung-phap-luat-tai-viet-nam-thuc-trang-va-giai-phap-7615-7615.html
Hưởng ứng lời kêu gọi của Đảng, Nhà nước và Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, sáng 14/10, Thanh tra Chính phủ tổ chức Lễ phát động quyên góp ủng hộ đồng bào bị thiệt hại nặng nề do bão lũ.
Tổng Thanh tra Chính phủ Đoàn Hồng Phong phát động ủng hộ đồng bào bị thiệt hại do bão lũ gây ra. Ảnh: Huy Trần
Lễ phát động nhằm kịp thời kêu gọi công chức, viên chức, người lao động thuộc Thanh tra Chính phủ phát huy tinh thần “tương thân tương ái, “lá lành đùm lá rách” cùng chung tay giúp đỡ đồng bào các địa phương bị thiệt hại. Buổi lễ do Tổng Thanh tra Chính phủ Đoàn Hồng Phong chủ trì, với sự tham dự của Phó Tổng Thanh tra Thường trực Thanh tra Chính phủ Nguyễn Văn Quảng, cùng các Phó Tổng Thanh tra Chính phủ: Lê Sỹ Bảy, Dương Quốc Huy, Nguyễn Văn Cường, Lê Tiến Đạt.
Hoạt động này hưởng ứng lời kêu gọi của Đảng, Nhà nước và Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, thể hiện tinh thần tương thân tương ái, “lá lành đùm lá rách” của toàn thể cán bộ ngành Thanh tra đối với người dân vùng bị thiệt hại bởi thiên tai.

Phó Tổng Thanh tra Thường trực Thanh tra Chính phủ Nguyễn Văn Quảng ủng hộ đồng bào bị thiệt hại nặng nề do bão lũ. Ảnh: Huy Trần
Phát biểu tại lễ phát động, Tổng Thanh tra Chính phủ cho biết, chỉ trong tháng 9 và tháng 10/2025, nước ta đã liên tiếp hứng chịu 5 cơn bão; trong đó, đặc biệt 2 cơn bão số 10 (Bualoi) và số 11 (Matmo) đã gây ảnh hưởng rất lớn, cùng với các đợt mưa lũ kéo dài gây thiệt hại nặng nề về người, tài sản tại nhiều địa phương thuộc khu vực Bắc Bộ và miền Trung.
Theo thống kê sơ bộ tính đến 8 giờ, ngày 2/10/2025, bão số 10 đã làm 54 người chết và mất tích, 140 người bị thương; trên 150.000 ngôi nhà bị sập, đổ, tốc mái, hư hỏng; trên 50.000 ha lúa và hoa màu bị ngập, thiệt hại; nhiều tuyến giao thông, trường học, cơ sở y tế, công trình công cộng bị hư hỏng… hậu quả do bão lũ gây ra là rất lớn, nhiều hộ gia đình, cá nhân cần được hỗ trợ, giúp đỡ.

Tổng Thanh tra Chính phủ Đoàn Hồng Phong phát động, kêu gọi mỗi cán bộ, công chức, viên chức, người lao động ủng hộ đồng bào bị ảnh hưởng bởi bão lũ. Ảnh: Huy Trần
Hậu quả cơn bão số 10 chưa khắc phục xong thì hoàn lưu sau bão số 11 đã tiếp tục trở thành đợt thiên tai nghiêm trọng khi gây ra lũ chồng lũ trên diện rộng ở nhiều địa phương, với các loại hình thiên tai đặc biệt nguy hiểm, lũ lớn vượt lịch sử gây ngập lụt và lũ quét, sạt lở đất, thiệt hại nghiêm trọng về tính mạng, tài sản và các công trình đê điều, hồ chứa và cơ sở hạ tầng thiết yếu.
Hưởng ứng lời kêu gọi của lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Chính phủ, Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, với tinh thần “Tương thân tương ái”, “Lá lành đùm lá rách”, truyền thống đoàn kết, chia sẻ tình cảm và trách nhiệm cộng đồng.

Các Phó Tổng Thanh tra Chính phủ ủng hộ đồng bào bị thiệt hại nặng nề do bão lũ. Ảnh: Huy Trần
Tại lễ phát động, thay mặt Đảng ủy, lãnh đạo Thanh tra Chính phủ, Tổng Thanh tra Chính phủ Đoàn Hồng Phong phát động, kêu gọi mỗi đơn vị, cá nhân cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức, người lao động thuộc Thanh tra Chính phủ đóng góp tối thiểu mỗi người 1 ngày lương để hỗ trợ đồng bào bị ảnh hưởng nặng nề do bão gây ra, bớt khó khăn, sớm ổn định cuộc sống, tiếp tục lao động, sản xuất cống hiến cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Lãnh đạo các cục, vụ, đơn vị ủng hộ đồng bào bị thiệt hại nặng nề do bão lũ. Ảnh: Huy Trần
Tổng Thanh tra Chính phủ giao Văn phòng Đảng uỷ, Ban Tuyên giáo và Dân vận Đảng uỷ phối hợp với Văn phòng Thanh tra Chính phủ tiếp tục tham mưu việc quán triệt và triển khai sâu rộng tới các vụ, cục, đơn vị thuộc Thanh tra Chính phủ tham gia hưởng ứng đợt phát động này.

Lãnh đạo các cục, vụ, đơn vị ủng hộ đồng bào bị thiệt hại nặng nề do bão lũ. Ảnh: Huy Trần
Đồng thời khẩn trương tổng hợp báo cáo kết quả về Ban Vận động cứu trợ Trung ương, Ban Dân vận Đảng uỷ Chính phủ và kịp thời thực hiện các thủ tục theo đúng hướng dẫn, quy định, không để ra sai sót.

Công chức, viên chức, người lao động thuộc Thanh tra Chính phủ phát huy tinh thần “tương thân tương ái”, “Lá lành đùm lá rách” cùng chung tay giúp đỡ đồng bào bị thiệt hại do bão lũ. Ảnh: Huy Trần
Phương Anh – Huy Trần
(Nguồn: Thanhtra.com.vn)
Chiều 14/10, Thanh tra Chính phủ tổ chức hội thảo lấy ý kiến góp ý đối với việc nghiên cứu, biên soạn cuốn sách “Lịch sử Thanh tra Việt Nam (1945-2025)”, giai đoạn 2016 – 2025. Phó Tổng Thanh tra Chính phủ Lê Sỹ Bảy chủ trì hội thảo.

