Doanh nghiệp được thanh toán gốc lãi trái phiếu bằng tài sản khác
Mới đây, Bộ Tài chính đã trình Chính phủ dự thảo “Nghị định sửa đổi, bổ sung và ngưng hiệu lực thi hành một số quy định tại các Nghị định quy định về chào bán, giao dịch trái phiếu doanh nghiệp riêng lẻ tại thị trường trong nước và quốc tế”. Trước đó, Bộ Tài chính đặt tên nghị định là Nghị định sửa đổi, bổ sung một số điều Nghị định 65/2022/NĐ quy định về chào bán, giao dịch trái phiếu doanh nghiệp riêng lẻ tại thị trường trong nước và chào bán trái phiếu ra thị trường quốc tế.
Dự thảo với nhiều đề xuất mới được kỳ vọng góp phần củng cố niềm tin thị trường và tháo gỡ khó khăn thanh khoản thị trường sau một năm tuột dốc. Một số nội dung quan trọng đáng chú ý được đề xuất sửa đổi đó là cho phép doanh nghiệp được thanh toán gốc lãi trái phiếu bằng tài sản khác.
Với trái phiếu chào bán trong nước, trường hợp doanh nghiệp phát hành không thể thanh toán đầy đủ, đúng hạn gốc và lãi theo phương án đã công bố thì doanh nghiệp có thể đàm phán với người sở hữu trái phiếu để thanh toán gốc, lãi trái phiếu đến hạn bằng tài sản khác, trên cơ sở đảm bảo 3 nguyên tắc.
Nguyên tắc thứ nhất, phải tuân thủ quy định của pháp luật dân sự, pháp luật chuyên ngành và pháp luật có liên quan. Nguyên tắc thứ hai phải được chủ sở hữu trái phiếu chấp thuận. Nguyên tắc thứ ba, doanh nghiệp phát hành phải công bố thông tin bất thường và chịu hoàn toàn trách nhiệm về tình trạng pháp lý của tài sản sử dụng để thanh toán gốc, lãi trái phiếu theo quy định pháp luật.
Căn cứ để Bộ Tài chính đưa ra quy định này là Điều 286 Bộ luật Dân sự năm 2015 và quy định pháp luật liên quan đã cho phép doanh nghiệp có thể chuyển đổi trái phiếu thành khoản vay hoặc thanh toán trái phiếu bằng tài sản khác. Bộ Tài chính cũng đã trình Bộ Tư pháp thẩm định quy định này.
Trên thực tế, trong thời gian qua, một số doanh nghiệp, đặc biệt thuộc nhóm bất động sản gặp khó khăn thanh toán nghĩa vụ nợ đáo hạn năm 2023, có doanh nghiệp đã đàm phán thanh toán gốc trái phiếu bằng cổ phần, có doanh nghiệp đàm phán với nhà đầu tư để thanh toán gốc, lãi trái phiếu bằng sản phẩm bất động sản.
Ở một khía cạnh khác, dự thảo Nghị định cũng cho phép doanh nghiệp phát hành được đàm phán để kéo dài kỳ hạn trái phiếu. Theo đó, với trường hợp kéo dài kỳ hạn của trái phiếu, dự thảo quy định thời hạn tối đa không quá 2 năm so với phương án phát hành đã công bố với nhà đầu tư. Trong trường hợp trái chủ không chấp nhận thay đổi điều kiện, điều khoản của trái phiếu doanh nghiệp thì doanh nghiệp phát hành có trách nhiệm đàm phán đảm bảo quyền lợi của nhà đầu tư. Nếu trái chủ vẫn không chấp nhận phương án đàm phán thì doanh nghiệp phải trả đầy đủ gốc, lãi trái phiếu khi đến hạn và phải thực hiện các quyền kèm theo (nếu có) cho trái chủ theo đúng phương án phát hành trái phiếu đã công bố cho nhà đầu tư.

Ngưng hiệu lực một số quy định của Nghị định 65/2022/NĐ-CP
Cũng theo dự thảo Nghị định sửa đổi, một trong những điểm quan trọng của dự thảo là cho phép ngưng hiệu lực thi hành đối với các quy định tại Nghị định số 65 đến hết ngày 31/12/2023.
Bộ Tài chính đánh giá, trong bối cảnh khó khăn thanh khoản như hiện nay, việc ngưng thời gian thực hiện quy định về nhà đầu tư chứng khoán chuyên nghiệp đến hết 31/12/2023 theo ý kiến của một số doanh nghiệp có thể duy trì được nhu cầu mua trái phiếu doanh nghiệp của các nhà đầu tư cá nhân có tiềm lực tài chính song chưa đáp ứng được điều kiện của Nghị định 65/2022/NĐ-CP.
Theo đó, Bộ này đề xuất ngưng hiệu lực thi hành quy định về việc xác định tư cách nhà đầu tư chứng khoán chuyên nghiệp là cá nhân (chưa nâng chuẩn nhà đầu tư chứng khoán chuyên nghiệp) và quy định về bắt buộc xếp hạng tín nhiệm đến hết ngày 31/12/2023; rút ngắn thời gian phân phối trái phiếu từng đợt phát hành.
Các chuyên gia đánh giá cao kiến nghị hoãn nợ, theo đại diện FiinRatings, những đề xuất như ngưng hiệu lực thi hành với việc xác định tư cách nhà đầu tư chứng khoán chuyên nghiệp là cá nhân, kéo dài kỳ hạn của trái phiếu không quá 2 năm, hoãn quy định về giảm thời gian phân phối trái phiếu đều có chung một mục đích, đó là hỗ trợ thanh khoản cho thị trường giai đoạn này và hỗ trợ để doanh nghiệp có thể xoay xở trong điều kiện thị trường khó khăn chung.
Tuy vậy, cũng có những doanh nghiệp xin “khất” nợ gốc nhưng cũng chây ỳ không thanh toán lãi cho nhà đầu tư. Do đó, theo chuyên gia, điều này tùy vào việc doanh nghiệp làm việc với trái chủ, có những những người đồng thuận có người không đồng thuận, cần phải trao đổi cụ thể trong hội nghị trái chủ.
Còn về đề xuất doanh nghiệp được thanh toán gốc, lãi trái phiếu bằng tài sản khác, nhiều trái chủ lo ngại nhà phát hành gán nợ bằng những bất động sản đang xây dở dang, hoặc ở vị trí xa xôi, cũng vô cùng bất cập. Bên cạnh việc đả thông về thanh khoản cho doanh nghiệp, điều cấp thiết là cần hỗ trợ chính sách pháp lý liên quan đến dự án đang triển khai dở dang, đây là cơ sở để cả trái chủ lẫn tổ chức phát hành có cơ sở để làm việc rõ ràng hơn đối với người nắm giữ trái phiếu.
Cũng theo vị chuyên gia này, với phương án hoán đổi tài sản, doanh nghiệp cũng phải chủ động minh bạch thông tin với trái chủ về tình trạng pháp lý hiện nay như thế nào và diễn biến làm việc với các bên liên quan ra sao. Việc hoán đổi cũng phải tùy vào quyết định của người nắm giữ trái phiếu. Việc quan trọng nhất hiện nay hỗ trợ thanh khoản và hỗ trợ chính sách liên quan đến pháp lý.
Giới phân tích cũng đặt nhiều kỳ vọng trong việc sửa đổi Nghị định 65 sẽ mở đường tháo gỡ phần nào nút thắt trái phiếu khiến các doanh nghiệp bế tắc trong suốt thời gian qua. Và cho rằng dự thảo sửa đổi Nghị định 65 nếu được Chính phủ thông qua sớm sẽ là giải pháp kịp thời, để trái phiếu tiếp tục là kênh dẫn vốn quan trọng cho thị trường. Trong đó, hỗ trợ thị trường bất động sản phục hồi, phát triển theo hướng an toàn, ổn định, bền vững. Đồng thời, có lợi cho sự phát triển an toàn, hiệu quả, bền vững của cả hệ thống tín dụng.
Tuy nhiên, đánh giá chung, việc giải quyết trái phiếu chỉ là giải pháp tình thế trước mắt. Về lâu dài, căn cơ, các chuyên gia đồng nhất quan điểm để giải quyết được vấn đề thanh khoản của doanh nghiệp bất động sản thì cần sự hỗ trợ của cơ quan quản lý trong việc tháo gỡ pháp lý. Với riêng doanh nghiệp bất động sản, cần phải chủ động hạ giá bán sản phẩm, từ đó, có thể kích thích dòng tiền bắt đáy sẽ sớm tạo thanh khoản cho thị trường./.
