Đây là một trong những yêu cầu của Bộ Giao thông Vận tải (GTVT) được nêu rõ tại Kết luận nội dung tố cáo đối với ông Trần Hoài An, Chủ tịch Hội đồng Học viện Hàng không Việt Nam (HVHKVN).
Theo Kết luận số 7307/KL-BGTVT, về biện pháp xử lý đối với nội dung tố cáo “ông Trần Hoài An làm sai các Nghị định, Nghị quyết của Chính phủ, các văn bản hướng dẫn của Bộ GTVT (về thu vượt học phí năm học 2021-2022 và năm học 2022-2023); lạm quyền, để HVHKVN lạm thu trong việc áp dụng chính sách học phí đối với sinh viên; không chấp hành, làm trái quy định của pháp luật”, Bộ GTVT yêu cầu Hội đồng HVKH khẩn trương chỉ đạo rà soát các quy chế, quy định, định mức và chính sách thu học phí không đúng quy định để có phương án khắc phục. HVHKVN khẩn trương thực hiện hoàn trả cho người học số tiền học phí thu vượt theo đúng quy định và hướng dẫn của Bộ Giáo dục và Đào tạo.
Liên quan đến nội dung tố cáo “ông Trần Hoài An không trung thực khi ban hành Nghị quyết về Quy chế Tài chính của HVHKVN”, Hội đồng HVHK chỉ đạo rà soát Quy chế Tài chính để điều chỉnh, bổ sung bảo đảm phù hợp với các quy định của pháp luật, đồng thời chỉ đạo quản lý chặt chẽ thu, chi của Học viện và các đơn vị thuộc, trực thuộc HVKHVN, trong đó phải xem xét Khoản 5, Điều 35 Quy chế Tài chính năm 2022.
Hội đồng HVHK nghiên cứu, xây dựng Quy chế làm việc của Hội đồng Học viện HKVN để làm cơ sở thực hiện, tránh những tồn tại, thiếu sót như việc bổ sung thêm khoản 5 vào Điều 35 dự thảo Quy chế mà không xin ý kiến các thành viên Hội đồng HVHKVN trước khi ban hành là chưa thực hiện triệt để nguyên tắc hoạt động của Hội đồng theo quy định. Khoản 5 Điều 35 Quy chế Tài chính có một số nội dung không phù hợp với quy định của Luật Kế toán, là kẽ hở và thiếu thống nhất trong công tác quản lý tài chính, tài sản và hoạt động dịch vụ đối với đơn vị trực thuộc HVHKVN.
Liên quan đến nội dung tố cáo “ông Trần Hoài An lợi dụng chức quyền, thông qua KPIs, kiểm điểm, đánh giá, xếp loại cuối 2022 đe dọa, trù dập viên chức, người lao động”, Hội đồng HVHKVN khẩn trương chỉ đạo, rà soát, sửa đổi, bổ sung hoàn thiện quy định đánh giá KPls phù hợp với tổ chức, hoạt động của Học viện và quy định tại Khoản 1 Điều 23 Nghị định số 90/2020/NÐ-CP. Trường hợp áp dụng, Học viện phải tổ chức phổ biến, tuyên truyền, hướng dẫn để thống nhất thực hiện. Việc đánh giá KPls phải phù hợp, gắn kết, đồng bộ với việc đánh giá, xếp loại hàng năm theo quy định chung. Từng bước nghiên cứu để có phần mềm ứng dụng làm công cụ để đánh giá theo quy chế KPls.
Hội đồng HVHKVN rà soát, khắc phục các tồn tại, hạn chế trong việc đánh giá, xếp loại viên chức lãnh đạo năm 2022: báo cáo, cung cấp đầy đủ thông tin để thành viên HÐHV xem xét đánh giá, xếp loại đối với Phó Giám đốc và Kế toán trướng năm 2022.
Nghiên cứu đánh giá kỹ về phần mềm Base để ứng dụng cho quản lý, hoạt động của Học viện bảo đảm phù hợp với mô hình quản lý, có kết nối với cơ quan liên quan, bảo đảm tính bảo mật và an toàn hệ thống. Trường hợp sử dụng, Học viện cần ban hành Quy chế quản lý, vận hành phần mềm Base để làm cơ sở thực hiện (trong đó có việc lấy ý kiến tham gia trực tuyến…)

Liên quan đến nội dung tố cáo ông Trần Hoài An tự sắp xếp theo ý kiến chủ quan mà không qua Hội đồng đánh giá, để Trung tâm ALI đạt Hoàn thành tốt nhiệm vụ (năm 2022), Bộ GTVT yêu cầu HVHKVN tăng cường công tác quản lý đối với Trung tâm ALI nhằm bảo đảm ổn định, hoạt động hiệu quả, góp phần phát triển chung của HVHKVN. Hội đồng HVHKVN khẩn trương rà soát, điều chỉnh, bổ sung Nghị quyết số 76/NQ-HĐHV theo đúng quy định của pháp luật, trên cơ sở đó chỉ đạo HVHKVN yêu cầu Trung tâm ALI nộp đúng, đủ các chi phí của nộp nêu trên theo đúng quy định.
Đồng thời, Vụ Tài chính tăng cường kiểm tra, hướng dẫn nghiệp vụ liên quan đến công tác tài chính, kế toán, quản lý sử dụng tài sản công của HVHKVN theo trách nhiệm, thẩm quyền được giao. Vụ Tổ chức cán bộ tham mưu Bộ GTVT hướng dẫn, đánh giá, xếp loại viên chức phù hợp với đặc thù của các đơn vị sự nghiệp công lập trong lĩnh vực giáo dục, đào tạo; tham mưu xử lý các kiến nghị của HVHKVN liên quan đến chức năng, nhiệm vụ của Vụ.
Về kiểm điểm, xử lý trách nhiệm, Bộ GTVT yêu cầu Hội đồng HVHKVN, chỉ đạo tổ chức kiểm điểm và xử lý nghiêm các tổ chức, cá nhân thuộc thẩm quyền có liên quan đến những tồn tại, hạn chế nêu trên hoặc kiến nghị cấp có thẩm quyền xử lý có biện pháp, hình thức xử lý nghiêm theo quy định.
“Giám đốc HVHKVN chỉ đạo tổ chức kiểm điểm và xử lý nghiêm các tổ chức, cá nhân (phòng, ban, bộ phận chuyên môn) thuộc thẩm quyền có liên quan đến những tồn tại, hạn chế nêu trên hoặc kiến nghị cấp có thẩm quyền xử lý có biện pháp, hình thức xử lý nghiêm theo quy định”, Bộ GTVT yêu cầu.
Về tổ chức thực hiện, Bộ GTVT yêu cầu Chủ tịch Hội đồng chỉ đạo, Giám đốc HVHKVN thực hiện Báo cáo Đảng ủy HVHKVN để có chỉ đạo nghiêm Kết luận của Bộ GTVT và có kế hoạch cụ thể để tổ chức thực hiện, trong đó phải khẩn trương khắc phục các tồn tại, hạn chế, việc làm không đúng quy định nêu trên; tổ chức kiểm điểm trách nhiệm, xử lý nghiêm các tổ chức, cá nhân theo quy định. Báo cáo kết quả về Bộ GTVT (qua Thanh tra Bộ) trước ngày 30/9/2023 gửi kèm hồ sơ, tài liệu để minh chứng cho việc thực hiện./.
(Nguồn: ThanhtraVietNam)

Theo Sở Tài Chính tỉnh Lâm Đồng, một số văn bản quy phạm pháp luật đơn vị căn cứ để xây dựng Đề án sử dụng tài sản công vào mục đích kinh doanh, cho thuê đến thời điểm tháng 5/2023 đã hết hiệu lực nhưng các đơn vị chưa kịp thời cập nhật để thực hiện việc sửa đổi, bổ sung Đề án cho phù hợp.
Một số đơn vị phê duyệt đề án chi tiết, trong đó, có đưa tài sản công là xe ô tô cứu thương với nguyên giá từ 1 tỷ đồng vào đề án để thực hiện kinh doanh. Việc đưa tài sản là xe ô tô và với nguyên giá từ 1 tỷ đồng vào đề án khi chưa có ý kiến bằng văn bản của UBND tỉnh.
Ngoài ra, Bệnh viện II Lâm Đồng đã sử dụng tài sản công để thực hiện kinh doanh dịch vụ nhà thuốc bán lẻ (diện tích 35 m2), cho thuê mặt bằng cửa hàng tạp hóa (185 m2), mặt bằng trụ ATM (10 m2), mặt bằng trụ quảng cáo sữa (5 m2) khi chưa được UBND tỉnh phê duyệt.
Trung tâm Y tế Đạ Huoai đã xây dựng và trình phê duyệt Đề án sử dụng tài sản công vào mục đích cho thuê, kinh doanh. Trong thời gian chờ UBND tỉnh xem xét phê duyệt, do phát sinh nhu cầu của bệnh nhân đến khám, chữa bệnh, đơn vị đã ký hợp đồng cho thuê 50 m2 căn tin và 50 m2 bãi giữ xe. Bệnh viện Đa khoa Lâm Đồng sử dụng diện tích đất 40,32 m2 để cho thuê đặt 03 trụ ATM khi chưa được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt.
Một số đơn vị xây dựng đề án chi tiết sử dụng tài sản công thực hiện hoạt động chuyên môn kết hợp khám, chữa bệnh theo yêu cầu (kinh doanh), trong đó ghi rõ phương án thực hiện trong thời gian ngoài giờ hành chính. Tuy nhiên, trên thực tế các đơn vị thực hiện toàn bộ hoạt động kinh doanh trong giờ hành chính. Việc thực hiện theo thời gian như trên chưa phù hợp với đề án đã xây dựng.
Đối với một số máy móc, thiết bị được UBND tỉnh phê duyệt và Thủ trưởng đơn vị đưa vào Đề án để sử dụng cho hoạt động chuyên môn kết hợp khám chữa bệnh theo yêu cầu đã bị hư hỏng, không còn khả năng sử dụng hoặc đã thanh lý nhưng đơn vị chưa rà soát để sửa chữa hoặc trình UBND tỉnh đưa ra khỏi Danh mục tài sản sử dụng cho hoạt động chuyên môn kết hợp khám chữa bệnh theo yêu cầu.