Phó Tổng Thanh tra Chính phủ Lê Sỹ Bảy phát biểu chỉ đạo tại hội thảo. Ảnh: Huy Trần
Tham dự hội thảo có nguyên Phó Tổng Thanh tra Chính phủ: Nguyễn Văn Thanh, Trần Ngọc Liêm; đại diện lãnh đạo Viện Sử học cùng các đồng chí nguyên lãnh đạo, lãnh đạo các cục, vụ, đơn vị thuộc cơ quan Thanh tra Chính phủ.

Nguyên Phó Tổng Thanh tra Chính phủ Nguyễn Văn Thanh góp ý cuốn “Lịch sử Thanh tra Việt Nam (1945-2025)”, giai đoạn 2016 – 2025. Ảnh: Huy Trần

Nguyên Phó Tổng Thanh tra Chính phủ Trần Ngọc Liêm góp ý cuốn “Lịch sử Thanh tra Việt Nam (1945-2025)”, giai đoạn 2016 – 2025. Ảnh: Huy Trần
Phát biểu khai mạc hội thảo, Phó Tổng Thanh tra Chính phủ Lê Sỹ Bảy cho rằng, lịch sử của ngành Thanh tra từ khi thành lập đến nay luôn gắn liền với sự ra đời và phát triển của Nhà nước cách mạng, với quá trình đấu tranh giải phóng dân tộc và xây dựng đất nước qua các giai đoạn lịch sử.
Ông nói: “Trong 80 năm qua, quán triệt sâu sắc các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về công tác thanh tra, toàn ngành Thanh tra đã vận dụng sáng tạo trong thực tiễn, có nhiều đóng góp to lớn vào thắng lợi của công cuộc xây dựng, bảo vệ, đổi mới và phát triển đất nước”.

Toàn cảnh hội thảo. Ảnh: Huy Trần
Với những thành tích xuất sắc đạt được, ngành Thanh tra vinh dự được Đảng, Nhà nước tặng thưởng Huân chương Hồ Chí Minh (1990), Huân chương Sao Vàng (2010), Huân chương Độc lập hạng Nhất (2015), Huân chương Lao động hạng Nhất (2020) và nhiều phần thưởng cao quý khác.
Ông cho biết, nhân dịp Kỷ niệm 80 năm Ngày truyền thống Thanh tra Việt Nam (23/11/1945 – 23/11/2025), Thanh tra Chính phủ phối hợp với Viện Sử học tổ chức nghiên cứu, biên soạn cuốn “Lịch sử Thanh tra Việt Nam (1945-2025)”, giai đoạn 2016 – 2025.
Cuốn sách hoàn thành là tài liệu quan trọng giới thiệu tới các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, các Bộ, ban, ngành ở Trung ương và địa phương cũng như tới bè bạn quốc tế về tổ chức và hoạt động của ngành Thanh tra; về những đóng góp to lớn của ngành Thanh tra trong suốt 80 năm qua; cuốn sách còn là tài liệu giáo dục truyền thống quý báu đối với cán bộ, công chức, viên chức, người lao động toàn ngành Thanh tra, đặc biệt là với thế hệ trẻ, theo Phó Tổng Thanh tra Lê Sỹ Bảy.

Các đại biểu dự hội thảo. Ảnh: Huy Trần
Phó Tổng Thanh tra đề nghị các đại biểu tập trung trao đổi, đưa ý kiến vào nội dung cuốn “Lịch sử Thanh tra Việt Nam (1945-2025)”, giai đoạn 2016 – 2025.
Tại hội thảo, các đại biểu đã tập trung phân tích, góp ý, đặc biệt làm rõ một số nội dung trọng tâm nhằm làm rõ bối cảnh lịch sử, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước đối với ngành Thanh tra trong giai đoạn (2016-2025); những dấu ấn nổi bật trong quá trình xây dựng, tổ chức bộ máy của ngành Thanh tra trong giai đoạn (2016-2025).
Bên cạnh đó, các đại biểu cũng đề nghị Ban soạn thảo cuốn lịch sử sẽ nêu đậm nét những dấu ấn về hoạt động ứng dụng công nghệ thông tin và chuyển đổi số vào công tác thanh tra (giai đoạn 2016-2025); những dấu ấn nổi bật trong hoạt động hợp tác quốc tế, nghiên cứu khoa học, cải cách hành chính, thông tin tuyên truyền, tham mưu tổng hợp; những bài học kinh nghiệm đối với ngành Thanh tra giai đoạn 2016-2025;…

Các đại biểu đóng góp ý kiến tại hội thảo. Ảnh: Huy Trần
Phát biểu kết luận, Phó Tổng Thanh tra Lê Sỹ Bảy ghi nhận những đóng góp tâm huyết tại hội thảo vào dự thảo nội dung cuốn “Lịch sử Thanh tra Việt Nam (1945-2025)”, giai đoạn 2016 – 2025.
Ông đề nghị, các cục, vụ, đơn vị thuộc Thanh tra Chính phủ phối hợp cung cấp thông tin cho Ban soạn thảo. Đồng thời, Ban soạn thảo cần tiếp thu những ý kiến tại hội thảo để nghiên cứu, tiếp thu, chỉnh sửa để khi xuất bản cuốn sách sẽ đạt chất lượng cao nhất.
Để cuốn “Lịch sử Thanh tra Việt Nam (1945-2025)”, giai đoạn 2016 – 2025 đạt chất lượng cao nhất, Ban soạn thảo cần chỉnh sửa cấu trúc theo đúng văn phong lịch sử; mềm hóa báo cáo hoạt động ngành; thời điểm, sự việc, con người đề cập trong cuốn sách phải mang tính chính xác; mức độ, thời lượng đề cập các nội dung chính phải hài hòa, cân đối gắn với bối cảnh lịch sử để làm nổi bật vai trò, dấu ấn của cùa ngành Thanh tra Việt Nam trong suốt chiều dài lịch sử phát triển cùng đất nước, ông nhấn mạnh.
“Với quan điểm khách quan, khoa học của các đồng chí nguyên lãnh đạo Thanh tra Chính phủ cùng toàn thể các đồng chí dự họp đã đóng góp tại hội thảo này, từ lý luận và thực tiễn đến những đánh giá toàn diện những thành tựu đã đạt được, Ban soạn thảo sẽ hoàn thiện nội dung cuốn “Lịch sử Thanh tra Việt Nam giai đoạn 2016-2025”, giai đoạn 2016 – 2025 một cách khách quan, trung thực nhất”, Phó Tổng Thanh tra Lê Sỹ Bảy bày tỏ tin tưởng.
Huy Lương
(Nguồn: Thanhtra.com.vn)
Phát biểu chỉ đạo tại Hội nghị Ban Chấp hành Đảng bộ Thanh tra Chính phủ lần thứ III, nhiệm kỳ 2025 – 2030, Bí thư Đảng uỷ, Tổng Thanh tra Chính phủ Đoàn Hồng Phong yêu cầu, trong thời gian tới cần triển khai tổ chức thực hiện tốt công tác kiểm tra giám sát theo chương trình, kế hoạch, trọng tâm là siết chặt kỷ cương, kỷ luật trong thực thi công vụ.

