Quỹ Phòng thủ dân sự được ưu tiên thực hiện các hoạt động như cứu trợ khẩn cấp về lương thực, nước uống, thuốc chữa bệnh và các nhu yếu phẩm thiết yếu khác cho đối tượng bị thiệt hại do sự cố, thảm họa gây ra…

Sáng ngày 20/6, với đa số đại biểu tán thành, Quốc hội biểu quyết thông qua Luật Phòng thủ dân sự. Theo luật được thông qua, Quốc hội đồng ý lập Quỹ Phòng thủ dân sự.
Đây là quỹ tài chính Nhà nước ngoài ngân sách, được thành lập ở Trung ương và cấp tỉnh để huy động nguồn lực xã hội hỗ trợ hoạt động phòng thủ dân sự.
Quỹ Phòng thủ dân sự được ưu tiên thực hiện các hoạt động: Cứu trợ khẩn cấp về lương thực, nước uống, thuốc chữa bệnh và các nhu yếu phẩm thiết yếu khác cho đối tượng bị thiệt hại; hỗ trợ tu sửa, làm nhà ở, cơ sở y tế, trường học tại địa điểm bị ảnh hưởng do sự cố, thảm họa gây ra.
Luật được thông qua nêu rõ, Quỹ Phòng thủ dân sự hoạt động theo nguyên tắc không vì mục đích lợi nhuận; quản lý, sử dụng đúng mục đích, đúng pháp luật, kịp thời, hiệu quả, bảo đảm công khai, minh bạch; hỗ trợ cho các hoạt động phòng thủ dân sự mà ngân sách Nhà nước chưa đầu tư hoặc chưa đáp ứng yêu cầu.
Việc điều tiết giữa Quỹ Phòng thủ dân sự và các quỹ tài chính Nhà nước ngoài ngân sách có liên quan đến hoạt động ứng phó, khắc phục hậu quả sự cố, thảm họa được thực hiện trong trường hợp cấp bách.
Trước khi Quốc hội bấm nút, thảo luận tại hội trường, việc thành lập hay không thành lập Quỹ Phòng thủ dân sự có nhiều ý kiến khác nhau.
Trên cơ sở tiếp thu ý kiến đại biểu, Quốc hội giao Chính phủ quy định chi tiết việc thành lập, quản lý, sử dụng Quỹ Phòng thủ dân sự; việc điều tiết giữa Quỹ Phòng thủ dân sự và các quỹ tài chính Nhà nước ngoài ngân sách có liên quan đến hoạt động ứng phó, khắc phục hậu quả sự cố, thảm họa.
| Sự cố là tình huống bất thường do thiên tai, dịch bệnh, con người, hậu quả chiến tranh gây ra hoặc đe dọa gây ra thiệt hại về người, tài sản, môi trường.
Thảm họa là biến động do thiên tai, dịch bệnh nguy hiểm lây lan trên quy mô rộng hoặc do con người, hậu quả chiến tranh gây ra làm thiệt hại nghiêm trọng về người, tài sản, môi trường. (Luật Phòng thủ dân sự) |
Về cấp độ phòng thủ dân sự, có ý kiến đại biểu đề nghị làm rõ tính chất nghiêm trọng của tình trạng khẩn cấp, tình trạng chiến tranh so với sự cố, thảm họa ở các cấp độ và nghiên cứu quy định cho chặt chẽ.
Ủy ban Thường vụ Quốc hội giải trình, tính chất nghiêm trọng của tình trạng khẩn cấp, tình trạng chiến tranh đã được quy định trong Pháp lệnh tình trạng khẩn cấp, Luật Quốc phòng.
“Các biện pháp áp dụng trong tình trạng khẩn cấp, tình trạng chiến tranh không thuộc phạm vi điều chỉnh của luật này”, theo báo cáo.
Ủy ban Thường vụ Quốc hội nêu, các biện pháp phòng thủ dân sự quy định tại luật này không thay thế cho các biện pháp áp dụng trong tình trạng khẩn cấp, tình trạng chiến tranh mà tạo nên tổng thể các biện pháp cần thiết để phòng ngừa, ứng phó, khắc phục hậu quả của sự cố, thảm họa, bảo vệ nhân dân, nền kinh tế khi xảy ra thảm họa, sự cố.
Luật được Quốc hội thông qua, phòng thủ dân sự có 3 cấp độ. Trong đó, chủ tịch UBND cấp huyện ban bố, bãi bỏ phòng thủ dân sự cấp độ 1 trên địa bàn quản lý; chủ tịch UBND cấp tỉnh ban bố, bãi bỏ phòng thủ dân sự cấp độ 2 trên địa bàn quản lý; Thủ tướng Chính phủ ban bố, bãi bỏ phòng thủ dân sự cấp độ 3.
Với 55 điều, Luật Phòng thủ dân sự có hiệu lực thi hành từ ngày 1/7/2024.
| Điều 7. Cấp độ phòng thủ dân sự
1. Cấp độ phòng thủ dân sự là sự phân định mức độ áp dụng các biện pháp của các cấp chính quyền trong phạm vi quản lý để ứng phó, khắc phục hậu quả sự cố, thảm họa, làm cơ sở xác định trách nhiệm, biện pháp, nguồn lực của các cấp chính quyền, cơ quan, tổ chức, cá nhân trong phòng thủ dân sự. 2. Căn cứ xác định cấp độ phòng thủ dân sự bao gồm: a) Phạm vi ảnh hưởng, khả năng lan rộng và hậu quả có thể xảy ra của sự cố, thảm hoạ; b) Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên, xã hội, dân cư, đặc điểm tình hình quốc phòng, an ninh của địa bàn chịu ảnh hưởng của sự cố, thảm họa; c) Diễn biến, mức độ gây thiệt hại và thiệt hại do sự cố, thảm họa gây ra; d) Khả năng ứng phó, khắc phục hậu quả sự cố, thảm họa của chính quyền địa phương và lực lượng phòng thủ dân sự. 3. Cấp độ phòng thủ dân sự được quy định như sau: a) Phòng thủ dân sự cấp độ 1 được áp dụng để ứng phó, khắc phục hậu quả sự cố, thảm họa trong phạm vi địa bàn cấp huyện, khi diễn biến, mức độ thiệt hại của sự cố, thảm họa vượt quá khả năng, điều kiện ứng phó, khắc phục hậu quả của lực lượng chuyên trách và chính quyền địa phương cấp xã; b) Phòng thủ dân sự cấp độ 2 được áp dụng để ứng phó, khắc phục hậu quả sự cố, thảm họa trong phạm vi địa bàn cấp tỉnh, khi diễn biến, mức độ thiệt hại của sự cố, thảm họa vượt quá khả năng, điều kiện ứng phó, khắc phục hậu quả của chính quyền địa phương cấp huyện; c) Phòng thủ dân sự cấp độ 3 được áp dụng để ứng phó, khắc phục hậu quả sự cố, thảm họa trên địa bàn một hoặc một số tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, khi diễn biến, mức độ thiệt hại của sự cố, thảm họa vượt quá khả năng, điều kiện ứng phó, khắc phục hậu quả của chính quyền địa phương cấp tỉnh. |
Bộ trưởng Bộ Công an Tô Lâm thừa uỷ quyền của Thủ tướng trình Quốc hội Dự án Luật Lực lượng tham gia bảo vệ an ninh, trật tự ở cơ sở, sáng nay 20/6, tại kỳ họp thứ 5.

Đây là dự án luật được Quốc hội khóa XIV cho ý kiến tại kỳ họp thứ 10. Đến nay hồ sơ đã được chỉnh lý, hoàn thiện trên cơ sở nghiên cứu, tiếp thu, giải trình các ý kiến tham gia, theo Bộ trưởng Tô Lâm.
Bộ trưởng Công an nhấn mạnh, lực lượng tham gia bảo vệ an ninh, trật tự được sắp xếp, bố trí theo hướng thống nhất, kiện toàn, tinh gọn đầu mối.