Lan Anh
(Nguồn: ThanhtraVietNam)
Hà Nội kiên quyết xóa bỏ các điểm hè phố, lòng đường bị chiếm dụng trái phép để làm nơi kinh doanh buôn bán, trông giữ phương tiện, trả lại nguyên trạng hè phố với phương châm “giành lại vỉa hè phong quang, sạch đẹp cho người đi bộ”…

Ban Chỉ đạo 197 TP Hà Nội vừa ban hành Kế hoạch số 01/KH-BCĐ197 về tổng kiểm tra, xử lý, giải quyết vi phạm về trật tự, an toàn giao thông, trật tự đô thị, trật tự công cộng trên địa bàn TP Hà Nội năm 2023.
Theo kế hoạch, các cơ quan chức năng TP sẽ kiểm tra quyết liệt, đồng bộ, toàn diện về những nội dung trên trong phạm vi toàn TP; phát hiện, xử lý 100% hành vi vi phạm trên lĩnh vực trật tự, an toàn giao thông, đô thị, công cộng để tạo tính răn đe.
Đặc biệt, TP kiên quyết xóa bỏ các điểm hè phố, lòng đường bị chiếm dụng trái phép để làm nơi kinh doanh buôn bán, trông giữ phương tiện, trả lại nguyên trạng hè phố với phương châm “giành lại vỉa hè phong quang, sạch đẹp cho người đi bộ”.
Việc kiểm tra nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý Nhà nước về trật tự, an toàn giao thông, đô thị; nâng cao nhận thức, ý thức của người dân và trách nhiệm của chính quyền cơ sở, các cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp trong công tác bảo đảm trật tự, an toàn giao thông, đô thị, công cộng trên địa bàn TP…
Đồng thời, đánh giá đúng thực trạng tình hình, công tác bảo đảm trật tự, an toàn giao thông, đô thị, công cộng; phát hiện những sơ hở, thiếu sót để kịp thời kiến nghị UBND TP, các cơ quan hữu quan khắc phục, nhằm nâng cao trách nhiệm quản lý của chính quyền địa phương và các ngành có liên quan trong việc quy hoạch cấp phép, quản lý, xử lý vi phạm.
Ban Chỉ đạo 197 TP Hà Nội cũng yêu cầu, nâng cao hiệu quả công tác của các cơ quan chức năng, thường xuyên duy trì, đôn đốc việc thực hiện công tác bảo đảm trật tự, an toàn giao thông, đô thị, công cộng, tránh tình trạng ‘‘đánh trống bỏ dùi”.
Trong quá trình thực hiện phải bảo đảm đúng quy định của pháp luật; toàn diện, đồng bộ, quyết liệt, sáng tạo, “làm đến đâu dứt điểm đến đó”, huy động được sức mạnh của cả hệ thống chính trị; nâng cao trách nhiệm của người đứng đầu trong lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành về nhiệm vụ nêu trên…
Thực tế, Hà Nội đã nhiều lần ra quân xử lý vi phạm tại vỉa hè, thế nhưng chỉ một thời gian ngắn, tình trạng lấn chiếm lòng đường, vỉa hè lại tái diễn, nhất là tại các quận trung tâm như Hoàn Kiếm, Hai Bà Trưng, Đống Đa….
Để đạt được mục tiêu đề ra, Hà Nội cần phải làm quyết liệt, kiên trì, không để quyết tâm chỉ “nằm trên giấy”.
Hải Hà
(Nguồn: Báo Thanhtra.com.vn)
Ngân hàng Nhà nước (NHNN) vừa ra thông báo rộng rãi và cung cấp đường dây nóng để nắm bắt và xử lý kịp thời mọi phản ánh, kiến nghị của người dân và các cơ quan, doanh nghiệp liên quan đến hoạt động cung ứng dịch vụ bảo hiểm của các tổ chức tín dụng (TCTD).

Thời gian qua, nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của khách hàng sử dụng dịch vụ tài chính ngân hàng, đồng thời đảm bảo việc TCTD tuân thủ nghiêm các quy định của pháp luật, NHNN đã thường xuyên ban hành các văn bản chỉ đạo, cảnh báo các TCTD về hoạt động cung ứng dịch vụ liên quan đến bảo hiểm, trong đó yêu cầu TCTD thực hiện một số nội dung như: Nghiêm túc chấp hành các quy định pháp luật tại Luật Các TCTD, Luật Kinh doanh bảo hiểm và các văn bản có liên quan; cung cấp các thông tin về sản phẩm bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm… đầy đủ, chính xác cho bên mua bảo hiểm và giải thích đầy đủ, rõ ràng về quyền lợi bảo hiểm, điều khoản loại trừ trách nhiệm bảo hiểm, quyền và nghĩa vụ của bên mua bảo hiểm; không được tự ý kê khai thông tin cho bên mua bảo hiểm khi chưa có sự đồng ý của bên mua bảo hiểm; nghiêm cấm hành vi ép khách hàng mua bảo hiểm; rà soát, nghiên cứu xây dựng, cập nhật các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả công việc để không gây áp lực đối với nhân viên/đơn vị kinh doanh trong việc giới thiệu bán các sản phẩm bảo hiểm, không để xảy ra trường hợp nhân viên/đơn vị kinh doanh ép khách hàng mua bảo hiểm; tăng cường hoạt động kiểm tra, kiểm soát nội bộ để phát hiện và xử lý kịp thời các hành vi vi phạm trong hoạt động đại lý bảo hiểm.
Gần đây, một số phương tiện thông tin đại chúng tiếp tục phản ánh hiện tượng một số TCTD ép khách hàng mua bảo hiểm khi vay vốn, tăng lãi suất/ép khách hàng tất toán khoản vay nếu hủy hợp đồng bảo hiểm, cung cấp thông tin chưa đầy đủ, rõ ràng về sản phẩm bảo hiểm, chuyển từ tiền tiết kiệm tại ngân hàng của khách hàng sang mua bảo hiểm nhân thọ…
Ngày 15/2/2023, NHNN đã ban hành Công văn số 506/NHNN-TTGSNH về hoạt động cung ứng dịch vụ liên quan đến bảo hiểm, trong đó tiếp tục chỉ đạo các TCTD nghiêm túc chấp hành các quy định pháp luật và chỉ đạo của NHNN về hoạt động kinh doanh, đại lý bảo hiểm; khẩn trương rà soát, nghiêm túc chấn chỉnh hoạt động cung ứng dịch vụ liên quan đến bảo hiểm trên toàn hệ thống, không để xảy ra trường hợp cán bộ/đơn vị kinh doanh ép khách hàng mua bảo hiểm dưới mọi hình thức; đồng thời xử lý nghiêm những trường hợp vi phạm quy định nội bộ, quy định pháp luật liên quan đến lĩnh vực bảo hiểm.
NHNN sẽ có biện pháp xử lý nghiêm trong trường hợp phát hiện nhân viên/đơn vị kinh doanh ép khách hàng mua bảo hiểm và TCTD chịu hoàn toàn trách nhiệm trước pháp luật đối với hành vi này.
Đồng thời, cơ quan Thanh tra, giám sát ngân hàng phối hợp với Cục Quản lý giám sát bảo hiểm (Bộ Tài chính) tiến hành thanh tra, xử lý các vi phạm trong hoạt động đại lý bảo hiểm của TCTD.
Lãnh đạo cơ quan Thanh tra, giám sát ngân hàng và lãnh đạo Cục Quản lý giám sát bảo hiểm cũng đã trao đổi, làm việc, thống nhất thiết lập đường dây nóng của cả hai cơ quan để nắm bắt và xử lý kịp thời mọi phản ánh, kiến nghị của người dân và các cơ quan, doanh nghiệp liên quan đến hoạt động cung ứng dịch vụ bảo hiểm của TCTD (trong giờ hành chính).
| Số điện thoại đường dây nóng của NHNN:
(024) 3936.1017 |
Nguyễn Điểm
(Nguồn: Báo thanhtra.com.vn)
1. Về khái niệm tố cáo
Khoản 1, Điều 2, Luật Tố cáo năm 2018 định nghĩa khái niệm tố cáo: “Là việc cá nhân theo thủ tục quy định của Luật này báo cho cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền biết về hành vi vi phạm pháp luật của bất kỳ cơ quan, tổ chức, cá nhân nào gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân, bao gồm:
(i) Tố cáo hành vi vi phạm pháp luật trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ;
(ii) Tố cáo hành vi vi phạm pháp luật về quản lý nhà nước trong các lĩnh vực.