Đối với việc cho thuê tài sản công (sân bãi, nhà), theo kết quả Thanh tra của Sở Công thương tỉnh Lâm Đồng hiện có 02 đơn vị tổ chức đấu thầu để lựa chọn và ký kết hợp đồng cho thuê tài sản công;có 03 đơn vị không thuê tổ chức đấu giá tài sản để thực hiện việc đấu giá mà tự tổ chức đấu giá tại đơn vị theo hình thức thành lập Hội đồng đấu giá tài sản gồm các thành viên là cán bộ, viên chức của đơn vị. Việc tự đứng ra tổ chức đấu giá cho thuê không phù hợp với quy định tại Điều 46 Nghị định số 151/2017/NĐ-CP và quy định của Luật Đấu giá tài sản. Việc các đơn vị ký hợp đồng cho thuê tài sản công là sân bãi, nhà không thông qua hình thức đấu giá là không đúng theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 57 Luật Quản lý, sử dụng tài sản công.
Ngoài ra, một số đơn vị xây dựng đề án sử dụng tài sản công vào mục đích kinh doanh, cho thuê trong đó có sử dụng phần diện tích sân bãi, nhà, công trình, quầy thuốc để kinh doanh, cho thuê nhưng thực tế không triển khai cho thuê, kinh doanh. Nguyên nhân do số lượng bệnh nhân còn ít, các bệnh nhân không có nhu cầu sử dụng dịch vụ, không có cá nhân, tổ chức đấu giá để thuê, do đơn vị không đủ nhân lực, không có bệnh nhân đăng ký. Do đó, chưa đảm bảo tính hiệu quả trong việc thực hiện đề án, chưa tận dụng tài sản công còn nhàn rỗi để khai thác hết công suất cho mục đích kinh doanh, cho thuê nhằm tăng hiệu quả, hiệu suất sử dụng tài sản công.
Kiểm điểm, rút kinh nghiệm các tập thể, cá nhân liên quan đến việc cho thuê vượt danh mục, sai mục đích
Trên cơ sở kết quả kiểm tra thanh tra nêu trên, Thanh tra Sở Tài chính đã kiến nghị Sở Y tế thực hiện các nhiệm vụ, giải pháp khắc phục các hạn chế qua thanh tra và chỉ đạo các đơn vị trực thuộc Sở Y tế tiếp tục tổ chức thực hiện các đề án sử dụng tài sản công vào mục đích kinh doanh, cho thuê đã được Chủ tịch UBND tỉnh phê duyệt theo đúng quy định của Luật Quản lý, sử dụng tài sản công năm 2017; Nghị định số 151/2017/NĐ-CP và Thông tư số 144/2017/TT-BTC ngày 29/12/2017 của Bộ Tài chính hướng dẫn một số nội dung của Nghị định số 151/2017/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều của Luật Quản lý, sử dụng tài sản công.
Giám đốc các đơn vị: Bệnh viện Đa khoa Lâm Đồng, Bệnh viện II Lâm Đồng, Trung tâm Y tế Đạ Huoai tổ chức kiểm điểm, rút kinh nghiệm đối với các tập thể, cá nhân có liên quan đến việc sử dụng tài sản công vào mục đích cho thuê vượt danh mục, sai mục đích tại các quyết định phê duyệt đề án của UBND tỉnh.
Trong khi đó, Giám đốc các đơn vị: Trung tâm Y tế Đơn Dương, Trung tâm Y tế Cát Tiên, Bệnh viện Phục hồi chức năng, Trung tâm Y tế Đạ Tẻh, Bệnh viện YHCT Bảo Lộc tổ chức rút kinh nghiệm trong việc không thực hiện, thực hiện không đúng quy định về tổ chức đấu giá cho thuê tài sản theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 46 Nghị định số 151/2017/NĐ-CP; đồng thời, chỉ đạo các đơn vị phải thực hiện việc cho thuê tài sản thông qua hình thức đấu giá theo đúng quy định, đảm bảo công khai, minh bạch, hiệu quả; báo cáo kết quả thực hiện về Sở Y tế.
Thực hiện việc nộp tiền thuê đất theo hướng dẫn của cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo quy định tại khoản 2 và điểm a khoản 3 Điều 25 Văn bản hợp nhất số 05/VBHN-BTC ngày 15/3/2018 của Bộ Tài chính.
Bệnh viện Đa khoa Lâm Đồng, Bệnh viện II Lâm Đồng nộp toàn bộ số tiền thu được từ 01/01/2023 đến tháng 6/2023 do sử dụng tài sản công không đúng quy định vào ngân sách nhà nước, số tiền 42.000.000 đồng và tiếp tục nộp ngân sách các khoản thu theo hợp đồng cho đến khi Đề án được UBND tỉnh phê duyệt điều chỉnh, bổ sung.
Sau khi có Báo cáo của Sở Tài chính về kết quả kiểm tra, thanh tra công tác sử dụng tải sản công vào mục đích kinh doanh, cho thuê, liên doanh, liên kết của các sở, ngành, địa phương, đơn vị trên địa bàn tỉnh, UBND tỉnh Lâm Đồng đã có văn bản số 7231/UBND- TH2 thống nhất báo cáo, đề xuất của Sở Tài chính về việc báo cáo kết quả kiểm tra, thanh tra công tác sử dụng tài sản công vào mục đích kinh doanh, cho thuê, liên doanh, liên kế của các sở, ngành, địa phương, đơn vị trên địa bàn tỉnh.
UBND tỉnh yêu cầu Sở Tài nguyên và Môi trường, Cục Thuế tỉnh nghiên cứu kiến nghị, đề xuất của Sở Tài chính để hướng dẫn các đơn vị sự nghiệp công lập trên địa bàn tỉnh có sử dụng tài sản công vào mục đích kinh doanh, cho thuê, liên doanh, liên kết nộp tiền thuê đất theo quy định của pháp luật; báo cáo UBND tỉnh kết quả thực hiện trước ngày 15/9/2023. Đồng thời, Sở Tài chính tiếp tục kiểm tra, hướng dẫn các cơ quan, đơn vị liên quan trên địa bàn tỉnh thực hiện đầy đủ quy trình, hổ sơ, thủ tục theo quy định của pháp luật trong việc sử dụng tài sản công vào mục đích kinh doanh, cho thuê, liên doanh, liên kết.
Ngày 14 tháng 11 năm 2022, tại kỳ họp thứ 4, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá XV đã thông qua Luật Thanh tra năm 2022 số 11/2022/QH15 thay thế Luật Thanh tra năm 2010. Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã ký Lệnh công bố, Luật có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2023.
Theo đó, Luật Thanh tra năm 2022 quy định:
Thanh tra là hoạt động xem xét, đánh giá, xử lý theo trình tự, thủ tục do pháp luật quy định của cơ quan thực hiện chức năng thanh tra đối với việc thực hiện chính sách, pháp luật, nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan, tổ chức, cá nhân. Hoạt động thanh tra bao gồm thanh tra hành chính và thanh tra chuyên ngành.
Thanh tra hành chính là thanh tra việc thực hiện chính sách, pháp luật, nhiệm vụ, quyền hạn được giao của cơ quan, tổ chức, cá nhân thuộc quyền quản lý của cơ quan quản lý nhà nước.
Thanh tra chuyên ngành là thanh tra việc chấp hành pháp luật chuyên ngành, quy định về chuyên môn – kỹ thuật, quy tắc quản lý của cơ quan, tổ chức, cá nhân thuộc phạm vi quản lý theo ngành, lĩnh vực.
Vậy hiểu thế nào là hoạt động thanh tra?
Trước hết, có nhiều cách hiểu khác nhau về hoạt động, tùy theo góc độ xem xét:
Dưới góc độ triết học, hoạt động là quan hệ biện chứng của chủ thể và khách thể. Trong quan hệ đó, chủ thể là con người, khách thể là hiện thực khách quan. Ở góc độ này, hoạt động được xem là quá trình mà trong đó có sự chuyển hoá lẫn nhau giữa hai cực “chủ thể – khách thể”.
Dưới góc độ sinh học, hoạt động là sự tiêu hao năng lượng thần kinh và bắp thịt cùa con người khi tác động vào hiện thực khách quan nhằm thoả mãn nhu cầu vật chất và tinh thần của con người.
Dưới góc độ tâm lí học, xuất phát từ quan điểm cho rằng cuộc sống của con người là chuỗi những hoạt động, giao tiếp kế tiếp nhau, đan xen vào nhau, hoạt động được hiểu là phương thức tồn tại của con người trong thế giới…
Như vậy, có thể hiểu hoạt động thanh tra là mối quan hệ tác động qua lại giữa cơ quan thực hiện chức năng thanh tra mà đại diện là Đoàn thanh tra và đối tượng thanh tra nhằm phát hiện hạn chế, bất cập trong cơ chế quản lý, chính sách, pháp luật để kiến nghị với cơ quan nhà nước có thẩm quyền có giải pháp, biện pháp khắc phục; phòng ngừa, phát hiện và xử lý hành vi vi phạm pháp luật; giúp cơ quan, tổ chức, cá nhân thực hiện đúng quy định của pháp luật; phát huy nhân tố tích cực; góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động quản lý nhà nước; bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân.
Do đó, hoạt động thanh tra cho phép cơ quan thực hiện chức năng thanh tra đánh giá việc thực hiện chính sách, pháp luật, nhiệm vụ, quyền hạn được giao của cơ quan, tổ chức, cá nhân thuộc quyền quản lý của cơ quan quản lý nhà nước hoặc đánh giá việc chấp hành pháp luật chuyên ngành, quy định về chuyên môn – kỹ thuật, quy tắc quản lý của cơ quan, tổ chức, cá nhân thuộc phạm vi quản lý theo ngành, lĩnh vực. Tuy nhiên, hoạt động thanh tra cũng có thể gây ra những cản trở, bất lợi cho đối tượng thanh tra. Vì vậy, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của đối tượng thanh tra đã được đặt ra trong Luật Thanh tra.
Cần thiết phải bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đối tượng thanh tra
Khoản 9 Điều 2 Luật Thanh tra năm 2022 có quy định: “Đối tượng thanh tra là cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự thanh tra được xác định trong quyết định thanh tra”. Như vậy, đối tượng thanh tra là cơ quan, tổ chức, cá nhân bị xem xét, đánh giá, xử lý trong một hoạt động thanh tra cụ thể. Pháp luật hiện hành quy định hai loại hoạt động thanh tra là thanh tra hành chính và thanh tra chuyên ngành; đối tượng thanh tra hành chính và đối tượng thanh tra chuyên ngành cũng khác nhau. Nếu như đối tượng thanh tra hành chính là các cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân trong bộ máy hành chính nhà nước, có mối quan hệ tổ chức với cơ quan quản lý nhà nước, thì đối tượng của thanh tra chuyên ngành có thể là bất kỳ cá nhân, tổ chức nào, bao gồm cả các cơ quan nhà nước, các tổ chức, đơn vị, người có thẩm quyền trong bộ máy nhà nước có hoạt động thuộc quyền quản lý ngành, lĩnh vực chuyên môn của cơ quan quản lý chuyên ngành.
Bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đối tượng thanh tra đã được quy định trong Luật Thanh tra năm 2022:
Hoạt động thanh tra là hoạt động sử dụng quyền lực nhà nước nên có nguy cơ bị lợi dụng. Trong hoạt động thanh tra, cơ quan thực hiện chức năng thanh tra tiến hành thanh tra, người tiến hành thanh tra (Người ra quyết định thanh tra, Trưởng đoàn thanh tra và thành viên khác của Đoàn thanh tra) là bên sử dụng quyền lực nhà nước, ở “thế mạnh, bậc trên”, được ra các mệnh lệnh, các quyết định mà đối tượng thanh tra, ở “thế yếu, bậc dưới”, buộc phải chấp hành. Vì thế, nếu các mệnh lệnh, quyết định được ban hành một cách tùy tiện sẽ “đẩy” đối tượng thanh tra vào thế bất lợi, thậm chí đường cùng. Mặt khác, người tiến hành thanh tra có thể lợi dụng việc sử dụng quyền lực nhà nước làm lợi cho cá nhân, tạo ra sự không công bằng giữa cá nhân, tổ chức này với cá nhân, tổ chức khác hoặc vì lợi ích của mình mà xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của đối tượng thanh tra.
Hoạt động thanh tra có thể gây cản trở, bất lợi cho việc thực hiện quyền, nghĩa vụ của đối tượng thanh tra. Khi tiến hành cuộc thanh tra chắc chắn sẽ tác động đến hoạt động bình thường của đối tượng thanh tra, buộc đối tượng thanh tra phải thực hiện thêm những nghĩa vụ hoặc bị hạn chế thực hiện quyền khác so với bình thường. Nếu hoạt động thanh tra không thực hiện theo đúng nguyên tắc hoạt động thanh tra sẽ làm cản trở hoạt động bình thường của đối tượng thanh tra.
Hoạt động thanh tra có nguy cơ xâm phạm, ảnh hưởng đến quyền và lợi ích của đối tượng thanh tra. Nếu hoạt động thanh tra không thực hiện tuân theo pháp luật, dân chủ, công khai, khách quan, kịp thời, chính xác thì kết luận thanh tra, quyết định xử lý sau thanh tra hoặc quyết định xử phạt vi phạm hành chính, quyết định kỷ luật…(là những văn bản được ban hành trên cơ sở kết luận thanh tra) sẽ xâm phạm, ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của đối tượng thanh tra, làm ảnh hưởng đến danh dự, uy tín của đối tượng thanh tra; gây thiệt hại cho đối tượng thanh tra…
Thực tế trong thời gian qua, đã có không ít tình trạng hoạt động thanh tra gây ảnh hưởng tiêu cực đến đối tượng thanh tra, như: Đoàn thanh tra tỉnh Lai Châu đầu năm 2022 tiến hành thanh tra đột xuất công tác trồng rừng trên địa bàn tỉnh giai đoạn 2015 đến 2021; Đoàn thanh tra của Bộ Xây dựng về thanh tra tại huyện Vĩnh Tường tỉnh Vĩnh Phúc hồi tháng 3 năm 2019…trong Chỉ thị số 20/2017/CT-TTg ngày 17/5/2017 của Thủ tường Chính phủ về việc chấn chỉnh thanh tra, kiểm tra đối với doanh nghiệp đã nêu rõ: “…hoạt động thanh tra nói chung và hoạt động thanh tra, kiểm tra chuyên ngành nói riêng vẫn tồn tại những hạn chế, còn những vụ việc gây phiền hà, sách nhiễu doanh nghiệp…”.
Chính vì vậy, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đối tượng thanh tra là một biểu hiện cụ thể của thượng tôn pháp luật trong hoạt động thanh tra, là việc tôn trọng, bảo vệ các quyền con người, quyền công dân, một trong những đặc trưng của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Luật Thanh tra năm 2022 quy định về bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đối tượng thanh tra
Luật Thanh tra năm 2022 không quy định cụ thể nguyên tắc và nội dung về bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của đối tượng thanh tra, nhưng nhiều quy định đã được thể hiện, đó là:
Một là, quyền và lợi ích hợp pháp của đối tượng thanh tra được bảo vệ thông qua quy định về quyền và nghĩa vụ của đối tượng thanh tra.
Luật Thanh tra 2022 quy định rõ quyền (tại Điều 92) và nghĩa vụ (tại Điều 93) của đối tượng thanh tra, đối tượng thanh tra có quyền: Giải trình về vấn đề có liên quan đến nội dung thanh tra; khiếu nại quyết định, hành vi của người có thẩm quyền trong hoạt động thanh tra; yêu cầu bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật…Đây là những quyền gắn trực tiếp với hoạt động thanh tra. Quyền giải trình giúp đối tượng thanh tra có thể làm rõ, làm sáng tỏ việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn, chấp hành pháp luật của mình. Thông qua quyền giải trình, đối tượng thanh tra cũng có thể phản bác lại những nhận định, đánh giá, kết luật thanh tra bất lợi. Quyền khiếu nại là “quyền bảo vệ quyền” vì hướng tới yêu cầu được khôi phục lại quyền và lợi ích hợp pháp đã bị xâm phạm do các quyết định, hành vi của người tiến hành thanh tra. Nếu nhận thấy trong quá trình thanh tra, người tiến hành thanh tra đã có quyết định hoặc hành vi vi phạm pháp luật, xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của mình, thì đối tượng thanh tra có quyền khiếu nại theo quy định của pháp luật về khiếu nại. Còn quyền yêu cầu bồi thường cho phép đối tượng thanh tra có thể được bồi thường khi hoạt động thanh tra gây ra thiệt hại về tài sản, sức khỏe, tính mạng, danh dự, uy tín…không những thế Luật Thanh tra năm 2022 còn quy định: “Cá nhân là đối tượng thanh tra có quyền tố cáo về hành vi vi phạm pháp luật của người tiến hành thanh tra theo quy định của pháp luật về tố cáo”. Thực hiện quyền tố cáo của đối tượng thanh tra, trước hết hướng tới bảo vệ trật tự pháp luật, bảo vệ lợi ích của Nhà nước. Tuy nhiên, có những hành vi bị tố cáo xâm phạm trực tiếp quyền, lợi ích của đối tượng thanh tra; đối tượng thanh tra thực hiện quyền tố cáo để kịp thời thông báo đến cơ quan, người có thẩm quyền giải quyết tố cáo và thông qua việc giải quyết tố cáo để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của chính mình.
Hai là, tại Điều 4 Luật Thanh tra năm 2022 quy định nguyên tắc hoạt động thanh tra: “Tuân theo pháp luật, dân chủ, công khai, khách quan, kịp thời, chính xác; Không làm cản trở hoạt động bình thường của đối tượng thanh tra và cơ quan, tổ chức, cá nhân khác; Không trùng lặp về phạm vi, thời gian giữa các cơ quan thanh tra, giữa cơ quan thanh tra với cơ quan kiểm toán nhà nước; không trùng lặp trong việc thực hiện quyền khi tiến hành thanh tra”.
Các nguyên tắc nhằm bảo đảm cho hoạt động thanh tra khi xem xét, đánh giá đối tượng thanh tra phải tuân theo pháp luật, dân chủ, công khai, khách quan, kịp thời, chính xác qua đó bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đối tượng thanh tra. Trong đó hai nguyên tắc: không cản trở hoạt động bình thường của đối tượng thanh tra và không trùng lặp phạm vi, thời gian giữa các cơ quan thanh tra, giữa cơ quan thanh tra với cơ quan kiểm toán nhà nước; không trùng lặp trong việc thực hiện quyền khi tiến hành thanh tra đã thể hiện rõ mục đích bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của đối tượng thanh tra. Đó chính là bảo vệ quyền, lợi ích của đối tượng thanh tra tránh khỏi sự phiền hà, vừa hạn chế sự lãng phí công sức, thời gian, kinh phí của Nhà nước bởi các cuộc thanh tra trùng lặp, không cần thiết. Khi hoạt động thanh tra “xen vào”, sẽ làm ảnh hưởng, nhưng không được cản trở hoạt động bình thường của đối tượng thanh tra hay nói cách khác nó chính là nguyên tắc giới hạn sự tác động của thanh tra, nguyên tắc thực hiện quyền trong hoạt động thanh tra và thể hiện sự cam kết trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đối tượng thanh tra.
Ba là, Điều 8 Luật Thanh tra năm 2022 quy định về các hành vi bị nghiêm cấm trong hoạt động thanh tra, đây cũng chính là bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đối tượng thanh tra. Cụ thể là khoản 1 cấm: “Lợi dụng chức vụ, quyền hạn thanh tra để thực hiện hành vi trái pháp luật, sách nhiễu, gây khó khăn, phiền hà cho đối tượng thanh tra và cơ quan, tổ chức, cá nhân khác; lạm quyền trong quá trình tiến hành thanh tra”. Đây là quy định cấm đối với người tiến hành thanh tra. Khi thực hiện thanh tra là người thay mặt nhà nước để xem xét, đánh giá, xử lý đối tượng thanh tra. Nếu người tiến hành thanh tra “Thanh tra không đúng thẩm quyền, không đúng với nội dung quyết định thanh tra, kế hoạch tiến hành thanh tra đã được phê duyệt” tức là lợi dụng việc sử dụng quyền lực nhà nước, có những hành vi, sự áp đặt trái pháp luật sẽ gây ra những khó khăn, phiền hà, ảnh hưởng tiêu cực đến đối tượng thanh tra. Không những thế khoản 5 Điều 8 Luật Thanh tra năm 2022 còn quy định cấm “Tiết lộ thông tin, tài liệu liên quan đến cuộc thanh tra khi kết luận thanh tra chưa được công khai”. Điều cấm này bảo đảm cho hoạt động thanh tra diễn ra thuận lợi, khách quan nhưng cũng có thể hạn chế những tác động tiêu cực với đối tượng thanh tra khi những thông tin chưa chính thức gây ra những ảnh hưởng tiêu cực, ảnh hưởng đến uy tín, danh dự đến hoạt động bình thường của đối tượng thanh tra.
Bốn là, các quy định về công khai, minh bạch bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đối tượng thanh tra.