Cụ thể là thống nhất lực lượng bảo vệ dân phố, công an xã bán chuyên trách đang được tiếp tục sử dụng và các chức danh đội trưởng, đội phó đội dân phòng thành lực lượng tham gia bảo vệ an ninh, trật tự ở cơ sở.
Lực lượng tham gia bảo vệ an ninh, trật tự ở cơ sở được bố trí ở thôn, tổ dân phố, đơn vị dân cư tương đương theo mô hình tổ bảo vệ an ninh, trật tự. Các chức danh tổ trưởng, tổ phó tổ bảo vệ an ninh, trật tự, đồng thời là đội trưởng, đội phó đội dân phòng.
Cả nước hiện có 66.723 người đang hoạt động trong lực lượng bảo vệ dân phố, 70.867 công an xã bán chuyên trách đang được tiếp tục sử dụng tham gia thực hiện nhiệm vụ bảo vệ an ninh, trật tự ở cơ sở và 161.098 đội trưởng, đội phó đội dân phòng.
Với 103.568 thôn, tổ dân phố trên cả nước, việc kiện toàn thống nhất các chức danh nói trên thành lực lượng lực lượng tham gia bảo vệ an ninh, trật tự ở cơ sở sẽ đưa tổng quân số của các tổ bảo vệ an ninh, trật tự lên khoảng 300.000 người.
“Dự thảo luật quy định lực lượng tham gia bảo vệ an ninh, trật tự ở cơ sở là lực lượng quần chúng tự nguyện được tuyển chọn tham gia vào tổ bảo vệ an ninh, trật tự; làm nòng cốt trong xây dựng mô hình tự quản về bảo vệ an ninh, trật tự trên địa bàn xã, phường, thị trấn và hỗ trợ lực lượng công an trong thực hiện nhiệm vụ bảo vệ an ninh, trật tự, phòng cháy, chữa cháy, cứu nạn, cứu hộ, xây dựng phong trào toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc trên địa bàn cấp xã”, Bộ trưởng Tô Lâm cho biết.
Đánh giá cụ thể tính khả thi về mô hình tổ chức, số lượng tham gia
Báo cáo thẩm tra, Chủ nhiệm Lê Tấn Tới cho biết, Ủy ban Quốc phòng An ninh cơ bản nhất trí sự cần thiết ban hành luật.

Theo ông Tới, thực tế hiện nay, vấn đề tranh chấp, khiếu kiện, hoạt động của các loại tội phạm, tình hình tai nạn, tệ nạn xã hội ở nhiều địa phương vẫn tiềm ẩn nhiều phức tạp; tình hình vi phạm các quy định về tham gia giao thông, về quản lý cư trú… diễn ra khá phổ biến.
“Đa số các vụ, việc có liên quan đến an ninh, trật tự đều xảy ra ở cơ sở, cần phải được phát hiện, ngăn chặn, xử lý kịp thời từ sớm, hạn chế đến mức thấp nhất hậu quả cho xã hội”, Chủ nhiệm Ủy ban Tài chính Ngân sách nêu.
Về xây dựng lực lượng trên, ông Tới cho hay, một số ý kiến đề nghị đánh giá cụ thể hơn tính khả thi về mô hình tổ chức, số lượng người tham gia tùy vào yêu cầu thực tế tình hình an ninh trật tự ở cơ sở để bảo đảm hoàn thành các nhiệm vụ được giao mà không lãng phí nhân lực.
Với 103.568 đơn vị cấp thôn, tổ dân phố trên toàn quốc, nếu bố trí mỗi tổ bảo vệ an ninh trật tư có ít nhất 3 thành viên (tổ trưởng, tổ phó và 1 tổ viên); đồng thời, cho phép bổ sung trong trường hợp cần thiết thì tổng số lượng thành viên các tổ bảo vệ an ninh trật tự không chỉ dừng lại ở khoảng 300.000 người như tờ trình của Chính phủ đã nêu.
Ở địa bàn đô thị và địa bàn nông thôn lại khác nhau về thành phần lực lượng (bảo vệ dân phố chỉ có ở đô thị, công an xã bán chuyên trách chỉ có ở nông thôn).
Do đó, ý kiến trong cơ quan thẩm tra cho rằng, nên việc sắp xếp, kiện toàn, bố trí lực lượng cần được đánh giá cụ thể hơn theo địa bàn và đặc điểm tình hình an ninh trật tự ở khu vực đô thị, nông thôn, biên giới và một số địa bàn đặc thù phức tạp về an ninh trật tự để bảo đảm quy định của luật sát với tình hình thực tiễn.
Phó Thống đốc Thường trực Ngân hàng Nhà nước (NHNN) Đào Minh Tú cho biết, tín dụng vẫn còn tăng chậm và hạn chế. NHNN cũng rất muốn tăng tín dụng, nhưng không phải bằng cách hạ chuẩn cấp tín dụng, bơm tín dụng ra vô tội vạ, bất chấp tín dụng đó có lành mạnh không mà phải đảm bảo hiệu quả, chất lượng.

Tín dụng mới chỉ tăng 3,36%
Ngày 21/6, NHNN tổ chức họp báo thông tin kết quả hoạt động ngân hàng 6 tháng đầu năm 2023.
Phó Thống đốc NHNN Đào Minh Tú cho biết, tính đến 15/6, dư nợ tín dụng toàn nền kinh tế đạt khoảng 12,32 triệu tỷ đồng, tăng 3,36% so với cuối năm 2022, tăng 8,94% so với cùng kỳ năm trước.
Cơ cấu tín dụng tiếp tục tập trung vốn cho lĩnh vực sản xuất kinh doanh, lĩnh vực ưu tiên theo chủ trương của Chính phủ, đóng góp tích cực vào tăng trưởng GDP cả nước. Tín dụng đối với các lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro được kiểm soát.
Ông Tú nhận xét, tín dụng vẫn còn tăng chậm và hạn chế. “NHNN cũng rất muốn tăng tín dụng, nhưng không phải bằng cách hạ chuẩn cấp tín dụng, bơm tín dụng ra vô tội vạ, bất chấp tín dụng đó có lành mạnh không mà phải đảm bảo hiệu quả, chất lượng”, Phó Thống đốc phân tích.
NHNN cũng xác định, việc tăng tín dụng là nhiệm vụ quan trọng phải triển khai quyết liệt trong thời gian tới. Mức thấp, nhưng cũng do tính khách quan của nền kinh tế nhu cầu vốn thấp.
Về nguyên nhân khiến tín dụng chỉ tăng 3,36%, khá thấp từ đầu năm, ông Tú cho rằng có cả nguyên nhân chủ quan và khách quan, đặc biệt là nguyên nhân đến từ cầu tín dụng thấp của nền kinh tế.
“Thanh khoản của các tổ chức tín dụng (TCTD), ngân hàng thương mại Nhà nước, ngân hàng thương mại tư nhân vẫn đang dồi dào, thanh khoản của nền kinh tế, khả năng cung ứng vốn cho nền kinh tế không thiếu”, Phó Thống đốc khẳng định.
Với định hướng tăng trưởng tín dụng cả năm nay khoảng 14-15%, từ đầu năm, NHNN đã giao chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng cho các ngân hàng là 11%. Nhưng đến nay, dư nợ cả nước mới đạt 3,36%, tức hạn mức để các ngân hàng cho vay tiếp không hề thiếu.
Do doanh nghiệp hiện nay khá khó khăn, dòng tiền đứt đoạn, hàng tồn kho nhiều, thậm chí một số doanh nghiệp phải giảm bớt người lao động. Trong khi đó, giá cả nguyên vật liệu nhập khẩu tăng cao dẫn tới giá cả hàng hoá tăng. Sức mua cũng suy yếu dẫn tới nhu cầu vay vốn thấp.
Các nguyên nhân khác còn do doanh nghiệp chưa đáp ứng được các thủ tục pháp lý, các doanh nghiệp nhỏ và vừa chưa có nhiều nhu cầu tín dụng, quỹ bảo lãnh các doanh nghiệp này không hoạt động nhiều. Tuy có nhiều chính sách hỗ trợ doanh nghiệp, nhưng họ còn hạn chế về mặt tài chính, năng lực quản trị.