Xoay quanh khái niệm này có một số vấn đề cụ thể như sau:
Vi phạm pháp luật là hành vi trái pháp luật, có lỗi của chủ thể có năng lực trách nhiệm pháp lí xâm hại tới quan hệ xã hội được pháp luật bảo vệ. Theo đó, vi phạm pháp luật phải chứa đựng yếu tố “hành vi trái pháp luật”. Ngược lại, tồn tại hành vi “trái pháp luật” không đồng nhất là hành vi vi phạm pháp luật. Bởi lẽ, khi xác định một hành vi trái pháp luật hay không thuộc trách nhiệm của cơ quan chức năng. Cá nhân tố cáo vẫn chưa đủ nhân lực và vật lực để xác định đích xác hành vi mà mình tố cáo là vi phạm pháp luật hay không. Thực tế cho thấy để xác định một hành vi vi phạm pháp luật cần trải qua quá trình điều tra, chứng minh, xét xử…., từ đó cho ra kết luận cuối cùng. Nhìn nhận vấn đề ở góc độ khách quan, thì đây chính là nhiệm vụ được trao cho cơ quan có thẩm quyền. Bên cạnh đó, khái niệm tố cáo được luật hóa tại Luật Tố cáo năm 2018 chưa thực sự đồng nhất với tinh thần mà Hiến pháp 2013 đã đề ra. Bởi Hiến pháp năm 2013 quy định: “Mọi người có quyền tố cáo với cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền về những việc làm trái pháp luật của cơ quan, tổ chức, cá nhân”.
Bên cạnh đó, tại điểm c khoản 2 Điều 9 Luật Tố cáo năm 2018 quy định người tố cáo phải “chịu trách nhiệm trước pháp luật về nội dung tố cáo của mình”. Với khái niệm tố cáo như đã phân tích ở trên, có thể nhận định Luật Tố cáo năm 2018 vẫn còn tồn tại những “điểm mờ” nhất định, điều này có thể dẫn đến hạn chế quyền tố cáo của cá nhân. Bởi lẽ, trường hợp cá nhân chưa nắm chắc chứng cứ chứng minh hành vi vi phạm pháp luật mà tiến hành tố cáo thì hệ quả phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về nội dung tố cáo của mình là vấn đề hiển nhiên. Nhìn nhận một cách khách quan, với khả năng của mình thì cá nhân không thể thay mặt Nhà nước trong công tác minh chứng có hay không một hành vi vi phạm pháp luật(1).
Có thể nhận định “tố cáo” là khái niệm quan trọng trong Luật Tố cáo năm 2018. Từ đó, thiết nghĩ khái niệm này cần được chuẩn hóa theo hướng như sau: “Tố cáo là việc cá nhân theo thủ tục quy định của Luật này báo cho cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền biết về hành vi trái pháp luật của bất kỳ cơ quan, tổ chức, cá nhân nào gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân, bao gồm:
(i) Tố cáo hành vi vi phạm pháp luật trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ;
(ii) Tố cáo hành vi vi phạm pháp luật về quản lý nhà nước trong các lĩnh vực.”
2. Chủ thể có quyền tố cáo
Trên cơ sở khoản 4 Điều 2 Luật Tố cáo năm 2018 thì “người tố cáo là cá nhân thực hiện việc tố cáo”.Qua đó, có thể nhận thấy chủ thể thực hiện quyền tố cáo chỉ là cá nhân. Đối lập với khiếu nại khi chủ thể có quyền khiếu nại bao hàm cả công dân, cơ quan, tổ chức. Quy định này nhằm cá thể hoá trách nhiệm của người tố cáo, bởi nếu người tố cáo có hành vi xuyên tạc, tố cáo sai sự thật thì tuỳ theo tính chất, mức độ của hành vi vi phạm mà bị xử lý theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, trong quá trình xây dựng Luật Tố cáo tồn tại nhiều quan điểm cho rằng ngoài cá nhân được thực hiện quyền, thiết nghĩ nên mở rộng chủ thể tố cáo bao hàm cả cơ quan, tổ chức. Bởi lẽ, với những cơ quan, tổ chức có tư cách pháp nhân, hoàn toàn có thể tham gia một cách độc lập vào các quan hệ kinh tế – xã hội và có khả năng chịu sự tác động của các hành vi vi phạm pháp luật. Vấn đề đặt ra là cần ghi nhận quyền tố cáo cho những chủ thể này nhằm mục đích nâng cao trách nhiệm xã hội trong việc phát hiện, đấu tranh với các hành vi vi phạm pháp luật, mặt khác cũng là một biện pháp tích cực, chủ động để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức.
Thực tiễn áp dụng cho thấy, chủ thể thực hiện tố cáo là cơ quan, tổ chức không nhiều. Nội dung tố cáo của nhóm chủ thể này thường thiên về phản ánh, kiến nghị. Việc thực hiện quyền tố cáo của một chủ thể sẽ làm phát sinh những hậu quả pháp lý và trách nhiệm gắn với cá nhân. Việc quy định chỉ cá nhân có quyền tố cáo là hoàn toàn phù hợp với quy định của Hiến pháp và chính sách hình sự của nước ta – cá thể hóa trách nhiệm hình sự. Theo đó, người tố cáo phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về hành vi tố cáo của mình, hành vi tố cáo sai sự thật đồng nghĩa phải bị xử lý về hành chính hoặc hình sự tùy theo tính chất và mức độ hành vi. Do đó, nếu luật hóa vấn đề cho phép cơ quan, tổ chức có quyền tố cáo, có thể làm phát sinh những vấn đề phức tạp trong việc quy định cách thức để các chủ thể này thực hiện quyền tố cáo như việc xác minh thông tin về người tố cáo, việc bảo vệ bí mật, xác định trách nhiệm của người tố cáo trong trường hợp tố cáo sai sự thật. Do đó, chỉ cá nhân mới có quyền tố cáo về những hành vi vi phạm pháp luật của bất cứ cơ quan, tổ chức, cá nhân nào.(2)
Tuy nhiên, khi bàn luận xoay quanh chủ thể có quyền tố cáo theo luật định, vẫn tồn tại nhiều quan điểm trái chiều. Khi căn cứ vào Điều 65 Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018 thì ngoài thuật ngữ “tố cáo hành vi tham nhũng” còn tồn tại song song “phản ánh hành vi tham nhũng”. Nếu chỉ có cá nhân được quyền tố cáo hành vi tham nhũng thực hiện dựa trên quy định của Luật Tố cáo năm 2018, thì cá nhân và cả tổ chức sẽ có quyền “phản ánh về hành vi tham nhũng” trên cơ sở Luật định về tiếp công dân. Đối chiếu vấn đề cùng Luật Tiếp công dân năm 2013 không tồn tại thuật ngữ “phản ánh hành vi tham nhũng” mà chỉ có điều khoản giải thích thuật ngữ “phản ánh” nói chung. Theo đó, “phản ánh là việc công dân cung cấp thông tin, trình bày ý kiến, nguyện vọng, đề xuất giải pháp với cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân có thẩm quyền về những vấn đề liên quan đến việc thực hiện chủ trương, đường lối, chính sách, pháp luật, công tác quản lý trong các lĩnh vực đời sống xã hội thuộc trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân đó”. Từ vấn đề trên có thể nhận thấy về chủ thể tố cáo hành vi tham nhũng và phản ánh hành vi tham nhũng chưa có sự tách biệt rạch ròi, khi mà người tố cáo và chủ thể phản ánh hành vi tham nhũng đều phải nêu rõ họ tên, địa chỉ hoặc xuất trình giấy tờ tùy thân, giấy ủy quyền (nếu có); trình bày sự việc, cung cấp thông tin, tài liệu liên quan đến nội dung tố cáo, phản ánh; ký hoặc điểm chỉ xác nhận những nội dung trình bày đã được người tiếp công dân ghi chép lại…(3) Để tránh nhầm lẫn giữa chủ thể có quyền tố cáo và chủ thể có quyền phản ánh thì nhà làm luật cần ban hành văn bản hướng dẫn những thông tin mà người tố cáo cần cung cấp phân biệt rạch ròi cùng hành vi phản ánh. Vì lẽ, tại khoản 2 Điều 65, khoản 2 Điều 67 Luật Phòng, chống tham nhũng 2018 quy định: “Cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân có thẩm quyền khi nhận được phản ánh, tố cáo về hành vi tham nhũng phải xem xét, xử lý kịp thời và áp dụng các biện pháp bảo vệ người phản ánh, tố cáo”. Điều này cho thấy, chủ thể phản ánh hành vi tham nhũng và tố cáo đều có thể gặp những nguy hiểm nhất định khi thực hiện quyền của mình và đồng thời đều được bảo vệ như nhau. Vấn đề đặt ra là chủ thể phản ánh hành vi tham nhũng sẽ được bảo vệ ra sao khi mà các biện pháp bảo vệ quy định trong Luật Tố cáo năm 2018 chỉ dành cho người tố cáo, phạm vi điều chỉnh không dành cho đối tượng phản ánh tố cáo như Luật Phòng, chống tham nhũng 2018 vừa nêu. Từ vấn đề trên pháp luật cần có những điều khoản quy định nhằm phân biệt tố cáo tham nhũng và phản ánh tham nhũng, cũng như có những biện pháp bảo vệ người phản ánh hành vi tham nhũng cho phù hợp.