Hội nghị được tổ chức sáng 14/10 với sự chủ trì của Bí thư Đảng uỷ, Tổng Thanh tra Chính phủ Đoàn Hồng Phong, Cùng dự có Phó Bí thư Thường trực Đảng uỷ, Phó Tổng Thanh tra Thường trực Thanh tra Chính phủ Nguyễn Văn Quảng; các Uỷ viên Ban Thường vụ Đảng uỷ, Phó Tổng Thanh tra Chính phủ: Lê Sỹ Bảy, Dương Quốc Huy, Nguyễn Văn Cường, Lê Tiến Đạt.
Tập trung cao độ trong lãnh đạo, chỉ đạo
Tại hội nghị, Bí thư Đảng uỷ, Tổng Thanh tra Chính phủ Đoàn Hồng Phong khẳng định, Đảng bộ đã nỗ lực cố gắng, phấn đấu hoàn thành toàn diện các mặt công tác, nhất là nhiệm vụ chính trị và đạt được kết quả nổi bật.
Theo Tổng Thanh tra, một trong những kết quả nổi bật đầu tiên đó là việc hoàn thành Đề án “Sắp xếp hệ thống cơ quan thanh tra tinh, gọn, mạnh, hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả” trình Bộ Chính trị theo đúng kế hoạch và chỉ đạo của Trung ương.
Bên cạnh đó, Ban Thường vụ Đảng ủy Thanh tra Chính phủ tập trung cao độ lãnh đạo, chỉ đạo và đã kết thúc “chiến dịch 90 ngày đêm” theo chỉ đạo của Tổng Bí thư Tô Lâm về giải quyết các vụ việc khiếu nại, tố cáo phức tạp kéo dài, vượt cấp lên trung ương trên địa bàn thành phố Hà Nội; tập trung cao độ toàn bộ lực lượng công chức của 3 cục địa bàn, Ban Tiếp công dân Trung ương và một số đơn vị để tổ chức thực hiện.
“Kết quả cho đến nay đã cơ bản giải quyết xong 203/226 (đạt tỷ lệ 89,8%), chỉ còn 23 vụ việc, trong đó có 7 vụ việc công dân khởi kiện ra toà và 16 vụ việc có khó khăn, vướng mắc về chính sách, pháp luật”, Tổng Thanh tra cho biết.

Toàn cảnh hội nghị. Ảnh: Huy Trần
Theo Tổng Thanh tra, trong công tác thanh tra, đã quyết liệt triển khai thanh tra theo chương trình kế hoạch và thanh tra đột xuất, nội dung thanh tra có trọng tâm, trọng điểm, tập trung thanh tra công tác quản lý Nhà nước, quản lý kinh tế – xã hội của các ngành, các cấp và việc chấp hành pháp luật của tổ chức, cá nhân trên các lĩnh vực; chú trọng nâng cao chất lượng và đẩy nhanh tiến độ các cuộc thanh tra, nhất là các cuộc thanh tra đột xuất theo chỉ đạo của Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực.
Điển hình là cuộc thanh tra do Thanh tra Chính phủ tiến hành đối với 2 dự án xây dựng cơ sở 2 Bệnh viện Bạch Mai và Bệnh viện Việt Đức; kết quả thanh tra được Ban Chỉ đạo, Tổng Bí thư, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và dư luận xã hội đánh giá cao.
Công tác đôn đốc, xử lý sau thanh tra tiếp tục có chuyển biến tích cực, đã kiểm tra, đôn đốc 20 kết luận thanh tra, đã thu hồi về Ngân sách Nhà nước 3.072 tỷ đồng và xử lý khác về kinh tế 468 tỷ đồng…
Đáng chú ý, theo Tổng Thanh tra, Ban Thường vụ Đảng ủy Thanh tra Chính phủ lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện có hiệu quả công tác tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo với nhiều giải pháp để nâng cao hiệu quả công tác tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo, nhất là thúc đẩy rà soát, giải quyết các vụ việc khiếu nại, tố cáo phức tạp, tồn đọng, kéo dài; tình hình khiếu nại, tố cáo giảm so với cùng kỳ năm trước.
Cùng với đó, công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực tiếp tục được triển khai đồng bộ, hiệu quả, nhất là trong tổ chức thực hiện các nhiệm vụ theo chỉ đạo của Trung ương, Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ.
Ngoài ra, theo Tổng Thanh tra, công tác xây dựng thể chế đã rất tích cực, khẩn trương hoàn thành nhiều khối lượng công việc lớn trong khoảng thời gian ngắn: Trình Quốc hội ban hành Luật Thanh tra năm 2025; trình Chính phủ thông qua 2 hồ sơ dự án Luật (Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tiếp công dân, Luật Khiếu nại, Luật Tố cáo; Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật Phòng, chống tham nhũng).