Tiếp tục khuyến khích giảm lãi suất cho vay
Trong thời gian tới, NHNN tiếp tục điều hành nghiệp vụ thị trường mở linh hoạt, chủ động, sẵn sàng hỗ trợ thanh khoản cho hệ thống TCTD. Tái cấp vốn đối với TCTD để hỗ trợ thanh khoản, cho vay các chương trình đã được Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, hỗ trợ quá trình cơ cấu lại TCTD và xử lý nợ xấu.
Ngoài ra, tiếp tục khuyến khích các TCTD tiết giảm chi phí, giảm mặt bằng lãi suất cho vay nhằm hỗ trợ doanh nghiệp phục hồi và phát triển sản xuất, kinh doanh.
Điều hành tăng trưởng khối lượng và cơ cấu tín dụng hợp lý, đáp ứng nhu cầu vốn tín dụng cho nền kinh tế nhằm góp phần kiểm soát lạm phát, hỗ trợ tăng trưởng kinh tế, hướng tín dụng vào các lĩnh vực sản xuất kinh doanh, lĩnh vực ưu tiên và các động lực tăng trưởng nền kinh tế theo chủ trương của Chính phủ, kiểm soát chặt chẽ tín dụng vào các lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro; tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp và người dân tiếp cận vốn tín dụng ngân hàng.
Phòng chống tham nhũng, tiêu cực ở nước ta, không có mục đích nào khác ngoài việc để cán bộ, đảng viên và cả hệ thống chính trị xứng đáng hơn với niềm tin và sự phó thác của nhân dân, để đất nước ngày càng giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc.

Tham nhũng là “khuyết tật bẩm sinh của quyền lực”, là “căn bệnh” của Nhà nước. Tham nhũng tồn tại ở mọi quốc gia, hiện diện trên tất cả lĩnh vực của đời sống xã hội, không phụ thuộc vào chế độ chính trị, trình độ phát triển.
Ở nước ta, đấu tranh phòng chống tham nhũng, tiêu cực, luôn được Đảng, Nhà nước đặc biệt chăm lo, chỉ đạo mạnh mẽ, bài bản, đồng bộ, quyết liệt, “không có vùng cấm, không có ngoại lệ, bất kể người đó là ai; và không chịu sức ép của bất kỳ tổ chức, cá nhân nào”.
Chấn chỉnh nhận thức sai lệch, cực đoan, hoài nghi
Nếu như nhiệm kỳ Đại hội XI, Trung ương Đảng, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Ủy ban Kiểm tra Trung ương, cấp ủy có thẩm quyền chỉ xử lý 11 cán bộ diện Trung ương quản lý, không có trường hợp nào là Ủy viên Trung ương Đảng; thì nhiệm kỳ Đại hội XII đã thi hành kỷ luật hàng trăm cán bộ diện Trung ương quản lý, “điểm mặt, chỉ tên” cả Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Trung ương Đảng, tướng lĩnh trong lực lượng vũ trang.
Từ sau Đại hội XIII, dù đất nước đối mặt với rất nhiều khó khăn, thách thức, nhất là những tác động nặng nề bởi đại dịch COVID-19, công cuộc “chống giặc nội xâm”, giữ gìn sự trong sạch, vững mạnh của Đảng và hệ thống chính trị không “chùn xuống” mà ngày càng đạt nhiều kết quả to lớn, có hiệu quả rõ rệt và toàn diện.
Đặc biệt, Hội nghị Trung ương 5 khoá XIII đã quyết định chủ trương thành lập Ban Chỉ đạo cấp tỉnh về phòng chống tham nhũng, tiêu cực để chỉ đạo toàn diện công tác phòng chống tham nhũng, tiêu cực ở địa phương, cơ sở.
Với tinh thần “tiền hô hậu ủng, trên dưới đồng lòng, dọc ngang thông suốt”, chỉ tính từ đầu năm đến nay, nhiều vụ án tham nhũng, tiêu cực lớn, phức tạp, có tính hệ thống, có tổ chức, liên quan đến nhiều bộ, ngành, địa phương, tập đoàn, doanh nghiệp lớn đã được khởi tố, mở rộng điều tra, như vụ Công ty Việt Á, Tập đoàn FLC, Tân Hoàng Minh, Vạn Thịnh Phát, Công ty AIC, Cục Đăng kiểm Việt Nam và các trung tâm đăng kiểm tỉnh, TP…
Ngay tại địa phương, chỉ trong 1 năm, sau khi được thành lập, các Ban Chỉ đạo cấp tỉnh đã rà soát, đưa 600 vụ án, vụ việc tham nhũng, tiêu cực vào diện theo dõi, chỉ đạo để tập trung chỉ đạo xử lý. Nhiều địa phương đã phát hiện, khởi tố, điều tra, xử lý nhiều vụ án lớn, nhiều cán bộ thuộc diện ban thường vụ tỉnh uỷ, thành uỷ quản lý, trong đó có cả nguyên bí thư, nguyên chủ tịch, phó chủ tịch UBND tỉnh, uỷ viên ban thường vụ tỉnh uỷ, giám đốc sở, bí thư và chủ tịch UBND cấp huyện, như: Hà Nội, TP HCM, Phú Yên, Khánh Hoà, Thanh Hoá…
Có thể thấy, nếu trước đây, tham nhũng thường được hiểu là những hành vi tư lợi bất chính về kinh tế, thì hiện nay, các hành vi tham nhũng được nhận diện mở rộng và đào sâu hơn, gồm cả tham nhũng về quyền lực, về cơ chế, chính sách… Chống tham nhũng lớn, rồi chống tham nhũng “vặt”; từ chống tham nhũng trong khu vực Nhà nước, giờ chống tham nhũng cả khu vực tư và quyết liệt chống tham nhũng ngay trong cơ quan có chức năng phòng chống tham nhũng.
Ấy vậy, gần đây, có ý kiến cho rằng, nếu quá tập trung vào chống tham nhũng sẽ làm giảm sự đổi mới, sáng tạo; làm “chùn bước” những người dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung; làm doanh nghiệp FDI “bỏ” Việt Nam, doanh nhân sợ bị xử hình sự; làm “chậm” sự phát triển đất nước.
Đây là cách nghĩ sai lệch, cực đoan, chiêu trò của các thế lực thù địch nhằm tạo “hoài nghi” về tính đúng đắn của chủ trương, chính sách lãnh đạo, cũng như phủ nhận quyết tâm, kết quả phòng chống tham nhũng, tiêu cực của Đảng, Nhà nước, hệ thống chính trị và toàn xã hội.
Chống tham nhũng chỉ làm “chùn bước” người không trong sáng
Cán bộ lãnh đạo, người đứng đầu cơ quan, tổ chức được ví như “đầu tàu”, khi bị xử lý, thay thế, sẽ có ảnh hưởng nhất định đến cả “đoàn tàu”. Những dao động, xáo trộn về tâm lý, tình cảm… trong đảng viên, cán bộ, công chức, viên chức cũng là điều dễ hiểu. Nhưng nếu để những tâm tư diễn biến theo chiều hướng tiêu cực, làm nảy sinh tư tưởng bi quan, bất mãn, có phát ngôn thiếu tinh thần xây dựng… là điều không thể chấp nhận.
Thực tiễn cho thấy, nhờ làm tốt công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, đẩy mạnh đấu tranh phòng chống tham nhũng, tiêu cực thời gian qua, Việt Nam luôn “trong ấm, ngoài êm”, không ngừng ổn định, phát triển, tạo thế và lực của đất nước trên trường quốc tế.
Minh chứng là, năm 2021, khi thế giới “chao đảo” bởi đại dịch COVID -19, nhiều nền kinh tế tăng trưởng âm thì Việt Nam đạt tăng trưởng 2,56%. Sang năm 2022, tăng trưởng GDP đạt 8,02%, cao hơn nhiều so với kế hoạch 6 – 6,5%, và là mức tăng cao so với các nước trong khu vực và trên thế giới.