3. Về hình thức tố cáo
Tại Điều 22 Luật Tố cáo năm 2018 tồn tại hai hình thức tố cáo là tố cáo trực tiếp và bằng đơn. Xoay quanh vấn đề này cần làm rõ một số “điểm mờ” như sau:
Thứ nhất, với trường hợp người tố cáo đến tố cáo trực tiếp tại cơ quan, tổ chức có thẩm quyền thì người tiếp nhận hướng dẫn người tố cáo viết đơn tố cáo(4). Quy định này vẫn nhập nhằng giữa hình thức tố cáo và cách thức thực hiện tố cáo. Bởi lẽ, nhìn nhận một cách khách quan thì đơn tố cáo được xem là một loại hình văn bản do người tố cáo thực hiện, việc hoàn thành quá trình viết đơn tố cáo ở địa điểm nào đi chăng nữa hoặc giả nhờ chủ thể khác viết thay thì suy cho cùng đều được thể hiện thông qua hình thức văn bản hay nói cách khác là bằng đơn. Trường hợp người tiến hành tố cáo không thể viết đơn vì lý do khách quan như không biết viết chữ hoặc do khiếm khuyết cơ thể có thể đến trực tiếp cơ quan trình bày bằng miệng, lời nói với người tiếp nhận tố cáo. Theo quan điểm của nhiều tác giả cho rằng trực tiếp đến cơ quan có thẩm quyền nộp đơn, viết đơn thông qua hướng dẫn của cán bộ tiếp nhận tố cáo hoặc giả gián tiếp nộp đơn thư tố cáo qua bưu chính, thư điện tử, fax, điện thoại, hộp thư tố cáo, đây được xem là phương thức, cách thức tiến hành tố cáo. Nhà làm luật không thể mặc nhiên xem đây là hình thức tố cáo. Từ đó suy ra, không thể xem hành vi người tố cáo đến trực tiếp tại cơ quan có thẩm quyền giải quyết viết đơn hoặc trình bày nội dung tố cáo với người tiếp nhận tố cáo là một hình thức tố cáo trực tiếp.
Đối chiếu vấn đề cùng Bộ luật Dân sự có thể nhận thấy, về mặt hình thức, tố cáo có những điểm tương thích khi đối chiếu cùng hợp đồng dân sự, hay hình thức di chúc. Trong đó, thể chế rõ có 2 loại hình thức tồn tại là văn bản hoặc bằng lời nói. Từ đó, nhằm đồng nhất với Bộ luật Dân sự thiết nghĩ tại Điều 22 Luật Tố cáo 2018 cần có sự hiệu chỉnh, bổ sung theo hướng: “Việc tố cáo được thực hiện bằng văn bản (đơn tố cáo) hoặc tố cáo bằng miệng (bằng lời nói) trực tiếp tại cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giải quyết tố cáo”.
Thứ hai, về hình thức tố cáo và phương thức tiếp nhận đơn thư tố cáo được quy định tại Điều 22 và 23 Luật Tố cáo năm 2018 chưa tạo điều kiện thuận lợi cho người tố cáo thực hiện quyền của mình. Dẫn giải cho trường hợp này có thể nhận thấy Luật Tố cáo vẫn chưa tường minh trong vấn đề quy định cách thức, phương thức thực hiện tố cáo nhằm giúp người tố cáo có sự chọn lựa phù hợp với điều kiện bản thân. Nhìn chung để tạo điều kiện tốt nhất cho người tố cáo pháp luật nên có những đặt định khác nhau về phương thức, phương tiện khác nhau nhằm chuyển tải đơn thư đến chủ thể có thẩm quyền giải quyết như: Trực tiếp đến nộp đơn tố cáo, trình bày miệng với cơ quan chức năng, gửi đơn thư qua đường bưu điện, qua hòm thư điện tử của cơ quan, fax, qua điện thoại, qua băng ghi âm…, việc pháp luật mở rộng phạm vi về hình thức và phương thức tiếp nhận đơn thư sẽ tạo tiền đề thúc đẩy người có quyền tố cáo thực hiện quyền của mình.
4. Về bảo vệ người tố cáo
4.1. Chủ thể được bảo vệ
Trên cơ sở Điều 47 Luật Tố cáo năm 2018 thì người được bảo vệ bao hàm: Người tố cáo, vợ chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người tố cáo. Khi phân tích vấn đề, có thể nhận thấy đối tượng được bảo vệ trong Luật Tố cáo chính yếu tập trung vào những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của người thực hiện tố cáo nếu chiếu theo Bộ luật Dân sự. So sánh vấn đề cùng Luật Tố cáo năm 2011 có thể nhận thấy chủ thể được bảo vệ khi thực hiện việc tố cáo trong Luật Tố cáo năm 2018 hẹp hơn so với Luật Tố cáo năm 2011. Cụ thể Luật Tố cáo năm 2011 bảo vệ người tố cáo, người thân thích của người tố cáo, người cung cấp thông tin có liên quan đến việc tố cáo(5). Như vậy, Luật Tố cáo năm 2018 đã giản lược nội dung này khi chỉ liệt kê một số chủ thể được bảo vệ thay vì theo nội hàm “người thân thích với người tố cáo, người cung cấp thông tin có liên quan đến việc tố cáo” so với trước đây.
Với quan điểm của tác giả, chủ thể được bảo vệ theo Luật Tố cáo năm 2011 mang tính khả thi, hiệu quả so với Luật Tố cáo năm 2018, điều này khuyến khích người dân thực hiện quyền tố cáo của mình, góp phần to lớn trong công tác đấu tranh phòng, chống các hành vi vi phạm pháp luật. Vì lẽ, thực tế cho thấy những chủ thể tuy không nằm trong hàng thừa kế thứ nhất vẫn có thể gặp nguy hiểm, trù dập nếu hành vi tiến hành tố cáo diễn ra. Khi mà, thực tế cho thấy theo tập quán sinh hoạt hiện nay ở nước ta vẫn tồn tại rất nhiều gia đình truyền thống “tam đại đồng đường”, “tứ đại đồng đường”, “gia đình đa thế hệ” sống cùng nhau. Giả định người tiến hành tố cáo thuộc hàng con, cháu trong một gia đình, nhưng pháp luật chỉ có những biện pháp bảo vệ cho cha, mẹ, vợ hoặc chồng mà không có biện pháp bảo vệ cho cô, chú, ông, bà còn là vấn đề gây nhiều tranh cãi, chưa đảm bảo sự an tâm cho người tiến hành thực hiện tố cáo. Bên cạnh đó, có thể nhận thấy Luật Tố cáo năm 2018 chỉ tựu trung bảo vệ người tiến hành tố cáo và một số đối tượng thân thích của người tố cáo, mà chưa có những biện pháp, cơ chế bảo vệ người làm chứng trong tố cáo hoặc giả những đối tượng trực tiếp, gián tiếp cung cấp thông tin liên quan đến tố cáo. Từ vấn đề trên, pháp luật cũng nên suy tính bổ sung đối tượng được bảo vệ khi tiến hành thực hiện tố cáo như tinh thần Luật Tố cáo năm 2011 đã quy định trước đây.
4.2. Về phạm vi bảo vệ người tố cáo
Nhìn chung có thể nhận thấy liên quan đến bảo vệ người tố cáo đã được điều chỉnh bởi nhiều đạo luật, văn bản khác nhau như: Hiến pháp năm 2013, Luật Phòng, chống tham nhũng 2018, Luật Tố cáo năm 2018, Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017… Trong đó, nội hàm liên quan đến bảo vệ người tố cáo bao gồm bảo vệ thông tin của người tố cáo, bảo vệ vị trí công tác, việc làm, tính mạng, sức khỏe, tài sản, danh dự nhân phẩm. Bàn luận xoay quanh cơ chế bảo vệ người tố cáo vẫn còn tồn tại những điểm khiếm khuyết như sau:
Thứ nhất, các biện pháp bảo vệ người tố cáo giữa các luật chưa có sự thống nhất và đầy đủ. Khi tìm hiểu các biện pháp liên quan đến bảo vệ người tố cáo, trong số hành vi bị cấm tại Điều 8 Luật Tố cáo năm 2018 bao gồm: (i) Cản trở, gây khó khăn, phiền hà cho người tố cáo. (ii) Tiết lộ tên, địa chỉ, bút tích của người tố cáo và thông tin khác làm lộ danh tính của người tố cáo. (iii) Không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ trách nhiệm bảo vệ người tố cáo. (iv) Đe dọa, mua chuộc, trả thù, trù dập xúc phạm người tố cáo. Khi đó, đối sánh vấn đề cùng Điều 8 Luật Phòng, chống tham nhũng 2018 chỉ cấm duy nhất một hành vi là đe dọa, trả thù, trù dập, tiết lộ thông tin về người tố cáo, tố giác, báo tin, cung cấp thông tin về hành vi tham nhũng. Do đó, việc đồng nhất các hành vi bị cấm trong Điều 8 Luật Tố cáo năm 2018 cần được bổ sung trong Điều 8 Luật Phòng, chống tham nhũng.