Luật Thanh tra năm 2022 quy định nhiều nội dung về công khai, minh bạch. Trước hết là công khai, minh bạch về Định hướng Chương trình thanh tra và Kế hoạch thanh tra hàng năm. Cụ thể, Tổng Thanh tra Chính phủ xây dựng Định hướng Chương trình thanh tra để Thủ tướng Chính phủ phê duyệt làm căn cứ cho Thanh tra Chính phủ, Thanh tra Bộ, Thanh tra tỉnh xây dựng Kế hoạch thanh tra hàng năm. Kế hoạch thanh tra được gửi cho đối tượng thanh tra, cơ quan kiểm toán nhà nước và cơ quan, tổ chức có liên quan và là một trong những căn cứ để ban hành quyết định thanh tra…Mặt khác, Luật Thanh tra năm 2022 còn quy định: “Đối với cuộc thanh tra theo kế hoạch, quyết định thanh tra phải được gửi đến đối tượng thanh tra và công bố chậm nhất là 15 ngày trước ngày tiến hành thanh tra trực tiếp; Đối với cuộc thanh tra đột xuất, quyết định thanh tra phải được gửi đến đối tượng thanh tra và công bố trước khi tiến hành thanh tra trực tiếp, trừ trường hợp đối với hoạt động thanh tra chuyên ngành, trường hợp phát hiện hành vi vi phạm cần phải tiến hành thanh tra ngay thì việc công bố quyết định thanh tra có thể được thực hiện sau khi lập biên bản về hành vi vi phạm của đối tượng thanh tra; trường hợp đối tượng thanh tra cố tình vắng mặt thì Trưởng đoàn thanh tra lập biên bản có xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã và tiếp tục thực hiện thanh tra theo kế hoạch”. Luật Thanh tra năm 2022 cũng quy định trước khi bắt đầu thanh tra trực tiếp, quyết định thanh tra phải được công bố công khai và phải được lập thành biên bản (đối với hoạt động thanh tra chuyên ngành, trường hợp phát hiện hành vi vi phạm cần phải tiến hành thanh tra ngay thì việc công bố quyết định thanh tra có thể được thực hiện sau khi lập biên bản về hành vi vi phạm của đối tượng thanh tra; trường hợp đối tượng thanh tra cố tình vắng mặt thì Trưởng đoàn thanh tra lập biên bản có xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã và tiếp tục thực hiện thanh tra theo kế hoạch) và sau khi kết thúc thanh tra, kết luận thanh tra phải được công khai với các hình thức khác nhau.
Với các quy định về công khai, minh bạch trong hoạt động thanh tra giúp đối tượng thanh tra chủ động tham gia vào hoạt động thanh tra, vừa bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho đối tượng thanh tra qua việc khẳng định rõ ràng việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn, chính sách, pháp luật của đối tượng thanh tra; kể cả trong trường hợp đối tượng thanh tra có vi phạm, có hạn chế, thiếu sót thì kết luận thanh tra cũng chỉ rõ tính chất, mức độ.
Năm là, việc áp dụng các biện pháp “tạm thời” trong hoạt động thanh tra.
Trong hoạt động thanh tra, người tiến hành thanh tra có thể quyết định áp dụng hoặc đề nghị người có thẩm quyền quyết định áp dụng các biện pháp như tạm giữ đồ vật, giấy phép, chứng chỉ hành nghề, đình chỉ hành vi vi phạm, phong tỏa tài khoản… Áp dụng các biện pháp này ngoài việc tạo thuận lợi cho hoạt động thanh tra, còn có mục đích ngăn chặn ngay hành vi che dấu, cản trở hoạt động thanh tra. Tuy nhiên, khi áp dụng các biện pháp này có thể tác động bất lợi, ảnh hưởng đến đối tượng thanh tra, làm cản trở hoạt động, hạn chế quyền và lợi ích hợp pháp của đối tượng thanh tra. Vì thế, Luật Thanh tra năm 2022 quy định việc áp dụng các biện pháp này chỉ khi thấy cần thiết, đồng thời khi xét thấy không cần thiết áp dụng biện pháp này thì quyết định hoặc kiến nghị hủy bỏ ngay việc áp dụng biện pháp đó. Quy định việc áp dụng hay hủy bỏ các biện pháp “tạm thời” xuất phát từ sự cân nhắc giữa kết quả đạt được của hoạt động thanh tra với quyền và lợi ích chính đáng của đối tượng thanh tra. Việc hủy bỏ ngay việc áp dụng các biện pháp “tạm thời” góp phần giảm thiểu những thiệt hại (nếu có) cho đối tượng thanh tra, duy trì hoạt động bình thường của đối tượng thanh tra.
Bên cạnh những quy định bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đối tượng thanh tra thì Luật Thanh tra năm 2022 vẫn còn một số nội dung chưa làm rõ có thể gây bất lợi, xâm phạm quyền, lợi ích của đối tượng thanh tra, như: khoản 3 Điều 59:
“3. Đối với cuộc thanh tra theo kế hoạch, quyết định thanh tra phải được gửi đến đối tượng thanh tra và công bố chậm nhất là 15 ngày trước ngày tiến hành thanh tra trực tiếp”…
Kiến nghị
Mặc dù Luật Thanh tra năm 2022 đã có những sửa đổi, bổ sung nhằm bảo vệ trực tiếp quyền và lợi ích hợp pháp của đối tượng thanh tra, nhưng vẫn còn một số nội dung chưa làm rõ có thể gây bất lợi, xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của đối tượng thanh tra, vì thế cần có hướng dẫn thêm, như:
Một là, khoản 3 Điều 59 Luật Thanh tra năm 2022 quy định:
“3. Đối với cuộc thanh tra theo kế hoạch, quyết định thanh tra phải được gửi đến đối tượng thanh tra và công bố chậm nhất là 15 ngày trước ngày tiến hành thanh tra trực tiếp”.
Quy định như trên có rất nhiều cách hiểu khác nhau sẽ dẫn đến hoạt động thanh tra thực hiện khác nhau và sẽ ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của đối tượng thanh tra, do vậy cần có hướng dẫn cụ thể thêm.
Hai là, bí mật riêng tư, bí mật kinh doanh của cá nhân, tổ chức là đối tượng thanh tra.
Bảo vệ bí mật riêng tư là quyền được quy định tại Điều 21 Hiến pháp năm 2013: “Mọi người có quyền bất khả xâm phạm về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân và bí mật gia đình;…Thông tin về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình được pháp luật bảo đảm an toàn”. Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 (sửa đổi, bổ sung năm 2009, 2019 và 2022) đã có quy định về bí mật kinh doanh và bảo vệ bí mật kinh doanh. Nhưng trong hoạt động thanh tra, tại khoản 5 Điều 8 Luật Thanh tra năm 2022 chỉ cấm “Tiết lộ thông tin, tài liệu liên quan đến cuộc thanh tra khi kết luận thanh tra chưa được công khai” và theo Quyết định số 774/2020/QĐ-TTg ngày 5/6/2020 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Danh mục bí mật nhà nước thuộc lĩnh vực thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và phòng, chống tham nhũng thì chỉ có: “Kế hoạch tiến hành thanh tra đột xuất trước khi công bố với đối tượng thanh tra theo quy định của Luật Thanh tra; Báo cáo kết quả thanh tra của thành viên Đoàn thanh tra, của Đoàn thanh tra; Nội dung Kết luận thanh tra chưa công khai” được bảo vệ theo chế độ bí mật nhà nước độ mật…chưa có quy định trực tiếp bảo vệ bí mật riêng tư, bí mật kinh doanh của đối tượng thanh tra. Các bí mật này được mỗi cá nhân, tổ chức có trách nhiệm tự mình bảo vệ và được thực hiện biện pháp thích hợp chống lại các hành vi xâm phạm theo quy định của pháp luật. Khi tiến hành thanh tra, các bí mật này đã được cung cấp theo yêu cầu của hoạt động thanh tra thì trách nhiệm bảo vệ được xác định thế nào? Cần có hướng dẫn cụ thể thêm.
Ba là, khiếu nại, giải quyết khiếu nại trong hoạt động thanh tra.
Điều 94 Luật Thanh tra năm 2022 có quy định quyền của đối tượng thanh tra được “khiếu nại quyết định hành chính, hành vi hành chính của người tiến hành thanh tra và quyết định xử lý về thanh tra theo quy định của pháp luật về khiếu nại khi có căn cứ cho rằng quyết định hoặc hành vi đó là trái pháp luật, xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của mình; kiến nghị về nội dung trong kết luận thanh tra khi cho rằng nội dung đó chưa chính xác”. Điều 95 của Luật Thanh tra năm 2022 có quy định về thẩm quyền, trình tự, thủ tục giải quyết khiếu nại về hoạt động thanh tra.
Tuy nhiên, quy định chung về khiếu nại và giải quyết khiếu nại cần phải có hướng dẫn rõ hơn vì “hoạt động thanh tra có những đặc thù mang tính nghiệp vụ và cơ chế hoạt động độc lập tương đối với hoạt động của cơ quan hành chính nhà nước” và như vậy có thể tác động bất lợi đến quyền và lợi ích hợp pháp của đối tượng thanh tra. Ví dụ: Nếu đối tượng thanh tra khiếu nại về việc áp dụng các biện pháp “tạm thời” mà người có thẩm quyền không hoặc chưa xem xét và giải quyết ngay sẽ ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động bình thường của đối tượng thanh tra, hay trong trường hợp đối tượng thanh tra có khiếu nại về các quyết định, hành vi của người tiến hành thanh tra mà chưa được xem xét, giải quyết nhưng kết luận thanh tra đã ban hành sẽ không bảo đảm được tính khách quan, chính xác của kết luận thanh tra…./.
(Nguồn: ThanhtraVietNam)
Ngày 16/8, tại Hà Nội, Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực (Ban Chỉ đạo) đã họp Phiên thứ 24 để thảo luận, cho ý kiến về kết quả hoạt động của Ban Chỉ đạo 6 tháng đầu năm 2023 và nhìn lại công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực từ đầu nhiệm kỳ Đại hội XIII của Đảng đến nay; xác định nhiệm vụ trọng tâm công tác những tháng cuối năm và thời gian tới. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, Trưởng Ban Chỉ đạo chủ trì phiên họp.

Từ đầu nhiệm kỳ đến nay, thi hành kỷ luật 91 cán bộ diện Trung ương quản lý
Nhiều chủ trương, giải pháp, quy định quan trọng về xây dựng Đảng, hệ thống chính trị và phòng, chống tham nhũng, tiêu cực được chỉ đạo sơ kết, tổng kết, rà soát, sửa đổi, bổ sung, ban hành và triển khai thực hiện quyết liệt, tạo hiệu quả rõ rệt trong công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực.
