Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính vừa ký Quyết định số 64/QĐ-TTg ngày 8/2/2023 ban hành Quy chế phối hợp giữa các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ trong công tác phòng, chống tội phạm rửa tiền và tài trợ khủng bố.

Quy chế này quy định về nguyên tắc, hình thức, nội dung và trách nhiệm phối hợp, trao đổi thông tin giữa các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ trong công tác phòng, chống tội phạm rửa tiền và tài trợ khủng bố.
Trong đó, về nguyên tắc, đảm bảo phối hợp chặt chẽ, hiệu quả trên cơ sở chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mỗi cơ quan trong quá trình hoạt động; đảm bảo đúng chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước; phù hợp với các điều ước quốc tế Việt Nam đã tham gia, ký kết trong lĩnh vực phòng, chống tội phạm rửa tiền và tài trợ khủng bố.
Bên cạnh đó, hoạt động phối hợp phải được thực hiện thường xuyên, kịp thời, đảm bảo đúng nội dung, hiệu quả; bảo đảm tuân thủ pháp luật về bảo vệ bí mật Nhà nước. Chỉ sử dụng thông tin được cung cấp phục vụ công tác nghiệp vụ và công tác tố tụng khi đủ điều kiện.
Các hình thức phối hợp có thể được thực hiện như sau: Công văn, thư điện tử, điện thoại, Fax; tổ chức họp trao đổi, lấy ý kiến; thành lập các Đoàn kiểm tra, giám sát liên ngành. Hình thức phối hợp được lựa chọn phù hợp với nội dung, điều kiện phối hợp cụ thể.
Nội dung phối hợp trong công tác phòng ngừa tội phạm rửa tiền và tài trợ khủng bố, gồm: Trao đổi và cung cấp thông tin về phòng, chống tội phạm rửa tiền và tài trợ khủng bố; tuyên truyền về phòng, chống tội phạm rửa tiền và tài trợ khủng bố; kiểm tra, giám sát các tổ chức trong việc chấp hành các quy định của pháp luật về phòng, chống rửa tiền và tài trợ khủng bố.
Nội dung phối hợp trong công tác đấu tranh chống tội phạm rửa tiền và tài trợ khủng bố, gồm: Trao đổi và cung cấp thông tin nghi ngờ về rửa tiền, tài trợ khủng bố; thành lập “đường dây nóng” để tiếp nhận, xử lý thông tin khẩn cấp về tài trợ khủng bố.
Hải Phong
(Nguồn: Báo Thanhtra.com.vn)
Chủ tịch UBND tỉnh Vĩnh Long vừa ký quyết định ban hành kế hoạch xác minh tài sản, thu nhập trên địa bàn năm 2023. Trong đó, số đơn vị tối thiểu để xác minh là 8 đơn vị.

Kế hoạch nhằm kiểm tra, làm rõ nội dung kê khai, xem xét đánh giá, kết luận về tính trung thực, rõ ràng của bản kê khai và tính trung thực trong việc giải trình về nguồn gốc tài sản tăng thêm của người có nghĩa vụ kê khai tài sản, thu nhập được xác minh; nhằm phòng ngừa tham nhũng, kịp thời phát hiện, xử lý hành vi tham nhũng đối với người có nghĩa vụ kê khai.
Tổng số cơ quan, tổ chức, đơn vị, doanh nghiệp thực hiện kê khai tài sản, thu nhập thuộc thẩm quyền quản của UBND tỉnh là 40 đơn vị. Căn cứ Khoản 2 Điều 15 Nghị định số 130/2020/NĐ-CP ngày 30/10/2020 của Chính phủ, số đơn vị được chọn tối thiểu là 20% trên tổng số 40 cơ quan, tổ chức, đơn vị.
Xác minh 8 đơn vị gồm: Sở Tư pháp, Sở Tài chính, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Sở Nội vụ, Sở Giao thông Vận tải, Quỹ Đầu tư phát triển tỉnh Vĩnh Long, UBND huyện Vũng Liêm, UBND TP Vĩnh Long.
Tổng số người được xác minh là 71 người. Trong đó, Sở Tư pháp 3 người, Sở Tài chính 3 người, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn 13 người, Sở Nội vụ 3 người, Sở Giao thông Vận tải 7 người, Quỹ Đầu tư phát triển tỉnh 3 người, UBND huyện Vũng Liêm 18 người, UBND TP Vĩnh Long 21 người.
Người được xác minh tại mỗi đơn vị được lựa chọn ngẫu nhiên bằng hình thức bốc thăm. Khi tiến hành lựa chọn người được xác minh, Thanh tra tỉnh mời đại diện Ủy ban Kiểm tra Tỉnh ủy, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng dự và chứng kiến.
Chánh Thanh tra tỉnh được giao ban hành kế hoạch xác minh tài sản, thu nhập trên địa bàn năm 2023. Đồng thời, phối hợp với các cơ quan, tổ chức, đơn vị có liên quan triển khai thực hiện đảm bảo đúng theo quy định của Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018, Nghị định số 130/2020/NĐ-CP ngày 30/10/2020 của Chính phủ về kiểm soát tài sản, thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn trong cơ quan, tổ chức, đơn vị.
Nhật Minh
(Nguồn: Báo Thanhtra.com.vn)
Chủ tịch UBND tỉnh Điện Biên vừa phê duyệt kế hoạch xác minh tài sản, thu nhập năm 2023 thuộc thẩm quyền xác minh của Thanh tra tỉnh Điện Biên. Theo đó, năm 2023, Thanh tra tỉnh Điện Biên sẽ tiến hành xác minh tài sản thu nhập của 32 cá nhân thuộc 9 cơ quan, đơn vị thuộc UBND tỉnh Điện Biên.

Theo Kế hoạch số 62/KH-TTr ngày 31/01/2023 của Thanh tra tỉnh Điện Biên, năm 2023 Thanh tra tỉnh sẽ tiến hành xác minh tài sản, thu nhập của 9 cơ quan, đơn vị thuộc UBND tỉnh quản lý, bao gồm: Sở Nội vụ, Sở Giáo dục và Đào tạo, Sở Xây dựng, Sở Tài nguyên và Môi trường, huyện Mường Ảng, huyện Điện Biên, Ban Quản lý dự án các công trình dân dụng, Công ty TNHH Quản lý thuỷ nông Điện Biên, Trường Cao đẳng Nghề Điện Biên.
Tổng số người được xác minh là 32 người, trong đó: Sở Nội vụ: 4 người; Sở Giáo dục và Đào tạo: 3 người; Sở Xây dựng: 3 người; Sở Tài nguyên và Môi trường: 4 người; huyện Mường Ảng: 5 người; huyện Điện Biên: 7 người; Ban Quản lý dự án các công trình dân dụng: 2 người; Công ty TNHH Quản lý thuỷ nông Điện Biên: 1 người; Trường Cao đẳng Nghề Điện Biên: 3 người.
Thanh tra tỉnh tổ chức lựa chọn người được xác minh tại mỗi đơn vị theo hình thức lựa chọn ngẫu nhiên bằng phương thức bốc thăm. Thành phần tham dự và chứng kiến việc lựa chọn bao gồm đại diện Ủy ban Kiểm tra Tỉnh ủy, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh Điện Biên và cơ quan, tổ chức, đơn vị được lựa chọn xác minh tài sản, thu nhập.
Người được lựa chọn xác minh tài sản, thu nhập phải đảm bảo đồng thời các tiêu chí: Là người có nghĩa vụ kê khai tài sản, thu nhập hằng năm thuộc thẩm quyền kiểm soát tài sản, thu nhập của Thanh tra tỉnh.