Thứ hai, trong quá trình xác minh nội dung tố cáo, người giải quyết tố cáo có thể tự xác minh hoặc giao cho cơ quan thanh tra cùng cấp, cơ quan tổ chức khác xác minh nội dung tố cáo. Trong đó, quy trình xác minh nội dung tố cáo được thực hiện bằng văn bản hàm chứa những nội dung như: Ngày tháng năm giao xác minh; người được giao xác minh nội dung tố cáo; họ tên địa chỉ người bị tố cáo; nội dung cần xác minh…, nội dung này không bao hàm họ tên và địa chỉ người tố cáo nhằm đảm bảo bí mật thông tin cho người tiến hành tố cáo. Tuy nhiên, vấn đề này cũng cần được xem xét lại. Bởi lẽ, căn cứ vào khoản 5 Điều 31 Luật Tố cáo năm 2018 thì người xác minh nội dung tố cáo hoặc được ủy quyền thực hiện xác minh sẽ được thực hiện các quyền và nghĩa vụ của người giải quyết tố cáo như yêu cầu người tố cáo đến làm việc. Giả định người giải quyết tố cáo không thực hiện xác minh nội dung tố cáo, nhưng được giao cho thanh tra hoặc cơ quan khác thực hiện xác minh. Điều này sẽ gây khó khăn cho cơ quan, cá nhân xác minh. Bởi lẽ, trong văn bản giao xác minh không bao hàm thông tin, địa chỉ người tố cáo, điều này ngăn trở người xác minh khi cần trao đổi hoặc cung cấp thêm thông tin.
Ngoài ra, người xác minh nội dung tố cáo cũng sẽ có nghĩa vụ áp dụng các biện pháp bảo vệ cần thiết theo thẩm quyền nhằm bảo vệ người tố cáo. Vấn đề đặt ra là khi thanh tra hoặc một cơ quan, tổ chức khác được giao nhiệm vụ xác minh nội dung tố cáo sẽ được áp dụng biện pháp cần thiết nào để bảo vệ người tố cáo, khi mà tại Điều 49 Luật Tố cáo năm 2018 quy định trách nhiệm áp dụng các biện pháp bảo vệ người tố cáo thuộc về người giải quyết tố cáo, cơ quan công an, ủy ban nhân dân các cấp…, không bao hàm cơ quan thanh tra. Qua đây, có thể nhận thấy pháp luật không trao thẩm quyền xác minh nội dung tố cáo riêng biệt một chủ thể nào, mà còn bao hàm cả những cơ quan, tổ chức khác. Tuy nhiên vấn đề là cơ quan, tổ chức khác được giao nhiệm vụ xác minh nội dung tố cáo bao gồm những cơ quan, tổ chức nào và được giao nhiệm vụ trong trường hợp nào? Điều này chưa được Luật Tố cáo và những văn bản hướng dẫn thi hành quy định cụ thể. Từ đó, pháp luật tố cáo cần có những điều khoản giải thích vấn đề này, nhằm giúp cơ quan thừa hành có cách nhìn nhận đúng đắn về cơ quan được giao nhiệm vụ xác minh nội dung tố cáo.
Thứ ba, Luật Tố cáo năm 2018 đã có những biện pháp bảo vệ vị trí, việc làm của người thực hiện tố cáo hành vi tham nhũng. Tuy nhiên, vấn đề này vẫn tồn tại nhiều điểm hạn chế. Đơn cử trên cơ sở điểm c khoản 1 Điều 57 Luật Tố cáo năm 2018 thì “công tác khác” được bố trí cho người được bảo vệ ở đây cần thỏa mãn những tiêu chí nào, pháp luật vẫn chưa làm rõ. Bởi lẽ, công việc mới có đáp ứng tiêu chí bằng hoặc tốt hơn nghề nghiệp cũ không, phải đáp ứng đúng chuyên môn của người được bảo vệ; mức lương phải bằng hoặc tốt hơn vị trí công tác cũ, phải phù hợp với nguyện vọng chính đáng của người được bảo vệ. Tuy nhiên, đánh giá một cách khách quan có thể nhận thấy pháp luật vẫn chưa có những điều khoản cụ thể quy định vấn đề này, dẫn đến vấn đề người được bảo vệ có thể phải chấp nhận một công việc không phù hợp về mặt chuyên môn hoặc vị trí công tác được bố trí thấp hơn nơi công tác cũ. Trường hợp này nếu người được bảo vệ không chấp thuận thì đồng nghĩa biện pháp bảo vệ sẽ không được tiến hành triển khai. Từ những vấn đề như đã phân tích, đòi hỏi nhà làm luật cần cân nhắc nhằm điều chỉnh Luật Tố cáo và Luật Phòng, chống tham nhũng theo một trật tự thích hợp, nhằm tránh chồng chéo giữa hai đạo luật này, góp phần tháo gỡ những khó khăn, thúc đẩy người tiến hành tố cáo mạnh dạn thực hiện quyền của mình./.
Chú thích:
(1) Cao Vũ Minh, “Một số bất cập trong các quy định của Luật Tố cáo năm 2011 và hướng hoàn thiện”, Tạp chí Nhà nước Pháp luật số 4/2016, Hà Nội, 2016, tr.15;
(2) Tài liệu hỏi đáp pháp luật về tố cáo (tài liệu tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật cho cán bộ, Nhân dân ở xã, phường, thị trấn) năm 2017;
(3) Điều 25 Luật Tiếp công dân năm 2013;
(4) Khoản 2 Điều 23 Luật Tố cáo năm 2018;
(5) Điểm b khoản 2 Điều 11 Luật Tố cáo năm 2011.
Tài liệu tham khảo
1. Cao Vũ Minh (2016), “Một số bất cập trong các quy định của Luật Tố cáo năm 2011 và hướng hoàn thiện”, Tạp chí Nhà nước Pháp luật số 4/2016, tr.15;
2. Trần Huy Liệu (2017), “Góp ý về trình tự, thủ tục tố cáo và giải quyết tố cáo trong dự thảo Luật Tố cáo (sửa đổi)”, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 11 (339), tr.27;
3. Tài liệu hỏi đáp pháp luật về tố cáo (tài liệu tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật cho cán bộ, Nhân dân ở xã, phường, thị trấn) năm 2017;
4. Luật Tiếp công dân năm 2013;
5. Luật Tố cáo năm 2018;
6. Luật Tố cáo năm 2011.
Nguyễn Phan Quốc Kiệt
Khoa Luật, Trường Đại học Nam Cần Thơ
Theo kết quả của Đoàn kiểm tra cải cách hành chính (CCHC) tỉnh Bình Dương, lãnh đạo UBND tỉnh, các sở, ngành, địa phương có sự quan tâm trong chỉ đạo, sâu sát, quyết liệt việc tổ chức thực hiện kiểm soát, cải cách TTHC và cơ chế một cửa, một cửa liên thông trên địa bàn.
Các sở, ngành, địa phương đã thực hiện tốt công tác chỉ đạo, điều hành trong thực hiện các nhiệm vụ về cải cách TTHC, kiểm soát TTHC và thực hiện cơ chế một cửa, một cửa liên thông. Xây dựng và triển khai đầy đủ các chương trình, kế hoạch, báo cáo theo yêu cầu của UBND tỉnh (kế hoạch rà soát, đánh giá TTHC; kế hoạch triển khai thực hiện Đề án đổi mới thực hiện cơ chế một cửa, một cửa liên thông, số hóa hồ sơ, giấy tờ, kết quả giải quyết TTHC; các báo cáo kết quả thực hiện cơ chế một cửa, một cửa liên thông và tình hình, kết quả giải quyết TTHC định kỳ;…). Hoạt động cải cách, kiểm soát TTHC của đơn vị cơ bản được triển khai thực hiện đồng bộ, thống nhất, đảm bảo nội dung yêu cầu theo quy định.