Phó Bí thư Thường trực Đảng uỷ, Phó Tổng Thanh tra Thường trực Thanh tra Chính phủ Nguyễn Văn Quảng phát biểu tại hội nghị. Ảnh: Huy Trần
Đồng thời trình Chính phủ ban hành 4 nghị định; ban hành 3 thông tư, trong đó đã cụ thể hoá chủ trương của Đảng về sắp xếp, tinh gọn cơ quan thanh tra và tổ chức chính quyền địa phương 2 cấp.
“Đáng chú ý, công tác xây dựng Đảng cũng đạt được nhiều kết quả tích cực”, Tổng Thanh tra Chính phủ nhấn mạnh.
Tăng cường công tác giáo dục chính trị tư tưởng cho cán bộ, đảng viên
Về nhiệm vụ trong thời gian tới, tại hội nghị, Bí thư Đảng uỷ, Tổng Thanh tra Chính phủ Đoàn Hồng Phong nhấn mạnh nhiều nhiệm vụ trọng tâm cần thực hiện.
Trong đó, tiếp tục triển khai thực hiện kế hoạch thanh tra năm 2025; các cuộc thanh tra đột xuất được giao; đẩy nhanh tiến độ ban hành kết luận thanh tra nhất là các cuộc thanh tra do Ban chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, lãng phí, Thủ tướng Chính phủ giao.
Bên cạnh đó, tăng cường công khai, minh bạch, nâng cao kỷ luật, kỷ cương hành chính, đạo đức công vụ trong hoạt động thanh tra; thực hiện nghiêm Quy định số 131-QĐ/TW ngày 27/10/2023 của Bộ Chính trị về kiểm soát quyền lực, phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trong công tác kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật đảng và trong hoạt động thanh tra, kiểm toán. Tiếp tục đôn đốc, kiểm tra việc thực hiện các Kết luận thanh tra và xây dựng báo cáo kết quả kiểm tra, nhất là các kết luận thanh tra do Ban Chỉ đạo theo dõi, đôn đốc.
Tổng Thanh tra đề nghị tiếp tục thực hiện có hiệu quả Luật Tiếp công dân, Luật Khiếu nại, Luật Tố cáo, các chỉ thị, nghị quyết của Trung ương, Quốc hội, chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ về công tác này.

Đảng bộ Thanh tra Chính phủ đã nỗ lực cố gắng, phấn đấu hoàn thành toàn diện các mặt công tác. Ảnh: Huy Trần
Bên cạnh đó, tăng cường triển khai thực hiện hiệu quả Kế hoạch số 1233/KH-TTCP ngày 13/6/2024 của Thanh tra Chính phủ về việc phối hợp tiếp công dân phục vụ Đại hội Đảng các cấp, tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, bầu cử đại biểu Quốc hội khoá XVI và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026 – 2031; Kế hoạch số 329-KH/TTCP, ngày 25/9/2025 về việc hướng dẫn đôn đốc, kiểm tra, xử lý, giải quyết các vụ việc khiếu nại, tố cáo, phức tạp về an ninh, trật tự đảm bảo chất lượng, thời gian theo yêu cầu và Báo cáo Thủ tướng Chính phủ.
Tiếp tục thực hiện tốt công tác phòng, chống tham nhũng lãng phí, tiêu cực theo tinh thần chỉ đạo của Ban Chỉ đạo Trung ương; triển khai thực hiện có hiệu quả Chiến lược quốc gia về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực đến năm 2030 và những quy định về kiểm soát tài sản, thu nhập; đôn đốc, hướng dẫn các cấp, các ngành thực hiện tốt các giải pháp phòng ngừa tham nhũng và tăng cường phát hiện tham nhũng, lãng phí, tiêu cực qua hoạt động thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo; tập trung ngăn chặn và xử lý nghiêm tình trạng gây phiền hà, sách nhiễu người dân và doanh nghiệp trong thực thi công vụ. Xây dựng kế hoạch xác minh tài sản thu nhập năm 2025, định hướng xác minh năm 2026.
Tại hội nghị, Tổng Thanh tra đề nghị tiếp tục triển khai có hiệu quả Luật Thanh tra sửa đổi năm 2025 và các nghị định, thông tư hướng dẫn thi hành, nhất là các nội dung mới về tổ chức bộ máy, chức năng, nhiệm vụ cơ quan thanh tra và phân định thẩm quyền trong các lĩnh vực quản lý của thanh tra đối với chính quyền địa phương 2 cấp. Hoàn thiện 2 dự án Luật: Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tiếp công dân, Luật Khiếu nại, Luật tố cáo và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Phòng, chống tham nhũng để Quốc hội xem xét, thông qua tại Kỳ họp thứ X và xây dựng 4 nghị định của Chính phủ hướng dẫn chi tiết.

Các đai biểu tham luận tại hội nghị. Ảnh: Huy Trần
Đồng thời lưu ý việc triển khai quyết liệt, hiệu quả Nghị quyết 57-NQ/TW, Nghị quyết số 71/NQ-CP, Kế hoạch 02-KH/BCĐTW, Nghị quyết số 214/NQ-CP, các thông báo kết luận của Ban chỉ đạo, các kế hoạch chuyển đổi số của Thanh tra Chính phủ liên quan đến ứng dụng công nghệ thông tin, phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.
Trong đó tập trung triển khai thực hiện 3 cơ sở dữ liệu quốc gia, chuyên ngành: Dự án “Nền tảng quản lý công tác khiếu nại, tố cáo quốc gia”, Dự án “Xây dựng Cơ sở dữ liệu quốc gia về kiểm soát tài sản, thu nhập” và Dự án “Xây dựng Nền tảng số công tác thanh tra”; vận hành thông suốt Hệ thống quản lý văn bản và điều hành tác nghiệp mới; rà soát triển khai kết nối, chia sẻ, đồng bộ dữ liệu giữa các cơ sở dữ liệu chuyên ngành theo tinh thần của Nghị quyết 57-NQ/TW, tối ưu hóa dữ liệu, hạ tầng, tiết kiệm, tránh lãng phí.
Trong công tác xây dựng Đảng, Tổng Thanh tra yêu cầu cần tập trung thực hiện một số nhiệm vụ, như: Tăng cường công tác giáo dục chính trị tư tưởng cho cán bộ, đảng viên, gắn với việc đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; thực hiện quy định của Trung ương về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên góp phần chấn chỉnh, cải tiến lề lối, tác phong làm việc, nâng cao trách nhiệm, đạo đức công vụ trong hoạt động thanh tra, tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo và phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực…
Ban hành các nghị quyết, chương trình, kế hoạch chuyên đề triển khai Chương trình hành động thực hiện Đại hội đại biểu Đảng bộ Thanh tra Chính phủ lần thứ nhất, nhiệm kỳ 2025 – 2030.
Đặc biệt, Tổng Thanh tra yêu cầu xây dựng Kế hoạch triển khai ứng dụng công nghệ thông tin và chuyển đổi số các hoạt động công tác Đảng trong Đảng bộ, trong đó tập trung ứng dụng công nghệ số vào chỉ đạo, điều hành, thông tin, báo cáo và cập nhật, xây dựng cơ sở dữ liệu tổ chức Đảng, số hóa hồ sơ đảng viên, cập nhật hồ sơ đảng viên hàng năm, sử dụng các phần mềm theo yêu cầu của Đảng ủy Chính phủ và Ủy ban Kiểm tra Trung ương.
Triển khai tổ chức thực hiện tốt công tác kiểm tra giám sát theo chương trình, kế hoạch, trọng tâm là siết chặt kỷ cương, kỷ luật trong thực thi công vụ. Tiếp tục thực hiện nghiêm Quy định số 367-QĐ/TW ngày 4/9/2025 của Bộ Chính trị và Hướng dẫn của Ban Tổ chức Trung ương về bảo vệ chính trị nội bộ…
Đồng thời thực hiện nghiêm nội quy, quy chế làm việc của Cơ quan Thanh tra Chính phủ khi tham gia các cuộc họp, hội nghị, coi đây là một trong những tiêu trí quan trọng trong việc phân loại, đánh giá cán bộ và phục vụ công tác cán bộ.
Phương Anh – Huy Trần
(Nguồn: Thanhtra.com.vn)
Công văn 770/TCBTT-TT ngày 15/10/2025 của Trường Cán bộ Thanh tra về việc mở các lớp bồi dưỡng đối với ngạch chuyên viên và tương đương, ngạch chuyên viên chính và tương đương K02 năm 2025 (online)
Hưởng ứng chương trình ủng hộ đồng bào bị thiệt hại do cơn bão số 10 (Bualoi) do Thanh tra Chính phủ phát động, chiều ngày 14/10/2025, Trường Cán bộ thanh tra tổ chức lễ phát động quyên góp, ủng hộ đồng bào vùng bão. Toàn thể viên chức và người lao động của Trường tham dự đông đủ, thể hiện tinh thần đoàn kết, sẻ chia với đồng bào đang gặp khó khăn, hoạn nạn.

