Trong khuôn khổ chuyến thăm và làm việc tại Việt Nam, chiều ngày 03/6, Đoàn Đại biểu Cấp cao Thanh tra Nhà nước Lào đã có buổi làm việc tại Tập đoàn công nghiệp – Viễn thông Quân đội (Viettel).
![]() |
| Đồng chí Khăm Phăn PHÔM-MẠ-THẮT, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Trung ương Đảng, Trưởng ban Phòng, chống tham nhũng Trung ương, Tổng Thanh tra Nhà nước Lào làm Trưởng đoàn Đại biểu Cấp cao Thanh tra Nhà nước Lào |
Dự buổi làm việc, về phía Đoàn Đại biểu Cấp cao Thanh tra Nhà nước Lào có đồng chí Khăm Phăn PHÔM-MẠ-THẮT, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Trung ương Đảng, Trưởng ban Phòng, chống tham nhũng Trung ương, Tổng Thanh tra Nhà nước Lào làm Trưởng đoàn
![]() |
| Toàn cảnh buổi làm việc |
Đoàn Đại biểu Cấp cao Thanh tra Chính phủ Việt Nam có đồng chí Dương Quốc Huy, Phó Tổng Thanh tra Chính phủ; đồng chí Đào Thế Hoằng, Ủy viên Ủy ban Kiểm tra Trung ương; Thiếu tướng Đỗ Minh Phương, Phó Tổng Giám đốc Viettel và đại diện lãnh đạo các đơn vị liên quan.
Phát biểu tại buổi làm việc, Thiếu tướng Đỗ Minh Phương, Phó Tổng Giám đốc Viettel cho biết, Viettel đầu tư vào Lào từ tháng 2/2008 theo hình thức liên doanh, trong đó Viettel chiếm 49%, đối tác Lào Asia Telecom (LAT) – Chính phủ Lào chiếm 51%.
![]() |
| Đoàn Đại biểu cấp cao hai nước tham quan tại Tập đoàn công nghiệp – Viễn thông Quân đội (Viettel) |
Tháng 10/2009 chính thức khai trương mạng di động với thương hiệu Unitel. Sau 14 năm kinh doanh, Unitel hiện là nhà mạng viễn thông lớn nhất với 3,5 triệu thuê bao, chiếm 57% thị phần. Đây là một trong những công ty đóng góp ngân sách nhiều nhất: Lũy kế đến hết 2023, đạt 537 triệu thuê bao, đứng thứ 2 tại quốc gia Lào; tạo việc làm cho khoảng 27.000 lao động; được Đảng và Chính phủ hai nước ghi nhận là hình mẫu điển hình cho hợp tác kinh tế”.
![]() |
![]() |
![]() |
| Đoàn Đại biểu cấp cao hai nước tham quan tại Tập đoàn công nghiệp – Viễn thông Quân đội (Viettel) |
Về lĩnh vực viễn thông, Viettel đã triển khai 9.441 trạm phát sóng (trong đó khoảng 4.788 trạm là trạm 4G), hơn 37,5 nghìn km cáp quang. Unitel tự hào đóng góp hạ tầng mạng lưới lớn nhất, phủ sóng khắp đất nước tới 100% các quận/huyện, trong đó dịch vụ 4G phủ sóng tới 70% bản, đưa Lào trở thành một trong các nước có vùng phủ và tốc độ 4G tốt nhất Đông Nam Á, đưa Internet tốc độ cao phổ cập đến toàn bộ người dân.
Ngoài ra, Viettel duy trì liên lạc quốc tế với 10 cổng kết nối quốc tế góp phần đảm bảo an ninh quốc phòng cho Lào. Viettel còn thực hiện nhiều chương trình xã hội ý nghĩa như: Internet miễn phí cho các trường học; đào tạo hàng trăm nhân sự chất lượng cao trong lĩnh vực công nghệ thông tin cho Lào; hỗ trợ xây dựng trường học, trạm y tế, hỗ trợ người dân chịu ảnh hưởng lũ lụt thiên tai, đại dịch Covid-19.