Người chưa được xác minh về tài sản, thu nhập trong thời gian 4 năm liền trước đó.
Người không thuộc các trường hợp: Đang bị điều tra, truy tố, xét xử; đang điều trị bệnh hiểm nghèo được cơ quan y tế có thẩm quyền xác nhận; đang học tập, công tác ở nước ngoài từ 12 tháng trở lên.
Việc lựa chọn người được xác minh được lập thành biên bản, có đại diện các bên tham dự ký xác nhận.
Nội dung kiểm tra, xác minh sẽ kiểm tra tính thống nhất về nội dung, thông tin kê khai trong bản kê khai của người được xác minh tài sản, thu nhập. Kiểm tra sự phù hợp biến động về số lượng, giải trình biến động tài sản, thu nhập thuộc kỳ kê khai được xác minh.
Xác minh thông tin về tài sản kê khai đăng ký như: Quyền sử dụng đất, nhà ở, công trình xây dựng; tiền gửi cá nhân; tài sản là ô tô, xe máy do các cơ quan, đơn vị trên địa bàn tỉnh Điện Biên quản lý, cấp chứng nhận, đăng ký.
Chưa thực hiện xác minh đối với các thông tin của tài sản khác như: Cây lâu năm, rừng sản xuất, vật kiến trúc khác gắn liền với đất; vàng, kim cương, bạch kim và các kim loại quý, đá quý; tiền mặt, tiền cho vay, tiền trả trước; đồ mỹ nghệ, đồ thờ cúng, bàn ghế, cây cảnh, tranh, ảnh… và thực tế nguồn gốc hình thành tài sản.
Chánh Thanh tra tỉnh ban hành kế hoạch xác minh, quyết định xác minh và thành lập tổ xác minh tài sản, thu nhập theo thẩm quyền.
Tổ xác minh tài sản thực hiện thu thập thông tin, tài liệu, xác minh tài sản, thu nhập đối với những người đã được lựa chọn xác minh. Trong thời hạn 45 ngày kể từ ngày ra quyết định xác minh, tổ trưởng tổ xác minh tài sản, thu nhập phải báo cáo kết quả xác minh tài sản, thu nhập bằng văn bản cho người ra quyết định xác minh; trường hợp phức tạp thì thời hạn có thể kéo dài nhưng không quá 90 ngày.
Chánh Thanh tra tỉnh ban hành kết luận xác minh tài sản, thu nhập của người được lựa chọn xác minh trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được báo cáo kết quả xác minh tài sản, thu nhập; trường hợp phức tạp thì thời hạn có thể kéo dài nhưng không quá 20 ngày.
Tổ chức thực hiện công khai Kết luận xác minh tài sản, thu nhập như công khai bản kê khai tài sản, thu nhập theo quy định tại Điều 39 Luật Phòng, chống tham nhũng./.
Trần Kiên
(Nguồn: Thanhtra.com.vn)
Thực hiện triển khai Kế hoạch số 266/KH- TTCP của Thanh tra Chính phủ (TTCP) về xác minh tài sản, thu nhập năm 2023, ngày 8/2 tại Hà Nội, TTCP đã tiến hành bốc thăm lựa chọn người được xác minh tài sản, thu nhập thuộc diện kiểm soát tài sản, thu nhập của TTCP năm 2023.

Dự chứng kiến buổi bốc thăm có Phó Tổng TTCP Bùi Ngọc Lam; ông Vũ Khắc Hùng, Ủy viên Ủy ban Kiểm tra Trung ương; ông Nguyễn Huy Chí, Phó Trưởng ban Tổ chức cán bộ, Mặt trận Tổ quốc cùng đại diện các cơ quan, đơn vị được xác minh tài sản, thu nhập.
Theo Kế hoạch số 266 của Thanh tra Chính phủ, các cơ quan, tổ chức, đơn vị có người được xác minh năm 2023 gồm: Bộ Công thương, TTCP, Bộ Thông tin và Truyền thông (TTTT), Bộ Giao thông vận tải (GTVT); Bộ Giáo dục và Đào tạo (GDĐT); Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Tập đoàn Dầu khí Việt Nam, Tập đoàn Điện lực Việt Nam, Tập đoàn Công nghiệp Than – Khoáng sản Việt Nam.
Cục trưởng Cục IV Hoàng Thái Dương cho biết, để tiến hành bốc thăm, TTCP đã chuẩn bị hòm phiếu, phiếu bốc thăm; danh sách cán bộ, công chức thuộc các cơ quan, đơn vị được xác minh thuộc diện kiểm soát tài sản, thu nhập của TTCP.
Tổng số người được lựa chọn để xác minh tại 9 cơ quan, tổ chức, đơn vị gồm 67 người.
Hình thức lựa chọn người được xác minh là lựa chọn ngẫu nhiên bằng bốc thăm theo quy định tại khoản 3, Điều 15 Nghị định số 130/2020/NĐ – CP. Thời điểm tiến hành xác minh là quý II, III và quý IV/2023.
Phiếu bốc thăm ghi chữ số. Mỗi số tương ứng với số thứ tự trong danh sách của từng cơ quan, đơn vị. TTCP thực hiện việc bốc thăm theo từng cơ quan, đơn vị. Thứ tự bốc thăm lần lượt từ cơ quan, đơn vị có số người ít nhất đến cơ quan, đơn vị có số người nhiều nhất.

Đối với Bộ Công thương, Bộ TTTT, Bộ GDĐT, Bộ GTVT, TTCP, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, người đứng đầu, cấp phó người đứng đầu đều không thuộc thẩm quyền kiểm soát của TTCP. Do đó, sẽ tiến hành bốc thăm đủ số lượng người theo Kế hoạch 266.
Đối với Tập đoàn Dầu khí Việt Nam, Tập đoàn Điện lực Việt Nam, Tập đoàn Công nghiệp Than – Khoáng sản Việt Nam theo quy định tại Khoản 3, Điều 15 Nghị định số 130/2020/NĐ – CP ngày 30/10/2020 của Chính phủ thì trong số những người được lựa chọn để xác minh ngẫu nhiên có ít nhất 1 người là người đứng đầu hoặc cấp phó của người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị. Do vậy, sau khi bốc thăm 2 người mà đã có người đứng đầu hoặc cấp phó của người đứng đầu thì tiếp tục bốc thăm người thứ 3 bình thường, nếu chưa có thì sẽ bốc thăm người thứ 3 phải là người đứng đầu hoặc cấp phó.
Danh sách cán bộ, công chức xếp theo thứ tự ABC thuộc các cơ quan, đơn vị được xác minh thuộc diện kiểm soát tài sản, thu nhập của TTCP.
Tại buổi bốc thăm, dưới sự chứng kiến của đại diễn lãnh đạo TTCP, Ủy ban Kiểm tra Trung ương, Mặt trận Tổ quốc cùng đại diện các cơ quan, đơn vị được xác minh tài sản, thu nhập, TTCP đã tiến hành bốc thăm lựa chọn 67 người tại 9 cơ quan, tổ chức, đơn vị theo hình thức bốc thăm ngẫu nhiên theo quy định tại khoản 3, Điều 15 Nghị định số 130/2020/NĐ – CP.
Trong số 67 người, Bộ TTTT có 04 người, Tập đoàn Dầu khí Việt Nam có 03 người, Tập đoàn Điện lực Việt Nam có 03 người, Tập đoàn Công nghiệp Than – Khoáng sản Việt Nam có 03 người, Bộ GDĐT có 16 người, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam có 11 người, TTCP có 03 người, Bộ Công thương có 17 người, Bộ GTVT có 07 người.