Phát biểu chỉ đạo tại buổi lễ, đồng chí Nguyễn Văn Lương, Bí thư Đảng ủy, Hiệu trưởng Trường Cán bộ thanh tra, khẳng định:
“Truyền thống đoàn kết, nhân ái, ‘thương người như thể thương thân’ luôn là giá trị tốt đẹp được cán bộ, giảng viên, viên chức và người lao động Trường Cán bộ thanh tra gìn giữ, phát huy trong nhiều năm qua. Trước thiệt hại nặng nề do cơn bão số 10 gây ra, mỗi cán bộ, viên chức của Trường cần thể hiện trách nhiệm xã hội, tinh thần sẻ chia cùng đồng bào vùng bão, góp phần giúp người dân sớm vượt qua khó khăn, ổn định cuộc sống. Đây cũng là dịp để chúng ta lan tỏa những giá trị nhân văn sâu sắc của ngành Thanh tra, chung tay vì cộng đồng.”

Tiếp đó, phát biểu phát động tại buổi lễ, đồng chí Phạm Thị Thu Hiền, Phó Hiệu trưởng, Chủ tịch Công đoàn Trường Cán bộ thanh tra, nhấn mạnh:
“Cơn bão số 10 (Bualoi) đã gây thiệt hại nặng nề về người và tài sản tại nhiều địa phương miền Trung và miền Bắc. Trước những mất mát, khó khăn mà đồng bào đang phải gánh chịu, mỗi viên chức và người lao động của Trường Cán bộ thanh tra cần phát huy tinh thần ‘tương thân tương ái’, ‘lá lành đùm lá rách’, chung tay đóng góp, sẻ chia để giúp người dân vùng bão sớm vượt qua khó khăn, ổn định cuộc sống.”

Thay mặt Ban Chấp hành Công đoàn, đồng chí Phạm Thị Thu Hiền kêu gọi toàn thể đoàn viên công đoàn và người lao động trong Trường tích cực tham gia quyên góp ủng hộ, coi đây là hành động thiết thực thể hiện tình cảm, trách nhiệm của đội ngũ viên chức ngành Thanh tra đối với cộng đồng.
Ngay sau lễ phát động, viên chức và người lao động của Trường đã trực tiếp quyên góp với tinh thần tự nguyện, trách nhiệm. Toàn bộ số tiền quyên góp sẽ được Công đoàn Trường tổng hợp và gửi về Quỹ ủng hộ đồng bào bị thiệt hại do cơn bão số 10, theo chương trình do Thanh tra Chính phủ phát động.