![]() |
| Đoàn Đại biểu cấp cao hai nước chụp ảnh lưu niệm tại Đoàn Đại biểu cấp cao hai nước tham quan tại Tập đoàn công nghiệp – Viễn thông Quân đội (Viettel) |
Ngoài ra, Viettel còn là đơn vị tiên phong chuyển đổi số cho Chính phủ và người dân Lào như: Ví điện tử U-money với hơn 1,6 triệu thuê bao đăng ký, 300 nghìn thuê bao sử dụng thường xuyên và 80 nghìn điểm thanh toán rộng khắp 18/18 tỉnh, kết nối liên thông tới tất cả các ngân hàng, tạo sự tiện dụng cho người dân trong các dịch vụ tài chính và thanh toán, đóng học phí, chi trả lương cho công chức, doanh nghiệp; chuyển tiền cho người dân nghèo tại các khu vực chưa có ngân hàng…
Đối với lĩnh vực thương mại quân sự, Viettel tiếp tục cung cấp các dịch vụ hỗ trợ hướng dẫn Cục Thông tin và Cục Phòng không Lào vận hành, sửa chữa, bảo hành các trang thiết bị theo cả hình thức trực tuyến và trực tiếp gồm 3 radar đã cung cấp vào năm 2017; 700 bộ máy thông tin quân sự, 130 bộ tổng đài quân sự các loại đã cung cấp năm 2020.
Đồng thời, giới thiệu, tham mưu, tư vấn Bộ Quốc phòng Lào trong việc tiếp tục sử dụng trang bị do Viettel sản xuất, đưa vào chiến lược hiện đại hóa Quân đội Nhân dân Lào giai đoạn 2024-2030.
Với kết quả trên Unitel đã nhận được nhiều Bằng khen, Huân chương của Chính Phủ Lào như: Bằng khen của Chính phủ Lào năm 2014; lọt Top 30 thương hiệu viễn thông giá trị nhất trong khu vực ASEAN và đứng số 1 tại Lào theo Brand Finance đánh giá năm 2016; được Thủ tướng Lào trao tặng Huân chương Lao động hạng hai năm 2018; nhận Huân chương Ishala hạng Nhất và Huân chương Phát triển hạng Nhất do Chủ tịch nước Lào trao tặng năm 2019 và Huân chương Lao động hạng Ba do Chủ tịch nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam trao tặng.
Về kết quả kinh doanh của Unitel, năm 2023 doanh thu đạt 129,8 triệu USD, lợi nhuận đạt 36,7 triệu USD
5 tháng đầu năm 2024, doanh thu Unitel đạt 57,9 triệu USD vượt 46,5% kế hoạch năm; lợi nhuận trước thuế đạt 17,3 triệu USD vượt 46,8% kế hoạch năm.
Chiến lược đến năm 2025, Unitel sẽ trở thành Tập đoàn Công nghệ dẫn đầu tại Lào, trong đó viễn thông là dịch vụ chủ đạo, các dịch vụ fintech, nội dung số, thương mại điện tử, y tế, giáo dục, dịch vụ, giao thông, nông nghiệp,… là động lực tăng trưởng chính trong tương lai.
Unitel đạt mục doanh thu tới năm 2025 đạt hơn 306 triệu USD, tiếp tục khẳng định là điển hình trong hợp tác kinh tế của hai Đảng, hai Nhà nước nói chung và của hai Bộ Quốc phòng hai nước nói riêng.
Tại buổi làm việc, đại diện Viettel đề nghị các đồng chí trong Đoàn Thanh tra Nhà nước Lào trên cương vị của mình sẽ tiếp tục ủng hộ các hoạt động của Unitel.
Công ty là một minh chứng cho mối quan hệ truyền thống, tốt đẹp giữa Đảng, Nhân dân hai nước nói riêng cũng như của 2 lực lượng vũ trang nói riêng – Thiếu tướng Đỗ Minh Phương nhấn mạnh.