Buổi bốc thăm diễn ra đúng trình tự, thủ tục xác minh tài sản, thu nhập theo quy định tại Điều 44 Luật Phòng, chống tham nhũng, các quy định có liên quan tại Nghị định 130/2020/NĐ- CP của Chính phủ và Quyết định số 70/QĐ- TTCP ngày 8/3/2021 của Thanh tra Chính phủ về việc công bố thủ tục hành chính được thay thế trong lĩnh vực phòng, chống tham nhũng thuộc phạm vi quản lý Nhà nước của TTCP./.
Phương Hiếu
(Nguồn: Báo Thanhtra.com.vn)
1. Quan niệm về giám định trong hoạt động thanh tra
Giám định nói chung là hoạt động khoa học, sử dụng những kiến thức chuyên môn, kinh nghiệm thực tiễn, phương tiện kỹ thuật để nghiên cứu, xem xét một hiện tượng hoặc một vấn đề mà cơ quan nhà nước hoặc tổ chức, cá nhân cần tìm hiểu và xác định, giúp cho con người có nhận thức khách quan để giải quyết vấn đề nào đó một cách chính xác trên cơ sở khoa học. Theo quy định của pháp luật hiện hành, có thể tạm chia hoạt động giám định thành 2 loại hình:
Một là, loại hình giám định tố tụng (giám định tư pháp): Đây là lĩnh vực duy nhất cho đến nay có luật chuyên ngành điều chỉnh, phạm vi hoạt động chỉ phục vụ cho tố tụng, nghĩa là để kết luận về chuyên môn những vấn đề có liên quan đến hoạt động khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự, giải quyết vụ việc dân sự, vụ án hành chính theo trưng cầu của cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng hoặc theo yêu cầu của người yêu cầu giám định. Hệ thống tổ chức giám định tư pháp được phân thành 2 nhóm: Thứ nhất, các tổ chức giám định tư pháp công lập, được thiết lập ở 03 lĩnh vực có số vụ việc lớn nhất và phổ biến nhất trong hoạt động tố tụng là giám định kỹ thuật hình sự; giám định pháp y và giám định pháp y tâm thần thuộc quyền quản lý của Bộ Công an, Bộ Quốc phòng và Bộ Y tế (Điều 12 Luật Giám định tư pháp hiện hành). Thứ hai, các tổ chức giám định tư pháp theo vụ việc và người giám định theo vụ việc, thuộc các lĩnh vực do các bộ, cơ quan ngang bộ quản lý nhà nước như: Xây dựng, tài chính, văn hóa, thông tin và truyền thông, kế hoạch và đầu tư, tài nguyên và môi trường, giao thông – vận tải, khoa học và công nghệ, nông nghiệp, ngân hàng… (Điều 20 Luật Giám định tư pháp).
Giám định tư pháp là hoạt động bổ trợ tư pháp có vai trò quan trọng đối với hoạt động khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử. Chẳng hạn, trong hoạt động giám định tư pháp hình sự thì quá trình giải quyết vụ án, nhiều trường hợp cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng phải cần đến sự trợ giúp của nhà chuyên môn – người giám định tư pháp trong việc xem xét, đánh giá về phương diện chuyên môn những vấn đề có liên quan của vụ án nhằm xác định chính xác hành vi phạm tội, tính chất, mức độ của hành vi phạm tội trong các vụ án hình sự, cũng như xác định lỗi của các đương sự trong các vụ án dân sự, hành chính (ví dụ: giám định ADN để lại hiện trường để truy tìm tội phạm, xác định cha cho con; giám định tình trạng tâm thần của kẻ giết người hàng loạt để làm cơ sở xác định trách nhiệm hình sự; giám định nguyên nhân của việc đổ nhà để xác định lỗi của bị đơn v.v.). Đặc biệt trong tình hình hiện nay, khi mà khoa học kỹ thuật phát triển, yếu tố kỹ thuật, chuyên môn của hành vi phạm tội và các tranh chấp trong các vụ án ngày càng nhiều và phổ biến thì yêu cầu cần phải có sự trợ giúp của giám định tư pháp cho hoạt động tố tụng ngày càng lớn và cần thiết hơn. Kết luận giám định ngày càng trở thành nguồn chứng cứ thiết yếu, quan trọng, giúp cho cơ quan tiến hành tố tụng giải quyết vụ án được chính xác, khách quan và đúng pháp luật.
Thực tế cho thấy, đối với các vụ án xâm phạm tính mạng, sức khoẻ con người cơ quan tiến hành tố tụng buộc phải trưng cầu giám định để xác định nguyên nhân chết, tính chất thương tích, mức độ tổn hại sức khoẻ hoặc khả năng lao động cũng như các trường hợp khác bắt buộc phải trưng cầu giám định theo quy định tại Điều 155 của Bộ luật tố tụng hình sự hiện hành. Ngoài ra, nhiều trường hợp cơ quan tiến hành tố tụng thấy cần phải trưng cầu giám định để làm sáng tỏ vấn đề có liên quan trong vụ án. Có thể khẳng định rằng, phần lớn các vụ án hình sự cũng cần đến giám định tư pháp phục vụ cho việc giải quyết vụ án đó, thậm chí là không thể thiếu được.
Hai là, loại hình giám định ngoài tố tụng (giám định dịch vụ): Đây là loại hình giám định rất rộng, giám định trong hoạt động thanh tra thuộc loại này, trong hoạt động thanh tra, giám định chỉ là một biện pháp nghiệp vụ, một hoạt động mang tính chất hành chính, quản lý được tiến hành nhằm mục đích làm căn cứ cho việc kết luận thanh tra. Phạm vi hoạt động thanh tra của cơ quan thanh tra rất rộng, ở đâu có quản lý ở đó có thanh tra nên nội dung giám định trong hoạt động thanh tra cũng rất phong phú. Trong hoạt động thanh tra, kết luận giám định là căn cứ quan trọng, tin cậy, bởi đây là nhận xét, đánh giá bằng văn bản của người giám định về đối tượng giám định theo nội dung trưng cầu, yêu cầu giám định, được coi là căn cứ làm cơ sở cho việc giải quyết vụ việc cần chứng minh, nếu việc giám định đó được tiến hành theo đúng quy định sẽ góp phần công khai, minh bạch trong mọi hoạt động, đặc biệt cần thiết cho hoạt động thanh tra.