Từ đầu nhiệm kỳ Đại hội XIII đến nay, Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Ban Chỉ đạo đã tổ chức 3 Hội nghị toàn quốc về công tác nội chính, phòng, chống tham nhũng, tiêu cực; ban hành trên 100 văn bản để tăng cường công tác xây dựng Đảng, hệ thống chính trị và phòng, chống tham nhũng, tiêu cực (tăng hai lần so với nửa đầu nhiệm kỳ Đại hội XII của Đảng). Quốc hội đã thông qua 24 luật, pháp lệnh và ban hành nhiều nghị quyết quan trọng. Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ban hành 335 nghị định, 86 quyết định. Các bộ, ngành ban hành gần 1.800 thông tư, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý Nhà nước trên các lĩnh vực, từng bước hoàn thiện cơ chế phòng ngừa chặt chẽ để “không thể” tham nhũng, tiêu cực.
Trong 6 tháng đầu năm 2023, cấp ủy, Ủy ban Kiểm tra các cấp đã thi hành kỷ luật 218 đảng viên do tham nhũng, 10 đảng viên vi phạm về kê khai tài sản, thu nhập. Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Ủy ban Kiểm tra Trung ương đã thi hành kỷ luật 13 cán bộ diện Trung ương quản lý. Qua thanh tra, kiểm toán đã kiến nghị thu hồi, xử lý tài chính gần 165.000 tỷ đồng (tăng hơn 10 lần so với cùng kỳ năm 2022); kiến nghị xử lý trách nhiệm 784 tập thể, 2.912 cá nhân. Qua hoạt động kiểm tra, giám sát, thanh tra, kiểm toán, thi hành án đã chuyển hơn 320 vụ việc có dấu hiệu tội phạm sang cơ quan điều tra để điều tra, xử lý theo quy định của pháp luật.
Từ đầu nhiệm kỳ Đại hội XIII đến nay, đã thi hành kỷ luật 91 cán bộ diện Trung ương quản lý. Ngành thanh tra, kiểm toán đã kiến nghị thu hồi, xử lý tài chính hơn 340.000 tỷ đồng (tăng hơn hai lần so với nửa đầu nhiệm kỳ Đại hội XII), hơn 1.700 ha đất; kiến nghị xử lý trách nhiệm đối với hơn 6.600 tập thể và gần 18.000 cá nhân. Các cơ quan chức năng đã chuyển gần 1.200 vụ việc có dấu hiệu tội phạm sang cơ quan điều tra để xem xét, xử lý theo quy định của pháp luật (tăng gần hai lần so với cả nhiệm kỳ Đại hội XII).
Điểm mới trong nhiệm kỳ này là, thực hiện chủ trương của Trung ương, cấp ủy, tổ chức đảng, cơ quan chức năng đã kiên quyết làm rõ trách nhiệm chính trị của người đứng đầu, cán bộ lãnh đạo, quản lý để xảy ra tham nhũng, tiêu cực nghiêm trọng trong lĩnh vực được giao quản lý, phụ trách. Trên cơ sở đó, khuyến khích cán bộ từ chức, xin thôi chức vụ, kịp thời miễn nhiệm, thay thế những cán bộ bị kỷ luật, năng lực hạn chế, uy tín giảm sút. Đến nay, Trung ương đã xem xét cho thôi giữ chức vụ, nghỉ công tác, bố trí công tác khác đối với 15 cán bộ diện Trung ương quản lý. Các địa phương đã cho từ chức, miễn nhiệm, nghỉ công tác, bố trí công tác khác gần 150 trường hợp sau khi bị kỷ luật, trong đó có 4 cán bộ diện Trung ương quản lý, 65 cán bộ thuộc diện Ban Thường vụ tỉnh ủy, thành ủy quản lý.
Công tác thu hồi tài sản tham nhũng, tiêu cực; giám định, định giá tài sản; phát hiện, chuyển giao, tiếp nhận, xử lý nguồn tin về tội phạm tham nhũng, tiêu cực và những khâu yếu trước đây được tập trung chỉ đạo, tạo bước chuyển biến tích cực.
Công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trong các cơ quan chức năng phòng, chống tham nhũng, tiêu cực và ở địa phương, cơ sở được chỉ đạo đẩy mạnh, bước đầu khắc phục tình trạng “trên nóng, dưới lạnh”.
Khắc phục ngay tình trạng né tránh, nể nang, đùn đẩy

Kết luận Phiên họp, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nêu rõ, trong 6 tháng đầu năm 2023 và từ đầu nhiệm kỳ Đại hội XIII của Đảng đến nay, hoạt động của Ban Chỉ đạo tiếp tục được đổi mới cả về nội dung và phương thức, ngày càng nền nếp, bài bản, càng làm càng có nhiều kinh nghiệm, hiệu quả, uy tín ngày càng cao. Công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực tiếp tục được lãnh đạo, chỉ đạo mạnh mẽ, quyết liệt, đồng bộ, đạt nhiều kết quả toàn diện, có bước đột phá mới cả ở Trung ương và địa phương; góp phần tích cực vào công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng; thúc đẩy phát triển kinh tế-xã hội của đất nước; được cán bộ, đảng viên, nhân dân ngày càng tin tưởng, đồng tình, ủng hộ, các tổ chức quốc tế ghi nhận, đánh giá cao.
Tổng Bí thư nhấn mạnh “Từ những thực tiễn hàng chục năm, có thể xây dựng một lý luận về chủ trương, đường lối, đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực cho các thế hệ sau.”
Về phương hướng, nhiệm vụ những tháng cuối năm 2023 và thời gian tới, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng yêu cầu, công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực phải luôn luôn tổng kết, rút kinh nghiệm, tinh thần là làm kịp thời, quyết liệt, nhịp nhàng hơn nữa; kiên quyết, kiên trì, không nể nang, không chịu bất cứ sức ép nào. Các cơ quan chức năng làm công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực phải xây dựng những chính sách, thể chế, cơ chế chặt chẽ, thiết thực và có sự phối hợp ăn khớp. Các cơ quan chức năng kiện toàn tốt hơn nữa, có bản lĩnh, trình độ, kiên định, kiên cường, phối hợp chỉ đạo các địa phương làm tốt công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, xây dựng chính sách, quy định để ngăn chặn từ sớm, từ xa. Trước hết, thành viên Ban Chỉ đạo Trung ương phòng, chống tham nhũng, tiêu cực gương mẫu đi đầu trong công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, giữ mình trong sạch.
Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng chỉ rõ, các cơ quan chức năng làm công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực phối hợp với các cơ quan liên quan xây dựng thêm một số quy chế cần thiết khắc phục ngay tình trạng né tránh, nể nang, đùn đẩy. Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực chỉ đạo về mặt đường lối, tư tưởng, phương pháp, cách làm, chứ không làm thay các cơ quan bên dưới.
Trong những tháng cuối năm 2023 và thời gian tới, Ban Chỉ đạo yêu cầu các cấp ủy, tổ chức đảng, cơ quan chức năng tập trung lãnh đạo, chỉ đạo, thực hiện hiệu quả các nhiệm vụ theo Chương trình công tác năm 2023 của Ban Chỉ đạo và các Kết luận của Tổng Bí thư, Trưởng Ban Chỉ đạo.|
Ban Chỉ đạo yêu cầu các cấp ủy, tổ chức đảng, cơ quan chức năng chỉ đạo tiếp tục đẩy mạnh xây dựng, hoàn thiện đồng bộ thể chế phòng, chống tham nhũng, tiêu cực. Trọng tâm là sớm hoàn thiện thể chế về kiểm soát quyền lực, phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trong các lĩnh vực dễ phát sinh tham nhũng, tiêu cực; bảo vệ người tố cáo, cung cấp thông tin về tham nhũng, tiêu cực.
Ban Chỉ đạo đề nghị khẩn trương khắc phục những sơ hở, bất cập trong cơ chế, chính sách, pháp luật đã được chỉ ra qua rà soát và các vấn đề cụ thể mà các đoàn kiểm tra, giám sát, thanh tra, kiểm toán, các cơ quan điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án đã kiến nghị, đề xuất; hoàn thành sửa đổi Luật Đất đai, Luật Đấu giá tài sản, Luật Các tổ chức tín dụng, Luật Kinh doanh bất động sản và các dự án luật khác liên quan đến phòng, chống tham nhũng, tiêu cực; khẩn trương ban hành Chiến lược quốc gia về phòng, chống tham nhũng đến năm 2030.
Ban Chỉ đạo tập trung chỉ đạo tăng cường phối hợp, chủ động xử lý các vướng mắc trong giám định, định giá, cung cấp tài liệu; đẩy nhanh tiến độ xác minh, điều tra, truy tố, xét xử các vụ án, xử lý các vụ việc tham nhũng, tiêu cực nghiêm trọng, phức tạp, dư luận xã hội quan tâm. Phấn đấu từ nay đến hết năm 2023 kết thúc điều tra 07 vụ án, ban hành cáo trạng truy tố 09 vụ án, xét xử sơ thẩm 11 vụ án, xét xử phúc thẩm 07 vụ án, kết thúc xác minh, giải quyết 11 vụ việc Ban Chỉ đạo theo dõi, chỉ đạo. Nhất là tập trung đẩy nhanh tiến độ, kết thúc điều tra, truy tố xét xử các vụ án xảy ra tại Công ty Việt Á, Tập đoàn FLC, Tân Hoàng Minh, Vạn Thịnh Phát, Sở Y tế Quảng Ninh và Công ty AIC, giai đoạn II vụ án xảy ra tại Dự án đường cao tốc Đà Nẵng – Quảng Ngãi;…
Các cấp ủy, tổ chức đảng, cơ quan chức năng chỉ đạo tăng cường kiểm tra, giám sát, thanh tra, kiểm toán các lĩnh vực dễ phát sinh tham nhũng, tiêu cực như: Quản lý, sử dụng tài chính công, tài sản công, đầu tư công; quản lý, sử dụng, khai thác đất đai, tài nguyên, khoáng sản; hoạt động đấu thầu, đấu giá, chứng khoán; cổ phần hóa, thoái vốn, tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước; việc thực hiện các chủ trương, chính sách phục hồi kinh tế sau dịch bệnh…; khẩn trương hoàn thành thanh tra, giám sát các chuyên đề theo Kế hoạch của Ban Chỉ đạo. Cơ quan chức năng tập trung kiểm tra, xử lý dứt điểm các sai phạm của các tổ chức đảng và đảng viên liên quan đến các vụ án, vụ việc thuộc diện Ban Chỉ đạo theo dõi, chỉ đạo; tiếp tục rà soát, xem xét cho từ chức, miễn nhiệm, bố trí công tác đối với cán bộ sau khi bị kỷ luật theo đúng chủ trương của Bộ Chính trị; tập trung chỉ đạo chấn chỉnh, khắc phục những biểu hiện đùn đẩy, né tránh, làm việc cầm chừng, sợ sai không dám làm của một bộ phận cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp.
