![]() |
| Quang cảnh Hội thảo. |
Dự Hội thảo có đồng chí Phan Đình Trạc, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Nội chính Trung ương; đồng chí Lê Thành Long, Phó Thủ tướng Chính phủ; đồng chí Nguyễn Khắc Định, Phó Chủ tịch Quốc hội; đồng chí Hoàng Thanh Tùng, Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật và Tư pháp của Quốc hội. Về phía Bộ Tư pháp có Bộ trưởng Nguyễn Hải Ninh và các đồng chí Thứ trưởng: Nguyễn Thanh Tịnh, Phan Chí Hiếu, Đặng Hoàng Oanh, Nguyễn Thanh Tú. Tham dự Hội thảo còn có các đồng chí đại diện lãnh đạo các ban, bộ, ngành Trung ương, lãnh đạo và đại diện một số tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; các chuyên gia, nhà khoa học, các nhà quản lý và hoạt động thực tiễn.
![]() |
| Đồng chí Lê Thành Long, Phó Thủ tướng Chính phủ phát biểu khai mạc Hội thảo. |
Việt Nam đã thiết lập được khung cấu trúc pháp luật cơ bản, tương đối đầy đủ
Phát biểu khai mạc Hội thảo, đồng chí Lê Thành Long, Phó Thủ tướng Chính phủ cho biết, đây là sự kiện quan trọng, góp phần làm sáng tỏ các khía cạnh lý luận, nhận diện vấn đề thực tiễn, tham khảo kinh nghiệm quốc tế để thực hiện mục tiêu đưa thể chế và pháp luật trở thành lợi thế cạnh tranh, đóng vai trò dẫn dắt phát triển đất nước.
Theo Phó Thủ tướng, hệ thống thể chế, pháp luật là một yếu tố quan trọng quyết định sự thành bại của mỗi quốc gia. Trong những năm qua, Đảng, Nhà nước luôn đặc biệt quan tâm công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, pháp luật, xác định đây là một trong ba đột phá chiến lược; đã ban hành, triển khai thực hiện hiệu quả nhiều chủ trương, đường lối, cơ chế, chính sách đổi mới, nâng cao hiệu quả công tác xây dựng, thi hành pháp luật và đạt được nhiều kết quả quan trọng.
Phó Thủ tướng Lê Thành Long nhấn mạnh, Việt Nam đã thiết lập được khung cấu trúc pháp luật cơ bản, khá đầy đủ; hệ thống pháp luật cơ bản đáp ứng được nhu cầu điều chỉnh các quan hệ xã hội ở hầu hết các lĩnh vực của đời sống xã hội với khoảng gần 300 luật, bộ luật, pháp lệnh cùng nhiều văn bản quy phạm pháp luật dưới luật khác đang còn hiệu lực.
Công tác xây dựng và thực thi pháp luật được đổi mới về cả tư duy, cách làm; chuyển từ tư duy có phần thiên về tập trung quản lý sang chủ động dẫn dắt, từ xử lý từng vụ việc sang kiến tạo hành lang pháp lý dài hạn. Nhiều cơ chế, chính sách đã được ban hành, kịp thời tháo gỡ nhiều “điểm nghẽn” trong hệ thống pháp luật, xử lý nhiều khó khăn, vướng mắc trong quá trình phát triển.
![]() |
| Đồng chí Phan Chí Hiếu, Thứ trưởng Bộ Tư pháp phát biểu tham luận tại Hội thảo. |
Tại Hội thảo, đồng chí Phan Chí Hiếu, Thứ trưởng Bộ Tư pháp giới thiệu khái quát những nội dung dự kiến đưa vào dự thảo Đề án Hoàn thiện cấu trúc hệ thống pháp luật Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới (dự thảo Đề án).
Thứ trưởng cho biết, về cấu trúc, Đề án được cơ cấu thành 03 phần lớn: Phần thứ nhất “Những vấn đề chung về cấu trúc hệ thống pháp luật”; Phần thứ hai “Đánh giá thực trạng cấu trúc hệ thống pháp luật Việt Nam”; Phần thứ ba “Bối cảnh, quan điểm, mục tiêu, giải pháp hoàn thiện cấu trúc hệ thống pháp luật Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới”.
Năm định hướng lớn trong hoàn thiện cấu trúc hệ thống pháp luật
Thứ trưởng Phan Chí Hiếu thông tin, về định hướng hoàn thiện cấu trúc hệ thống pháp luật giai đoạn năm 2026 – 2031 và các giai đoạn tiếp theo, dự thảo Đề án tập trung nêu bật năm định hướng lớn và các định hướng theo 08 lĩnh vực. Năm định hướng lớn gồm:
Thứ nhất, xác định rõ cấu trúc hệ thống pháp luật, sự tác động của nó tới công tác xây dựng, hoàn thiện pháp luật và tổ chức thi hành pháp luật, từ đó xác định rõ định hướng, nhiệm vụ, giải pháp xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật. Dành nhiều ưu tiên cho việc xây dựng các luật, tạo nền tảng pháp lý cho quản trị phát triển; thúc đẩy khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số; khơi thông các nguồn lực phục vụ phát triển; thúc đẩy phát triển các mô hình phát triển mới, các quá trình chuyển đổi.
Thứ hai, vận dụng hợp lý tư duy phân loại quy định chung, quy định cụ thể; thứ bậc của các văn bản quy phạm; tính chất công – tư của quy phạm để xác định các yêu cầu phù hợp khi thiết kế các quy phạm pháp luật thuộc từng lĩnh vực pháp luật cụ thể; bảo đảm thuận lợi, minh bạch, độ tin cậy trong áp dụng pháp luật, có căn cứ thống nhất để xử lý các mâu thuẫn, chồng chéo giữa các quy định.
Thứ ba, tính toán hoàn thiện cấu trúc hệ thống pháp luật theo hướng lấy Hiến pháp và một số văn bản luật có tính chất nền tảng (Bộ luật Dân sự, Luật Xử lý vi phạm hành chính, Bộ luật Hình sự, Bộ luật Tố tụng dân sự, Bộ luật Tố tụng hình sự, Luật Tố tụng hành chính…) làm trung tâm, các văn bản luật khác phải bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ và gắn kết rất cao với các văn bản luật có tính chất nền tảng này, xác định rõ hơn các văn bản luật chung và văn bản luật chuyên ngành/đặc thù.
Thứ tư, giảm tối đa tầng nấc, phân định rõ hơn phạm vi những vấn đề phải được quy định trong luật, những vấn đề được quy định trong nghị định, thông tư…, tính toán tiếp tục thu hẹp loại văn bản quy phạm mà mỗi cơ quan được ban hành.
Thứ năm, mở rộng hợp lý trường hợp luật chuyên ngành được quy định các biện pháp chế tài đặc thù bổ sung cho các biện pháp chế tài được quy định trong Bộ luật Dân sự, Bộ luật Hình sự, Luật Xử lý vi phạm hành chính, nhằm bảo đảm tính kịp thời và nâng cao hiệu quả điều chỉnh pháp luật.
Thứ trưởng cũng cho biết, trong thời gian tới, Bộ Tư pháp sẽ tiếp tục phối hợp chặt chẽ với các ban, Bộ, ngành, các cơ quan của Quốc hội, các chuyên gia, nhà khoa học hoàn thiện nội dung dự thảo Đề án để trình xin ý kiến các cơ quan có thẩm quyền. Từ đó, chỉnh lý, bổ sung, hoàn thiện Báo cáo Đề án, trình Ban Chỉ đạo Trung ương về hoàn thiện thể chế, pháp luật vào tháng 12/2025.
![]() |
![]() |
| Các đại biểu tham dự phát biểu tại Hội thảo. |
Bốn nội dung trọng tâm trong hoàn thiện cấu trúc hệ thống pháp luật
Tại Hội thảo, nhiều nghiên cứu chuyên sâu được công bố, nhiều ý kiến thảo luận, chia sẻ về việc hoàn thiện cấu trúc hệ thống pháp luật Việt Nam, trong đó nổi bật một số nội dung như: Cơ sở lý luận hoàn thiện cấu trúc hệ thống pháp luật Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới; Tiêu chí đánh giá tính hợp lý của cấu trúc hệ thống pháp luật; Cấu trúc hệ thống pháp luật của Hàn Quốc và giá trị tham khảo cho Việt Nam; Thực trạng và đề xuất hoàn thiện cấu trúc hệ thống văn bản quy phạm pháp luật trong các lĩnh vực khoa học và công nghệ, tài chính, công thương, nông nghiệp và môi trường.