Hoạt động ý nghĩa này thể hiện truyền thống nhân ái, tinh thần đoàn kết của tập thể Trường Cán bộ thanh tra, đồng thời góp phần lan tỏa những giá trị tốt đẹp, nhân văn của ngành Thanh tra trong việc chung tay vì cộng đồng, vì những người dân còn gặp khó khăn, hoạn nạn.
Một số hình ảnh tại Lễ phát động ủng hộ đồng bào bị thiệt hại do cơn bão số 10 (Bualoi):
Thuế TP. Hà Nội vừa đưa ra một số lưu ý tới người nộp thuế một số nội dung về đăng ký địa điểm kinh doanh và đăng ký, sử dụng hóa đơn điện tử của hộ kinh doanh.
Những quy định mới nhằm triển khai thực hiện liên thông đăng ký kinh doanh và đăng ký thuế đối với hộ kinh doanh theo quy định tại Nghị định số 168/2025/NĐ-CP và sử dụng số định danh cá nhân thay cho mã số thuế của hộ kinh doanh theo quy định tại Thông tư số 86/2024/TT-BTC và thực hiện triển khai công tác quản lý thuế theo địa bàn hành chính 02 cấp. Theo đó:
Về mã số thuế của địa điểm kinh doanh của hộ kinh doanh
Từ ngày 01/7/2025, số định danh cá nhân được sử dụng làm mã số thuế của người đại diện hộ kinh doanh, đồng thời cũng là mã số thuế của hộ kinh doanh theo quy định tại Thông tư số 86/2024/TT-BTC ngày 23/12/2014.
Như vậy, không còn quy định cấp mã số thuế cho từng địa điểm kinh doanh của hộ kinh doanh; cơ quan thuế đã thực hiện chuyển đổi mã số thuế đã cấp trước đây cho hộ kinh doanh, địa điểm kinh doanh của hộ kinh doanh sang sử dụng số định danh cá nhân làm mã số thuế.
Số định danh cá nhân của người đại diện hộ kinh doanh được dùng làm mã số thuế duy nhất để kê khai, nộp thuế cho tất cả nghĩa vụ thuế của cá nhân và nghĩa vụ thuế phát sinh từ hoạt động kinh doanh của hộ kinh doanh, các địa điểm kinh doanh của hộ kinh doanh.
Về đăng ký địa điểm kinh doanh của hộ kinh doanh
Khi hộ kinh doanh đăng ký thành lập với cơ quan đăng ký kinh doanh, hộ kinh doanh khai thông tin địa chỉ trụ sở xác định theo quy định tại khoản 1, khoản 3 Điều 87 Nghị định số 168/2025/NĐ-CP. Thông tin này được truyền sang hệ thống của cơ quan thuế để cập nhật thông tin đăng ký thuế của hộ kinh doanh.
Khi hộ kinh doanh thành lập các địa điểm kinh doanh khác ngoài trụ sở thì không phải đăng ký với cơ quan đăng ký kinh doanh, nhưng hộ kinh doanh phải thông báo cho Thuế cơ sở nơi đặt địa điểm kinh doanh thông qua việc kê khai đầy đủ thông tin về địa điểm kinh doanh tại tờ khai mẫu số 01/CNKD hoặc mẫu số 01/TTS (đối với hoạt động cho thuê tài sản) của kỳ tính thuế đầu tiên theo quy định tại Thông tư số 40/2021/TT-BTС.
Đối với các địa điểm kinh doanh của hộ kinh doanh đã được cấp mã số thuế trước ngày 01/7/2025, cơ quan thuế tích hợp các mã số thuế theo số định danh cá nhân.
Khi hộ kinh doanh chấm dứt hoạt động của địa điểm kinh doanh, hộ kinh doanh thực hiện thông báo với Thuế cơ sở nơi có địa điểm kinh doanh theo mẫu số 24.1/ĐK-TCT ban hành theo Thông tư số 86/2024/TT-BTC. Hộ kinh doanh có trách nhiệm hoàn thành nghĩa vụ thuế với Thuế cơ sở nơi có địa điểm kinh doanh chấm dứt hoạt động theo quy định.
Hộ kinh doanh chấm dứt hoạt động kinh doanh thì các địa điểm kinh doanh của hộ kinh doanh cũng bị chấm dứt hoạt động. Sau khi nộp hồ sơ chấm dứt hoạt động địa điểm kinh doanh theo mẫu số 24/ĐK-TCT và hoàn thành nghĩa vụ thuế theo quy định, hộ kinh doanh nộp hồ sơ chấm dứt hoạt động đến cơ quan đăng ký kinh doanh theo quy định tại Điều 104 Nghị định số 168/2025/NĐ-CP.
Hộ kinh doanh thực hiện khôi phục mã số thuế theo quy định tại Điều 33, Điều 34 Thông tư số 86/2024/TT-BTC. Sau khi khôi phục mã số thuế, hộ kinh doanh thực hiện khai thuế cho các địa điểm kinh doanh theo quy định tại Thông tư số 40/2021/TT-BTC nếu địa điểm kinh doanh tiếp tục hoạt động.
Về đăng ký, sử dụng hóa đơn điện tử đối với hộ kinh doanh
Căn cứ Nghị định số 123/2020/NĐ-CP ngày 19/10/2020 của Chính phủ quy định về hóa đơn, chứng từ (đã được sửa đổi bởi Nghị định số 70/2025/NĐ-CP ngày 20/3/2025), thông tin đăng ký, sử dụng hóa đơn điện tử của hộ kinh doanh xác định như sau:
– Mã số thuế của hộ kinh doanh: Là số định danh cá nhân của chủ hộ kinh doanh.
– Tên, địa chỉ của hộ kinh doanh: Là thông tin tên, địa chỉ trụ sở ghi trên giấy chứng nhận đăng ký hộ kinh doanh hoặc thông tin địa chỉ đã được cơ quan thuế rà soát cập nhật tương ứng theo địa bàn hành chính 02 cấp.
– Cơ quan thuế quản lý: Là Thuế cơ sở quản lý địa bàn nơi hộ kinh doanh đặt trụ sở.
– Chứng thư số sử dụng: Hộ kinh doanh được sử dụng các chứng thư số đã cấp cho hộ kinh doanh và địa điểm kinh doanh trước đây còn hiệu lực.
Hộ kinh doanh tự xác định doanh thu theo hóa đơn điện tử để kê khai, tính thuế, nộp thuế cho Thuế cơ sở nơi hộ kinh doanh hoạt động sản xuất, kinh doanh (nơi có địa điểm kinh doanh hoặc nơi có bất động sản cho thuê) theo quy định tại Thông tư số 40/2021/TT-BТС.
Theo Minh Anh (Lsvn.vn)
https://lsvn.vn/mot-so-luu-y-ve-dang-ky-dia-diem-kinh-doanh-va-hoa-don-dien-tu-a164219.html
Ngày 14/10, Trường Cán bộ Thanh tra tổ chức khai giảng lớp bồi dưỡng nghiệp vụ thanh tra viên (TTV) khóa 12 năm 2025 cho hơn 70 học viên là công chức, viên chức TTCP và thanh tra các tỉnh, thành phố trong cả nước.

Tham gia khóa học có hơn 70 học viên, khóa học sẽ diễn ra trong hơn một tháng “hình thức học trực tuyến”. Trong đó, các học viên sẽ được nghiên cứu gồm nhiều chuyên đề liên quan đến kiến thức chung về công chức, công vụ như: Quan điểm của Đảng, Nhà nước và Chủ tịch Hồ Chí Minh về công tác thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và phòng, chống tham nhũng; Khái quát chung về công tác thanh tra; Nội dung cơ bản của pháp luật Thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo, phòng chống tham nhũng, tiếp công dân; Nội dung cơ bản của pháp luật Tố tụng hành chính; Thực hiện pháp luật và áp dụng pháp luật; Đạo đức công vụ của cán bộ, công chức thanh tra; Nội dung cơ bản của pháp luật Hình sự và tố tụng hình sự; Chứng cứ trong hoạt động thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo; Tâm lý trong hoạt động thanh tra, tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo…

Phát biểu Lễ khai giảng khóa học trực tuyến, ThS. Phạm Thị Thu Hiền, CVCC, Phó Hiệu trưởng Trường Cán bộ Thanh tra đã nhiệt liệt chào mừng các học viên tham dự khóa học, đồng thời nhấn mạnh trên cơ sở chức năng, nhiệm vụ của Nhà trường và Kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng công chức, viên chức ngành Thanh tra năm 2025 đã được Tổng TTCP phê duyệt, Trường CBTT có trách nhiệm tổ chức mở lớp, rà soát, cập nhật giáo trình, tài liệu, bố trí đội ngũ giảng viên, cơ sở vật chất… đảm bảo đáp ứng tốt yêu cầu của công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, TTV trên phạm vi toàn quốc. Những năm gần đây, để phù hợp với điều kiện thực tế, Trường CBTT đã linh hoạt tổ chức các khóa học theo hình thức trực tiếp, trực tuyến hoặc kết hợp trực tiếp và trực tuyến.