Năm 2023, nền kinh tế chịu tác động “kép”, vừa phải chống chịu sức ép từ cả bên trong và bên ngoài, tăng trưởng GDP trong quý I chỉ đạt 3,2% so với cùng kỳ. Nhưng các tổ chức quốc tế tiếp tục đánh giá cao về triển vọng tăng trưởng kinh tế Việt Nam.
Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD) dự báo nền kinh tế Việt Nam tăng trưởng ở mức 6,5% vào năm 2023 và 6,6% trong năm 2024. ADB dự báo tăng trưởng kinh tế Việt Nam đạt mức 6,5% năm nay và tăng lên 6,8% trong năm 2024. Ngân hàng Thế giới (WB) dự báo tăng trưởng GDP của Việt Nam sẽ đạt mức 6,3% năm 2023 và 6,5% vào năm 2024. Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) dự báo, kinh tế Việt Nam tăng trưởng 5,8% trong năm nay và 6,9% năm sau, nằm trong nhóm dẫn đầu châu Á.
Kinh tế vĩ mô của Việt Nam vẫn cơ bản ổn định; lạm phát được kiểm soát; các cân đối lớn của nền kinh tế được bảo đảm; thị trường tài chính – tiền tệ cơ bản ổn định. Nhiều vấn đề tồn đọng kéo dài, nhất là xử lý tình trạng các ngân hàng thương mại yếu kém; những doanh nghiệp, dự án “đắp chiếu”, kém hiệu quả được tập trung tháo gỡ, bước đầu đạt được kết quả tích cực.
“Sức khỏe” doanh nghiệp có dấu hiệu tích cực, khi tính chung 5 tháng của năm nay, có khoảng 95 nghìn doanh nghiệp thành lập mới và quay trở lại hoạt động. Các lĩnh vực văn hóa, xã hội, môi trường, quốc phòng, an ninh, đối ngoại được chú trọng, tăng cường.
Đặc biệt, những cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp từng là “điểm nóng” về tham nhũng, tiêu cực, sau khi được phát hiện, xử lý nghiêm minh, loại bỏ “sâu mọt”, đã từng bước xốc lại đội hình để tiếp tục phát triển.
Đội ngũ cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức từ Trung ương đến cơ sở thực hành nghiêm túc tinh thần hành động, liêm chính, kiến tạo, phục vụ vì lợi ích của người dân và doanh nghiệp. Ngay trong nội bộ mỗi tổ chức Đảng đã nghiêm túc tự soi, tự sửa, tự phê bình và phê bình, kiên quyết đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân, tham nhũng, tiêu cực và lợi ích nhóm.
Dẫn chứng để thấy, phòng chống tham nhũng, tiêu cực và xây dựng, chỉnh đốn Đảng được đẩy mạnh chỉ làm “chùn bước” những ai có động cơ không trong sáng, đã chót “nhúng chàm” và những người không nắm vững chủ trương, chính sách của Đảng, thiếu bản lĩnh, thiếu kiến thức và kinh nghiệm.
Cuộc chiến còn lâu dài, đầy chông gai, khắc nghiệt
Tất nhiên, đất nước còn đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức lớn. Hoạt động sản xuất kinh doanh ở một số ngành, lĩnh vực có xu hướng suy giảm. Vốn đầu tư nước ngoài đăng ký mới, đăng ký bổ sung hoặc góp vốn, mua cổ phần giảm. Khả năng chịu đựng của doanh nghiệp đến mức tới hạn, sau thời gian dài của dịch COVID-19 nên số doanh nghiệp rút khỏi thị trường tăng…
Tham nhũng, tiêu cực trên một số lĩnh vực vẫn còn nghiêm trọng, diễn biến phức tạp; nổi lên là các sai phạm lớn, có sự câu kết, móc nối giữa cán bộ thoái hóa, biến chất với doanh nghiệp, tổ chức để trục lợi.
Ở nhiều nơi, kỷ luật, kỷ cương chưa nghiêm, thậm chí còn có hiện tượng cán bộ, công chức né tránh, đùn đẩy trách nhiệm; cái gì có lợi thì kéo về cho cơ quan, đơn vị và cá nhân mình; cái gì khó khăn thì đùn đẩy ra xã hội, cho cơ quan khác, người khác…
Hạn chế, yếu kém trên đã được Đảng, Nhà nước thẳng thắn chỉ ra và đề ra rất nhiều giải pháp để chỉ đạo, điều hành quyết liệt, chủ động, phối hợp nhịp nhàng, chặt chẽ hơn; phát huy kết quả đã đạt được, tranh thủ mọi nguồn lực, cơ hội, tận dụng thời gian để nâng cao năng lực nội tại và tính tự chủ của nền kinh tế; không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân; giữ vững ổn định chính trị, trật tự, an toàn xã hội.
Đảng, Nhà nước cũng nêu rõ, cuộc chiến phòng chống tham nhũng, tiêu cực còn lâu dài, đầy chông gai, khắc nghiệt.
Cùng với sự phát triển của đất nước và quá trình hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, các hành vi tham nhũng, tiêu cực sẽ ngày càng tinh vi, phức tạp, khó lường hơn; không chỉ diễn ra trong nước mà vượt ra cả phạm vi quốc tế, không chỉ xảy ra trong khu vực Nhà nước mà cả ở khu vực ngoài Nhà nước, không chỉ một vài cá nhân vi phạm mà đã có nhiều tập thể vi phạm, hình thành các “nhóm lợi ích”, không chỉ làm mất tiền, tài sản của Nhà nước, mà còn mất nhiều cán bộ, làm mất niềm tin của cán bộ, đảng viên và nhân dân.
Điều này đòi hỏi phải tiếp tục đẩy mạnh, kiên quyết, kiên trì, không dừng, không nghỉ, quyết tâm cao hơn, hành động mạnh mẽ, quyết liệt, khẩn trương hơn nữa trong đấu tranh phòng chống tham nhũng, tiêu cực vì sự trong sạch, vững mạnh và uy tín của Đảng, vì sự phát triển bền vững của đất nước, vì ý nguyện và hạnh phúc của nhân dân.
Tại hội nghị sơ kết 1 năm hoạt động của Ban Chỉ đạo Phòng, chống tham nhũng, tiêu cực cấp tỉnh ngày 19/6, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng bày tỏ tin tưởng, với sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị, sự đồng lòng, ủng hộ của nhân dân, nhất định tham nhũng, tiêu cực sẽ được ngăn chặn, đẩy lùi, bởi “non cao vẫn có đường trèo. Đường dẫu hiểm nghèo vẫn có lối đi”.
Qua tổ chức triển khai thực hiện Chỉ thị số 33-CT/TW của Bộ Chính trị, UBND tỉnh Bạc Liêu đã tích cực lãnh đạo, chỉ đạo triển khai thực hiện. Việc kê khai, công khai minh bạch tài sản, thu nhập đã đi vào thực chất hơn, từ khâu lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện đến nội dung kê khai của người có nghĩa vụ phải kê khai.

Theo UBND tỉnh Bạc Liêu, từ khi có Chỉ thị số 33-CT/TW ngày 3/1/2014 của Bộ Chính trị (sau đây viết tắt là Chỉ thị số 33-CT/TW) và trên cơ sở triển khai thực hiện Nghị định số 78/2013/NĐ-CP ngày 17/7/2013 về minh bạch tài sản, thu nhập; Thông tư số 08/2013/TT-TTCP ngày 31/10/2013 của Thanh tra Chính phủ hướng dẫn thi hành các quy định về minh bạch tài sản, thu nhập; Nghị định số 130/NĐ-CP ngày 30/10/2020 của Chính phủ, UBND tỉnh luôn quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo tăng cường thực hiện các quy định của pháp luật về kê khai, công khai bản kê khai tài sản.
Kết quả sau gần 10 năm thực hiện Chỉ thị số 33-CT/TW, công tác phổ biến, quán triệt chỉ thị được UBND tỉnh thực hiện nghiêm túc.
UBND tỉnh đã giao Thanh tra tỉnh làm cơ quan theo dõi, giúp UBND tỉnh thực hiện chỉ thị này, đồng thời, báo cáo kết quả thực hiện công tác kê khai, minh bạch tài sản trong phạm vi tỉnh về Thanh tra Chính phủ theo quy định.