Thanh tra là nội dung không thể thiếu của quản lý nhà nước, là giai đoạn cuối cùng trong chu trình quản lý, có vai trò kiểm định, đánh giá hiệu quả của quản lý nhà nước. Qua thanh tra để có các kiến nghị khắc phục những sơ hở, yếu kém, chồng chéo, đề xuất những biện pháp đổi mới và nâng cao hiệu quả quản lý, sửa đổi cơ chế, chính sách nhằm quản lý tốt hơn, hiệu quả hơn. Chính vì vậy, trong hoạt động quản lý nhà nước phải có thanh tra và thanh tra phải phục vụ cho yêu cầu quản lý nhà nước. Ở đâu có quản lý nhà nước thì ở đó phải tổ chức công tác thanh tra, có hoạt động thanh tra. Quản lý nhà nước mà không có thanh tra là quản lý suông, dễ quan liêu và xa rời thực tiễn. Hoạt động thanh tra được tiến hành bởi Đoàn thanh tra hoặc công chức được giao thực hiện nhiệm vụ thanh tra chuyên ngành mà sản phẩm của hoạt động này là kết luận thanh tra. Có thể nói kết luận thanh tra là văn bản hành chính do người ra quyết định thanh tra ban hành căn cứ vào kết quả thanh tra, nhằm đánh giá việc thực hiện chính sách, pháp luật, nhiệm vụ của đối tượng thanh tra; kết luận về nội dung được thanh tra trong đó xác định rõ tính chất, mức độ vi phạm, nguyên nhân, trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân có hành vi vi phạm; từ đó đề xuất, kiến nghị với cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lí đối với cá nhân, tổ chức, cơ quan vi phạm pháp luật và sửa đổi, bổ sung cơ chế chính sách, pháp luật nhằm thực hiện tốt hơn công tác quản lý nhà nước. Kết luận thanh tra là căn cứ, cơ sở quan trọng để thủ trưởng cơ quan hành chính nhà nước ban hành những quyết định quản lý cụ thể. Kết luận thanh tra không thể thay thế cho quyết định của cơ quan quản lý hành chính và để những nội dung kiến nghị trong kết luận thanh tra được thực thi trên thực tế thì cần phải được chuyển hoá thành quyết định cá biệt của cơ quan hành chính.
Kết luận thanh tra xác định các nội dung đã được thanh tra đối với đối tượng thanh tra, có vai trò quan trọng trong công tác quản lý nhà nước, là căn cứ, cơ sở để thủ trưởng cơ quan quản lý hành chính nhà nước xem xét, từ đó ra quyết định xử lý đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân có hành vi vi phạm pháp luật; chấn chỉnh công tác quản lý, sửa đổi, bổ sung cơ chế chính sách, pháp luật để nâng cao hiệu lực, hiệu quả của công tác quản lý nhà nước. Thực tế cho thấy, chất lượng của kết luận thanh tra được thể hiện trên rất nhiều vấn đề như: Bảo đảm tính pháp lý, có căn cứ, tính khoa học, tính thuyết phục… Nội dung rõ ràng, kết luận cụ thể, chính xác, nhận xét đánh giá phải đầy đủ cơ sở chứng minh. Đồng thời phải đảm bảo các yêu cầu bắt buộc khác như kịp thời, chính xác, khách quan và trung thực. Một kết luận thanh tra phải chứa đựng đầy đủ các yêu cầu này mới có thể tạo ra sự hoàn chỉnh và sức thuyết phục đối với đối tượng thanh tra cũng như các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan, đồng thời bảo đảm cho việc tổ chức, thực hiện sau này. Chính vì vậy, Đoàn thanh tra khi rút ra kết luận phải luôn xuất phát từ những căn cứ khách quan, dựa trên những sự việc, hiện tượng đã được chứng minh là có thật trong thực tiễn. Để kết luận cụ thể, chính xác, nhận xét đánh giá có đầy đủ cơ sở chứng minh thì khi xét thấy cần có sự đánh giá về nội dung liên quan đến chuyên môn, kỹ thuật thì Trưởng đoàn thanh tra đề nghị người ra quyết định thanh tra quyết định trưng cầu giám định.
Từ hướng tiếp cận trên, có thể đưa ra quan niệm về giám định trong hoạt động thanh tra như sau:
Giám định trong hoạt động thanh tra là việc người giám định sử dụng kiến thức, phương tiện, phương pháp khoa học, kỹ thuật, nghiệp vụ để kết luận những vấn đề về chuyên môn, kỹ thuật có liên quan đến hoạt động thanh tra theo trưng cầu của người ra quyết định thanh tra hoặc theo yêu cầu của người yêu cầu giám định nhằm cung cấp các căn cứ cho việc kết luận thanh tra của các cơ quan Thanh tra.
Đặc trưng cơ bản của hoạt động giám định trong hoạt động thanh tra là hoạt động chuyên môn do chuyên gia thực hiện.
Một là, giám định trong hoạt động thanh tra là giám định ngoài tố tụng và chỉ là một biện pháp nghiệp vụ, một hoạt động mang tính chất hành chính, quản lý được tiến hành nhằm xác định tính hợp pháp, hợp lý của hành vi, việc làm của đối tượng thanh tra. Giám định trong hoạt động thanh tra được thực hiện nhằm mục đích làm căn cứ cho việc kết luận thanh tra. Thanh tra làm cho chu trình quản lý nhà nước được khép kín, các hoạt động ban hành và tổ chức thực hiện quyết định quản lý được gắn bó chặt chẽ hơn, từ việc xem xét, đánh giá, kiểm chứng việc thực hiện các chủ trương, chính sách của đối tượng bị quản lý, đến việc đề xuất các biện pháp hoàn thiện chủ trương, chính sách, nâng cao hiệu quả quản lý của chủ thể. Đó là quy trình, là quy luật tất yếu trong bất cứ hoạt động quản lý của Nhà nước nào. Trong bối cảnh phát triển nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay thì vai trò của công tác thanh tra ngày càng cần thiết và quan trọng để quản lý nền kinh tế.
Thanh tra là nội dung không thể thiếu của quản lý nhà nước, là giai đoạn cuối cùng trong chu trình quản lý, có vai trò kiểm định, đánh giá hiệu quả của quản lý nhà nước. Qua thanh tra để có các kiến nghị khắc phục những sơ hở, yếu kém, chồng chéo, đề xuất những biện pháp đổi mới và nâng cao hiệu quả quản lý, sửa đổi cơ chế, chính sách nhằm quản lý tốt hơn, hiệu quả hơn. Chính vì vậy, trong hoạt động quản lý nhà nước phải có thanh tra và thanh tra phải phục vụ cho yêu cầu quản lý nhà nước. Ở đâu có quản lý nhà nước thì ở đó phải tổ chức công tác thanh tra, có hoạt động thanh tra. Chính vì vậy, giám định trong hoạt động thanh tra có phạm vi rất rộng theo thẩm quyền của cơ quan thanh tra và không phải là giám định tư pháp. Bởi, giám định tư pháp là việc người giám định tư pháp sử dụng kiến thức, phương tiện, phương pháp khoa học, kỹ thuật, nghiệp vụ để kết luận về chuyên môn những vấn đề có liên quan đến hoạt động khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự, giải quyết vụ việc dân sự, vụ án hành chính theo trưng cầu của cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng hoặc theo yêu cầu của người yêu cầu giám định theo quy định của pháp luật.
Như vậy, theo quan niệm này thì giám định tư pháp chính là giám định tố tụng, một hoạt động bổ trợ tư pháp mà các cơ quan tiến hành tố tụng dùng đề chứng minh tội phạm và người phạm tội; còn giám định trong hoạt động thanh tra là giám định ngoài tố tụng và chỉ là một biện pháp nghiệp vụ, một hoạt động mang tính chất hành chính, quản lý được tiến hành nhằm xác định tính hợp pháp, hợp lý của hành vi, việc làm của đối tượng thanh tra.
Trong hoạt động thanh tra, kết luận giám định là căn cứ quan trọng, tin cậy, bởi đây là nhận xét, đánh giá bằng văn bản của người giám định về đối tượng giám định theo nội dung trưng cầu, yêu cầu giám định, được coi là chứng cứ làm cơ sở cho việc giải quyết vụ việc cần chứng minh. Nếu việc giám định đó được tiến hành theo đúng quy định sẽ góp phần công khai, minh bạch trong mọi hoạt động thanh tra, đặc biệt cần thiết cho hoạt động thanh tra.