Các cấp ủy, tổ chức đảng, cơ quan chức năng triển khai kiểm tra chuyên đề về công tác thể chế hóa chủ trương, chính sách của Đảng về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, thành pháp luật của Nhà nước; hoàn thành các Đề án theo Chương trình công tác năm 2023 của Ban Chỉ đạo.
Ban Chỉ đạo tiếp tục chỉ đạo đẩy mạnh, nâng cao hiệu quả tuyên truyền, giáo dục, kiên trì xây dựng văn hóa liêm chính, không tham nhũng, tiêu cực trong cán bộ, đảng viên và nhân dân; phát huy hơn nữa vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức thành viên, báo chí và nhân dân trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực.
Ban Chỉ đạo yêu cầu các cấp ủy, tổ chức đảng, cơ quan chức năng tiếp tục chỉ đạo nâng cao hiệu quả hoạt động của Ban Chỉ đạo phòng, chống tham nhũng, tiêu cực cấp tỉnh; kiên quyết khắc phục tệ “tham nhũng vặt”, tạo sự chuyển biến mạnh mẽ hơn nữa trong công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực ở địa phương, cơ sở.
Tại Phiên họp này, Ban Chỉ đạo đã thống nhất kết thúc chỉ đạo xử lý đối với 10 vụ án, một vụ việc thuộc diện Ban Chỉ đạo theo dõi, chỉ đạo do đã kết thúc việc giải quyết theo quy định của pháp luật./.
Ngày 18/8, thay mặt Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư Trương Thị Mai ký ban hành Quy định 117 về xin lỗi và phục hồi quyền lợi của tổ chức Đảng, đảng viên bị kỷ luật oan. Với 15 điều, quy định này có hiệu lực thi hành từ ngày ký.

Quy định 117 của Bộ Chính trị quy định về nguyên tắc, trách nhiệm, trình tự, thủ tục xin lỗi và phục hồi quyền lợi của tổ chức Đảng, đảng viên bị kỷ luật oan.
Xin lỗi công khai đảng viên, tổ chức Đảng bị kỷ luật oan
Theo quy định của Bộ Chính trị, xin lỗi và phục hồi quyền lợi đối với tổ chức Đảng, đảng viên bị kỷ luật oan phải thực hiện kịp thời, công khai, khách quan. Tổ chức Đảng đã quyết định kỷ luật oan chịu trách nhiệm tổ chức xin lỗi và phục hồi quyền lợi.
Việc xin lỗi, phục hồi quyền lợi của tổ chức Đảng, đảng viên bị kỷ luật oan chỉ thực hiện một lần khi có kết luận hoặc quyết định của cấp có thẩm quyền xác định kỷ luật oan.
Tổ chức Đảng đã quyết định kỷ luật oan phải chủ động, kịp thời báo cáo ban thường vụ cấp uỷ, uỷ ban kiểm tra cấp trên trực tiếp; phối hợp với tổ chức đảng, cơ quan, đơn vị có liên quan thực hiện xin lỗi và phục hồi quyền lợi của tổ chức đảng, đảng viên; quyết định bãi bỏ, thu hồi quyết định kỷ luật oan; xem xét trách nhiệm của tổ chức đảng, đảng viên tham mưu, quyết định kỷ luật oan.
Trường hợp tổ chức đảng quyết định kỷ luật oan đã giải tán, giải thể, kết thúc hoạt động, chuyển giao, chia tách, sáp nhập thì tổ chức đảng tiếp nhận hoặc tổ chức đảng cấp trên trực tiếp chịu trách nhiệm xin lỗi và phục hồi quyền lợi của tổ chức đảng, đảng viên bị kỷ luật oan.
Đảng viên bị kỷ luật oan đã qua đời, toà án tuyên bố mất tích, mất năng lực hành vi dân sự thì tổ chức đảng quyết định kỷ luật oan tổ chức xin lỗi đối với thân nhân đảng viên.
Khi toà án huỷ bỏ quyết định tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự hoặc tuyên bố mất tích thì tổ chức đảng kỷ luật oan xem xét phục hồi quyền lợi cho đảng viên theo quy định.
“Việc bồi thường về vật chất và các lợi ích hợp pháp cho tổ chức đảng, đảng viên bị kỷ luật oan thực hiện theo quy định của pháp luật về trách nhiệm bồi thường của Nhà nước”, Quy định 117 nêu.
Theo Quy định 117, có 2 căn cứ để thực hiện xin lỗi và phục hồi quyền lợi. Đó là, kết luận hoặc quyết định của tổ chức đảng có thẩm quyền xác định tổ chức đảng, đảng viên bị kỷ luật oan.
Căn cứ nữa là, kết luận, quyết định, bản án của cơ quan pháp luật xác định đảng viên bị điều tra, truy tố, xét xử oan dẫn đến tổ chức đảng quyết định kỷ luật oan.
Trong thời hạn 90 ngày, tính từ ngày cấp có thẩm quyền ban hành kết luận hoặc quyết định xác định tổ chức đảng, đảng viên bị kỷ luật oan thì tổ chức đảng đã kỷ luật oan, các tổ chức, cá nhân liên quan thực hiện xin lỗi và phục hồi quyền lợi.
Trường hợp bất khả kháng (thiên tai, dịch bệnh…) thì thời gian xảy ra sự kiện bất khả kháng không tính vào thời hạn thực hiện xin lỗi và phục hồi quyền lợi.
Xin lỗi tổ chức đảng, đảng viên bị kỷ luật oan phải được tổ chức bằng hội nghị công khai.
Tổ chức đã quyết định kỷ luật oan phải công bố nội dung xin lỗi gửi các tổ chức đảng trực thuộc; đăng công khai trên báo chí của địa phương, trang thông tin điện tử (nếu có) của cấp uỷ cơ quan, đơn vị nơi tổ chức đảng, đảng viên đã bị kỷ luật oan, nơi đang cư trú hoặc làm việc.
Bị cách chức oan, đảng viên được xem xét phục hồi chức vụ
Về phục hồi quyền lợi, theo quy định của Bộ Chính trị, tổ chức đảng bị kỷ luật khiển trách, cảnh cáo thì tổ chức đảng có thẩm quyền chỉ đạo xem xét lại việc đánh giá phân loại hằng năm và nhiệm kỳ; xem xét việc xếp loại danh hiệu thi đua, hình thức khen thưởng định kỳ, đột xuất (nếu có).
Tổ chức đảng bị kỷ luật giải tán thì tổ chức đảng có thẩm quyền chỉ đạo việc thành lập lại, chỉ định nhân sự cấp uỷ lâm thời, chỉ đạo việc tổ chức đại hội cấp uỷ theo quy định (nếu có đủ điều kiện).
Tổ chức đảng đã kết thúc hoạt động, giải thể, chuyển giao, chia tách, sáp nhập thì tổ chức đảng có thẩm quyền chỉ đạo việc xem xét, đánh giá phân loại hằng năm và nhiệm kỳ; xem xét lại xếp loại danh hiệu thi đua, hình thức khen thưởng định kỳ, đột xuất (nếu có) và thông báo cho tổ chức đảng kế thừa, tiếp nhận tổ chức đảng đó.
Với đảng viên, nếu bị kỷ luật khiển trách, cảnh cáo thì được phục hồi lại các quyền lợi đã bị ảnh hưởng theo quy định (nhận xét, đánh giá, điều kiện quy hoạch, bổ nhiệm, nâng lương, khen thưởng…).
Đảng viên bị kỷ luật cách chức hoặc cho thôi giữ chức vụ, từ chức, miễn nhiệm (nếu có)… thì tổ chức đảng có thẩm quyền căn cứ tiêu chuẩn, điều kiện, tình hình thực tế của cơ quan, địa phương, đơn vị để xem xét phục hồi chức vụ hoặc bố trí vào vị trí công tác, chức vụ tương đương.
Trường hợp đảng viên bị kỷ luật khai trừ hoặc đã ra khỏi Đảng thì tổ chức đảng có thẩm quyền phục hồi đảng tịch, phục hồi quyền đảng viên hoặc công nhận là đảng viên (nếu cá nhân có đơn).
Tuổi đảng được tính liên tục trong cả thời gian bị kỷ luật oan (trường hợp bị kỷ luật khai trừ). Cơ quan, đơn vị căn cứ tình hình thực tế để bố trí vị trí công tác phù hợp, nếu không đủ tiêu chuẩn, điều kiện để bố trí công tác thì được nghỉ công tác và hưởng các chế độ, chính sách theo quy định.
Vẫn theo quy định của Bộ Chính trị, tổ chức đảng, cơ quan có thẩm quyền phải giải quyết, phục hồi quyền lợi hợp pháp cho đảng viên trong việc cử đi học tập, đào tạo, bồi dưỡng, bổ sung quy hoạch, giới thiệu ứng cử, đề cử, bổ nhiệm, tiền lương theo ngạch, bậc, chức vụ, chức danh và phụ cấp lương (nếu có); phong, xét tặng hoặc truy tặng danh hiệu thi đua, khen thưởng theo quy định.
| Các trường hợp đảng viên bị kỷ luật oan không được xin lỗi và phục hồi quyền lợi
Bộ Chính trị cũng quy định rõ, các trường hợp đảng viên bị kỷ luật oan không được xin lỗi và phục hồi quyền lợi. Đó là: Sau khi bị kỷ luật oan đã không giữ được tư cách, phẩm chất, tiêu chuẩn đảng viên hoặc vi phạm bị kỷ luật; nhận lỗi thay cho người khác dẫn đến bị kỷ luật oan; từ chối việc xin lỗi và phục hồi quyền lợi; tự ý bỏ sinh hoạt đảng. Đảng viên không thực hiện hoặc thực hiện không đúng quyền và trách nhiệm của đảng viên tại Điều 8 Quy định 117 cũng không được xin lỗi và phục hồi quyền lợi nếu bị kỷ luật oan. Điều 8 quy định, tổ chức đảng, đảng viên bị kỷ luật oan có quyền và trách nhiệm: – Được yêu cầu (bằng văn bản) cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền xem xét, kết luận, quyết định bị kỷ luật oan hướng dẫn việc xin lỗi và phục hồi quyền, lợi ích hợp pháp của mình; – Cung cấp kịp thời, đầy đủ, trung thực thông tin, tài liệu, chứng cứ liên quan đến việc thi hành kỷ luật oan theo yêu cầu của tổ chức đảng có thẩm quyền giải quyết, xác định kỷ luật oan; – Phối hợp thực hiện các trình tự, thủ tục có liên quan đến việc giải quyết kỷ luật oan. |
(Nguồn: Thanhtra.com.vn)
Thủ tướng Phạm Minh Chính yêu cầu thay thế những cán bộ, yếu kém về năng lực, trì trệ, gây nhũng nhiễu, phiền hà; kiên quyết xử lý các hành vi tiêu cực, tham nhũng trong quản lý đầu tư công.