Dưới sự quan tâm, thường xuyên chỉ đạo của UBND tỉnh, nhìn chung, các sở, ban, ngành đã tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo, kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện kê khai, công khai và kiểm soát việc kê khai tài sản; UBND tỉnh cũng chỉ đạo các ngành chức năng làm tốt công tác hướng dẫn, kiểm tra, đôn đốc việc kê khai và kiểm soát việc kê khai tài sản…
Nhằm tăng cường thực hiện Chỉ thị số 33-CT/TW, UBND tỉnh và Chủ tịch UBND tỉnh đã ban hành nhiều văn bản để triển khai thực hiện trên địa bàn.
Hằng năm Thanh tra tỉnh ban hành nhiều công văn hướng dẫn, đôn đốc các cơ quan, đơn vị, địa phương thực hiện Chỉ thị số 33-CT/TW, Nghị định số 78/2013/NĐ-CP, Thông tư số 08/2013/TT-TTCP và Nghị định số 130/2020/NĐ-CP.
Việc ban hành các văn bản lãnh đạo, chỉ đạo của UBND tỉnh và Chủ tịch UBND tỉnh đã thể hiện được tính kịp thời, đầy đủ trong thực hiện Chỉ thị số 33-CT/TW và Luật Phòng, chống tham nhũng về thực hiện công tác kê khai tài sản, thu nhập và kiểm soát tài sản, thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn.
Trong gần 10 năm qua, công tác lãnh đạo, chỉ đạo công tác kiểm tra, giám sát, thanh tra việc thực hiện quy định của Đảng và Nhà nước về kê khai, kiểm soát việc kê khai tài sản, thu nhập được UBND tỉnh thực hiện thường xuyên, nghiêm túc. Hàng năm, Thanh tra tỉnh ban hành văn bản đôn đốc việc kê khai và báo cáo kết quả kê khai, công khai tài sản, thu nhập để Tỉnh ủy và UBND tỉnh tổng hợp báo cáo với Trung ương theo quy định…
Công tác kiểm tra, giám sát, thanh tra, xác minh việc kê khai, kiểm soát việc kê khai tài sản theo các quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước cũng được tăng cường thực hiện. Khi có đơn thư tố cáo và phục vụ cho việc bầu cử, bổ nhiệm, bãi nhiệm hoặc phát hiện người thuộc diện phải kê khai tài sản, thu nhập có hành vi tham nhũng đã được các cấp ủy Đảng, cơ quan đơn vị thực hiện tốt công tác kiểm tra, giám sát theo phân cấp quản lý cán bộ…
Thanh tra tỉnh Bạc Liêu cho biết, hàng năm xây dựng kế hoạch kiểm tra, giám sát việc thực hiện Chỉ thị số 33-CT/TW và thành lập các đoàn kiểm tra, giám sát việc thực hiện chỉ thị. Qua kiểm tra, giám sát, nhất là qua công tác thanh tra trách nhiệm thủ trưởng trong thi hành pháp luật về phòng, chống tham nhũng đối với người đứng đầu của các cơ quan, đơn vị, địa phương trong tỉnh phát hiện công tác kê khai, minh bạch tài sản, thu nhập theo quy định của pháp luật trên địa bàn tỉnh còn có những khó khăn, vướng mắc, hạn chế yếu kém. Thanh tra tỉnh đã kịp thời báo cáo UBND tỉnh và Chủ tịch UBND tỉnh, chủ động tham mưu ban hành Công văn số 88/UBND-NC ngày 9/1/2018 của Chủ tịch UBND tỉnh về việc tăng cường công tác kê khai, minh bạch tài sản, thu nhập trên địa bàn tỉnh.
Trong gần 10 năm qua, Thanh tra tỉnh đã thực hiện 22 cuộc thanh tra việc kê khai, kiểm soát tài sản thu nhập và 3 cuộc kiểm tra đột xuất theo chỉ đạo đối với 30 cơ quan, đơn vị trên địa bàn tỉnh, ban hành 25 kết luận, phát hiện 25 cơ quan, đơn vị có vi phạm về kê khai, tài sản thu nhập.
Qua kết quả kiểm tra, giám sát việc thực hiện Chỉ thị số 33-CT/TW trên địa bàn tỉnh Bạc Liêu, nhìn chung các sở, ban, ngành, địa phương trong tỉnh đều thực hiện tốt theo tinh thần, nội dung Chỉ thị số 33-CT/TW và các văn bản có liên quan.
Các cấp ủy Đảng, chính quyền, đảng viên, cán bộ, công chức, viên chức đều nhận thức sâu sắc, ý nghĩa, mục đích, yêu cầu, tầm quan trọng của công tác kê khai, công khai tài sản, thu nhập; nâng cao ý thức, trách nhiệm, tích cực lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện đúng theo quy định…
| Theo UBND tỉnh Bạc Liêu, toàn tỉnh có hơn 350 cơ quan, đơn vị có trách nhiệm tổ chức kê khai với hơn 29.300 người. Quá trình thực hiện có 99,96% người đã kê khai (chỉ có 10 người chậm thực hiện kê khai với những lý do như đi học, công tác nước ngoài, bị bệnh nặng…). Việc công khai bản kê khai cũng được thực hiện nghiêm túc, đúng quy định, có hơn 8.300 bản được công khai bằng hình thức niêm yết, hơn 21.000 bản được công khai bằng hình thức công bố tại cuộc họp, không có bản kê nào chưa được công khai… |
Kể từ khi thành lập đến nay, Ban Chỉ đạo PCTN, TC tỉnh Thái Bình đã tham mưu Ban Thường vụ Tỉnh ủy ban hành 15 văn bản, đồng thời ban hành 21 văn bản để tập trung lãnh đạo, chỉ đạo công tác PCTN, TC.
Bên cạnh đó, Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy cũng phối hợp tổ chức 7 cuộc tuyên truyền để quán triệt các quy định của Đảng và pháp luật của Nhà nước về PCTN, TC, thông tin về tình hình, kết quả công tác PCTN, TC của trung ương và của tỉnh.
Khởi tố mới 18 vụ với 51 bị can phạm tội về tham nhũng
Ban Chỉ đạo, Thường trực Ban Chỉ đạo đã chỉ đạo rà soát, quyết định đưa 4 vụ án, 5 vụ việc tham nhũng, tiêu cực có tính chất nghiêm trọng, dư luận xã hội quan tâm trên địa bàn tỉnh vào diện Ban Chỉ đạo tỉnh theo dõi, chỉ đạo. Đến nay, có 2 vụ việc đã kết thúc quá trình xử lý theo quy định và được xem xét, đưa ra khỏi diện Ban Chỉ đạo tỉnh theo dõi, chỉ đạo; 7 vụ án, vụ việc đang được tiếp tục chỉ đạo làm rõ.
Kể từ tháng 6/2022 đến nay, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Thái Bình đã khởi tố mới 18 vụ/51 bị can phạm tội về tham nhũng. Cũng trong thời gian 1 năm qua, Ban Chỉ đạo tỉnh nhận được 206 đơn thư của công dân. Qua đó, đã xử lý 122/206 đơn có nội dung phản ánh, tố cáo về tham nhũng, tiêu cực, chuyển 58 đơn đến cơ quan, đơn vị có thẩm quyền xem xét, xử lý.
Tại hội nghị sơ kết 01 năm hoạt động của Ban chỉ đạo PCTN,TC tỉnh ngày 16/6 mới đây, Bí thư Tỉnh ủy Thái Bình cũng đánh giá cao nhận thức, ý thức trách nhiệm của các cấp ủy, chính quyền, cán bộ, đảng viên và nhân dân đối với công tác PCTN, TC. Từ đó, đã có nhiều chuyển biến tích cực, tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội được giữ vững. Qua đó, góp phần củng cố niềm tin của cán bộ, đảng viên và nhân dân đối với cấp ủy đảng, chính quyền các cấp.