Hai là, hoạt động giám định trong hoạt động thanh tra không mang tính quyền lực nhà nước. Khi thực hiện giám định, người giám định phải sử dụng những kiến thức nghiệp vụ, phương pháp phù hợp và phải thực hiện đúng các quy chuẩn chuyên môn của từng lĩnh vực cụ thể để thực hiện giám định. Người giám định có quyền độc lập đưa ra kết luận giám định, đồng thời người giám định chịu trách nhiệm cá nhân khi thực hiện giám định, không chịu sự chi phối từ bất kì cơ quan, tổ chức hay cá nhân nào. Xuất phát từ nguyên tắc chịu trách nhiệm cá nhân nên khi thực hiện giám định, người giám định không phải chịu chi phối từ phía cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền. Vì vậy, giám định trong hoạt động thanh tra không mang tính quyền lực nhà nước.
Ba là, để phục vụ cho việc đánh giá về nội dung liên quan đến chuyên môn, kỹ thuật làm căn cứ cho việc kết luận thanh tra, các cơ quan thanh tra có thể sử dụng nhiều biện pháp khác nhau nhằm thu thập chứng cứ và một trong những biện pháp đó là trưng cầu giám định. Cơ quan thanh tra có thể trưng cầu bất cứ chuyên gia nào có kiến thức về lĩnh vực chuyên môn liên quan đến nội dung thanh tra để thực hiện giám định. Với các chuyên gia, bên cạnh hoạt động chuyên môn thì hoạt động giám định chỉ là một công việc của họ. Cũng như các hoạt động giám định khác, giám định trong hoạt động thanh tra không được coi là một nghề mà là một hoạt động chuyên môn, giám định viên hầu hết là kiêm nghiệm.
2. Vai trò của giám định trong hoạt động thanh tra
Giám định trong hoạt động thanh tra là việc người giám định sử dụng kiến thức, phương tiện, phương pháp khoa học, kỹ thuật, nghiệp vụ để kết luận những vấn đề về chuyên môn, kỹ thuật có liên quan đến hoạt động thanh tra theo trưng cầu của người ra quyết định thanh tra hoặc theo yêu cầu của người yêu cầu giám định nhằm cung cấp những căn cứ cho việc kết luận thanh tra của các cơ quan Thanh tra. Vì vậy, để kết luận thanh tra của các cơ quan Thanh tra có hiệu lực, hiệu quả thì việc thu thập đầy đủ các tài liệu, chứng cứ có tính quyết định, mà một trong những nguồn chứng cứ quan trọng làm căn cứ cho kết luận thanh tra là kết luận giám định. Cho nên, vai trò của giám định trong hoạt động thanh tra thể hiện chủ yếu ở những phương diện sau:
Một là, giám định trong hoạt động thanh tra được thực hiện nhằm cung cấp các chứng cứ làm căn cứ cho việc kết luận thanh tra. Thanh tra là nội dung của quản lý nhà nước nên giám định trong hoạt động thanh tra có vai trò quan trọng đối với hoạt động quản lý nhà nước, đồng thời góp phần bảo vệ một cách hữu hiệu các quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, công dân là đối tượng thanh tra. Thông qua việc tạo lập và cung cấp những chứng cứ quan trọng làm căn cứ cho việc ban hành kết luận thanh tra nhằm xem xét, đánh giá, xử lý của cơ quan quản lý nhà nước đối với việc thực hiện chính sách, pháp luật, nhiệm vụ của cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự quản lý theo thẩm quyền, trình tự, thủ tục được quy định trong Luật thanh tra và các quy định khác của pháp luật. Việc phát hiện, xử lý kịp thời, nghiêm minh các hành vi sai phạm của cá nhân, cơ quan có trách nhiệm, của các cá nhân, tổ chức là đối tượng bị quản lý sẽ bảo đảm trật tự, kỷ cương pháp luật trong hoạt động quản lý. Mặt khác, việc tìm ra những sơ hở, yếu kém, chồng chéo trong công tác quản lý, phát hiện những nội dung chưa phù hợp với yêu cầu thực tế khách quan, từ đó có các biện pháp sửa đổi, bổ sung, khắc phục kịp thời có vai trò quan trọng trong việc củng cố trật tự, kỷ cương, hoàn thiện cơ chế quản lý.
Không chỉ trong hoạt động tố tụng hình sự, trong hoạt động thanh tra, việc cung cấp chứng cứ làm căn cứ kết luận thanh tra được xem là một phần quan trọng trong hoạt động thanh tra. Trước diễn biến càng có nhiều vụ việc phức tạp, các đối tượng thanh tra xuất trình chứng cứ, tài liệu không rõ ràng và có nhiều mâu thuẫn với nhau. Thông qua hoạt động giám định sẽ làm rõ hơn, xác lập được chứng cứ phục vụ cho quá trình thanh tra, bảo vệ được quyền và lợi ích hợp pháp của nhà nước và đối tượng thanh tra.
Hai là, giám định trong hoạt động thanh tra là một biện pháp quan trọng bảo đảm tính khách quan, đúng đắn trong hoạt động thanh tra, tránh oan sai, là một kênh quan trọng để đánh giá trình độ phát triển pháp luật và mức độ dân chủ của một quốc gia và hẹp hơn là của ngành Thanh tra. Hoạt động giám định trong thanh tra được tạo ra nhằm tránh việc kết luận sai, đúng người, đúng vi phạm, bảo đảm công bằng, khách quan, trước diễn biến có nhiều vụ việc phức tạp, hoặc các đối tượng thanh tra xuất trình chứng cứ, tài liệu không rõ ràng và có nhiều mâu thuẫn với nhau. Trong bối cảnh phát triển nền kinh tế thị trường, khoa học kỹ thuật phát triển, những vi phạm trong hoạt động quản lý ngày càng nhiều và tinh vi, tính chất phức tạp, mức độ thiệt hại ngày càng lớn thì vai trò của giám định trong hoạt động thanh tra ngày càng quan trọng. Thực tiễn thời gian qua cho thấy hoạt động giám định trong hoạt động thanh tra có ý nghĩa quan trọng đến hiệu quả và chất lượng của hoạt động thanh tra. Hoạt động giám định hướng hoạt động thanh tra theo cơ chế khách quan, minh bạch, đúng người đúng vi phạm, tránh oan sai, phục vụ tốt cho công tác quản lý.
Thực tiễn hoạt động thanh tra trong thời gian dài, giám định trong hoạt động thanh tra là giám định ngoài tố tụng chưa được các cơ quan thanh tra, các ngành, các cấp nhận thức đầy đủ về bản chất, vai trò, ý nghĩa của hoạt động này trong việc bảo đảm tính khách quan, chính xác của kết luận thanh tra. Do đó, tổ chức, hoạt động giám định ngoài tố tụng chưa được các cấp ủy đảng, các ngành, các cấp quan tâm, chăm lo ngang tầm nhiệm vụ. Nguyên nhân này tác động không nhỏ đến sự phát triển của tổ chức và hoạt động cũng như chất lượng, hiệu quả của công tác giám định trong hoạt động thanh tra. Nhận thức của một số Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thanh tra cấp Trung ương và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, đặc biệt là của người đứng đầu chưa xác định đầy đủ về tầm quan trọng của công tác giám định trong hoạt động thanh tra cũng như trách nhiệm của cơ quan mình đối với công tác giám định trong hoạt động thanh tra. Nhận thức của lãnh đạo, cán bộ của nhiều ngành về vai trò, trách nhiệm của ngành mình đối với công tác giám định trong hoạt động thanh tra trong các vụ việc giám định trong hoạt động thanh tra còn hạn chế, chưa đầy đủ. Đoàn thanh tra và cán bộ ở các cơ quan tiến hành thanh tra còn thiếu kiến thức cần thiết về giám định giám định trong hoạt động thanh tra, thiếu sự chủ động, quyết đoán, chưa phát huy hết vai trò, trách nhiệm của mình trong việc đánh giá, sử dụng kết luận giám định. Thiếu quy định cụ thể về căn cứ, cách thức trưng cầu giám định để bảo đảm việc trưng cầu giám định được đúng đắn, đáp ứng mục tiêu của cuộc thanh tra.