Trong quá trình kiểm tra, Đoàn kiểm tra đã kịp thời hướng dẫn các đơn vị, địa phương tháo gỡ các khó khăn, vướng mắc, kiến nghị của các cơ quan, địa phương trong việc triển khai kiểm soát TTHC; đổi mới cơ chế một cửa, một cửa liên thông trong giải quyết TTHC (kiến nghị về tích hợp, đồng bộ dữ liệu giữa phần mềm Một cửa và Cổng Dịch vụ công của tỉnh, mua sắm trang thiết bị phục vụ thực hiện dịch vụ công trực tuyến, chế độ hỗ trợ tình nguyện viên hướng dẫn dịch vụ công trực tuyến, bố trí biên chế công nghệ thông tin, chủ trương đầu tư xây dựng Trung tâm Phục vụ hành chính công cấp huyện,…).
Cùng với đó, kịp thời báo cáo UBND tỉnh về các khó khăn của địa phương về việc hỗ trợ cho tình nguyện viên hướng dẫn dịch vụ công trực tuyến và phối hợp với các cơ quan, đơn vị liên quan tham mưu UBND tỉnh chỉ đạo thực hiện cho chủ trương hỗ trợ cho tình nguyện viên trong năm 2022 và trình HĐND tỉnh thông qua Nghị quyết quy định về việc hỗ trợ cho tình nguyện viên từ ngày 01/01/2023.
Kết quả kiểm tra cho thấy, bên cạnh những kết quả đạt được, Đoàn cũng đã chỉ ra một số hạn chế yêu cầu các sở, ngành, địa phương khắc phục. Cụ thể, trong năm 2021, các cơ quan, đơn vị đã tập trung xử lý các phản ánh, kiến nghị của người dân, doanh nghiệp trên Cổng Dịch vụ công Quốc gia, tuy nhiên còn một số trường hợp phản ánh, kiến nghị chưa được xử lý kịp thời. Việc tiếp nhận và giải quyết hồ sơ thực tế được đảm bảo, tuy nhiên, một số hồ sơ TTHC chưa được cập nhật và xử lý kịp thời trên Hệ thống phần mềm một cửa điện tử dẫn đến tình trạng trễ hạn hồ sơ.
Mặt khác, số lượng hồ sơ tiếp nhận và trả kết quả qua bưu chính công ích, thanh toán phí, lệ phí trực tuyến còn thấp. Một số địa phương chưa đảm bảo thực hiện tốt 100% đối với nội dung quy định về: “trường hợp trả lại hồ sơ không giải quyết; trả lại hồ sơ để bổ sung hoặc yêu cầu bổ sung nhiều lần phải được sự đồng ý của Thủ trưởng của cơ quan có thẩm quyền thực hiện thông báo bằng văn bản và nêu rõ lý do không giải quyết; lý do, nội dung cần bổ sung”…
Lan Anh
(Nguồn: ThanhtraVietNam)
Hơn 92% dân số toàn tỉnh tham gia BHYT
Năm 2022, với sự quan tâm chỉ đạo của các cấp ủy Đảng, chính quyền, sự phối hợp của các ban ngành, đoàn thể và nỗ lực của toàn Ngành nên các chỉ tiêu BHXH, BHYT, BHTN đều đạt và vượt chỉ tiêu đề ra. Theo đó, năm qua, có trên 131.000 người tham gia BHXH, chiếm 27% lực lượng lao động, tăng 0,3% so với năm 2021. Trong đó, có trên 18.300 người tham gia BHXH tự nguyện chiếm 3,8% lực lượng lao động, BHXH bắt buộc hơn 113.000 người, chiếm 23,2% lực lượng lao động, đạt so với chỉ tiêu Nghị quyết đề ra. Về BHTN, có trên 99.600 người tham gia, đạt 20,6% lực lượng lao động, tăng 2,4% so với năm 2021, đạt chỉ tiêu được giao. Bên cạnh đó, cũng có trên 950.000 người tham gia BHYT, đạt 92,4% dân số toàn tỉnh, vượt chỉ tiêu Nghị quyết tỉnh đề ra, đóng góp quan trọng vào quá trình phát triển kinh tế – xã hội của tỉnh.
Công tác giải quyết chi trả các chế độ BHXH, BHYT và BHTN được thực hiện kịp thời đúng quy định. Chi khám chữa bệnh BHYT cho trên 2,1 triệu lượt người trên 668 tỷ đồng, chiếm hơn 83% nguồn kinh phí được Chính phủ giao. Nhận thức của các cấp ủy Đảng, chính quyền, tổ chức, cá nhân về vai trò, trách nhiệm cũng như mục đích, ý nghĩa của việc tham gia BHXH, BHYT, BHTN có nhiều chuyển biến tích cực, tạo sức lan tỏa sâu rộng trong nhân dân về giá trị nhân văn, tính ưu việt của chính sách BHXH, BHYT, BHTN, góp phần tạo niềm tin về chính sách an sinh xã hội của Đảng và Nhà nước.
Tăng cường quản lý, sử dụng quỹ BHYT đảm bảo hợp lý, hiệu quả, tiết kiệm
Thay mặt Ban Chỉ đạo thực hiện chính sách BHXH, BHYT, BHTN tỉnh Vĩnh Long, ông Lữ Quang Ngời – Phó Bí thư Tỉnh uỷ, Chủ tịch UBND tỉnh, Trưởng Ban Chỉ đạo ghi nhận và biểu dương những kết quả mà BHXH cùng với các cấp ủy Đảng, chính quyền, các ngành, đoàn thể, các địa phương từ tỉnh đến cơ sở đã phấn đấu đạt được trong thời gian qua. Đồng thời, lưu ý thêm một số nội dung để các thành viên Ban chỉ đạo, các sở, ban, ngành, địa phương tập trung thực hiện trong thời gian tới như tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 28 ngày 23/5/2018 của Trung ương về cải cách chính sách BHXH. Người đứng đầu cấp ủy, chính quyền và Trưởng Ban Chỉ đạo các cấp thường xuyên theo dõi, cập nhật và chỉ đạo công tác BHXH, BHYT, BHTN trên địa bàn quản lý.
Hàng tháng, Ban Chỉ đạo cấp huyện phải báo cáo Chủ tịch UBND cùng cấp tiến độ thực hiện để chỉ đạo kịp thời và phân công vận động phù hợp. Đồng thời, đẩy mạnh công tác tuyên truyền để người dân thấy được lợi ích khi tham gia thực hiện. Đặc biệt tại các xã nông thôn mới, các địa phương phải quan tâm chỉ đạo quyết liệt công tác tham gia BHYT nhằm giữ vững kết quả đã đạt được
Song song đó, các ngành, đơn vị, địa phương cần tiếp tục quán triệt đến cán bộ, công chức, viên chức và người lao động trong đơn vị tích cực tuyên truyền chính sách BHXH, BHYT, trong đó tập trung tuyên truyền về chính sách BHXH tự nguyện đến người thân trong gia đình. Tập trung đổi mới công tác tuyên truyền cả về nội dung và hình thức theo hướng chuyên nghiệp, đúng trọng tâm, trọng điểm; phù hợp với từng nhóm đối tượng. Tăng cường cách tiếp cận tuyên truyền dựa trên nền tảng công nghệ thông tin, truyền hình, báo chí song song với hình thức tuyên truyền trực tiếp, góp phần tích cực trong việc đẩy mạnh công tác phát triển người tham gia BHXH, BHYT.
Đối với cơ quan BHXH tỉnh, cần tích cực tham mưu, đề xuất, tiếp tục tranh thủ sự ủng hộ của các cấp chính quyền; phối hợp với các cơ quan, đơn vị, địa phương tổ chức thực hiện tốt các nhiệm vụ được giao, phấn đấu hoàn thành các chỉ tiêu, kế hoạch; đặc biệt là các chỉ tiêu về phát triển người tham gia, đôn đốc thu BHXH, BHYT và kiểm soát chi phí khám chữa bệnh. Kịp thời giải quyết khó khăn, vướng mắc trong thanh toán bảo hiểm, phát huy hiệu quả hoạt động của Tổ thu nợ và phát triển đối tượng tham gia BHXH, BHYT, BHTN các cấp. Đẩy mạnh công tác thanh tra chuyên ngành, chủ động phối hợp các ngành xây dựng kế hoạch thanh tra, kiểm tra và xử phạt các đơn vị vi phạm theo quy định.
Tăng cường các biện pháp để quản lý, sử dụng quỹ BHYT đảm bảo hợp lý, hiệu quả, tiết kiệm, đúng dự toán; gắn trách nhiệm quản lý, sử dụng kinh phí khám chữa bệnh BHYT cho người đứng đầu cơ sở khám chữa bệnh. Chú trọng công tác giám định, thẩm định, thanh tra, kiểm tra tại các cơ sở khám chữa bệnh BHYT để phòng chống hành vi lạm dụng, gian lận, trục lợi quỹ BHYT; đảm bảo quyền lợi người có thẻ BHYT khi đi khám chữa bệnh.