Ban Chỉ đạo PCTN, TC tỉnh cũng đã chủ động nắm chắc tình hình, chỉ đạo kịp thời các vụ việc phát sinh ngay từ cơ sở; công tác tuyên truyền, phổ biến các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước tiếp tục được quan tâm góp phần tạo sự thống nhất, đồng thuận cao của cả hệ thống chính trị, cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân trong thực hiện nhiệm vụ của tỉnh.
Theo đó, trong thời gian tới, cấp ủy, chính quyền các cấp cần nâng cao nhận thức trong quán triệt nghiêm quan điểm, chủ trương, định hướng chỉ đạo của trung ương, nhất là của đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng để tổ chức triển khai kịp thời, chặt chẽ về công tác PCTN, TC trên địa bàn tỉnh. Tập trung cho công tác tuyên truyền bảo đảm thực chất, hiệu quả, đúng, rõ vấn đề. Tiếp tục rà soát, bổ sung, cập nhật, hoàn thiện các chỉ đạo mới của trung ương về công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực.
Đồng thời, tiếp tục bám sát nhiệm vụ được phân công tổ chức triển khai thực hiện hiệu quả các nhiệm vụ Ban Chỉ đạo tỉnh đã thống nhất; trong đó, chú trọng đẩy mạnh công tác phòng ngừa trong lĩnh vực PCTN, TC, không để xảy ra các nguy cơ dẫn đến các điều kiện, sự việc liên quan. Công tác PCTN, TC phải được đặt trong tổng thể các mặt công tác khác để bảo đảm đồng bộ, hiệu quả. Nâng cao vai trò, trách nhiệm của các cấp, các ngành, Mặt trận tổ quốc, các đoàn thể, nhất là người đứng đầu trong triển khai thực hiện công tác PCTN, TC và làm tốt nhiệm vụ được giao, góp phần thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ chính trị Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XX đã đề ra.
Trước đó, ngày 18/5, Ban Chỉ đạo PCTN, TC tỉnh Thái Bình cũng đã tổ chức phiên họp thứ tư. Qua đó, Ban Chỉ đạo tỉnh yêu cầu UBND tỉnh, các cấp, các ngành tiếp tục thực hiện nghiêm các quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước; đặc biệt là chỉ đạo của Chính phủ trong việc nâng cao trách nhiệm của các cơ quan chức năng, cán bộ, công chức, nhất là trong lãnh đạo, chỉ đạo triển khai thực hiện các quy định của pháp luật, chức trách, nhiệm vụ được giao. Đặc biệt, tuyệt đối không được để xảy ra tình trạng đùn đẩy, né tránh trách nhiệm cũng như là lợi dụng các cơ chế, chính sách để nhũng nhiễu, gây khó khăn đối với doanh nghiệp và người dân. Đồng thời, các cơ quan chức năng tuân thủ nghiêm, đầy đủ các quy định của pháp luật trong quá trình giải quyết thủ tục hành chính cho người dân và doanh nghiệp./.
Kết quả, toàn ngành Thanh tra triển khai 40 cuộc thanh tra, trong đó số cuộc thanh tra theo kế hoạch 31, số cuộc thanh tra đột xuất 09. Kết thúc 25 cuộc và kết luận 21 cuộc. Qua thanh tra, phát hiện sai phạm về kinh tế 3.449,16 triệu đồng (kiến nghị xử lý thu hồi về ngân sách nhà nước 2.235,27 triệu đồng; đã thu hồi 123 triệu đồng, kiến nghị xử lý bằng hình thức khác 1.213,89 triệu đồng). Kiến nghị kiểm điểm, xử lý hành chính trách nhiệm đối với 06 tổ chức và 53 cá nhân, đã tổ chức kiểm điểm xử lý 04 tổ chức, 23 cá nhân.
Thanh tra các sở, ngành tiến hành 5.257 cuộc thanh tra, kiểm tra (triển khai trong kỳ 5.249 cuộc) đối với 6.279 lượt tổ chức và cá nhân trong việc chấp hành chính sách, pháp luật, quy định của nhà nước trên các lĩnh vực: trật tự xây dựng, trật tự an toàn giao thông, quản lý tài chính và ngân sách nhà nước, hoạt động khám chữa bệnh, vệ sinh an toàn thực phẩm, vệ sinh an toàn lao động, kinh doanh dịch vụ văn hóa, thông tin và truyền thông, khoa học và công nghệ, công thương, tài nguyên, môi trường… Trong đó, thanh tra thường xuyên 888 cuộc, theo kế hoạch 4.353 cuộc và 16 cuộc đột xuất.
Qua thanh tra, kiểm tra phát hiện 902 tổ chức, cá nhân có vi phạm: vi phạm về kinh tế 1.089,58 triệu đồng (xử lý thu hồi về cho nhà nước 1.065,6 triệu đồng, kiến nghị xử lý khác về kinh tế 23,98 triệu đồng); ban hành 453 quyết định xử phạt vi phạm hành chính các tổ chức cá nhân với số tiền 4.042,95 triệu đồng.
Ngoài ra, Thanh tra các cấp, các ngành theo dõi, kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện kết luận, kiến nghị, quyết định xử lý đối với 39 kết luận thanh tra (bao gồm một số kết luận của các năm trước chưa thực hiện xong được chuyển sang kiểm tra, đôn đốc trong kỳ).
Nhìn chung, toàn ngành Thanh tra tỉnh Cà Mau hoàn thành nhiệm vụ được giao theo kế hoạch thanh tra, có trọng tâm, trọng điểm, tập trung công tác quản lý nhà nước, quản lý kinh tế – xã hội của các ngành, các cấp và việc chấp hành pháp luật của tổ chức, cá nhân trên các lĩnh vực. Qua kết quả thanh tra phát hiện, kiến nghị xử lý kịp thời, nghiêm minh, đúng pháp luật một số vụ việc vi phạm, góp phần chấn chỉnh, khắc phục những sơ hở, thiếu sót, nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước trên địa bàn tỉnh. Kết quả của ngành Thanh tra tỉnh đóng góp quan trọng trong công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực.
Riêng Thanh tra tỉnh tăng cường theo dõi, hướng dẫn việc xây dựng, triển khai kế hoạch thanh tra năm 2023, không để xảy ra chồng chéo, trùng lặp, gây phiền hà cho các cơ quan, đơn vị, nhất là đối với các doanh nghiệp; phát động Thanh tra các sở, ngành, địa phương phổ biến quán triệt, tổ chức thực hiện nghiêm túc Nghị quyết số 65-NQ/BCSĐ của Ban cán sự đảng Thanh tra Chính phủ về việc tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chính trị của ngành Thanh tra năm 2023.
Đồng thời, đưa nhiệm vụ tập trung rà soát, phân loại và xử lý các kiến nghị, kết luận của thanh tra, kiểm toán còn tồn đọng từ các năm trước chuyển sang làm nhiệm vụ trọng tâm của đơn vị.
Trong thời gian tới toàn ngành Thanh tra tỉnh sẽ tập trung triển khai thực hiện đúng tiến độ, bảo đảm chất lượng, hiệu quả các cuộc thanh tra còn lại trong Kế hoạch thanh tra năm 2023; đồng thời chủ động thực hiện kịp thời các cuộc thanh tra đột xuất khi phát hiện có dấu hiệu vi phạm pháp luật theo chỉ đạo của cấp có thẩm quyền; tăng cường theo dõi, đôn đốc, kiểm tra việc thực hiện các kết luận, kiến nghị, quyết định xử lý về thanh tra theo quy định./.
Các cơ quan, đơn vị, địa phương cũng đã xây dựng và tổ chức thực hiện quy chế chi tiêu nội bộ đúng theo các văn bản quy định của Nhà nước. Đã ban hành mới 152 văn bản; sửa đổi, bổ sung 24 văn bản về định mức, tiêu chuẩn, chế độ.