Chính vì vậy, một trong những giải pháp nâng cao hiệu quả giám định trong hoạt động thanh tra là nâng cao nhận thức của Thủ trưởng cơ quan hành chính nhà nước các cấp, các ngành các cơ quan thanh tra về vai trò, ý nghĩa của giám định trong hoạt động thanh tra. Giám định trong hoạt động thanh tra là một trong những quyền yêu cầu trong quá trình thanh tra được ghi nhận tại Điều 48 Luật Thanh tra 2010. Tuy nhiên, trong thực tiễn hoạt động thanh tra thời gian qua cho thấy rất ít khi quyền trưng cầu giám định trong hoạt động thanh tra được sử dụng và kết quả cũng rất hạn chế. Thực trạng này có thể nói một phần là do một bộ phận cán bộ làm công tác thanh tra ở một số bộ, ngành, địa phương còn chưa quan tâm đúng mức đến chất lượng, giá trị của kết luận thanh tra cũng như vai trò, ý nghĩa của giám định trong hoạt động thanh tra. Vì vậy, cần nâng cao nhận thức của Thủ trưởng cơ quan hành chính nhà nước, các cơ quan thanh tra về ý nghĩa, tầm quan trọng của giám định trong hoạt động thanh tra là nhằm cung cấp các chứng cứ làm căn cứ cho việc kết luận thanh tra của các cơ quan Thanh tra là giải pháp quan trọng, đề từ đó có sự quan tâm, đầu tư xứng tầm cho công tác giám định trong hoạt động thanh tra. Thời gian tới, phải tạo được sự chuyển biến tích cực về nhận thức và hành động của người ra quyết định thanh tra và Đoàn thanh tra góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động thanh tra nói chung và nâng cao chất lượng, giá trị của kết luận thanh tra nói riêng. Trên cơ sở đó, đổi mới tư duy pháp lý, xây dựng hoàn thiện thể chế giám định trong hoạt động thanh tra cho phù hợp với điều kiện phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, cải cách hành chính, chiến lược phát triển ngành Thanh tra và thiết thực hơn là đảm bảo tính khách quan, chính xác, kịp thời, đúng pháp luật của kết luận thanh tra, qua đó nâng cao hiệu quả hoạt động thanh tra trong bối cảnh hiện nay.
Nâng cao nhận thức về vai trò giám định trong hoạt động thanh tra vừa là đòi hỏi từ phía Thủ trưởng cơ quan hành chính nhà nước, các cơ quan thanh tra vừa là đòi hỏi từ phía đối tượng thanh tra, cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan trong quá trình thanh tra và từ chính đội ngũ những người làm công tác giám định trong hoạt động thanh tra. Vì chỉ khi nhận thức đúng vai trò của công tác giám định trong hoạt động thanh tra, các cơ quan thanh tra quan tâm đến công tác giám định trong hoạt động thanh tra, mới tăng cường sử dụng biện pháp nghiệp vụ giám định trong hoạt động thanh tra, sử dụng kết quả giám định trong hoạt động thanh tra làm căn cứ để kết luận thanh tra đảm bảo khách quan, chính xác, kịp thời, đúng pháp luật, thông qua đó để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nhà nước, của cơ quan, tổ chức cá nhân là đối tượng thanh tra; đồng thời người làm công tác giám định mới tích cực, chủ động, tự giác, khách quan, vô tư khi tham gia vào giám định trong hoạt động thanh tra để bảo vệ chân lý khách quan và uy tín, đạo đức nghề nghiệp của mình.
Để Nâng cao nhận thức về vai trò giám định trong hoạt động thanh tra, cần thực hiện đồng bộ một số giải pháp sau:
Thứ nhất, tổ chức tập huấn, quán triệt nhận thức của các ngành, các cấp về bản chất, vai trò, ý nghĩa của giám định trong hoạt động thanh tra đối với hoạt động thanh tra mà trực tiếp là nâng cao chất lượng kết luận thanh tra;
Thứ hai, các cơ quan thanh tra, các cơ quan chuyên môn chủ quản đối với công tác quản lý giám định trong hoạt động thanh tra cần nâng cao tinh thần trách nhiệm và quan tâm hơn đối với hoạt động này;
Thứ ba, tăng cường công tác phổ biến, quán triệt các quy định của pháp luật về giám định trong hoạt động thanh tra cho đội ngũ người tiến hành thanh tra;
Thứ tư, đổi mới nội dung, chương trình đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ cho các người tiến hành thanh tra theo hướng tăng cường nội dung, thời lượng giảng dạy về giám định trong hoạt động thanh tra;
Thứ năm, tuyên truyền, nâng cao nhận thức của cộng đồng về giám định trong hoạt động thanh tra qua các kênh thông tin như đài phát thanh truyền hình, báo thanh tra, báo điện tử, bản tin về hoạt động thanh tra;
Thứ sáu, xây dựng và ban hành Quy chế phối hợp giữa cơ quan thanh tra với các cơ quan, đơn vị có liên quan trong quản lý hoạt động giám định ngoài tố tụng nhằm nâng cao ý thức trách nhiệm của các cơ quan, đơn vị hữu quan./.
Lê Đức Trung
Viện Chiến lược và Khoa học thanh tra
Chiều 7/2 , Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch (VHTTDL) Nguyễn Văn Hùng đã chủ trì lễ công bố quyết định bổ nhiệm cán bộ.

Tại Quyết định số 156/QĐ-BVHTTDL, Bộ trưởng Bộ VHTTDL quyết định điều động, bổ nhiệm ông Lê Thanh Liêm, Vụ trưởng Vụ Pháp chế giữ chức vụ Chánh Thanh tra Bộ VHTTDL.
Tại Quyết định số 158/QĐ-BVHTTDL, Bộ trưởng Bộ VHTTDL quyết định điều động, bổ nhiệm ông Phạm Cao Thái, Chánh Thanh tra Bộ VHTTDL giữ chức Vụ trưởng Vụ Pháp chế.
Cả hai quyết định nêu trên có hiệu lực thi hành từ ngày 15/2/2023.
Cùng với đó, Bộ trưởng cũng trao nhiều quyết định điều động, bổ nhiệm cán bộ được thực hiện sau khi thực hiện sáp nhập Vụ Thi đua, Khen thưởng vào Vụ Tổ chức cán bộ. Đó là:
Quyết định số 159/QĐ-BVHTTDL bổ nhiệm bà Lê Thị Phượng, Vụ trưởng Vụ Tổ chức cán bộ (trước khi sáp nhập) giữ chức vụ Vụ trưởng Vụ Tổ chức cán bộ.
Quyết định số 165/QĐ-BVHTTDL bổ nhiệm ông Nguyễn Anh Tuấn, Phó Vụ trưởng Vụ Tổ chức cán bộ (trước khi sáp nhập) giữ chức vụ Phó Vụ trưởng Vụ Tổ chức cán bộ.