![]() |
| Đồng chí Phan Đình Trạc, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Nội chính Trung ương phát biểu chỉ đạo tại Hội thảo. |
Phát biểu chỉ đạo tại Hội thảo, đồng chí Phan Đình Trạc, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Nội chính Trung ương đánh giá rất cao các báo cáo trong kỷ yếu Hội thảo cũng như các ý kiến phát biểu tại phiên Hội thảo. Đồng chí cũng cho biết, cấu trúc hệ thống pháp luật Việt Nam hiện nay cơ bản có bốn đặc điểm nổi bật: (i) Cấu trúc hệ thống pháp luật Việt Nam về cơ bản được xây dựng dựa trên luật thành văn, trong đó các bộ luật, luật là nguồn chính và quan trọng nhất; (ii) Hệ thống pháp luật phát triển nhanh về số lượng văn bản nhưng chất lượng chưa tương xứng; (iii) Cấu trúc hệ thống pháp luật còn phức tạp, nhiều tầng nấc, phạm vi điều chỉnh mở rộng, hệ thống văn bản nhiều, gây khó khăn cho việc tra cứu, áp dụng và là một trong những nguyên nhân gây ra tình trạng chồng chéo, mâu thuẫn; (iv) Hệ thống pháp luật Việt Nam đang trong quá trình chuyển đổi mạnh mẽ. Việc từng bước nâng cao vai trò của án lệ và các cơ chế pháp lý khác cho thấy xu hướng kết hợp các yếu tố hợp lý của nhiều hệ thống pháp luật trên thế giới, đây là điểm rất tiến bộ.
Mặc dù đến nay, hệ thống pháp luật nước ta tương đối đồng bộ, minh bạch, dễ tiếp cận, bao quát hầu hết các lĩnh vực của đời sống xã hội, nhưng vấn đề về tính hợp lý của cấu trúc trong hệ thống pháp luật vẫn là thách thức lớn. Cụ thể, còn biểu hiện phân tán, chồng chéo, văn bản thiếu thống nhất, thiếu tính dự báo; một số lĩnh vực mới như tài sản số, trí tuệ nhân tạo, dữ liệu cá nhân… chưa được điều chỉnh đầy đủ; cơ chế lập pháp còn mang nặng tính ứng phó, chưa chuyển mạnh sang tính chủ động, kiến tạo;… Do đó, hoàn thiện cấu trúc tổng thể của hệ thống pháp luật là yêu cầu khách quan, cấp thiết, xuất phát từ yêu cầu của nền kinh tế tri thức, chuyển đổi số – đòi hỏi khuôn khổ pháp lý phải mềm dẻo, linh hoạt, thích ứng nhanh, có khả năng hỗ trợ, kiến tạo cho người dân, doanh nghiệp và xã hội.
Đồng chí Trưởng Ban Nội chính Trung ương đề nghị cần xác định bốn nội dung trọng tâm trong hoàn thiện cấu trúc hệ thống pháp luật như sau: (i) Chuyển từ tư duy pháp luật quản lý sang pháp luật kiến tạo, đặt trọng tâm vào kiểm soát rủi ro, đồng thời tạo cơ hội khuyến khích đổi mới sáng tạo nhưng vẫn bảo đảm trật tự, kỷ cương; (ii) Rà soát, cắt giảm tầng nấc trung gian, xóa bỏ tình trạng chồng chéo, mâu thuẫn giữa các quy định; hướng tới hệ thống pháp luật tinh gọn, thống nhất, minh bạch, trong đó mỗi lĩnh vực có “luật gốc” đủ mạnh, bảo đảm tính ổn định. Thiết lập cơ chế thử nghiệm pháp lý, kiểm soát rủi ro trong các lĩnh vực mới; (iii) Đổi mới toàn diện quy trình xây dựng pháp luật theo hướng khoa học, minh bạch, ngăn chặn tình trạng lợi ích nhóm, cục bộ trong xây dựng chính sách; (iv) Gắn kết chặt chẽ giữa xây dựng và thi hành pháp luật, đặt mục tiêu hoàn thiện pháp luật từ khâu lập pháp, hành pháp đến tư pháp, có cơ chế phản hồi, bổ sung thường xuyên.
Bên cạnh đó, trong việc hoàn thiện cấu trúc hệ thống pháp luật Việt Nam trong giai đoạn mới, đồng chí Phan Đình trạc yêu cầu Hội thảo cũng thống nhất một số quan điểm cơ bản cần quán triệt: (i) Bám sát, cụ thể hóa, kịp thời và đầy đủ các chủ trương, đường lối của Đảng, bảo đảm sự đồng bộ với tư duy, định hướng của Đảng trong xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật; (ii) Bám sát thực tiễn; lấy quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của người dân, doanh nghiệp làm trung tâm; (iii) Bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia, dân tộc; giữ vững chủ quyền quốc gia; biến thể chế, pháp luật trở thành lợi thế cạnh tranh quốc gia trong hội nhập quốc tế, bảo đảm sự tương thích của hệ thống pháp luật Việt Nam với chuẩn mực pháp lý quốc tế; (iv) Gắn việc hoàn thiện cấu trúc hệ thống pháp luật trong tổng thể quá trình hoàn thiện thể chế phát triển đất nước, phù hợp với mô hình quản lý quốc gia hiện đại, với tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam nói riêng và hệ thống chính trị nói chung; (v) Vận dụng nguyên tắc pháp quyền trong thiết kế, cấu trúc và phát triển hệ thống pháp luật; (vi) Chủ động, tích cực tham khảo, tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm quốc tế, đặc biệt của các quốc gia có hệ thống pháp luật hiện đại.
Đồng thời, ghi nhận các ý kiến về một số quan điểm cần phải được quán triệt và thực hiện nghiêm trong việc hoàn thiện cấu trúc hệ thống pháp luật Việt Nam, Trưởng Ban Nội chính Trung ương cũng nêu một số định hướng hoàn thiện cấu trúc hệ thống pháp luật Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
![]() |
| Đồng chí Nguyễn Hải Ninh, Bộ trưởng Bộ Tư pháp phát biểu đáp từ tại Hội thảo. |
Phát biểu đáp từ tại Hội thảo, đồng chí Nguyễn Hải Ninh, Bộ trưởng Bộ Tư pháp bày tỏ, Bộ Tư pháp và Ban Tổ chức Hội thảo rất vinh dự được đón đồng chí Phan Đình Trạc, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Nội chính Trung ương đến dự và phát biểu chỉ đạo tại Hội thảo khoa học cấp quốc gia về hoàn thiện cấu trúc hệ thống pháp luật Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới. Phát biểu chỉ đạo của đồng chí Trưởng Ban Nội chính Trung ương đã nêu ra những nội dung lớn và các vấn đề trọng tâm, là những định hướng rất quan trọng để chúng ta tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện, bổ sung vào Đề án Hoàn thiện cấu trúc hệ thống pháp luật Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới, trình Ban Chỉ đạo Trung ương về hoàn thiện thể chế, pháp luật trong tháng 12 năm nay.
Bộ Tư pháp và Ban Tổ chức Hội thảo sẽ tiếp thu đầy đủ ý kiến chỉ đạo của đồng chí Trưởng Ban nội chính Trung ương và sẽ quyết tâm, nỗ lực triển khai hiệu quả chỉ đạo của đồng chí, góp phần xây dựng hệ thống pháp luật Việt Nam thực sự có chất lượng, hiện đại, đồng bộ, tiệm cận chuẩn mực và thông lệ quốc tế tiên tiến, phù hợp với thực tiễn đất nước; xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng, hướng tới hai mục tiêu chiến lược của đất nước ta trong kỷ nguyên mới.