Việc xây dựng, thực hiện quy tắc ứng xử của cán bộ, công chức, viên chức được Thủ trưởng các cơ quan, đơn vị, địa phương thường xuyên quán triệt, nhắc nhở cán bộ, công chức, viên chức (CBCCVC) thực hiện nghiêm Kế hoạch số 1618/KH-UBND của UBND tỉnh về triển khai thực hiện Đề án văn hóa công vụ; các quy tắc đạo đức nghề nghiệp thuộc ngành, lĩnh vực và thực hiện quy định của pháp luật về những điều CBCCVC không được làm.
Cùng với đó, các cơ quan, đơn vị thuộc tỉnh đã thực hiện chuyển đổi vị trí công tác 44 trường hợp theo quy định tại Nghị định số 59/2019/NĐ-CP.
Ngoài ra, việc thực hiện các quy định về kiểm soát tài sản, thu nhập (TSTN) của người có chức vụ, quyền hạn cũng được thực hiện đồng bộ, trong nửa đầu năm 2023 đã thực hiện tiếp nhận, kiểm tra, đối chiếu các bản kê khai tài sản, thu nhập năm 2022 và kê khai tài sản, thu nhập lần đầu của các đối tượng thuộc thẩm quyền kiểm soát của Thanh tra tỉnh. Trong kỳ, Thanh tra tỉnh đã tiếp nhận 2.047 bản kê khai tài sản (trong đó có 193 bản kê khai lần đầu, 1.697 bản kê khai hàng năm và 157 bản kê khai bổ sung); tất cả các bản kê khai tài sản đều được công khai và lưu trữ đúng quy định.
Đồng thời, cơ quan có thẩm quyền đã kết luận việc xác minh TSTN năm 2022 của 44 người đang công tác tại 09 đơn vị trên địa bàn tỉnh. Năm 2023, Thanh tra tỉnh đã tổ chức bốc thăm lựa chọn ngẫu nhiên người được xác minh TSTN năm 2023 với sự chứng kiến của đại diện Ủy ban Kiểm tra Tỉnh ủy và Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh theo quy định. Hiện đã ban hành kết luận xác minh TSTN tại 02 đơn vị với 09 người.
Đối với công tác chỉ đạo triển khai các quy định pháp luật về PCTN và tuyên truyền, phổ biến pháp luật về PCTN, trong những tháng đầu năm 2023, UBND tỉnh Gia Lai đã ban hành các Kế hoạch số 180/KH-UBND về thực hiện công tác phòng, chống tham nhũng trên địa bàn tỉnh năm 2023 và Kế hoạch số 646/KH-UBND về đánh giá công tác PCTN năm 2022; Văn bản số 147/UBND-NC về việc triển khai thực hiện văn bản số 766/VPCP-V.I của Văn phòng Chính phủ thông báo ý kiến chỉ đạo của Phó Thủ tướng Chính phủ liên quan đến chương trình công tác năm 2023 của Ban Chỉ đạo Trung ương về PCTN, tiêu cực và các Báo cáo số: 66/BC-UBND về thực hiện Chỉ thị 33-CT/TW của Bộ Chính trị về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với việc kê khai và kiểm soát việc kê khai tài sản, 97/BC-UBND về tự đánh giá công tác PCTN năm 2022.
Trên cơ sở Kế hoạch của UBND tỉnh, tất cả các cơ quan, đơn vị, địa phương thuộc tỉnh Gia Lai đã xây dựng các kế hoạch của cơ quan, địa phương mình để triển khai thực hiện. Các Sở, ban, ngành, các huyện, thị xã, thành phố tiếp tục đẩy mạnh tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật về PCTN, trong đó lồng ghép tuyên truyền các văn bản mới của Đảng, Nhà nước về PCTN. Theo đó, đã biên soạn, cấp phát 21.200 tài liệu có nội dung tuyên truyền pháp luật về PCTN; đã tổ chức 447 đợt tuyên truyền, phổ biến các quy định của pháp luật về PCTN, khiếu nại, tố cáo, tiếp công dân, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí,… với hơn 23.705 lượt người tham dự; thực hiện tuyên truyền trên sóng truyền thanh, hệ thống loa di động với 36 tin, bài gồm những nội dung liên quan đến pháp luật về khiếu nại, tố cáo và PCTN, tiêu cực.
Về kết quả phát hiện, xử lý tham nhũng, qua công tác thanh tra, UBND huyện Chư Prông đã chuyển 01 hồ sơ vụ việc có dấu hiệu hành vi tham nhũng sang Cơ quan Cảnh sát Điều tra theo quy định của pháp luật (vụ bà Vũ Thị Thanh Tâm – Nguyên Kế toán Trường THCS Ngô Gia Tự).
Có thể nói, UBND tỉnh Gia Lai đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo các cấp, các ngành, tổ chức quán triệt và triển khai thực hiện nghiêm các quy định của Đảng, Nhà nước về công tác PCTN, xác định đây là nhiệm vụ thường xuyên, liên tục, lâu dài và phải được thực hiện đồng bộ giữa các cấp, các ngành trên địa bàn tỉnh. UBND tỉnh đã ban hành 7 chương trình, kế hoạch cụ thể hóa các mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp về công tác PCTN theo đúng quy định. Trên cơ sở đó, công tác PCTN, tiêu cực của tỉnh đạt được những chuyển biến tích cực: Việc chỉ đạo, phối hợp, theo dõi, đôn đốc được thực hiện thường xuyên; các giải pháp về phòng ngừa tham nhũng được các cơ quan, đơn vị thực hiện đầy đủ, đảm bảo hoạt động của các cơ quan, đơn vị luôn công khai, minh bạch. Tuy nhiên, còn chưa phát hiện tham nhũng qua công tác kiểm tra nội bộ và hoạt động giám sát của các cơ quan có thẩm quyền.
Trong thời gian tới, UBND tỉnh Gia Lai sẽ tăng cường tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức pháp luật về PCTN; xây dựng văn hóa tiết kiệm, không tham nhũng, trước hết là trong CBCCVC; thực hiện đồng bộ các giải pháp, biện pháp theo kế hoạch PCTN năm 2023; đẩy mạnh công tác thanh tra, kiểm tra việc thực hiện các quy định của pháp luật về PCTN; nâng cao vai trò trách nhiệm và tính tiên phong, gương mẫu của CBCCVC nhà nước, trước hết là người đứng đầu trong việc tổ chức thực hiện công tác PCTN gắn với thực hành tiết kiệm, chống lãng phí tại cơ quan, địa phương, đơn vị; kịp thời phát hiện và xử lý nghiêm người có hành vi sai phạm theo đúng quy định của pháp luật; tiếp tục triển khai thực hiện Luật PCTN năm 2018 và các văn bản hướng dẫn thi hành.

Ban Chỉ đạo đã tổ chức họp phiên thứ nhất để thảo luận về 03 dự thảo văn bản của Ban Chỉ đạo gồm: Quy chế làm việc của Ban Chỉ đạo, Quyết định phân công nhiệm vụ thành viên Ban Chỉ đạo, Chương trình công tác năm 2022 của Ban Chỉ đạo. Đồng thời, cho chủ trương về một số nhiệm vụ trọng tâm thời gian tiếp theo của Ban Chỉ đạo nhằm khắc phục những tồn tại, hạn chế và đề ra các giải pháp nâng cao hơn nữa chất lượng, hiệu quả công tác PCTN,TC trên địa bàn tỉnh. Phiên họp thứ 2 thảo luận, cho chủ trương về các nội dung: Kiểm điểm kết quả hoạt động năm 2022; triển khai Chương trình công tác năm 2023 của Ban Chỉ đạo; báo cáo tiến độ xử lý các vụ án, vụ việc do các Đoàn công tác của Ban Chỉ đạo Trung ương về PCTN,TC kiến nghị Ban Thường vụ Tỉnh ủy chỉ đạo, xử lý; thống nhất đưa 05 vụ án tham nhũng, tiêu cực vào diện Ban Chỉ đạo tỉnh theo dõi, chỉ đạo.