Tinh thần này được Thủ tướng Phạm Minh Chính nhấn mạnh trong công điện yêu cầu đẩy nhanh tiến độ giải ngân vốn đầu tư công những tháng cuối năm 2023, được gửi tới các bộ ngành, địa phương.
Trong 7 tháng đầu năm, lệ giải ngân vốn đầu tư công 7 ước đạt 37,85% kế hoạch được giao. “Bên cạnh các bộ, cơ quan, địa phương có tốc độ giải ngân trên mức bình quân của cả nước, còn nhiều đơn vị có tỷ lệ giải ngân rất thấp, nhiều khả năng không giải ngân được hết số vốn được giao từ đầu năm”, công điện của Thủ tướng nêu.
Trước thực trạng này, Thủ tướng yêu cầu các bộ, cơ quan Trung ương và địa phương đẩy mạnh phân bổ, giải ngân vốn đầu tư công, nguồn vốn Chương trình phục hồi và phát triển kinh tế – xã hội, 3 chương trình mục tiêu quốc gia.
Người đứng đầu Chính phủ cũng thúc tiến độ các công trình, dự án đầu tư công trọng điểm, quan trọng quốc gia, đường cao tốc, những dự án có tác động lan tỏa….
“Phải xác định đây là một trong các nhiệm vụ chính trị trọng tâm, tập trung ưu tiên trong chỉ đạo điều hành, gắn với trách nhiệm của người đứng đầu các bộ, cơ quan Trung ương và địa phương”, theo yêu cầu của Thủ tướng.
Đề cập đến việc tăng cường kỷ luật, kỷ cương trong giải ngân vốn đầu tư công, Thủ tướng yêu cầu có chế tài xử lý nghiêm các chủ đầu tư, ban quản lý dự án, tổ chức, cá nhân cố tình gây khó khăn, cản trở, làm chậm tiến độ giao vốn, thực hiện và giải ngân vốn đầu tư công.
“Thay thế kịp thời những cán bộ, công chức, viên chức yếu kém về năng lực, trì trệ, gây nhũng nhiễu, phiền hà; kiên quyết xử lý các hành vi tiêu cực, tham nhũng trong quản lý đầu tư công”, Thủ tướng yêu cầu.
Ông đồng thời chỉ đạo thanh tra, kiểm tra, xử lý nghiêm tình trạng giao mỏ không đúng đối tượng làm nảy sinh hoạt động mua đi bán lại tăng giá vật liệu.
Trong thực hiện giải ngân vốn đầu tư công, Thủ tướng chỉ đạo phân công cụ thể lãnh đạo chịu trách nhiệm theo dõi tiến độ, kịp thời tháo gỡ khó khăn và chịu trách nhiệm về kết quả giải ngân của từng dự án. Đây là căn cứ quan trọng khi đánh giá xếp loại mức độ hoàn thành nhiệm vụ được giao trong năm 2023 của tập thể, cá nhân.
(Nguồn: Thanhtra.com.vn)
Hàng loạt bị can nguyên là lãnh đạo cấp cao của các bộ, ngành, địa phương đã bị cáo buộc nhận tiền “cảm ơn” từ Phan Quốc Việt, Chủ tịch Hội đồng Quản trị kiêm Tổng Giám đốc Công ty Cổ phần Công nghệ Việt Á.

Trong số này, Cơ quan Cảnh sát điều tra (C03) Bộ Công an đã làm rõ nhiều bị can đã nhận số tiền ngoại tệ rất lớn từ Phan Quốc Việt, thậm chí là còn được tặng tiền tỷ để thanh toán việc mua siêu xe.
Kết luận điều tra vụ sai phạm mua sắm kit test của Công ty Việt Á, C03, Bộ Công an xác định: Phan Quốc Việt đã chi tiền “cảm ơn” cho các cá nhân, như: Nguyễn Thanh Long, nguyên Bộ trưởng Y tế 2,25 triệu USD; Nguyễn Huỳnh, nguyên Thư ký Bộ Trưởng Bộ Y tế Nguyễn Thanh Long 4 tỷ đồng; Nguyễn Minh Tuấn, nguyên Vụ trưởng Vụ Trang thiết bị và Công trình y tế, Bộ Y tế 300.000 USD; Nguyễn Nam Liên, nguyên Vụ trưởng Vụ Kế hoạch Tài chính, Bộ Y tế 100.000 USD
Trong vụ án này, bị can Nguyễn Huỳnh bị C03 cáo buộc có hành vi “nhận hối lộ”. Khoảng cuối tháng 8/2020, trong khi ăn tối, bị can Huỳnh có nhắc với Phan Quốc Việt về việc mình vừa mua ô tô nhãn hiệu Volvo XC90 và phải vay tiền ngân hàng. Thấy vậy, bị can Việt hứa sẽ chi cho Huỳnh một khoản tiền để hỗ trợ trả nợ ngân hàng.
Đến khoảng cuối tháng 1/2021, Phan Quốc Việt nhắn tin qua ứng dụng Whatsapp thông báo sẽ chuyển 2 tỷ đồng để Huỳnh thanh toán tiền vay ngân hàng mua xe.
Khoảng 10 giờ sáng ngày 23/1/2021, Vũ Đình Hiệp, Phó Tổng Giám đốc Công ty Việt Á đã gọi điện qua ứng dụng Whatsapp cho Nguyễn Huỳnh hẹn gặp để đưa tiền. Huỳnh hẹn Hiệp đến khu vực trước cửa Khách sạn Hà Nội, đường Trần Huy Liệu, quận Ba Đình, Hà Nội.
Đến khoảng gần 11 giờ trưa cùng ngày, Hiệp đến khu vực bãi gửi xe trước cửa khách sạn và gọi điện. Khi đó, Huỳnh đang ngồi uống cà phê một mình và đã đi bộ từ quán cà phê ra gặp tại khu vực bãi gửi xe. Tại đây, Hiệp đưa 1 túi vải màu xanh bên trong có 2 tỷ đồng đã chuẩn bị trước đưa cho Huỳnh. Sau khi nhận túi, Huỳnh đi bộ đến xe Volvo XC90 đỗ gần quán cà phê và lái xe về nhà riêng. Khi về nhà, Huỳnh kiểm tra thấy túi có 2 tỷ đồng, gồm 4 cọc, mỗi cọc 10 tệp, mỗi tệp 100 tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng.
Ngoài ra, Chủ tịch Hội đồng Quản trị kiêm Tổng Giám đốc Công ty Việt Á Phan Quốc Việt còn “cảm ơn” rất mạnh tay với những bị can như: Chu Ngọc Anh, nguyên Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ 200.000 USD; Phạm Công Trạc, nguyên Thứ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ 50.000 USD; Trịnh Thanh Hùng, nguyên Vụ phó Vụ Khoa học Công nghệ 350.000 USD.
Bị can Nguyễn Văn Trịnh, nguyên cán bộ Văn phòng Chính phủ nhận từ Phan Quốc Việt số tiền là 200.000 USD. Tổng số tiền Phan Quốc Việt đã đưa hối lộ là 3,45 triệu USD và 4 tỷ đồng cho các bị can.
Bị can Phan Quốc Việt được đánh giá có vai trò chủ mưu, cầm đầu trong vụ án này. Với mục đích để Công ty Việt Á được tham gia thực hiện đề tài nghiên cứu test xét nghiệm; sau đó chiếm đoạt, biến test thành sản phẩm của công ty để sản xuất, tiêu thụ, Việt đã thông đồng với Trịnh Thanh Hùng, khi đó đang giữ chức Vụ phó Vụ Khoa học Công nghệ, Bộ Khoa học và Công nghệ để công ty này được phê duyệt tham gia, phối hợp Học viện Quân y thực hiện đề tài.
Sau đó, Việt đề nghị Nguyễn Văn Trịnh, cán bộ Văn phòng Chính phủ, Bộ trưởng Bộ Y tế Nguyễn Thanh Long can thiệp, tác động, chỉ đạo Nguyễn Minh Tuấn, khi đó là Vụ trưởng Vụ Trang thiết bị và Công trình y tế để Việt Á được Bộ Y tế cấp số đăng ký lưu hành tạm thời, đăng ký lưu hành chính thức test xét nghiệm Covid-19.
Khi Việt Á sản xuất thương mại, bán 200.000 test xét nghiệm cho Bộ Y tế, Việt đã nâng khống cơ cấu đơn giá nhưng vẫn được Bộ Y tế hiệp thương, xác định giá 470.000 đồng/test không có căn cứ. Bộ Y tế sau đó kiểm tra, xác định Công ty Việt Á thay đổi nguyên vật liệu sản xuất nhưng không ra kết luận kiểm tra, không kiến nghị xử lý, dẫn đến Công ty Việt Á tiếp tục sử dụng mức giá trên, tạo mặt bằng giá để bán cho các đơn vị, địa phương… gây thiệt hại 402 tỷ đồng cho Nhà nước.
Theo đó, UBND Thành phố giao Sở Y tế chủ trì, phối hợp với Bảo hiểm xã hội TP và các đơn vị liên quan chỉ đạo các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh trên địa bàn xây dựng kế hoạch, quản lý sử dụng quỹ khám chữa bệnh BHYT, đồng thời, có giải pháp quản lý việc khám bệnh, chữa bệnh và chi khám chữa bệnh bảo hiểm y tế đảm bảo chặt chẽ, hiệu quả; thực hiện nghiêm túc các quy chế chuyên môn, quy trình kỹ thuật, hướng dẫn chẩn đoán và điều trị do Bộ Y tế ban hành; tự kiểm tra, chống hành vi lạm dụng, trục lợi quỹ BHYT, không để xảy ra hành vi lập khống bệnh án, đơn thuốc để thanh toán BHYT.
Cùng với đó, chỉ đạo các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh cung ứng kịp thời, đầy đủ thuốc, hóa chất, vật tư y tế, dịch vụ kỹ thuật thuộc phạm vi được hưởng của người tham gia BHYT, không để người bệnh phải tự mua; quản lý chặt chẽ các chi phí, đảm bảo thực hành tiết kiệm, chống lãng phí trong chỉ định xét nghiệm, điều trị nội trú và sử dụng dịch vụ, đặc biệt là các dịch vụ kỹ thuật và thuốc bệnh đắt tiền. Chỉ đạo các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh thực hiện chính sách hỗ trợ chi phí khám chữa bệnh cho các đối tượng BHYT theo đúng quy định (hỗ trợ chi phí đồng chi trả cho đối tượng hộ cận nghèo theo tiêu chuẩn của TP).