Khóa học diễn ra từ ngày 14/10 – 26/11, các học viên sẽ được nghiên cứu 13 chuyên đề thuộc phần Kiến thức chung, 08 chuyên đề thuộc phần Quy trình nghiệp vụ và 06 bài thực hành kỹ năng. Ngoài ra, các anh chị sẽ tham gia thực hành các tình huống giả định liên quan đến nghiệp vụ TT, TCD, giải quyết KNTC và PCTN. Đây là một trong những phương pháp thực hành mới được đưa vào chương trình giảng dạy của Nhà trường trong thời gian gần đây nhằm tăng cường thực hành kỹ năng, xử lý các tình huống trên thực tế. Phần đánh giá, kiểm tra, các học viên sẽ có 2 bài kiểm tra: Một bài sau khi kết thúc phần Kiến thức và quy trình và một bài kiểm tra cuối khóa sau khi kết thúc phần Kỹ năng và Thực hành. Đây là khóa đào tạo, bồi dưỡng dành cho ngạch TTV vì vậy, số lượng chuyên đề thuộc phần Kiến thức chung nhiều hơn so với khóa bồi dưỡng TTV song với chủ trương tăng cường thực hành kỹ năng, giảm giờ giảng lý thuyết nên Nhà trường cũng đã bổ sung thêm các buổi thảo luận, báo cáo thực tế và thực hành các kỹ năng nghiệp vụ.

Bên cạnh đó, Phó Hiệu trưởng Trường CBTT cũng đề nghị các đồng chí học viên khắc phục những khó khăn, thu xếp công việc hợp lý để tập trung tối đa vào việc học tập, nghiêm túc chấp hành nội quy, quy chế của Nhà trường. Đồng thời, các đồng chí học viên cần tăng cường trao đổi, thảo luận với giảng viên, tham gia tích cực bài thực hành tình huống và tích cực tự nghiên cứu để nâng cao chất lượng của khóa học. Trong các buổi học, nhất là các buổi thảo luận, tất cả những vấn đề trong quá trình học tập cũng như thực tiễn thực hiện nhiệm vụ có những vướng mắc, khó khăn, những nội dung chưa rõ trong giáo trình hay những vướng mắc, bất cập trong các quy định pháp luật, đề nghị các đồng chí nêu rõ để cùng thảo luận, giúp cho các đồng chí nâng cao được nhận thức, bổ sung thêm kiến thức và kỹ năng nghiệp vụ phục vụ tốt nhất nhiệm vụ được giao.
Thuỳ Trang
Cho ý kiến với dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tiếp công dân, Luật Khiếu nại, Luật Tố cáo, các Ủy viên Ủy ban Thường vụ Quốc hội đề nghị, số lượng ngày tiếp công dân của Chủ tịch UBND tỉnh, xã chỉ 1 hoặc 2 ngày trong tháng nên không được ủy quyền thực hiện và phải quy định rõ nguyên tắc này ngay trong dự thảo luật.

Chủ tịch UBND tỉnh phải tiếp và lắng nghe ý kiến, chỉ đạo các cơ quan giải quyết
Theo Tờ trình của Chính phủ, dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tiếp công dân, Luật Khiếu nại, Luật Tố cáo đã lược bỏ các quy định liên quan đến cấp huyện trong công tác tiếp công dân và giải quyết tố cáo do chính quyền cấp huyện đã kết thúc hoạt động từ ngày 1/7/2025. Dự thảo Luật cũng hoàn thiện cơ chế tham mưu ở cấp tỉnh, bộ, ngành, đồng thời tăng cường trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan tham mưu ở cấp xã.
Đồng thời, sửa đổi quy định theo hướng Chủ tịch UBND cấp xã trực tiếp tiếp công dân định kỳ tại địa điểm tiếp công dân ít nhất 2 ngày trong 1 tháng (khoản 2, Điều 15 của Luật hiện hành quy định tiếp công dân ít nhất 1 ngày trong 1 tuần). Quy định này được sửa đổi nhằm phù hợp với quy mô của cấp xã hiện nay lớn hơn trước đây, phạm vi lĩnh vực quản lý được phân cấp, phân quyền nhiều hơn.

Liên quan đến phân cấp, ủy quyền trong giải quyết khiếu nại, tố cáo và tiếp công dân, Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Thanh cho biết, Luật Tổ chức Chính phủ, Luật Tổ chức chính quyền địa phương đã quy định các chủ thể có thẩm quyền được phân cấp, ủy quyền, trừ trường hợp pháp luật quy định không được phân cấp, ủy quyền. Tuy nhiên, Phó Chủ tịch Quốc hội cũng nhấn mạnh, giải quyết khiếu nại, tố cáo và tiếp công dân là lĩnh vực được pháp luật xác định rất rõ chủ thể có thẩm quyền giải quyết. Mặt khác, giải quyết khiếu nại, tố cáo liên quan trực tiếp đến quyền con người, quyền công dân.
“Thực tế thời gian vừa qua, tồn tại trong giải quyết khiếu nại, tố cáo có nguyên nhân phần nhiều do người có trách nhiệm lại không trực tiếp thực hiện theo quy định mà thường ủy quyền cho cấp phó, thậm chí ủy quyền của ủy quyền, dẫn đến đơn thư, vụ việc kéo dài và số vụ việc giải quyết chưa được như mong muốn”. Nêu thực tế này, Phó Chủ tịch Quốc hội đề nghị, dự thảo Luật cần quy định rõ có được ủy quyền trong tiếp công dân hay không để thực hiện giải quyết khiếu nại có hiệu quả, đúng các chủ thể theo quy định.