Thực hiện nghiêm công tác thanh, kiểm tra chuyên ngành
Đẩy mạnh thực hiện dịch vụ công trực tuyến mức độ 4, giao dịch điện tử, các nội dung theo Đề án 06 của Thủ tướng Chính phủ, đồng thời triển khai rộng rãi ứng dụng sử dụng VssID-BHXH số. Trong đó, khuyến khích người tham gia sử dụng các ứng dụng tiện ích chuyển đổi số để thay thế thẻ BHYT giấy, sổ BHXH; liên thông, kết nối, chia sẻ dữ liệu với các cơ quan, tổ chức có liên quan trong giải quyết các thủ tục hành chính. Sở Y tế thường xuyên kiểm tra, chỉ đạo, đôn đốc các bệnh viện tuyến tỉnh, huyện, xã nâng cao chất lượng, hiệu quả khám chữa bệnh, tinh thần thái độ phục vụ, kịp thời cung cấp thuốc điều trị cho người bệnh có thẻ BHYT…
Các địa phương đẩy mạnh hoạt động của Ban Chỉ đạo thực hiện chính sách BHXH, BHYT xã, phường, thị trấn; gắn trách nhiệm lãnh đạo địa phương trong việc chỉ đạo thực hiện chính sách BHXH, BHYT. Tổ chức thực hiện tốt chế độ, chính sách BHXH, BHTN, BHYT; nhất là các chế độ, chính sách có hiệu lực thi hành từ năm 2023, đảm bảo quyền lợi cho người tham gia BHXH, BHTN, BHYT.
UBND các huyện, thị, thành phố chỉ đạo UBND các xã, phường, thị trấn phát huy vai trò cán bộ khóm, ấp, tổ tự quản trong tuyên truyền, vận động người dân tham gia BHYT, BHXH tự nguyện theo phương châm “đi từng ngõ, gõ từng nhà, rà từng người”, phải xây dựng kế hoạch hàng tuần, hàng tháng để đến trực tiếp hộ dân tuyên truyền, vận động.
Chủ tịch UBND tỉnh cũng đề nghị Mặt trận Tổ quốc tỉnh và các tổ chức chính trị – xã hội tiếp tục phát huy tinh thần đoàn kết toàn dân, tuyên truyền, vận động đoàn viên, hội viên và Nhân dân tích cực tham gia BHXH tự nguyện, BHYT hộ gia đình với tinh thần tương thân, tương ái, chia sẻ giữa người khỏe và người bệnh; chỉ đạo các ban công tác mặt trận khóm, ấp phối hợp với tổ nhân dân tự quản thực hiện tuyên truyền, vận động người dân trên địa bàn tham gia; tiếp tục phát huy các mô hình vận động đoàn viên, hội viên giúp đỡ, hỗ trợ lẫn nhau cùng tham gia BHXH tự nguyện, BHYT hộ gia đình…
Đình Thuyết
(Nguồn: ThanhtraVietNam)
Sáng ngày 21/2, tại Trụ sở Thanh tra Chính phủ (TTCP), TTCP đã công bố kết luận thanh tra việc chấp hành chính sách, pháp luật trong hoạt động sản xuất kinh doanh của Tổng Công ty Cổ phần Xây lắp Dầu khí Việt Nam (PVC).

Tại buổi công bố, ông Đinh Đăng Lập, Phó Vụ trưởng Vụ I, phó trưởng đoàn thanh tra đã trình tóm tắt nội dung theo Kết luận thanh tra số 2090/KL-TTCP ngày 23/11/2022 của Tổng TTCP.
Kết luận thanh tra đã được Phó Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Khái cho ý kiến chỉ đạo tại Văn bản số 503/VPCP-V.I ngày 31/1/2023 của Văn phòng Chính phủ.
Tại buổi công bố, đại diện Tập đoàn Dầu khí Việt Nam, Bộ Công thương, Bộ Tài chính, Uỷ ban Quản lý vốn Nhà nước cho biết, ngay sau khi nhận được kết luận thanh tra đã có văn bản chỉ đạo các đơn vị có liên quan thực hiện đầy đủ, nghiêm túc, kịp thời và đúng thời hạn các nội dung kiến nghị. Đồng thời chỉ đạo các đơn vị tổ chức ngay việc kiểm điểm, xử lý trách nhiệm đối với tập thể, cá nhân có liên quan theo đúng thẩm quyền và đúng quy định.
Đối với việc thực hiện kết luận thanh tra, tại buổi công bố, ông Hoàng Hưng, Vụ trưởng Vụ Giám sát, Thẩm định và Xử lý sau thanh tra đề nghị các đơn vị liên quan tập trung chỉ đạo thực hiện, bám sát các nội dung quy định đối với với việc tổ chức thực hiện kết luận thanh tra.
Vụ trưởng Vụ Giám sát, Thẩm định và Xử lý sau thanh tra đề nghị các đơn vị thực hiện ngay, đúng, đầy đủ và kịp thời, đúng thời hạn các nội dung theo kiến nghị tại kết luận thanh tra. Bên cạnh đó, tiếp tục cập nhật báo cáo tiến độ, kết quả thực hiện kết luận thanh tra. Trên cơ sở đó Vụ Giám sát, Thẩm định và Xử lý sau thanh tra sẽ kiểm tra, theo dõi, đôn đốc, khi cần thiết có thể phối hợp với các đơn vị kiểm tra việc thực hiện một cách triệt để và có hiệu quả nhất kết luận thanh tra.
Kết luận tại buổi công bố kết luận thanh tra, ông Nguyễn Duy Bính, Phó Vụ trưởng Vụ I, trưởng đoàn thanh tra nhấn mạnh, việc công bố kết luận thanh tra được thực hiện theo quy định của pháp luật. Đề nghị tiếp tục tổ chức thực hiện nghiêm những kiến nghị tại kết luận. Đồng thời phối hợp tích cực với các cơ quan chức năng khi cần.
Phương Anh – Phương Hiếu
(Nguồn: Báo Thanhtra.com.vn)
Sáng 21/02, Trường Cán bộ Thanh tra long trọng tổ chức Lễ khai giảng lớp Bồi dưỡng nghiệp vụ Thanh tra viên (TTV) K01 năm 2023. Tham dự và chủ trì Lễ khai giảng có TTVCC. Nguyễn Viết Thạch, Phó Hiệu trưởng Nhà trường cùng tham dự có đại diện lãnh đạo các phòng, khoa, Trung tâm.

Tham gia Khóa học có gần 130 học viên, khóa học sẽ diễn ra trong hơn một tháng học tập tại Trường Cán bộ Thanh tra, các học viên sẽ được nghiên cứu gồm nhiều chuyên đề liên quan đến kiến thức chung về công chức, công vụ như: Quan điểm của Đảng, Nhà nước và Chủ tịch Hồ Chí Minh về công tác thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và phòng, chống tham nhũng; Khái quát chung về công tác thanh tra; Nội dung cơ bản của pháp luật Thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo, phòng chống tham nhũng, tiếp công dân; Nội dung cơ bản của pháp luật Tố tụng hành chính; Thực hiện pháp luật và áp dụng pháp luật; Đạo đức công vụ của cán bộ, công chức thanh tra; Nội dung cơ bản của pháp luật Hình sự và tố tụng hình sự; Chứng cứ trong hoạt động thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo; Tâm lý trong hoạt động thanh tra, tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo…

Phát biểu Lễ khai giảng khóa học, TTVCC. Nguyễn Viết Thạch, Phó Hiệu trưởng Nhà trường đã nhiệt liệt chào mừng các học viên về tham dự khóa học, đồng thời nhấn mạnh: “Lớp bồi dưỡng nghiệp vụ TTV được Nhà trường đặc biệt quan tâm và xác định là một trong những nhiệm vụ quan trọng nhất, vì đây là khóa học dành cho đội ngũ cán bộ, công chức nòng cốt nguồn mới vào ngành thanh tra và cũng là nguồn cán bộ để dự thi, bổ nhiệm vào ngạch TTV”.
Phó Hiệu trưởng Nhà trường cũng chia sẻ, nhìn lại năm 2022 đã qua với bao khó khăn, thách thức. Chính vì thế, bước sang năm 2023 là năm bản lề, năm vô cùng quan trọng đối với Ngành thanh tra. Năm “bản lề” ấy trước hết là bản lề trong kế hoạch trung hạn 2021-2025 cơ cấu lại nền kinh tế đất nước – một nhiệm vụ trọng tâm, xuyên suốt, được thực hiện đồng bộ giữa các ngành, lĩnh vực, giữa Trung ương với địa phương. Cùng với đó, ngành Thanh tra cần quyết tâm thực hiện thắng lợi “Chiến lược Phát triển ngành Thanh tra năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030”.