![]() |
| Đồng chí Nguyễn Khắc Định, Phó Chủ tịch Quốc hội phát biểu bế mạc Hội thảo. |
Kết quả Hội thảo là nguồn tư liệu quý để xây dựng, hoàn thiện hai đề án lớnPhát biểu bế mạc Hội thảo, đồng chí Nguyễn Khắc Định, Phó Chủ tịch Quốc hội cho biết, Hội thảo được tổ chức nhằm giúp Bộ Tư pháp, Ủy ban Pháp luật và Tư pháp của Quốc hội và các cơ quan có liên quan triển khai thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu, xây dựng, hoàn thiện hai đề án rất lớn: Một là “Đề án hoàn thiện cấu trúc hệ thống pháp luật Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới”, được Ban Chỉ đạo Trung ương về hoàn thiện thể chế, pháp luật giao cho Đảng ủy Bộ Tư pháp chuẩn bị; hai là “Đề án định hướng lập pháp của nhiệm kỳ Quốc hội khóa XVI (2026 – 2031)”, được Bộ Chính trị giao cho Đảng uỷ Quốc hội chuẩn bị, trong đó Đảng ủy Ủy ban Pháp luật và Tư pháp là cơ quan tham mưu, giúp việc.
Hai đề án đều rất lớn, rất quan trọng và có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Có thể nói, kết quả của Đề án hoàn thiện cấu trúc hệ thống pháp luật chính là “bản thiết kế”, là cơ sở lý luận dẫn dắt, mở đường cho thực tiễn, làm quy hoạch tổng thể cho việc xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật, vừa quản lý, vừa dẫn dắt, thúc đẩy kiến tạo cho sự phát triển đất nước trong giai đoạn mới. Trên cơ sở quy hoạch tổng thể đó, từ yêu cầu phát triển đất nước, Đề án định hướng lập pháp cho nhiệm kỳ Quốc hội khóa XVI sẽ xác định danh mục các luật mà Quốc hội phải xem xét, thông qua, sửa đổi, bổ sung trong cả nhiệm kỳ.
Đồng chí Nguyễn Khắc Định nhấn mạnh, Hội thảo đã được nghe các tham luận và nhiều ý kiến phát biểu của các đại biểu rất tâm huyết, trí tuệ, trách nhiệm cao từ các chuyên gia, nhà khoa học đầu ngành, đại diện các cơ quan, đặc biệt là phát biểu chỉ đạo rất quan trọng của đồng chí Phan Đình Trạc, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Nội chính Trung ương. Những ý kiến chỉ đạo của đồng chí đã mở ra những định hướng lớn để xây dựng cả hai đề án nói trên; gợi mở mục tiêu, định hướng, giải pháp tiếp tục đẩy mạnh đổi mới, xây dựng, phát triển và bảo vệ Tổ quốc trong giai đoạn mới, phù hợp với tinh thần dự thảo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng. Đây là những chỉ đạo sâu sắc, mang tầm nhìn chiến lược dài hạn của Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Tổng Bí thư và Ban Chỉ đạo Trung ương về hoàn thiện thể chế, pháp luật./.
Ngày 11/11, tại TP Hồ Chí Minh, Trường Cán bộ Thanh tra tổ chức lễ khai giảng lớp bồi dưỡng nghiệp vụ phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực; kiểm tra nội bộ; tiếp công dân, xử lý đơn, giải quyết khiếu nại, tố cáo tại cơ sở y tế – khóa 3 năm 2025.

Khai giảng lớp bồi dưỡng nghiệp vụ phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực; kiểm tra nội bộ; tiếp công dân, xử lý đơn, giải quyết khiếu nại, tố cáo tại cơ sở y tế – khóa 3 năm 2025
Khóa học được tổ chức trên cơ sở chương trình hợp tác giữa Thanh tra Chính phủ với Bộ Y tế về xây dựng tài liệu và công tác bồi dưỡng nghiệp vụ cho đội ngũ lãnh đạo các bệnh viện và các cơ sở y tế về quản trị tốt, phòng ngừa rủi ro tham nhũng.
Lớp bồi dưỡng do các giảng viên là lãnh đạo, cán bộ giàu kinh nghiệm tại các cơ quan, đơn vị thuộc Thanh tra Chính phủ gồm: Cục Thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo lĩnh vực y tế, giáo dục (Cục X), Cục Phòng chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực (Cục IV), chuyên gia và các giảng viên của Trường Cán bộ Thanh tra giảng dạy, trao đổi.

Phó Hiệu trưởng Trường Cán bộ Thanh tra Nguyễn Tuấn Khanh phát biểu tại lễ khai giảng
Phát biểu tại lễ khai giảng, Phó Hiệu trưởng Trường Cán bộ Thanh tra Nguyễn Tuấn Khanh cho biết, đây là lớp bồi dưỡng nghiệp vụ chuyên sâu thứ 3 về phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực; kiểm tra nội bộ; tiếp công dân, xử lý đơn, giải quyết khiếu nại, tố cáo tại cơ sở y tế được tổ chức, sau Hà Nội và Khánh Hòa.
Nội dung bồi dưỡng tập trung vào công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực; việc thực hiện công khai, minh bạch hoạt động, nhất là về tài chính, tài sản, mua sắm trang thiết bị… Đặc biệt là một số dạng sai phạm điển hình được phát hiện qua hoạt động thanh tra, điều tra trong lĩnh vực y tế thời gian qua; quyền, nghĩa vụ của cơ sở y tế khi được thanh tra, kiểm tra.


Lớp bồi dưỡng được triển khai ngay sau lễ khai giảng
Lớp bồi dưỡng nghiệp vụ cũng tập trung vào một số nội dung liên quan đến công tác kiểm tra nội bộ; tiếp công dân, xử lý đơn và giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh trong cơ sở y tế…
Phó Hiệu trưởng Trường Cán bộ Thanh tra Nguyễn Tuấn Khanh mong muốn qua chương trình bồi dưỡng không chỉ cung cấp kiến thức nghiệp vụ chuyên sâu về phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực mà còn góp phần nâng cao năng lực quản lý và điều hành tại các cơ sở y tế, giúp các học viên, đơn vị nhận diện và ngăn chặn hiệu quả các nguy cơ vi phạm.
Khởi nguồn từ thành công của phi dự án: “Hỗ trợ nâng cao năng lực thực thi Công ước của Liên Hợp quốc về Chống tham nhũng tại Việt Nam giai đoạn 2022 – 2024” giữa Thanh tra Chính phủ và Chương trình Phát triển Liên Hợp quốc (UNDP) tại Việt Nam, Thanh tra Chính phủ phối hợp với Bộ Y tế xây dựng tài liệu và tổ chức đào tạo, bồi dưỡng cho đội ngũ lãnh đạo các bệnh viện và cơ sở y tế về quản trị bệnh viện tốt phòng ngừa rủi ro tham nhũng, tiêu cực.
Từ kết quả này, Thanh tra Chính phủ phối hợp với Bộ Y tế mở lớp bồi dưỡng nghiệp vụ phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực; kiểm tra nội bộ; tiếp công dân, xử lý đơn, giải quyết khiếu nại, tố cáo tại cơ sở y tế. Trường Cán bộ Thanh tra là đơn vị trực tiếp triển khai thực hiện.
Hữu Oanh
Bộ Khoa học và Công nghệ đang xây dựng và hoàn thiện dự thảo Quyết định Ban hành Bộ tiêu chí để xác định doanh nghiệp công nghệ số ngang tầm các nước tiên tiến trước khi trình Chính phủ ban hành (dự thảo Quyết định).
Ảnh: Thiên Bình
Theo đó, Bộ Khoa học và Công nghệ đã nhận được nhiều ý kiến góp ý hoàn thiện dự thảo Quyết định của các bộ, ngành, địa phương và các doanh nghiệp, trong đó có Thanh tra Chính phủ.
Nhằm góp phần hoàn thiện dự thảo Quyết định, Thanh tra Chính phủ đề nghị làm rõ về cơ sở đề xuất Bộ tiêu chí, đặc biệt là dữ liệu hiện trạng của các doanh nghiệp công nghệ số Việt Nam; qua đó làm rõ nếu áp dụng theo các tiêu chí này thì có bao nhiêu doanh nghiệp đáp ứng, mức độ đáp ứng để làm rõ về tính phù hợp của Bộ tiêu chí.
Bên cạnh đó, đề nghị tập trung làm rõ phương pháp đánh giá (nguồn thông tin; phương pháp thu thập, tổng hợp, đánh giá thông tin…), thời kỳ đánh giá và giá trị của kết quả đánh giá; như có thể sử dụng kết quả đánh giá để xem xét cho hưởng hoặc áp dụng các biện pháp ưu đãi, hỗ trợ đối với các doanh nghiệp.