Quyết định số 166/QĐ-BVHTTDL về việc bổ nhiệm ông Hà Minh Thắng, Phó Vụ trưởng Vụ Tổ chức cán bộ (trước khi sáp nhập) giữ chức vụ Phó Vụ trưởng Vụ Tổ chức cán bộ.
Quyết định số 167/QĐ-BVHTTDL về việc bổ nhiệm bà Đặng Phương Nga, Phó Vụ trưởng Vụ Tổ chức cán bộ (trước khi sáp nhập) giữ chức vụ Phó Vụ trưởng Vụ Tổ chức cán bộ.
Quyết định số 168/QĐ-BVHTTDL về việc bổ nhiệm bà Nghiêm Thị Thanh Nguyệt, Phó Vụ trưởng Vụ Thi đua, Khen thưởng giữ chức vụ Phó Vụ trưởng Vụ Tổ chức cán bộ.
Quyết định số 169/QĐ-BVHTTDL về việc bổ nhiệm bà Tô Linh Hương, Phó Vụ trưởng Vụ Thi đua, Khen thưởng giữ chức vụ Phó Vụ trưởng Vụ Tổ chức cán bộ.
Các quyết định nêu trên có hiệu lực thi hành từ ngày 20/2/2023.
Thái Hải
(Nguồn: Báo Thanhtra.com.vn)
Con số trên được Bộ Tài chính công bố hôm nay (7/2) về tình hình thực hiện chương trình công tác tháng 1 năm 2023.

Tháng 1 năm 2023, Thanh tra Bộ Tài chính và các đơn vị có chức năng thanh tra chuyên ngành thuộc bộ đã thực hiện 9.075 cuộc thanh tra, kiểm tra; tiến hành kiểm tra 121.398 hồ sơ khai thuế tại trụ sở cơ quan.
Qua công tác thanh tra, kiểm tra, Thanh tra Bộ Tài chính và các đơn vị có chức năng thanh tra chuyên ngành thuộc bộ đã kiến nghị xử lý tài chính 11.815.824 triệu đồng. Trong đó, kiến nghị thu hồi nộp 2.070.910 triệu đồng; kiến nghị xử lý tài chính khác 8.843.160 triệu đồng; xử phạt vi phạm hành chính 901.755 triệu đồng. Số tiền đã thu nộp ngân sách Nhà nước (NSNN) 2.277.880 triệu đồng.
Thực hiện thu NSNN tháng 1 ước đạt 183,7 nghìn tỷ đồng, bằng 11,3% dự toán, giảm 0,5% so với cùng kỳ năm 2022.
Tổng chi cân đối NSNN tháng 1 ước đạt 114,9 nghìn tỷ đồng, bằng 5,5% dự toán, đáp ứng các nhu cầu chi thường xuyên để thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội, quốc phòng, an ninh, quản lý Nhà nước, đảm bảo an sinh xã hội (chiếm 74,9% tổng số chi NSNN), tập trung đảm bảo kinh phí tiền lương, lương hưu, trợ cấp xã hội cho các đối tượng chính sách; đảm bảo chi trả đầy đủ, kịp thời các khoản nợ lãi đến hạn.
Cũng theo Bộ Tài chính, chỉ số giá tiêu dùng (CPI) của tháng 1/2023 so với tháng trước tăng 0,52%, so với cùng kỳ năm trước tăng 4,89%.
Đáng chú ý, chỉ số giá nhóm giao thông có mức tăng cao nhất so với tháng trước do giá xăng dầu trong nước tăng theo giá nhiên liệu thế giới và điều chỉnh theo mức thuế bảo vệ môi trường từ 1/1/2023; giá đồ uống và thuốc lá, lương thực, thực phẩm, ăn uống ngoài gia đình cũng tăng theo quy luật trong dịp Tết.
Tuy nhiên, tình hình cung cầu, giá cả thị trường cơ bản bình ổn nằm trong kiểm soát và diễn biến theo đúng với kịch bản công tác điều hành giá trong dịp Tết.
Trong tháng 1/2023, Bộ Tài chính đã hoàn thành xuất cấp hỗ trợ Tết nguyên đán 16.920 tấn gạo hỗ trợ 17 tỉnh, địa phương nhân dịp Tết Nguyên đán 2023; hỗ trợ giáp hạt đầu năm 90,1 tấn gạo; hỗ trợ học sinh học kỳ I năm 2022 – 2023 theo quy định. Đồng thời, Bộ Tài chính đã triển khai xuất cấp 5.000 tấn gạo dựu trữ quốc gia tặng nhân dân Cuba ngay sau khi có quyết định của Thủ tướng Chính phủ.
TQ
(Nguồn: Báo Thanhtra.com.vn)
Chiều ngày 7/2, Tổng Thanh tra Chính phủ Đoàn Hồng Phong đã chủ trì cuộc họp với Vụ Pháp chế về công tác xây dựng thể chế. Phó Tổng Thanh tra Trần Ngọc Liêm tham dự cuộc họp.

Báo cáo tại cuộc họp, đại diện Vụ Pháp chế cho biết, theo sự phân công của Chính phủ, Thanh tra Chính phủ được giao xây dựng 2 nghị định, đó là: Nghị định Quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Thanh tra và Nghị định về cơ quan thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành và hoạt động thanh tra chuyên ngành.
Ngoài ra, Chính phủ còn giao Thanh tra Chính phủ chủ động phối hợp với các cơ quan của Quốc hội trong việc ban hành nghị định của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội về việc cơ quan thanh tra được trích một phần từ các khoản tiền thu hồi phát hiện qua thanh tra.
Đến nay, Vụ Pháp chế đã xây dựng ban hành kế hoạch triển khai Luật Thanh tra; có công văn gửi xin ý kiến bước đầu của các bộ, ngành về việc thành lập cơ quan thanh tra của các bộ, ngành và cơ quan được giao thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành; công văn gửi UBND các tỉnh về thanh tra sở.
Đồng thời, trình Tổng Thanh tra ban hành quyết định thành lập Ban Soạn thảo và Tổ Biên tập của 2 nghị định; chủ động tích cực xây dựng dự thảo nghị định, đến nay đã có bản sơ thảo lần 1.
Về lộ trình thực hiện các công việc trong thời gian tới, đại diện Vụ pháp chế cho biết: Ngày 10/2, sẽ triển khai đăng trên Cổng Thông tin điện tử Chính phủ Dự thảo và tờ trình 2 nghị định để lấy ý kiến góp ý.
Sau đó chức hội nghị, hội thảo để lấy ý kiến, làm việc trực tiếp với một số cơ quan về nội dung liên quan, công việc này thực hiện trong suốt quá trình xây dựng nghị định; họp Ban Soạn thảo, Tổ Biên tập để hoàn thiện Dự thảo Nghị định.
Đầu tháng 3 sẽ gửi Tờ trình và Dự thảo Nghị định xin ý kiến chính thức của các bộ, ngành, địa phương, các đơn vị trong Thanh tra Chính phủ.
Đầu tháng 4 hoàn thành báo cáo tổng hợp, giải trình, tiếp thu ý kiến các bộ, ngành, địa phương và đến ngày 10/4 gửi hồ sơ đến Bộ Tư pháp thẩm định, hồ sơ mỗi Nghị định (trong đó bao gồm: Tờ trình Chính phủ, Dự thảo Nghị định; báo cáo tổng hợp, giải trình, tiếp thu ý kiến bộ, ngành, địa phương; báo cáo đánh giá tác động).