Nhấn mạnh “tiếp công dân trước hết phải bảo đảm thực hiện đúng quy trình, thủ tục, nhưng liên quan đến chất lượng phải do người có thẩm quyền giải quyết trực tiếp tiến hành”, Chủ nhiệm Ủy ban Công tác đại biểu Nguyễn Thanh Hải cho rằng, luật pháp đã quy định ai là người tiếp công thì người đó phải tiếp và phải là người có thẩm quyền giải quyết mới tiếp được, vì nếu người khác tiếp về sẽ chỉ báo cáo lại.
“Chủ tịch UBND tỉnh tiếp công dân một ngày trong một tháng thì phải tiếp và lắng nghe ý kiến, chỉ đạo các cơ quan giải quyết. Nếu ủy quyền cho Phó Chủ tịch UBND tỉnh tiếp, giải quyết, thậm chí còn “ủy quyền của ủy quyền” cho giám đốc sở thì cũng khó hiệu quả, vì các cán bộ này chỉ là người tham mưu. Trách nhiệm người đứng đầu rất cao và thẩm quyền giải quyết của người đứng đầu rất quan trọng. Cần hết sức cương quyết”, Chủ nhiệm Ủy ban Công tác đại biểu đề nghị.
Mặt khác, theo Chủ nhiệm Ủy ban Công tác đại biểu, thực tế giám sát việc tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo tại nhiều tỉnh, thành phố đã ghi nhận tình trạng ủy quyền diễn ra nhiều và ảnh hưởng tới chất lượng của việc tiếp công dân. Người dân phải đi lại nhiều lần vì không gặp được người đứng đầu. Trong khi đó, khi gặp được người đứng đầu, thì chỉ trong 15 – 20 phút đã giải quyết xong vụ việc. Do vậy, phải luật hóa việc tiếp công dân và yêu cầu tuyệt đối không được ủy quyền.
Chủ nhiệm Ủy ban Nguyễn Thanh Hải cũng đề nghị, cần cân nhắc với việc giảm số lượng ngày tiếp công dân của Chủ tịch UBND xã. Cấp xã, phường hiện nay đã lớn và rộng hơn, nhưng cấp xã không phải một cấp chính quyền trung gian. Việc bỏ cấp trung gian cũng để người dân được được tiếp cận với chính quyền nhiều hơn. Cấp xã phải gần với dân hơn mà dự thảo Luật quy định số ngày tiếp công dân của Chủ tịch UBND xã giảm một nửa so với hiện hành thì có hợp lý không, cần cân nhắc kỹ (?).
“Tinh thần của dự thảo Luật là không ủy quyền trong tiếp công dân”
Phát biểu tại phiên họp, Phó Chủ tịch HĐND TP. Hà Nội Phạm Thị Thanh Mai cũng nhận thấy, người có trách nhiệm tiếp công dân thuộc khối UBND hiện đang thực hiện ủy quyền rất nhiều. Tuy nhiên, từ thực tế địa phương, Phó Chủ tịch HĐND TP. Hà Nội cho rằng, nếu quy định “cứng” thời điểm Chủ tịch UBND tỉnh, xã tiếp công dân trong một tháng cũng sẽ dễ dẫn đến nguy cơ bị vi phạm.

Lý lẽ, theo Phó Chủ tịch HĐND TP. Hà Nội là bởi, Chủ tịch UBND xã hiện nay nhận trách nhiệm rất lớn, nên cần quy định Chủ tịch UBND xã phải trực tiếp tiếp dân bao nhiêu buổi, ngoài ra có thể ủy quyền hoặc ủy quyền theo vụ việc cụ thể. “Quy định như vậy vừa bảo đảm đúng nguyên tắc chủ thể chính là Chủ tịch UBND xã phải tiếp dân, nhưng cũng có độ linh hoạt, độ mở nhất định”, Phó Chủ tịch HĐND TP. Hà Nội đề nghị.

Dẫn thực tế từ Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Phó Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tối cao Nguyễn Duy Giảng cho biết, dù có quy định, nhưng với khiếu nại ở cấp tỉnh thì đầu tiên cấp vụ phải tiếp, nếu không đồng ý sẽ lên phó viện trưởng và tiếp tục không đồng ý sẽ lên Viện trưởng giải quyết. “Phải có bộ lọc, nếu tất cả các vụ việc đều đẩy lên cấp trưởng tiếp công dân sẽ không đủ thời gian để thực hiện”. Lưu ý điều này, Phó Viện trưởng Nguyễn Duy Giảng đề nghị quy định của dự thảo Luật phải bảo đảm tính khả thi trong thực tiễn.
Giải trình về nội dung này, Phó Tổng Thanh tra Chính phủ Lê Tiến Đạt khẳng định, “tinh thần của dự thảo Luật là không ủy quyền trong tiếp công dân”. Người đứng đầu phải tiếp công dân định kỳ theo đúng quy định. Dự thảo Luật chỉ bổ sung quy định trường hợp Thủ tướng Chính phủ ủy quyền cho Tổng thanh tra Chính phủ trong thụ lý giải quyết tố cáo. “Dự thảo Luật chỉ có một nội dung về ủy quyền này, không quy định nội dung ủy quyền khác trong tiếp công dân”, Phó Tổng Thanh tra Chính phủ nêu rõ.

Về số lượng ngày tiếp công dân của Chủ tịch UBND xã, Phó Tổng Thanh tra Chính phủ cho rằng, với mô hình chính quyền địa phương 2 cấp hiện nay, quy mô quản lý của cấp xã lớn hơn, lĩnh vực quản lý rộng, được phân cấp, ủy quyền nhiều. Do đó, để phù hợp với tình hình thực tế, dự thảo Luật đề xuất giảm số ngày tiếp công dân của Chủ tịch UBND xã. Nếu không, cấp xã hiện nay rất nhiều việc sẽ dễ lại dẫn đến tình trạng ủy quyền tiếp công dân, không đúng với quy định của Luật cũng như không bảo đảm tinh thần thượng tôn pháp luật.
Liên quan đến nội dung này, Phó Chủ tịch Quốc hội Trần Quang Phương nêu rõ, dự thảo Luật đã quy định Chủ tịch UBND cấp tỉnh, cấp xã mỗi tháng tiếp công dân 1 hoặc 2 ngày, thì không được phép ủy quyền thực hiện. Tuy nhiên, với giải quyết những vụ việc cụ thể, người đứng đầu có thể ủy quyền và cần được Chính phủ quy định hướng dẫn chi tiết để thống nhất trong thực hiện.
Theo
https://daibieunhandan.vn/du-thao-luat-sua-doi-bo-sung-mot-so-dieu-cua-luat-tiep-cong-dan-luat-khieu-nai-luat-to-cao-chu-tich-ubnd-tinh-xa-khong-duoc-uy-quyen-tiep-cong-dan-10390206.html