Thanh tra Chính phủ còn đề nghị nghiên cứu, cân nhắc việc áp dụng/thừa nhận một số Bộ tiêu chí đánh giá/xếp loại các doanh nghiệp công nghệ đã được áp dụng phổ biến trên thế giới hoặc kết quả đánh giá/xếp loại của một số tổ chức quốc tế có uy tín trong lĩnh vực khoa học, công nghệ, công nghệ số đối với các doanh nghiệp Việt Nam.
Ngoài ra, Thanh tra Chính phủ đề nghị Bộ Khoa học và Công nghệ rà soát toàn bộ nội dung dự thảo Quyết định bảo đảm đúng quy định về thể thức, kỹ thuật soạn thảo văn bản; tiếp tục chỉnh lý, tổng hợp, tiếp thu các ý kiến góp ý của các bộ, cơ quan ngang bộ, UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam, trên cơ sở đó hoàn thiện dự thảo Quyết định, trình Thủ tướng Chính phủ xem xét, ban hành.
Các ý kiến góp ý của Thanh tra Chính phủ đều được Bộ Khoa học và Công nghệ tiếp thu, giải trình trong quá trình hoàn thiện dự thảo Quyết định.
Việc ban hành Bộ tiêu chí xác định doanh nghiệp công nghệ số ngang tầm các nước tiên tiến được thực hiện theo đúng tinh thần Nghị quyết 57-NQ/TW. Sau khi được ban hành, Bộ tiêu chí sẽ được áp dụng đến năm 2030 để xác định số doanh nghiệp công nghệ số Việt Nam ngang tầm các nước tiên tiến.
Thiên Bình
(Nguồn: Thanhtra.com.vn)
Chuyển đổi số ngành Thanh tra hiện đang được coi là bước tái cấu trúc toàn diện từ tư duy đến phương pháp quản lý, không chỉ là ứng dụng công nghệ. Đây là nhiệm vụ chiến lược để ngành Thanh tra nâng cao hiệu quả giám sát, kiểm tra, phòng, chống tham nhũng trong kỷ nguyên số.

Không chỉ là đầu tư công nghệ, mà là tái cấu trúc toàn diện
Ông Lê Viết Thắng, Phó Chánh Văn phòng Thanh tra Chính phủ cho rằng, chuyển đổi số không thể chỉ dừng ở việc đầu tư hạ tầng kỹ thuật hay phần mềm, mà phải được nhìn nhận như một cuộc tái cấu trúc toàn diện về chiến lược, tổ chức và phương pháp luận của ngành Thanh tra.
Điều này đòi hỏi thay đổi cả tư duy số và vai trò của Thanh tra trong xã hội hiện đại, nơi dữ liệu trở thành trung tâm của mọi hoạt động quản trị. Không còn là mô hình làm việc dựa trên hồ sơ giấy, quy trình thủ công, ngành Thanh tra cần chuyển mình để đáp ứng yêu cầu về minh bạch, tốc độ, và hiệu quả xử lý dữ liệu lớn.
Thực tế hiện nay cho thấy, việc ứng dụng công nghệ và đổi mới sáng tạo trong công tác thanh tra vẫn còn phân tán, thiếu tính kết nối. Nhiều hệ thống phần mềm được triển khai cục bộ, chưa hình thành nền tảng hạ tầng và dữ liệu đồng bộ toàn ngành.
Trước thách thức đó, ông Thắng cho biết, Văn phòng Thanh tra Chính phủ đã chủ động nghiên cứu, tham mưu các kế hoạch cụ thể hóa tinh thần Nghị quyết số 57 của Bộ Chính trị, hướng tới chuyển đổi toàn diện mô hình hoạt động của ngành.
Từ đầu tháng 6/2025, Văn phòng đã tiến hành rà soát, đánh giá hiện trạng công nghệ thông tin, nhận diện các khó khăn về hạ tầng, thể chế và nhân lực, qua đó xây dựng phương án chuyển đổi số phù hợp, khả thi, bám sát chỉ đạo của Trung ương và định hướng của Thanh tra Chính phủ.
Khung kiến trúc Chính phủ số Thanh tra, nền tảng cho thay đổi
Một trong những nhiệm vụ trọng tâm năm 2025 là nghiên cứu và xây dựng “Khung Kiến trúc Chính phủ số Thanh tra Chính phủ, phiên bản 4.0”, cùng với “Chiến lược dữ liệu ngành Thanh tra”. Đây được coi là bản quy hoạch tổng thể cho tiến trình chuyển đổi số toàn diện của ngành, giúp xác định rõ hiện trạng, mục tiêu, lộ trình và giải pháp cụ thể.
Theo kế hoạch, đến năm 2028, Thanh tra Chính phủ phấn đấu hoàn thành chuyển đổi số toàn diện, hình thành nền tảng dữ liệu thống nhất, đồng bộ, an toàn và kết nối liên thông với các cơ sở dữ liệu quốc gia khác. Giai đoạn 2028-2030, ngành sẽ phát triển các ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) và phân tích dữ liệu lớn (Big Data) để hỗ trợ công tác giám sát, phát hiện sớm rủi ro, vi phạm và tăng hiệu quả xử lý, ra quyết định trong hoạt động thanh tra.
Việc xây dựng và vận hành Chính phủ số trong ngành Thanh tra không chỉ giúp tiết kiệm thời gian, chi phí, mà còn tạo nên cơ chế quản lý dựa trên dữ liệu thực tiễn, giảm thiểu can thiệp thủ công, nâng cao tính khách quan và minh bạch trong mọi khâu công việc.
Tiên phong tuyến đầu trong chuyển đổi số trong quản trị quốc gia
Nghị quyết số 57 khẳng định: “Khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là trụ cột định hình mô hình quản trị quốc gia hiện đại”. Trước xu hướng đó, ngành Thanh tra với chức năng giám sát quyền lực, phòng chống tham nhũng, tiêu cực và lãng phí phải là một trong những lĩnh vực tiên phong trên tuyến đầu của công cuộc chuyển đổi số.
Ông Thắng cho rằng, chuyển đổi số không phải là lựa chọn, mà là đòi hỏi tất yếu của thực tiễn và lịch sử. Khi Chính phủ, các bộ, ngành, địa phương đều đã vận hành trên nền tảng dữ liệu, mô hình thanh tra truyền thống sẽ không còn phù hợp. Các yêu cầu mới về công khai, minh bạch, tốc độ xử lý thông tin và chứng cứ điện tử đòi hỏi Thanh tra phải đổi mới mạnh mẽ về cả thể chế, nhân lực và phương pháp làm việc.
Để đáp ứng yêu cầu đó, ngành Thanh tra hướng tới triển khai cải cách thể chế số toàn diện để xây dựng nền tảng dữ liệu ngành, đến hiện đại hóa công cụ nghiệp vụ và mô hình nhân sự.
Theo ông Thắng, thanh tra viên thời đại số không chỉ am hiểu pháp luật, mà còn phải trở thành chuyên gia dữ liệu công vụ, biết khai thác, phân tích, và bảo mật thông tin; đồng thời có bản lĩnh chính trị, đạo đức công vụ và tư duy sáng tạo.
Cùng với đó, AI và Big Data sẽ là công cụ hỗ trợ quan trọng, giúp Thanh tra viên chuyển từ giám sát thụ động sang giám sát chủ động, từ xử lý sau vi phạm sang phòng ngừa rủi ro sớm, nâng cao hiệu quả cảnh báo và dự báo trong công tác thanh tra.
Hành trình tất yếu để Thanh tra dẫn dắt quản trị hiện đại
Chuyển đổi số ngành Thanh tra không đơn thuần là hiện đại hóa kỹ thuật, mà là bước đột phá chuyển từ cách làm việc dựa trên hồ sơ giấy, báo cáo thủ công, sang quản trị dựa trên dữ liệu số, giúp tăng năng suất, giảm sai sót, và minh bạch hóa quá trình xử lý.
Mục tiêu cuối cùng là hình thành hệ thống giám sát thông minh, có khả năng phản ứng nhanh, phân tích dữ liệu theo thời gian thực, phục vụ công tác lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành.
Để đạt được điều đó, ông cho rằng Thanh tra Chính phủ sẽ tiên phong trong việc xây dựng chiến lược số hóa toàn ngành, biến chuyển đổi số thành văn hóa tổ chức và phương thức làm việc thường xuyên, liên tục.