Cuối tháng 4, hoàn thiện Tờ trình, Chính phủ, Dự thảo Nghị định và các văn bản kèm theo; xây dựng báo cáo tiếp thu, giải trình ý kiến thẩm định của Bộ Tư pháp.
Trong tháng 5 sẽ trình Chính phủ ký ban hành các Nghị định.
Tại cuộc họp, Tổng Thanh tra Đoàn Hồng Phong cơ bản đồng ý với lộ trình về việc xây dựng 2 nghị định mà Vụ Pháp chế đã trình bày. Đồng thời, yêu cầu đơn vị cần bám sát các quy định về việc ban hành văn bản pháp luật, các nội dung cần phải hoàn chỉnh trước khi trình để xin các ý kiến của các bộ, ngành. Đến ngày 1/5 phải trình nghị định chính thức cho Chính phủ.
Thái Hải
( Nguồn: Báo Thanhtra.com.vn)
Để thực hiện thắng lợi mục tiêu, nhiệm vụ kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội năm 2023, Chính phủ yêu cầu các cấp ngành, địa phương thực hiện 11 nhóm nhiệm vụ, giải pháp. Trong đó, nhiệm vụ tiếp tục ưu tiên giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, thúc đẩy tăng trưởng, bảo đảm các cân đối lớn của nền kinh tế có đề cập tới việc rà soát, hoàn thiện các quy định pháp luật, tăng cường giám sát, kiểm tra, đẩy mạnh cơ cấu lại, nâng cao hiệu quả hoạt động của các tổ chức tín dụng, định chế tài chính, các thị trường tiền tệ, trái phiếu doanh nghiệp, chứng khoán, bất động sản, bảo đảm phát triển công khai, minh bạch, an toàn, ổn định, lành mạnh, bền vững.

Ngày 06/01/2023, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết 01/NQ-CP về nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội, Dự toán ngân sách nhà nước và cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia năm 2023.
Theo đó, năm 2022, tình hình kinh tế – xã hội nước ta tiếp tục có xu hướng phục hồi tích cực và đạt những kết quả quan trọng. Việt Nam tiếp tục là điểm đến đầu tư hấp dẫn và là nền kinh tế năng động, được nhiều tổ chức quốc tế nhìn nhận, xếp hạng cao.
Năm 2023, nền kinh tế trong nước có những có những thời cơ, thuận lợi và khó khăn, thách thức đan xen nhưng khó khăn, thách thức nhiều hơn.
Những tồn tại, hạn chế, bất cập từ nội tại nền kinh tế về cơ cấu kinh tế, năng lực sản xuất trong nước, các thị trường tài chính, tiền tệ, bất động sản tích tụ từ lâu chưa được xử lý dứt điểm; quy mô nền kinh tế nước ta còn khiêm tốn nhưng độ mở lại lớn, khả năng cạnh tranh và sức chống chịu trước các cú sốc từ bên ngoài còn hạn chế; những yếu tố đột xuất, bất ngờ vẫn tiềm ẩn rủi ro, khó dự báo; dịch bệnh, biến đổi khí hậu, thiên tai, hạn hán, bão lũ tiếp tục diễn biến bất thường, ảnh hưởng nặng nề hơn.
Để thực hiện thắng lợi mục tiêu, nhiệm vụ kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội năm 2023 theo Nghị quyết của Quốc hội, Chính phủ yêu cầu các cấp, các ngành, các địa phương phải quyết tâm, giữ vững tinh thần vượt khó, đoàn kết, tự lực, tự cường, chủ động thích ứng, linh hoạt, hành động quyết liệt, khoa học, hiệu quả, tích cực đổi mới, sáng tạo theo tinh thần chủ đề điều hành “Đoàn kết kỷ cương, bản lĩnh linh hoạt, đổi mới sáng tạo, kịp thời hiệu quả” với 6 quan điểm, trọng tâm chỉ đạo điều hành.
Nghị quyết cũng nêu rõ 11 nhiệm vụ và giải pháp chủ yếu thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội, Dự toán ngân sách nhà nước và cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia năm 2023 gồm: Tiếp tục ưu tiên giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, thúc đẩy tăng trưởng, bảo đảm các cân đối lớn của nền kinh tế; Tiếp tục tập trung phòng, chống, kiểm soát dịch bệnh; Tăng cường xây dựng, hoàn thiện thể chế và nâng cao hiệu lực, hiệu quả tổ chức thi hành pháp luật, bảo đảm kỷ luật, kỷ cương; đẩy mạnh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, lãng phí; Tiếp tục đẩy mạnh cải cách hành chính gắn với xây dựng Chính phủ điện tử, Chính phủ số; cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia; Đẩy mạnh thực hiện thực chất, hiệu quả cơ cấu lại nền kinh tế gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh, tính độc lập, tự chủ, khả năng thích ứng và sức chống chịu của nền kinh tế; Tập trung phát triển, hoàn thiện hệ thống kết cấu hạ tầng chiến lược đồng bộ, nhất là hạ tầng giao thông, hạ tầng ứng phó với biến đổi khí hậu, hạ tầng số. Tập trung bảo vệ môi trường, quản lý, sử dụng hiệu quả đất đai, tài nguyên; Chú trọng phát triển nguồn nhân lực, nhất là nhân lực chất lượng cao gắn với đẩy mạnh nghiên cứu, phát triển và ứng dụng khoa học – công nghệ, thúc đẩy đổi mới sáng tạo, khởi nghiệp; Chú trọng phát triển toàn diện và đồng bộ các lĩnh vực văn hóa, bảo đảm gắn kết hài hòa giữa phát triển kinh tế với văn hóa, xã hội; nâng cao đời sống Nhân dân, bảo đảm an sinh xã hội; Giữ vững độc lập, chủ quyền thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, bảo đảm quốc phòng, an ninh, ổn định chính trị, trật tự, an toàn xã hội; Triển khai đồng bộ, toàn diện, hiệu quả các hoạt động đối ngoại, hội nhập quốc tế, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định cho phát triển đất nước và nâng cao vị thế, uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế; Đẩy mạnh công tác thông tin, truyền thông; nâng cao hiệu quả công tác dân vận, tạo đồng thuận xã hội.
Đáng chú ý, nhóm giải pháp tiếp tục ưu tiên giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, thúc đẩy tăng trưởng, bảo đảm các cân đối lớn của nền kinh tế đã xác định, năm 2023, sẽ chú trọng củng cố, tăng cường nền kinh tế vĩ mô, nâng cao năng lực nội tại và tính tự chủ của nền kinh tế trên cơ sở lành mạnh hóa, tập trung cao độ cho ổn định, phát triển an toàn, bền vững các thị trường tiền tệ, tín dụng, trái phiếu doanh nghiệp, chứng khoán, bất động sản; không để mất an toàn hệ thống; bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của doanh nghiệp, nhà đầu tư, người dân, không để bị kích động, lôi kéo, gây mất an ninh trật tự.
Đồng thời, rà soát, hoàn thiện các quy định pháp luật, tăng cường giám sát, kiểm tra, đẩy mạnh cơ cấu lại, nâng cao hiệu quả hoạt động của các tổ chức tín dụng, định chế tài chính, các thị trường tiền tệ, trái phiếu doanh nghiệp, chứng khoán, bất động sản, bảo đảm phát triển công khai, minh bạch, an toàn, ổn địn, lành mạnh, bền vững./.
Thái Minh
(Nguồn: ThanhtraVietNam)