Một trong những nội dung quan trọng là thực hiện nghiêm Chỉ thị số 10/CT-BYT ngày 9/9/2019 của Bộ Y tế về việc tăng cường công tác phòng, chống hành vi lạm dụng, trục lợi quỹ BHYT; tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, phát hiện và xử lý tình trạng lạm dụng, trục lợi quỹ khám chữa bệnh BHYT, đặc biệt các trường hợp có dấu hiệu thu gom bệnh nhân, gian lận, chỉ định dịch vụ y tế, thuốc, vật tư y tế… nhằm mục đích trục lợi BHYT; phối hợp với Bảo hiểm xã hội TP xây dựng các giải pháp để ngăn chặn tình trạng lạm dụng, trục lợi quỹ BHYT và thực hiện ngừng hợp đồng khám chữa bệnh BHYT theo quy định đối với các đơn vị có hành vi lạm dụng, trục lợi quỹ BHYT.
UBND Thành phố giao Bảo hiểm xã hội TP chủ trì, phối hợp với Sở Y tế xây dựng kế hoạch và đề xuất giải pháp quản lý, sử dụng có hiệu quả dự toán chi khám, chữa bệnh BHYT; đánh giá tình hình quản lý, sử dụng chi phí khám, chữa bệnh BHYT, phân tích các yếu tố tăng, giảm chi khám, chữa bệnh hàng tháng, hàng quý của toàn TP và của riêng từng cơ sở khám, chữa bệnh, thông báo cho các cơ sở để chủ động quản lý và sử dụng hiệu quả nguồn chi khám, chữa bệnh BHYT tại đơn vị.
Sở Lao động – Thương binh và Xã hội và UBND quận, huyện, TP Thủ Đức lập dự toán kinh phí hỗ trợ mua thẻ BHYT cho các đối tượng diện chính sách, xã hội gửi Sở Tài chính thẩm định trình UBND TP phê duyệt và thực hiện thanh quyết toán kinh phí theo đúng quy định.
Đối với Sở Giáo dục và Đào tạo phối hợp với Bảo hiểm xã hội TP và các cơ quan liên quan tổ chức thực hiện tuyên truyền về BHYT; có giải pháp vận động 100% học sinh, sinh viên trên địa bàn TP tham gia BHYT./.
(Nguồn: ThanhtraVietNam)

Giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân ngay từ khi mới phát sinh tại cơ sở
Thời gian qua, tại Nghệ An, các cấp, các ngành đã đề cao trách nhiệm, kịp thời lãnh đạo, chỉ đạo, phối hợp giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân ngay từ khi mới phát sinh tại cơ sở. Do đó, hạn chế bức xúc trong Nhân dân, đồng thời quan tâm, chỉ đạo giải quyết hiệu quả nhiều vụ việc khiếu nại, tố cáo phức tạp, kéo dài.
Bên cạnh đó, kỹ năng phân loại và xử lý đơn thư của cán bộ, công chức làm công tác tiếp dân, xử lý đơn thư ngày càng được nâng lên, đơn thư của công dân được tập trung về một đầu mối, được chuyển đến đúng các cơ quan có thẩm quyền giải quyết.
Trên cơ sở đó, các cấp, các ngành tại Nghệ An đã triển khai được khối lượng lớn công việc liên quan đến công tác tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo. Riêng trong tháng 7 năm 2023, các cơ quan, đơn vị trên địa bàn toàn tỉnh Nghệ An đã tiếp 422 lượt công dân, tăng 9,3% so với tháng 6 năm 2023; tiếp nhận 850 đơn, tăng 15,3% so với tháng 6 năm 2023. Có 772 đơn đủ điều kiện xử lý, tăng 16,4% so với tháng 6 năm 2023 (khiếu nại 45 đơn, tố cáo 22 đơn, kiến nghị phản ánh, tranh chấp đất đai 705 đơn); với 49 vụ việc khiếu nại, tố cáo phải giải quyết, tăng 19,5% so với tháng 6 năm 2023); đến nay đã giải quyết được 34/49 vụ việc đạt tỷ lệ 69,4% số vụ việc phát sinh.
Công dân đến Trụ sở Tiếp công dân của các cấp, các ngành để khiếu nại, tố cáo, kiến nghị phản ánh liên quan đến các lĩnh vực như: Quản lý đất đai, đền bù giải phóng mặt bằng; việc thực hiện chính sách xã hội, chính sách đối với người có công; tố cáo liên quan đến việc lãnh đạo, chỉ đạo và phân công quản lý của cán bộ cấp xã, phường, thị trấn… Trong đó, chủ yếu là các khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh liên quan đến đất đai.
Qua tiếp công dân, cán bộ đã hướng dẫn công dân đến đúng các cơ quan có thẩm quyền để được xem xét, giải quyết. Sau khi tiếp công dân, các vụ việc khiếu nại, tố cáo, kiến nghị phản ánh của công dân được tham mưu chuyển đến các cơ quan có thẩm quyền để giải quyết theo quy định của pháp luật.
Tháng 7 có 49 vụ việc thuộc thẩm quyền của các cơ quan quản lý hành chính nhà nước các cấp phải giải quyết, tăng 19,5% so với tháng 6 năm 2023. Trong đó, khiếu nại có 36 vụ việc, (tăng 5,9%); tố cáo có 13 vụ việc (tăng 85,7%). Đến nay, các cấp, các ngành đã giải quyết được 34/49 vụ việc, đạt tỷ lệ 69,4% số vụ việc phát sinh, gồm: Khiếu nại 25/36 vụ việc (đạt tỷ lệ 69,4%); tố cáo 9/13 vụ việc (đạt tỷ lệ 69,2%); còn 15 vụ việc hiện nay đang trong quá trình giải quyết của các cấp, các ngành.
Còn tiềm ẩn nhiều yếu tố phức tạp
Theo Kế hoạch 2100/KH-TTCP của Thanh tra Chính phủ, Nghệ An còn tồn tại 02 vụ việc đông người, phức tạp, kéo dài đang được giải quyết. Đó là: (1) Vụ việc khiếu nại việc bồi thường, giải phóng mặt bằng dự án nâng cấp, mở rộng Quốc lộ 1A; (2) Vụ việc tranh chấp đất đai giữa Lâm trường Đồng Hợp với các hộ dân xóm Long Thành, xã Tam Hợp, huyện Quỳ Hợp.
Có thể nói, công tác tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo ở các địa phương luôn tiềm ẩn nhiều yếu tố phức tạp. Việc tồn tại nhiều khó khăn cũng không phải là tình trạng ngoại lệ của bất cứ địa phương nào. Tại Nghệ An, một số khó khăn còn tồn tại được kể ra như: Việc thực hiện chế độ thông tin, báo cáo về công tác tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo của một số ngành, địa phương còn chậm, chưa đầy đủ, chất lượng còn hạn chế. Cơ chế, chính sách liên quan đến quyền lợi của người sử dụng đất còn nhiều bất cập, chưa phù hợp, chưa nhất quán, có sự chênh lệch giữa giá bồi thường so với giá trị thực tế nên phát sinh khiếu kiện. Một số vụ việc khiếu kiện đông người do lịch sử để lại do đó việc vận dụng các chế độ chính sách pháp luật để giải quyết rất khó khăn. Bên cạnh đó, pháp luật chưa có hướng dẫn cụ thể về xử lý đối với các trường hợp khiếu nại sai, tố cáo sai; chưa có chế tài quy định đối với các vụ việc khiếu nại, tố cáo cơ quan hành chính các cấp đã giải quyết hết thẩm quyền, yêu cầu công dân phải thực hiện việc khởi kiện ra cơ quan Tòa án.
Một số giải pháp khắc phục
Để khắc phục những tồn tại, hạn chế nói trên, đồng thời giảm thiểu những tác động tiêu cực khách quan tới công tác tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo, tỉnh Nghệ An đã đề ra nhiều giải pháp quan trọng. Trong đó, phải kể đến một số nội dung như:
Một là: Tiếp tục thực hiện nghiêm túc Chỉ thị số 35 CT/TW ngày 26/5/2014 của Bộ Chính trị; Nghị quyết số 39/2012/QH13 ngày 23/11/2012 của Quốc hội về việc tiếp tục nâng cao hiệu lực, hiệu quả thực hiện chính sách, pháp luật trong việc tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo đối với các quyết định hành chính về đất đai; Chỉ thị số 14/CT-TTg ngày 18/5/2012 của Thủ tướng Chính phủ về chấn chỉnh và nâng cao hiệu quả công tác tiếp dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo; Thực hiện tốt Luật Khiếu nại năm 2011, Luật Tố cáo năm 2018, Luật Tiếp công dân năm 2013 và các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan.
Hai là: Tiếp tục chỉ đạo tổ chức thực hiện Chỉ thị số 02/CT-UBND ngày 07 tháng 01 năm 2019 của UBND tỉnh Nghệ An về việc tăng cường công tác tiếp dân, xử lý đơn thư, giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh, tranh chấp đất đai và tham gia tố tụng các vụ án hành chính, dân sự trên địa bàn tỉnh Nghệ An. Tiếp tục kiểm tra, rà soát, tham mưu giải quyết dứt điểm các vụ việc tồn đọng, phức tạp, kéo dài theo Kế hoạch số 2100/KH-TTCP ngày 19/9/2013 của Thanh tra Chính phủ và Kế hoạch số 531/KH-UBND ngày 10/10/2013 của UBND tỉnh Nghệ An.
Ba là: Tăng cường phối hợp giữa Ban Tiếp công dân, Thanh tra và các ban, ngành liên quan trong việc tiếp công dân, xử lý đơn thư, giải quyết khiếu nại, tố cáo; nhất là xử lý kịp thời, có hiệu quả các vụ việc khiếu kiện đông người, vượt cấp. Nâng cao trách nhiệm của người đứng đầu cấp ủy, chính quyền địa phương, đơn vị trong việc tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo; tăng cường số lượng và chất lượng cán bộ làm công tác tiếp dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo ở các cấp, các ngành; giải quyết kịp thời, dứt điểm các vụ việc mới phát sinh từ cơ sở, không để xảy ra bức xúc, bất bình trong Nhân dân, không để các vụ việc tồn đọng, kéo dài./.
(Nguồn: ThanhtraVietNam)