Chuyển đổi số không phải là đích đến, mà là hành trình tất yếu để ngành Thanh tra khẳng định vai trò trung tâm trong xây dựng Nhà nước pháp quyền liêm chính, minh bạch, phụng sự Nhân dân.
Khi trí tuệ, đạo đức công vụ và công nghệ được kết hợp hài hòa, ngành Thanh tra sẽ không chỉ đổi mới phương thức làm việc, mà còn nâng tầm vị thế trong hệ thống chính trị, trở thành lực lượng giám sát thông minh của quản trị quốc gia hiện đại.
Đó chính là tinh thần cốt lõi mà Nghị quyết 57 hướng tới góp phần xây dựng nền Thanh tra số, dữ liệu số và con người số, vì một nền hành chính công khai, minh bạch và liêm chính, ông Thắng nhấn mạnh thêm.
Hải Lương
(Nguồn: Thanhtra.com.vn)
Chuyển đổi số đang trở thành yêu cầu tất yếu trong hoạt động thanh tra. Việc số hóa toàn trình từ lập kế hoạch đến theo dõi sau thanh tra không chỉ là bước tiến về công nghệ mà còn là chuyển đổi căn bản, hướng tới nền thanh tra hiện đại, minh bạch và hiệu quả.

Ông Lê Viết Thắng, Phó Chánh Văn phòng Thanh tra Chính phủ. Ảnh: Thanh Thanh
Xu thế tất yếu của chuyển đổi số trong ngành Thanh tra
Nghị quyết số 57 về phát triển đột phá khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia đến năm 2030, tầm nhìn 2045 có ý nghĩa chiến lược sâu sắc. Văn kiện này không chỉ là định hướng tư tưởng chính trị của Đảng, mà còn là kim chỉ nam cho quá trình đổi mới mô hình phát triển quốc gia, thể hiện quyết tâm của Việt Nam trong việc chuyển mình mạnh mẽ sang kỷ nguyên số.
Nghị quyết xác lập 3 trụ cột: Khoa học – công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, coi đây là nền tảng của sự phát triển hiện đại, bền vững. Đồng thời, văn kiện cũng yêu cầu tái thiết cấu trúc thể chế, kiến tạo mô hình quản trị dữ liệu và chủ động thích ứng với những tiến bộ công nghệ toàn cầu.
Đáng chú ý, Nghị quyết nhấn mạnh việc thúc đẩy chuyển đổi số trong cơ quan Nhà nước và hành chính công xây dựng Chính phủ số, số hóa toàn trình hoạt động quản lý, giám sát, điều hành; cung cấp dịch vụ công trực tuyến toàn trình, lấy người dân làm trung tâm; và đặc biệt là ứng dụng công nghệ số trong giám sát, thanh tra, kiểm tra và ra quyết định chính sách.
Theo ông Lê Viết Thắng, Phó Chánh Văn phòng Thanh tra Chính phủ, nếu chỉ dừng ở việc “hậu kiểm” theo mô hình truyền thống, ngành Thanh tra sẽ khó theo kịp tiến trình chuyển đổi số chung của quốc gia.
“Thanh tra cần chuyển mạnh sang mô hình giám sát chủ động, cảnh báo sớm, phát hiện sai phạm từ dữ liệu, thay vì chỉ xử lý hậu quả”, ông nhấn mạnh.
Số hóa toàn trình hoạt động thanh tra
Ông Thắng cho rằng, mọi hoạt động thanh tra phải được số hóa toàn trình, từ khâu lập kế hoạch, khảo sát, thu thập, xử lý thông tin cho đến kết luận và theo dõi sau thanh tra.
Điều này đòi hỏi ngành Thanh tra phải xây dựng nền tảng số dùng chung, thiết lập kiến trúc Chính phủ số của ngành, bảo đảm sự đồng bộ và kết nối với các bộ, ngành, địa phương.
Theo yêu cầu của Nghị quyết 57, mỗi cơ quan phải hoàn thiện khung kiến trúc Chính phủ số, đầu tư hạ tầng số, hình thành nền tảng tích hợp, chia sẻ dữ liệu nội ngành và liên ngành. Đối với Thanh tra Chính phủ, nhiệm vụ trọng tâm là xây dựng kho dữ liệu ngành, số hóa toàn diện công tác thanh tra, tiếp công dân, xử lý đơn thư khiếu nại, tố cáo và phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực.
Dữ liệu ngành Thanh tra cần được kết nối, chia sẻ liên thông với các Cơ sở dữ liệu quốc gia như dân cư, đất đai, tài nguyên, doanh nghiệp, tài chính, đầu tư… nhằm phục vụ công tác giám sát, xác minh dấu hiệu sai phạm hiệu quả và kịp thời hơn.
Song song với số hóa nghiệp vụ thanh tra, việc hiện đại hóa quy trình tiếp công dân và xử lý đơn thư là yêu cầu cấp bách. Trong thời gian tới, ngành Thanh tra sẽ thiết lập hệ thống tiếp nhận và xử lý đơn thư đa kênh, tích hợp trí tuệ nhân tạo (AI) và công nghệ phân tích dữ liệu lớn (Big Data) để đánh giá, phân loại, cảnh báo rủi ro theo thời gian thực.
Những nền tảng số này giúp tăng tính minh bạch, cho phép người dân theo dõi tiến độ xử lý đơn thư của mình, đồng thời giúp cơ quan chức năng đồng bộ hóa quy trình từ tiếp nhận, phân loại, đến ban hành kết luận và giám sát thực hiện.
“Đây là bước chuyển quan trọng từ mô hình tiếp công dân truyền thống sang môi trường số, thể hiện rõ tinh thần “lấy người dân làm trung tâm” của chuyển đổi số quốc gia”, ông Thắng nói.
Thanh tra viên thời đại số, từ cán bộ pháp lý đến chuyên gia dữ liệu
Một trong những yếu tố then chốt quyết định thành công của chuyển đổi số chính là con người, theo ông Thắng, thanh tra viên trong thời kỳ mới không chỉ là cán bộ pháp lý, mà cần trở thành chuyên gia tích hợp giữa pháp luật – công nghệ – dữ liệu.
Ông cho rằng, đội ngũ này phải thành thạo các nền tảng giám sát số, công cụ phân tích dữ liệu lớn, hệ thống hỗ trợ ra quyết định.
Để đạt được điều này, ngành Thanh tra hướng tới công tác đào tạo, bồi dưỡng năng lực số cho toàn lực lượng, đồng thời hình thành các tổ chức thanh tra có chuyên gia dữ liệu và công nghệ tham gia như thành phần chủ chốt trong các đoàn thanh tra hiện đại, ông nhấn mạnh.
Ông cho rằng, Nghị quyết 57 nhấn mạnh việc hoàn thiện thể chế phải đi đôi với đổi mới công nghệ. Đối với ngành Thanh tra, điều đó có nghĩa là cần xây dựng hành lang pháp lý rõ ràng cho việc gửi, nhận, lưu trữ, quản lý và khai thác tài liệu, dữ liệu điện tử. Đồng thời, cần xác lập giá trị pháp lý của dữ liệu số trong hoạt động thanh tra, xử lý đơn thư và phòng, chống tham nhũng.
Cùng với đó, việc ứng dụng AI, dữ liệu lớn, phân tích hành vi và công cụ hỗ trợ ra quyết định sẽ giúp nâng cao chất lượng và tốc độ xử lý, đồng thời giảm thiểu sai sót chủ quan trong quá trình thanh tra, giám sát.
Theo ông Thắng, chuyển đổi số không chỉ là đầu tư hạ tầng phần cứng và phần mềm, mà còn là quá trình tái cấu trúc toàn diện chiến lược, tổ chức và phương pháp luận của ngành Thanh tra. Đây là sự thay đổi mang tính căn cơ, chuyển đổi tư duy số, nhận thức lại vai trò của ngành Thanh tra trong xã hội số, hành chính số và Nhà nước pháp quyền hiện đại.
Để làm được điều đó đòi hỏi sự quyết tâm cao hơn nữa từ lãnh đạo, sự vào cuộc của toàn hệ thống, cùng với việc đầu tư bài bản cho hạ tầng công nghệ, nhân lực và thể chế; tiến tới quản trị dữ liệu và giám sát thông minh, góp phần xây dựng một nền hành chính công khai, minh bạch và phục vụ hiệu quả người dân, doanh nghiệp trong kỷ nguyên số, theo ông Thắng.