Cảm ơn sự đón tiếp trong thị của Tập đoàn Viettel, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Trung ương Đảng, Trưởng ban Phòng, chống tham nhũng Trung ương, Tổng Thanh tra Nhà nước Lào – Khăm Phăn PHÔM-MẠ-THẮT nhấn mạnh: Trong suốt chặng đường hơn 30 năm qua, Tập đoàn đã luôn nỗ lực nghiên cứu, sáng tạo, xây dựng Tập đoàn ngày càng lớn mạnh. Đồng thời, Tổng Thanh tra Nhà nước Lào bày tỏ mong muốn, thời gian tới Tập đoàn Viettel ngày càng phát triển và vững mạnh hơn.
Chúng tôi đã theo dõi những thước phim, tư liệu của Tập đoàn. Qua đó thấy được quyết tâm và đường lối phát triển Tập đoàn trong việc đưa ra những chiến lược, phát triển của mình. Sự phát triển của Unitel có đầy dấu ấn của người Việt Nam – đồng chí Khăm Phăn PHÔM-MẠ-THẮT nhận định.
Thay mặt Đoàn đại biểu cấp cao Thanh tra Nhà nước Lào, đồng chí Khăm Phăn PHÔM-MẠ-THẮT, Tổng Thanh tra Nhà nước Lào cảm ơn Thiếu tướng Đỗ Minh Phương, Phó Tổng Giám đốc Tập đoàn Viettel đã có báo cáo chia sẻ về sự hình thành và phát triển của Tập đoàn cũng như dự kiến phát triển hợp tác đầu tư tại Lào. Đồng thời, Tổng Thanh tra Nhà nước Lào cũng chúc Tập đoàn Viettel ngày càng gặt hái được nhiều thành công và phát triển hơn nữa.
(Nguồn: ThanhtraVietNam)
Thực hiện Quyết định số 342/QĐ-TCBTT ngày 28/5/2024 của Trường Cán bộ Thanh tra (TCBTT), sáng ngày 04/6/2024, TCBTT long trọng tổ chức khai giảng lớp Bồi dưỡng nghiệp vụ Thanh tra viên Khóa 12 năm 2024.
Khóa học được tổ chức cho hơn 100 học viên là công chức đến từ cục thuế của các địa phương trên cả nước. Khóa học được tổ chức từ ngày 04/6/2024 đến ngày 16/7/2024 theo hình thức học trực tuyến (online) trong giờ hành chính.
Tham dự khai giảng có ThS. CVCC. Phạm Thị Thu Hiền, Phó Hiệu trưởng TCBTT; CVC. Lục Quế Yên, Phó Trưởng phòng Đào tạo; đại diện các phòng, khoa, Trung tâm Tư liệu, Khoa học và Dịch vụ cùng toàn thể các học viên.

Thay mặt Ban Giám hiệu, Phó Hiệu trưởng nhiệt liệt chào đón các học viên tham dự khóa học. Trong thời gian học tập, các học viên sẽ được các giảng viên của Nhà trường, giảng viên kiêm chức giảng dạy, trao đổi 13 chuyên đề thuộc phần kiến thức chung, 14 chuyên đề thuộc phần kỹ năng nghiệp vụ và tham gia thực hành các tình huống giả định liên quan đến nghiệp vụ thanh tra, tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo và phòng, chống tham nhũng, tiêu cực.
Phó Hiệu trưởng nhấn mạnh, ngoài các lớp bồi dưỡng nghiệp vụ Thanh tra viên, Thanh tra viên chính và Thanh tra viên cao cấp, Trường Cán bộ Thanh tra đã dày công xây dựng nhiều chương trình bồi dưỡng ngắn hạn, chuyên sâu trong phạm vi quản lý nhà nước của Thanh tra Chính phủ và đã nhận được sự đánh giá rất cao của các đơn vị, bộ ngành và địa phương, cụ thể như: Nghiệp vụ Trưởng đoàn Thanh tra; Tổ trưởng Tổ xác minh giải quyết khiếu nại, tố cáo; Tiếp công dân; Xác minh tài sản thu nhập; Kỹ năng xử phạt vi phạm hành chính; Bồi dưỡng đối với lãnh đạo, quản lý cấp phòng; ngạch chuyên viên và chuyên viên chính;…
TCBTT đặc biệt quan tâm, chuẩn bị rất kỹ lưỡng về giáo trình, tài liệu cũng như đội ngũ giảng viên tham gia giảng dạy cho các lớp của ngành thuế. Ban Giám hiệu Nhà trường đề nghị toàn thể các học viên của lớp tập trung tối đa cho việc học tập, nghiên cứu, tuân thủ nghiêm túc các quy định của Nhà trường để khóa học có kết quả tốt nhất.