Bên cạnh đó, Phó Hiệu trưởng Nhà trường cho rằng, công tác đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ thanh tra nói chung và việc tổ chức khóa bồi dưỡng nghiệp vụ TTV Khóa 01/2023 nói riêng có ý nghĩa hết sức quan trọng vì đây là Khóa bồi dưỡng nghiệp vụ TTV đầu tiên tổ chức đào tạo bằng khung chương trình đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ TTV hoàn toàn mới được Tổng Thanh tra phê duyệt đưa vào giảng dậy, trong đó chương trình, tài liệu, giáo trình đào tạo, bồi dưỡng đã được được đổi mới theo hướng tích cực. Tập trung bồi dưỡng kỹ năng làm việc và kinh nghiệm thực tiễn về thanh tra, tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo và phòng, chống tham nhũng. Từ đó góp phần giúp học viên tháo gỡ một số vướng mắc, khóa khăn trong quá trình thực thi công vụ.
Qua đó hoàn thiện, nâng cao năng lực trình độ cho đội ngũ cán bộ nòng cốt của Ngành, đáp ứng yêu cầu thực hiện Chiến lược phát triển ngành Thanh tra trong thời gian tới. Chính vì lẽ đó, Ban Giám hiệu Nhà trường đã bố trí, đội ngũ giảng viên, chuyên gia có nhiều kinh nghiệm trong ngành về lĩnh vực thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và phòng chống tham nhũng trực tiếp giảng dạy cho phù hợp với đối tượng người học.

Để đảm bảo chất lượng của khóa học, Phó Hiệu trưởng yêu cầu các học viên khắc phục những khó khăn về thời gian, bố trí công việc một cách khoa học, hợp lý để tham dự các buổi học đầy đủ, nghiêm túc, chấp hành nội quy, quy chế của Nhà trường. Đồng thời, các học viên cần tăng cường trao đổi, thảo luận với giảng viên và tích cực tự nghiên cứu để nâng cao chất lượng của khóa học. Phó Hiệu trưởng Nhà trường cũng gửi lời cám ơn sâu sắc đến Lãnh đạo các Bộ ngành và địa phương đã tạo điều kiện để các học viên tham gia khoá học này.
Ngay sau Lễ Khai giảng, TTVCC. Vũ Văn Chiến, Hiệu trưởng Nhà trường đã trực tiếp giảng dạy chuyên đề:” Quan điểm của Đảng, Nhà nước và Chủ tịch Hồ Chí Minh về công tác thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và phòng chống tham nhũng” đầu tiên với lớp TTV này./.
Văn Hùng

Không chỉ đạo thực hiện kết luận thanh tra có thể bị kỷ luật
Theo dự thảo Nghị định quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Thanh tra (dự thảo Nghị định), người đứng đầu cơ quan, tổ chức quản lý trực tiếp đối tượng thanh tra là cán bộ, công chức, viên chức phải bị xử kỷ luật khiển trách khi có hành vi sau:
a) Không chỉ đạo thực hiện kết luận thanh tra, văn bản chỉ đạo, yêu cầu, kiến nghị, quyết định xử lý về thanh tra;
b) Không yêu cầu, kiến nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền xử lý sai phạm hoặc thực hiện quyết định, yêu cầu, kiến nghị của người ban hành kết luận thanh tra;
c) Không theo dõi, đôn đốc, kiểm tra việc thực hiện kết luận thanh tra, văn bản chỉ đạo, yêu cầu, kiến nghị, quyết định xử lý về thanh tra.
Trường hợp gây hậu quả thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm phải bị xử lý bằng hình thức cảnh cáo, hạ bậc lương, giáng chức, cách chức, buộc thôi việc hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật.
Xem xét kỷ luật các mức đối với người chống đối, cản trở, mua chuộc, trả thù, trù dập người làm nhiệm vụ thanh tra
Cũng trong nội dung dự thảo Nghị định quy định, xử lý hành vi vi phạm của người thuộc cơ quan, tổ chức, đơn vị là đối tượng thanh tra; người thuộc cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan như sau:
Tùy theo tính chất, mức độ vi phạm, người có hành vi vi phạm phải bị xử lý kỷ luật bằng một trong các hình thức cảnh cáo, cách chức, bãi nhiệm đối với cán bộ; cảnh cáo, hạ bậc lương, giáng chức, cách chức đối với công chức; khiển trách, cảnh cáo, cách chức, buộc thôi việc đối với viên chức hoặc truy bị cứu trách nhiệm hình sự, trường hợp gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật khi có hành vi sau:
a) Không cung cấp thông tin, tài liệu hoặc cung cấp thông tin, tài liệu không chính xác, thiếu trung thực, chiếm đoạt, thủ tiêu tài liệu, vật chứng liên quan đến nội dung thanh tra;
b) Chống đối, cản trở, mua chuộc, trả thù, trù dập người làm nhiệm vụ thanh tra, người cung cấp thông tin, tài liệu cho hoạt động thanh tra; gây khó khăn cho hoạt động thanh tra;
c) Vu cáo, vu khống đối với người làm nhiệm vụ thanh tra;
d) Đưa hối lộ;
đ) Không thực hiện, thực hiện không đầy đủ, không kịp thời nghĩa vụ, trách nhiệm của mình được ghi trong kết luận thanh tra, quyết định xử lý về thanh tra.
Người có các hành vi vi phạm được quy định tại các khoản a, b, c, d và đ nêu trên nhưng không phải là cán bộ, công chức, viên chức thì tùy theo tính chất, mức độ mà bị xử phạt vi phạm hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự.

Những nội dung kết luận thanh tra phải được công khai
Trước đó, một trong những nội dung quan trọng khác của dự thảo Nghị định quy định những nội dung kết luận thanh tra phải được công khai gồm:
Thứ nhất, kết luận thanh tra phải được công khai toàn văn, trừ những nội dung trong kết luận thanh tra thuộc bí mật nhà nước, bí mật công tác, bí mật ngân hàng, bí mật kinh doanh theo quy định của pháp luật không được công khai. Người ký kết luận thanh tra quyết định những nội dung trong kết luận thanh tra không được công khai và thực hiện theo trình tự, thủ tục mà pháp luật quy định và phải chịu trách nhiệm về quyết định của mình
Thứ hai, trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày ký kết luận thanh tra, người ra kết luận thanh tra có trách nhiệm thực hiện việc công khai kết luận thanh tra.
Cùng với đó, dự thảo Nghị định cũng quy định nội dung về: Theo dõi, đôn đốc việc thực hiện kết luận thanh tra, quyết định xử lý về thanh tra; kiểm tra thực hiện kết luận thanh tra; quyết định xử lý về thành tra; giải quyết kiến nghị, phản ánh trong hoạt động thanh tra…
Như vậy, với nội dung dự thảo Nghị định quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Thanh tra đã quy định cụ thể về xử lý vi phạm trong việc thực hiện kết luận thanh tra sẽ góp phần tăng cường được hiệu lực, hiệu quả của các kết luận thanh tra cũng như hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về lĩnh vực thanh tra.
| Theo Báo cáo tổng kết công tác năm 2022, ngành Thanh tra đã nỗ lực cố gắng, vượt qua khó khăn, đoàn kết, hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao. Toàn Ngành đã triển khai 8.514 cuộc thanh tra hành chính và 222.629 cuộc thanh tra, kiểm tra chuyên ngành. Qua thanh tra chấn chỉnh quản lý, hoàn thiện cơ chế, chính sách pháp luật trên nhiều lĩnh vực; phát hiện vi phạm về kinh tế 85.998 tỷ đồng, 8.777 ha đất; trong đó kiến nghị thu hồi 26.654 tỷ đồng và 574 ha đất; xuất toán, loại khỏi giá trị quyết toán do chưa thực hiện đúng quy định và đề nghị cấp có thẩm quyền xem xét xử lý 59.344 tỷ đồng, 8.203 ha đất; ban hành 145.558 quyết định xử phạt vi phạm hành chính của tổ chức, cá nhân với số tiền 5.641 tỷ đồng; kiến nghị xem xét, xử lý hành chính 3.530 tập thể và 8.619 cá nhân; chuyển cơ quan điều tra xem xét, xử lý 451 vụ, 295 đối tượng…
Tràng An (Nguồn: ThanhtraVietNam)
|