Cùng với đó, Bám sát sự lãnh đạo, chỉ đạo của Ban Chỉ đạo Trung ương về PCTN,TC, Ban Nội chính Trung ương và Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Ban Chỉ đạo đã chủ động tham mưu giúp Ban Thường vụ Tỉnh ủy lãnh đạo, chỉ đạo, quán triệt, triển khai, thực hiện các chủ trương, nghị quyết của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước về công tác PCTN,TC. Qua đó, công tác đấu tranh, PCTN,TC trên địa bàn tỉnh đã được các cấp ủy đảng, các cơ quan, đơn vị thực hiện nghiêm túc và có chuyển biến tích cực; thủ trưởng các cơ quan, tổ chức, đơn vị đã chủ động hơn trong kiểm tra, thanh tra phát hiện xử lý kịp thời các hành vi tham nhũng, tiêu cực; các cơ quan tư pháp đã tích cực điều tra, truy tố, xét xử các vụ án tham nhũng đảm bảo đúng quy định của pháp luật. Yêu cầu các cấp ủy, tổ chức đảng, cơ quan, đơn vị, địa phương lãnh đạo, chỉ đạo, thực hiện nghiêm Kết luận của Đồng chí Tổng Bí thư, Trưởng Ban Chỉ đạo tại Phiên họp thứ 22 của Ban Chỉ đạo đảm bảo về thời gian, tiến độ theo quy định và định kỳ báo cáo Thường trực Tỉnh ủy để kịp thời lãnh đạo, chỉ đạo, xử lý theo quy định của pháp luật.
Cụ thể, Ban Chỉ đạo thực hiện 03 cuộc kiểm tra, 02 cuộc giám sát, giám sát thường xuyên và thanh tra. Kiểm tra việc lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện Kết luận số 12-KL/TW, ngày 06/4/2022 của Bộ Chính trị về tiếp tục tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác PCTN, tiêu cực tại Ban Thường vụ Huyện ủy Mai Châu. Kiểm tra việc lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện Chỉ thị số 10/CT-TTg về việc tăng cường xử lý, ngăn chặn có hiệu quả tình trạng, nhũng nhiễu, gây phiền hà cho người dân, doanh nghiệp trong giải quyết công việc tại Sở Kế hoạch và Đầu tư. Chỉ đạo kiểm tra chuyên đề về việc tiếp nhận, xử lý tố giác, tin báo tội phạm, kiến nghị, khởi tố các vụ việc, vụ án tham nhũng, tiêu cực. Giám sát việc triển khai, cụ thể hoá thực hiện các kế hoạch, quy định của cấp có thẩm quyền về kiểm soát quyền lực trong công tác cán bộ và chống chạy chức, chạy quyền tại Ban Thường vụ Huyện uỷ Lương Sơn, Ban Thường vụ Huyện ủy Đà Bắc. Giám sát công tác PCTN tại Chi Cục Thi hành án dân sự thành phố Hòa Bình…
Cùng với đó, Ban Chỉ đạo, các đồng chí thành viên Ban Chỉ đạo thường xuyên chỉ đạo kiểm tra, giám sát về công tác PCTN,TC. Chỉ đạo kiểm tra, giám sát cán bộ, đảng viên chấp hành quy định nêu gương; quy định những điều đảng viên không được làm; tổ chức đảng, người đứng đầu, cán bộ chủ chốt đê xảy ra tham nhũng, tiêu cực. Kiểm tra, xử lý nghiêm minh kịp thời các tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên có dấu hiệu vi phạm trong các vụ án, vụ việc tham nhũng, tiêu cực trên địa bàn tỉnh, nhất là các vụ án, vụ việc thuộc diện Ban Chỉ đạo theo dõi, chỉ đạo. Giám sát việc tu dưỡng, rèn luyện đạo đức, lối sống của người đứng đầu, cán bộ chủ chốt và cán bộ, đảng viên ở nơi làm việc. Các đồng chí thành viên Ban Chỉ đạo thường xuyên chỉ đạo, đôn đốc, kiểm tra, giám sát công tác PCTN,TC tại các cấp ủy, tổ chức đảng, lĩnh vực, địa bàn, chuyên đề được phân công quản lý, theo dõi, phụ trách; nhất là trong triển khai thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng và các kết luận phiên họp, cuộc họp Ban Chỉ đạo.
Bên cạnh đó, Ban Chỉ đạo giao đồng chí Chánh Thanh tra tỉnh, thành viên Ban Chỉ đạo lãnh đạo, chỉ đạo đôn đốc, kiểm tra công tác thanh tra trách nhiệm của các sở, ban, ngành, UBND các huyện, thành phố, tập trung vào những lĩnh vực, địa bàn, vị trí công tác dễ phát sinh, tham nhũng, lãng phí, tiêu cực như: Công tác cán bộ, quản lý, sử dụng đất đai, khai thác tài nguyên, khoáng sản, đầu tư xây dựng, quản lý tài chính, ngân sách, đầu tư mua sắm tài sản công; việc chấp hành pháp luật về thuế và thực hiện nghĩa vụ tài chính với Nhà nước gắn với chống thất thu ngân sách nhà nước; quản lý, sử dụng kinh phí ủng hộ, tài trợ, viện trợ khắc phục hậu quả dịch bệnh, thiên tai. Thực hiện nghiêm cơ chế phối hợp trong phát hiện, xử lý sai phạm, thu hồi tài sản trong quá trình thanh tra, kiểm tra, cơ chế bảo vệ, khuyến khích người dân, doanh nghiệp phản ánh, tố giác cán bộ, đảng viên tham nhũng, tiêu cực, nhũng nhiễu, gây phiền hà cho người dân, doanh nghiệp trong giải quyết công việc. Chỉ đạo giải quyết khiếu nại, tố cáo về tham nhũng, tiêu cực: Từ khi thành lập đến nay, Ban Chỉ đạo tiếp nhận 05 đơn khiếu nại, Ban Nội chính Tỉnh ủy – Cơ quan Thường trực Ban Chỉ đạo đã tham mưu giúp Ban Chỉ đạo chuyển 02 đơn đến Đảng ủy Công an tỉnh, Ban cán sự Đảng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh xem xét, xử lý theo thẩm quyền, lưu 03 đơn theo quy định.
Tại phiên họp thứ 2, Ban Chỉ đạo đã thống nhất đưa 05 vụ án vào diện Ban Chỉ đạo theo dõi, chỉ đạo; đồng thời chỉ đạo các cơ quan tố tụng đẩy nhanh tiến độ xác minh, điều tra, truy tố, xét xử đối với các vụ án, xử lý các vụ việc tham nhũng, kinh tế, tiêu cực nghiêm trọng, phức tạp dư luận xã hội quan tâm đảm bảo đúng thời gian theo quy định của pháp luật. Đến ngày 31/5/2023, 03 vụ án đang trong quá trình điều tra, 01 vụ án đang trong thời hạn truy tố của Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh, 01 vụ án đã ban hành cáo trạng chuyển Tòa án nhân dân tỉnh.
Ban Nội chính Tỉnh ủy – Cơ quan Thường trực Ban Chỉ đạo theo dõi, đôn đốc đối với 06 vụ án tham nhũng, tiêu cực trên địa bàn tỉnh; theo dõi kết quả xử lý 02 vụ việc, vụ án có dấu hiệu, hành vi tiêu cực, dư luận xã hội quan tâm. Đến nay, 03 yụ án đang trong quá trình điều tra, 01 vụ án trong thời hạn truy tố của Viện Kiểm sát, 02 vụ án đã đưa ra xét xử. Các vụ án nêu trên đang được các cơ quan chức năng đẩy nhanh tiến độ xử lý đảm bảo đúng quy định của pháp luật về tố tụng hình sự, việc xử lý đảm bảo theo đúng quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước.
Các cơ quan chức năng đã có nhiều nỗ lực, cố gắng, tập trung lực lượng, tăng cường phối hợp trong giải quyết các vụ án, vụ việc tham nhũng, tiêu cực phức tạp, dư luận xã hội quan tâm. Kể từ khi thành lập Ban Chỉ đạo đến nay, toàn tỉnh đã khởi tố mới 13 vụ án tham nhũng với 42 bị can trong đó có 35 cán bộ, đảng viên; khởi tố 13 vụ án tiêu cực với 54 bị can, trong đó có 19 cán bộ, đảng viên bị khởi tố./.