Kết thúc Lễ Khai giảng, Phó Hiệu trưởng chúc cho khóa học thành công tốt đẹp và chúc các học viên nhiều sức khỏe, hoàn thành tốt nhiệm vụ học tập với kết quả cao.
Ngay sau Lễ Khai giảng, TS. Nguyễn Tuấn Khanh, giảng chuyên đề: “Khái quát chung về công tác thanh tra”./.
Thế Nghĩa
1. Chủ thể có thẩm quyền xây dựng pháp luật
Xây dựng pháp luật (XDPL) là nhiệm vụ cơ bản, quan trọng của Nhà nước, các cơ quan nhà nước và đội ngũ cán bộ, công chức trong các cơ quan nhà nước, đơn vị vũ trang nhân dân. Đảng Cộng sản Việt Nam là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội[1]. Quốc hội thực hiện quyền lập hiến, quyền lập pháp, có nhiệm vụ, quyền hạn làm Hiến pháp và sửa đổi Hiến pháp, làm luật và sửa đổi luật[2]; Uỷ ban Thường vụ Quốc hội (UBTVQH) có nhiệm vụ và quyền hạn ra pháp lệnh về những vấn đề được Quốc hội giao[3]; Chủ tịch nước, UBTVQH, Hội đồng Dân tộc, các Uỷ ban của Quốc hội, Chính phủ, Toà án nhân dân tối cao (TANDTC), Viện kiểm sát nhân dân tối cao (VKSNDTC), Kiểm toán Nhà nước, Ủy ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (UBTƯMTTQVN) và cơ quan trung ương của các tổ chức thành viên của Mặt trận có quyền trình dự án luật trước Quốc hội, trình dự án pháp lệnh trước UBTVQH; đại biểu Quốc hội (ĐBQH) có quyền trình kiến nghị về luật, pháp lệnh và dự án luật, dự án pháp lệnh trước Quốc hội, UBTVQH[4]; Chủ tịch nước có nhiệm vụ, quyền hạn công bố Hiến pháp, luật, pháp lệnh[5]; Chính phủ có nhiệm vụ, quyền hạn đề xuất, xây dựng, trình dự án luật trước Quốc hội và trình dự án pháp lệnh trước UBTVQH[6]; đồng thời Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ có thẩm quyền ban hành văn bản pháp luật[7]. Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật ở Việt Nam hiện nay bao gồm: Hiến pháp; Bộ luật, luật (sau đây gọi chung là luật), nghị quyết của Quốc hội; Pháp lệnh, nghị quyết của UBTVQH; nghị quyết liên tịch giữa UBTVQH với Đoàn Chủ tịch UBTƯMTTQVN; Lệnh, quyết định của Chủ tịch nước; Nghị định của Chính phủ; nghị quyết liên tịch giữa Chính phủ với Đoàn Chủ tịch UBTƯMTTQVN; Quyết định của Thủ tướng Chính phủ; Nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán TANDTC; thông tư của Chánh án TANDTC;thông tư của Viện trưởng VKSNDTC; thông tư của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ; thôngtư liên tịch giữa Chánh án TANDTC với Viện trưởng VKSNDTC; thông tư liên tịch giữa Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ với Chánh án TANDTC, Viện trưởng VKSNDTC; quyết định của Tổng Kiểm toán nhà nước; Nghị quyết của Hội đồng nhân dân (HĐND) tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi chung là cấp tỉnh); Quyết định của Ủy ban nhân dân (UBND) cấp tỉnh; Văn bản quy phạm pháp luật của chính quyền địa phương ở đơn vị hành chính – kinh tế đặc biệt; Nghị quyết của HĐND huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, thành phố thuộc thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi chung là cấp huyện); Quyết định của UBND cấp huyện; Nghị quyết của HĐND xã, phường, thị trấn (sau đây gọi chung là cấp xã); Quyết định của UBND cấp xã[8].