Bài 2: Giải pháp cấp thiết nâng cao chuyển đổi số ngành Thanh tra
Hải Lương
(Nguồn: Thanhtra.com.vn)
Xác định việc triển khai thực hiện Nghị quyết 57 của Bộ Chính trị là nhiệm vụ trọng tâm, xuyên suốt của toàn ngành, Viện Kiểm sát nhân dân (VKSND) Tối cao đã chủ động, kịp thời quán triệt, ban hành kế hoạch triển khai thực hiện thống nhất từ Trung ương tới địa phương và đã đạt được những kết quả nhất định bước đầu.
Ngày 6/11, Đoàn công tác của Đảng ủy các cơ quan Đảng Trung ương do ông Đỗ Việt Hà, Phó Bí thư Đảng ủy các cơ quan Đảng Trung ương làm Trưởng đoàn đã có buổi làm việc với VKSND Tối cao về nắm tình hình thực hiện Nghị quyết 57-NQ/TW của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia (Nghị quyết 57). Ông Nguyễn Đức Thái, Ủy viên Ban Thường vụ Đảng uỷ, Phó Viện trưởng VKSND Tối cao cùng chủ trì buổi làm việc.
Báo cáo của Đảng ủy VKSND Tối cao tại buổi làm việc cho thấy, công tác chỉ đạo, điều hành triển khai thực hiện Nghị quyết số 57 tiếp tục được Đảng ủy và lãnh đạo VKSND Tối cao xác định là nhiệm vụ trọng tâm, xuyên suốt của toàn ngành.
Cụ thể, Đảng ủy VKSND Tối cao đã ban hành Kế hoạch hành động số 09-KH/ĐU ngày 29/4/2025 thực hiện Nghị quyết số 57; đồng thời, ban hành Kế hoạch số 08-KH/ĐU ngày 26/8/2025 để triển khai Kế hoạch số 02-KH/BCĐTW ngày 19/6/2025 của Ban Chỉ đạo Trung ương, bảo đảm thống nhất trong toàn hệ thống tổ chức đảng của ngành Kiểm sát nhân dân.

Đại diện VKSND Tối cao báo cáo tại buổi làm việc. Ảnh: Báo Bảo vệ pháp luật
Bám sát chỉ đạo, điều hành của Đảng ủy, lãnh đạo VKSND Tối cao đã ban hành Kế hoạch số 05/KH-VKSTC ngày 10/1/2025 về chuyển đổi số ngành Kiểm sát nhân dân năm 2025.
Trong đó, xác định 25 nhiệm vụ, mục tiêu trọng tâm, ưu tiên triển khai trong năm, tập trung vào các lĩnh vực: Hoàn thiện thể chế, phát triển hạ tầng số, xây dựng cơ sở dữ liệu chuyên ngành, bảo đảm an toàn, an ninh mạng và phát triển nguồn nhân lực chuyển đổi số.
Cùng với việc tổ chức hội nghị quán triệt Nghị quyết 57 trong toàn ngành, VKSND Tối cao đã thành lập Ban Chỉ đạo về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và Đề án 06 ngành Kiểm sát nhân dân, do Viện trưởng VKSND Tối cao làm Trưởng ban.
Trên cơ sở đó, đã chỉ đạo kiện toàn Ban Chỉ đạo tại 100% VKSND cấp tỉnh. Trong đó, Viện trưởng VKSND cấp tỉnh trực tiếp làm Trưởng ban, bảo đảm sự thống nhất chỉ đạo từ Trung ương đến địa phương.
Bên cạnh đó, ngành Kiểm sát nhân dân cũng phát động phong trào học tập trên các nền tảng số để trở thành phong trào “học tập số” thường xuyên, liên tục; triển khai phong trào “Bình dân học vụ số” ngành Kiểm sát nhân dân – chuyên đề trí tuệ nhân tạo.

Ông Đỗ Việt Hà phát biểu chỉ đạo tại buổi làm việc. Ảnh: Báo Bảo vệ pháp luật
Tại buổi làm việc, ông Nguyễn Đức Thái, Ủy viên Ban Thường vụ Đảng uỷ, Phó Viện trưởng VKSND Tối cao đã báo cáo khái quát một số nội dung nhiệm vụ được giao, những kết quả ngành Kiểm sát nhân dân đạt được trong triển khai thực hiện Nghị quyết 57 cũng như một số khó khăn, vướng mắc và đề xuất, kiến nghị.
Đánh giá cao VKSND Tối cao trong việc chuẩn bị nghiêm túc, đầy đủ nội dung cho buổi làm việc, ông Đỗ Việt Hà, Phó Bí thư Đảng ủy các cơ quan Đảng Trung ương cơ bản đồng tình với các đề xuất, kiến nghị tại cuộc họp.
Về nhiệm vụ trong thời gian tới, Phó Bí thư Đảng ủy các cơ quan Đảng Trung ương Đỗ Việt Hà đề nghị VKSND Tối cao tiếp tục hoàn thiện thể chế và hành lang pháp lý; tiếp tục triển khai Kế hoạch số 02-KH/BCĐTW của Ban Chỉ đạo Trung ương; quan tâm xử lý công tác Đảng trên môi trường số, việc sử dụng Phần mềm Sổ tay Đảng viên điện tử… Đồng thời, bổ sung các nội dung, ý kiến góp ý tại buổi làm việc để hoàn thiện báo cáo.
Minh Nguyệt
(Nguồn: Thanhtra.com.vn)
Ngày 11/06/2025 tại Trường Cán bộ thanh tra (Trường CBTT), Ban chủ nhiệm đề tài khoa học cấp “Xác minh tài sản, thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn” tổ chức Họp tự đánh giá kết quả nghiên cứu đề tài. Đề tài do TS. Nguyễn Quốc Văn, Nguyên Phó Vụ trưởng Vụ Pháp chế, Thanh tra Chính phủ làm chủ nhiệm. TS. Trần Đăng Vinh, Vụ trưởng Vụ Pháp chế, Thanh tra Chính phủ – Chủ tịch Hội đồng tự đánh giá kết quả nghiên cứu đề tài tài chủ trì buổi họp.
Trình bày kết quả nghiên cứu theo TS. Nguyễn Quốc Văn, Đề tài có kết cấu gồm ba chương: i) Những vấn đề chung về xác minh tài sản, thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn; ii) Thực trạng về xác minh tài sản, thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn; iii) Quan điểm, giải pháp nâng cao hiệu quả xác minh tài sản, thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn.

Theo Chủ nhiệm đề tài, thực hiện Chỉ thị số 33-CT/TW ngày 03/01/2014 của Bộ Chính trị về kê khai, kiểm soát việc kê khai tài sản, hơn 10 năm qua, Ban Chỉ đạo Trung ương về PCTN, lãng phí, tiêu cực, Quốc hội, Chính phủ, các bộ, ngành đã sửa đổi, bổ sung, ban hành mới nhiều văn bản nhằm tăng cường hiệu lực, hiệu quả kiểm soát tài sản, thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn và xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về kiểm soát tài sản, thu nhập.
Theo Báo cáo tổng kết 10 năm việc thực hiện Chỉ thị số 33-CT/TW thì việc thực hành xác minh TSTN của người có chức vụ, quyền hạn hiện hết sức sức lúng túng về nội dung, phương pháp, cách thức tiến hành, hầu hết mới chỉ dừng ở khâu đối chiếu bản khai với hồ sơ, giấy tờ, chưa xác minh nguồn gốc; việc xác minh ngẫu nhiên theo kế hoạch hằng năm triển khai chậm, chưa kết nối được với các cơ quan quản lý đất đai, tài sản, ngân hàng, chứng khoán …; thiếu thống nhất trên phạm vi cả nước; chưa hoàn thành việc xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về tài sản, thu nhập. Đến nay, hoạt động xác minh TSTN của người có chức vụ, quyền hạn chưa đạt kết quả thực chất, còn mang tính hình thức; nhiều nơi vẫn chưa kết luận xác minh được trường hợp nào. Việc tổ chức xác minh, kết luận về TSTN của các đối tượng thuộc diện quản lý của Bộ Chính trị, Ban Bí thư, các cấp ủy Đảng ở Trung ương và địa phương, của các đối tượng là đại diện chủ sở hữu hoặc lãnh đạo – quản lý các doanh nghiệp nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập chưa được quy định rõ nhằm bảo đảm tính thực tế – khả thi, khách quan, minh bạch, trách nhiệm giải trình, phòng, chống xung đột lợi ích và phục vụ đồng thời sự giám sát, kiểm soát của nhà nước và nhân dân đối với việc thực hiện các quyền về tài sản của các nhóm đối tượng hết sức quan trọng và đặc biệt này.

Đánh giá kết quả nghiên cứu Hội đồng đánh giá cao kết quả nghiên cứu của Đề tài; Cách tiếp cận khoa học, hợp lý; Đề tài đánh giá toàn diện thực trạng pháp luật và thực tiễn thực thi xác minh tài sản, thu nhập, chỉ ra nguyên nhân chủ quan, khách quan của hạn chế và kiến nghị cụ thể, khả thi. Tuy nhiên, Đề tài còn một số điểm cần hoàn thiện:Tập trung sâu hơn vào nội dung xác minh tài sản, thu nhập từ Chương 1, Chương 2, Chương 3; Một số nội dung còn mang tính mô tả, cần phân tích định lượng hoặc so sánh quốc tế sâu hơn tăng sức thuyết phục; Các giải pháp đề xuất còn thiếu lộ trình thực hiện cụ thể, điều kiện nguồn lực và cơ chế phối hợp liên ngành.
Kết thúc buổi họp, Hội đồng thống nhất đánh giá đề tài đạt yêu cầu để đưa ta nghiệm thu chính thức, Ban Chủ nhiệm đề tài cần tiếp thu ý kiến của Hội đồng để hoàn thiện đề tài./.
Khiếu nại là một biểu hiện của tính dân chủ của đất nước, nó là sự cụ thể hoá quyền con người được thể hiện trong Hiến pháp, là công cụ để người dân bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình nói riêng và góp phần phản ánh hiệu quả của việc thực hiện pháp luật của các cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền trong hoạt động quản lý hành chính nhà nước nói chung; từ đó thể hiện tính phù hợp và tính cập nhật trong việc đưa pháp luật vào đời sống, góp phần quan trọng trong công cuộc xây dựng, phát triển nền hành chính của quốc gia. Tại Việt Nam, khiếu nại hành chính phát sinh có ở hầu hết các lĩnh vực như đất đai, kinh tế, môi trường, đầu tư… Vì vậy, việc thiết lập một cơ chế giải quyết khiếu nại hành chính hiệu quả, minh bạch có ý nghĩa hết sức quan trọng để củng cố và tăng cường niềm tin của người dân vào Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa.
1. Đặt vấn đề
Quyền khiếu nại, tố cáo đã được ghi nhận trong Hiến pháp Việt Nam tại điều 30 Hiến pháp 2013 (sửa đổi, bổ sung năm 2025):
“1. Mọi người có quyền khiếu nại, tố cáo với cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền về những việc làm trái pháp luật của cơ quan, tổ chức, cá nhân.
2. Cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền phải tiếp nhận, giải quyết khiếu nại, tố cáo. Người bị thiệt hại có quyền được bồi thường về vật chất, tinh thần và phục hồi danh dự theo quy định của pháp luật.
3. Nghiêm cấm việc trả thù người khiếu nại, tố cáo hoặc lợi dụng quyền khiếu nại, tố cáo để vu khống, vu cáo làm hại người khác.”
Về chủ đề “khiếu nại”, trong thực tế, khiếu nại hành chính chiếm đa số trong các vụ việc phát sinh trong quá trình quản lý nhà nước. Theo quy định tại khoản 1 Điều 2 Luật Khiếu nại, khiếu nại là việc công dân, cơ quan, tổ chức theo thủ tục do Luật Khiếu nại quy định, đề nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền xem xét lại quyết định hành chính, hành vi hành chính của cơ quan hành chính nhà nước, của người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước khi có căn cứ cho rằng quyết định hoặc hành vi đó là trái pháp luật, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của mình.
Về mặt chủ thể của khiếu nại hành chính, chủ thể khiếu nại là công dân, cơ quan, tổ chức thực hiện quyền khiếu nại. Cơ quan, tổ chức có quyền khiếu nại là cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội – nghề nghiệp, tổ chức kinh tế, đơn vị vũ trang nhân dân. Đây chính là những chủ thể chịu sự quản lý của các cơ quan hành chính nhà nước, các chủ thể nêu trên được thực hiện quyền khiếu nại với điều kiện họ là đối tượng chịu sự tác động trực tiếp của các quyết định hành chính, hành vi hành chính, hay nói cách khác, quyết định hành chính, hành vi hành chính bị khiếu nại phải xâm phạm trực tiếp đến quyền và lợi ích của người khiếu nại. Trong hoạt động quản lý nhà nước, quản lý xã hội, các cơ quan nhà nước ban hành các văn bản, quyết định quản lý theo thẩm quyền để thực hiện quyền lực nhà nước buộc công dân, tổ chức phải thực hiện. Các hoạt động đó tác động, ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức, làm phát sinh khiếu nại. Ví dụ: cơ quan quản lý hành chính nhà nước trong lĩnh vực xuất nhập cảnh quản lý các thủ tục xuất cảnh, nhập cảnh cho công dân; một bác sĩ cần mở một phòng khám tư cần có những điều kiện, tiêu chuẩn về máy móc, chứng chỉ hành nghề do các cơ quan quản lý hành chính nhà nước yêu cầu, …
Về mặt đối tượng của khiếu nại, đối tượng khiếu nại là quyết định hành chính, hành vi hành chính.
Mục đích chính của khiếu nại là bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của chủ thể khiếu nại (người khiếu nại).
Về hậu quả pháp lý của việc khiếu nại, có hai trường hợp sẽ xảy ra:
– Trường hợp khiếu nại đúng, các cơ quan có thẩm quyền có trách nhiệm khôi phục quyền và lợi ích hợp pháp cho người khiếu nại
– Nếu như đơn khiếu nại sai thì đơn khiếu nại sẽ bị bác bỏ và người khiếu nại không phải chịu trách nhiệm về hành vi khiếu nại của mình.
2. Một số khó khăn, vướng mắc trong giải quyết khiếu nại hành chính hiện nay
Báo cáo công tác tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo về hành chính năm 2025, tính đến hết tháng 9 năm 2025 có 261.566 lượt người đến cơ quan hành chính nhà nước khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh, giảm 28% so với năm 2024. Trong công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo, cơ quan hành chính nhà nước các cấp đã giải quyết 18.108/22.068 vụ việc khiếu nại, tố cáo thuộc thẩm quyền, đạt tỷ lệ 82,1%, tăng 0,6% so với năm 2024.
Đáng lưu ý, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đã chỉ đạo các bộ, ngành, địa phương triển khai thực hiện nghiêm túc các Nghị quyết của Quốc hội, Nghị quyết, Kết luận của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về công tác tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo.
Tiếp nhận, giải quyết kịp thời theo thẩm quyền, đúng pháp luật các vụ việc khiếu nại, tố cáo do các cơ quan của Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội, đại biểu Quốc hội (ĐBQH) chuyển đến.
Cụ thể, đã xem xét, xử lý, giải quyết 192/375 vụ việc khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh do đại biểu Quốc hội, Đoàn ĐBQH và các cơ quan của Quốc hội chuyển đến, đạt 51,2%. 183/375 đang tiếp tục xem xét xử lý, giải quyết[1].
Thực trạng trên bắt nguồn từ nhiều nguyên nhân: Những khó khăn, bức xúc, mâu thuẫn từ cơ sở chưa được phát hiện kịp thời và giải quyết thỏa đáng; hệ thống văn bản quy phạm pháp luật của Nhà nước về giải quyết khiếu nại, tố cáo còn thiếu đồng bộ, thống nhất; cơ quan thực hiện chính sách, pháp luật, nhất là về đất đai, nông nghiệp, môi trường… chưa đúng, chưa đầy đủ, chính quyền và cơ quan chức năng chưa chủ động đối thoại với người dân để giải quyết vướng mắc, chưa làm tốt công tác tuyên truyền, vận động người dân chấp hành… Ngoài ra, trong thời gian chuyển giao giữa tổ chức chính quyền địa phương cũ sang chính quyền địa phương 02 cấp mới, nhiều vụ việc khiếu nại còn tồn đọng vẫn tiếp tục chưa được xử lý triệt để do vướng mắc về xác định thẩm quyền, cũng như quy trình giải quyết…
Một vấn đề cần chú ý trong hoạt động khiếu nại là người khiếu nại không phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về hành vi của mình, điều này dẫn đến tình trạng khiếu nại kéo dài, vượt cấp, vượt ngành. Thậm chí có một số đoàn đông đến cơ quan hành chính Nhà nước để khiếu nại trong nhiều năm liền mặc dù đơn khiếu nại đã được giải quyết đúng chức năng, thẩm quyền. Điều này đòi hỏi cần có những biện pháp cụ thể để giải quyết tình trạng này từ những cơ quan, tổ chức có thẩm quyền. Bên cạnh đó, công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật đến người dân cần được quan tâm và thực hiện thường xuyên để người dân có thể hiểu và không thực hiện khiếu nại kéo dài, vượt cấp, vượt ngành gây ảnh hưởng đến hoạt động của các cơ quan hành chính nhà nước và tập trung pháp triển kinh tế, chăm lo đời sống trên tinh thần thượng tôn pháp luật.
3. Đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả giải quyết khiếu nại
Để khắc phục tình trạng trên, cần có những giải pháp để hoàn thiện về pháp lý cũng như nâng cao chuyên môn, nghiệp vụ cho cán bộ có thẩm quyền giải quyết khiếu nại, cụ thể như sau:
– Một là, cần hoàn thiện pháp luật về khiếu nại. Cần quy định cụ thể trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền nhận và chuyển đơn khiếu nại. Theo đó, các chủ thể này phải được gắn trách nhiệm nhận diện, chuyển đơn đến đúng cơ quan có thẩm quyền giải quyết (không được gửi đơn vượt cấp); nếu vụ việc đã được các cơ quan có thẩm quyền giải quyết hết thẩm quyền thì có thể hướng dẫn cho người dân thực hiện quyền khởi kiện vụ án hành chính tại Toà án để thụ lý giải quyết. Trong trường hợp vụ việc khiếu nại có tính chất phức tạp thì cần có cơ chế tham vấn các chủ thể có liên quan, có thể chỉ đạo cơ quan tham mưu, giúp việc nhằm thu thập, bổ sung thêm thông tin, tài liệu, đánh giá chứng cứ để tìm ra những nội dung, vấn đề cần tiếp tục làm rõ, giải quyết. Xác định điểm dừng trong giải quyết khiếu nại và việc thực hiện quyền khiếu nại của công dân. Cần luật hóa điểm dừng trong công tác tiếp nhận, giải quyết đơn khiếu nại, tố cáo của công dân là cần thiết nhằm tránh tình trạng đơn vượt cấp, kéo dài như hiện nay. Tuy nhiên Luật cũng cần quy định cụ thể để tránh tình trạng cán bộ lợi dụng “điểm dừng” này hạn chế quyền khiếu nại và tố cáo của người dân. Hoàn thiện cơ chế kiểm soát quyền lực đối với các chủ thể giải quyết khiếu nại nhằm phòng ngừa, phát hiện hành vi vi phạm của người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại. Cần có cơ chế kiểm soát quyền lực đối với các chủ thể trong giải quyết khiếu nại, từ thủ trưởng cơ quan quản lý nhà nước đến các chủ thể tham mưu việc giải quyết;
– Hai là, xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức có đủ phẩm chất chính trị, đạo đức, trình độ, năng lực, kỹ năng nghiệp vụ trong công tác tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo. Trong bối cảnh mô hình chính quyền địa phương 02 cấp mới đi vào hoạt động, nhiều cán bộ vẫn còn bỡ ngỡ khi bắt đầu làm quen với công tác tiếp nhận đơn thư cũng như giải quyết khiếu nại. Do đó, cần chú trọng bồi dưỡng để nâng cao chuyên môn, nghiệp vụ cho các cán bộ thực hiện công tác tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo tại các địa phương. Cần đề cao trách nhiệm của người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại, tố cáo trong việc tiếp công dân, đối thoại với công dân, giải quyết kịp thời ngay tại cấp cơ sở. Bố trí cán bộ làm công tác tiếp công dân và tham mưu giải quyết khiếu nại, tố cáo có tâm huyết, tinh thông nghiệp vụ, có khả năng hướng dẫn, giải thích, thuyết phục để công dân hiểu và chấp hành đúng pháp luật;
– Ba là, cần đề cao công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật đến người dân cần được quan tâm và thực hiện thường xuyên để người dân có thể hiểu và không thực hiện khiếu nại kéo dài, vượt cấp, vượt ngành gây ảnh hưởng đến hoạt động của các cơ quan hành chính nhà nước và tập trung phát triển kinh tế, chăm lo đời sống cho người dân, trên tinh thần thượng tôn pháp luật./.
[1] Anh Huy. Hơn 261.000 lượt người đến cơ quan hành chính nhà nước khiếu nại, tố cáo, kiến nghị(2025). Truy cập 15/10/2025, URL: https://laodong.vn/thoi-su/hon-261000-luot-nguoi-den-co-quan-hanh-chinh-nha-nuoc-khieu-nai-to-cao-kien-nghi-1570806.ldo
Trịnh Văn Hào Sơn
Khoa Nghiệp vụ II- Trường Cán bộ Thanh tra
Ông Nguyễn Quốc Đoàn, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Chánh án TAND Tối cao được bổ nhiệm giữ chức Phó Tổng Thanh tra Thường trực Thanh tra Chính phủ, theo quyết định của Thủ tướng.
Ngày 4/11, Thủ tướng Chính phủ ban hành các quyết định bổ nhiệm, bổ nhiệm lại lãnh đạo một số bộ, cơ quan. Cụ thể, tại Quyết định số 2435, Thủ tướng Chính phủ quyết định tiếp nhận, bổ nhiệm ông Nguyễn Quốc Đoàn, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Chánh án TAND Tối cao giữ chức Phó Tổng Thanh tra Thường trực Thanh tra Chính phủ.

Phó Chánh án TAND Tối cao Nguyễn Quốc Đoàn được bổ nhiệm làm Phó Tổng Thanh tra Thường trực Thanh tra Chính phủ. Ảnh: Đ.X
Ông Nguyễn Quốc Đoàn sinh năm 1975, quê tỉnh Ninh Bình. Ông là Ủy viên Trung ương Đảng khóa XIII, Tiến sĩ Luật.
Trong quá trình công tác, ông Nguyễn Quốc Đoàn từng kinh qua nhiều chức vụ khác nhau như Phó Tư lệnh Bộ Tư lệnh Cảnh sát cơ động (Bộ Công an), Giám đốc Công an tỉnh Thừa Thiên Huế, Phó Bí thư rồi Phó Bí thư Thường trực Tỉnh ủy Thừa Thiên Huế.
Tháng 7/2021, ông Nguyễn Quốc Đoàn được Bộ Chính trị điều động, chỉ định tham gia Ban Chấp hành, Ban Thường vụ và giữ chức Bí thư Tỉnh ủy Lạng Sơn. Sau đó, ông được Quốc hội phê chuẩn bổ nhiệm làm Thẩm phán TAND Tối cao.
Đến năm 2024, ông được bổ nhiệm giữ chức Phó Chánh án TAND Tối cao.
Trước đó, cùng ngày, Ban Thường vụ Đảng ủy các cơ quan Đảng Trung ương chỉ định ông Nguyễn Văn Quảng, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Tổng Thanh tra Thường trực Thanh tra Chính phủ tham gia Ban Chấp hành Đảng bộ, Ban Thường vụ Đảng ủy và giữ chức Bí thư Đảng ủy TAND Tối cao nhiệm kỳ 2025 – 2030.
Tại Quyết định số 2436/QĐ-TTg, Thủ tướng Chính phủ bổ nhiệm ông Lê Đức Thái, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Tư lệnh Bộ đội Biên phòng giữ chức Thứ trưởng Bộ Quốc phòng.
Tại Quyết định số 2438, Thủ tướng Chính phủ bổ nhiệm lại ông Đỗ Thanh Hải giữ chức Phó Tổng Giám đốc Đài Truyền hình Việt Nam.
Tại Quyết định số 2432, Thủ tướng Chính phủ bổ nhiệm Đại tá Nguyễn Anh Ngọc, Chủ nhiệm Hậu cần – Kỹ thuật Quân khu 2 giữ chức Phó Tư lệnh Quân khu 2.
Hương Giang
(Nguồn: Thanhtra.com.vn)