Như vậy, theo quy định của Hiến pháp và Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật có nhiều chủ thể trong bộ máy nhà nước có chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn ban hành văn bản quy phạm pháp luật với hình thức, tên gọi, phạm vi điều chỉnh, đối tượng áp dụng, nội dung, giá trị pháp lý khác nhau và mỗi hình thức văn bản phải thực hiện theo một trình tự, thủ tục xây dựng, ban hành nhất định.
Tại Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 09/11/2022 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về tiếp tục xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa (XHCN) Việt Nam trong giai đoạn mới đánh giá: Quyền lực nhà nước chưa được kiểm soát hiệu quả, cơ chế kiểm soát quyền lực chưa hoàn thiện. Đồng thời, Trung ương Đảng cũng thống nhất chủ trương, giải pháp hoàn thiện cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước; đẩy mạnh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực. Kết luận số 19-KL/TW ngày 14/10/2021 của Bộ Chính trị về định hướng Chương trình xây dựng pháp luật (XDPL) nhiệm kỳ Quốc hội khóa XV đã xác định: Chú trọng chống tiêu cực ngay trong công tác XDPL, không bị chi phối, tác động bởi các hành vi không lành mạnh của bất cứ tổ chức, cá nhân nào, không để xảy ra tình trạng lồng ghép “lợi ích nhóm”, lợi ích cục bộ của cơ quan quản lý nhà nước trong văn bản pháp luật.
2. Việc thực hiện kiểm soát quyền lực và phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trong xây dựng pháp luật
Trước hết, chúng ta cần làm rõ về mặt khoa học các vấn đề về XDPL; kiểm soát quyền lực; lợi ích nhóm, tham nhũng, tiêu cực trong XDPL, để từ đó đưa ra các nguyên tắc chung nhất nhằm kiểm soát quyền lực để phòng, chống lợi ích nhóm, tham nhũng, tiêu cực trong XDPL, theo đó:
XDPL được hiểu là hoạt động của cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền trong việc lập chương trình XDPL, soạn thảo, trình, tham gia góp ý, phản biện xã hội, thẩm định, thẩm tra, tiếp thu, chỉnh lý, ban hành văn bản quy phạm pháp luật.
Hoạt động kiểm soát quyền lực trong công tác XDPL là việc sử dụng cơ chế, biện pháp nhằm bảo đảm để cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền trong công tác XDPL thực hiện nghiêm túc các quy định trong việc lập chương trình XDPL, soạn thảo, trình, tham gia góp ý, phản biện xã hội, thẩm định, thẩm tra, tiếp thu, chỉnh lý, ban hành văn bản quy phạm pháp luật; phòng ngừa, ngăn chặn, phát hiện, xử lý hành vi vi phạm quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước, nhất là hành vi “lợi ích nhóm”, tham nhũng, tiêu cực trong công tác XDPL.
Lợi ích nhóm thể hiện qua hành vi của người có thẩm quyền trong công tác XDPL là hành vi cố ý lồng ghép, cài cắm trong văn bản quy phạm pháp luật lợi ích của một nhóm người hoặc của cơ quan, tổ chức, địa phương, có tính chất là lợi ích cục bộ, không chính đáng, không hợp pháp, mâu thuẫn với lợi ích chung, lợi ích quốc gia, dân tộc.
Tham nhũng trong công tác XDPL là hành vi của người có thẩm quyền trong công tác XDPL đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn được giao vì vụ lợi trong công tác XDPL.
Tiêu cực trong công tác XDPL là hành vi suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của người có thẩm quyền trong công tác XDPL, trước hết là cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp trong hệ thống chính trị, dẫn đến việc làm trái với chủ trương, đường lối, quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước, điều lệ của tổ chức trong công tác XDPL, gây ảnh hưởng xấu đến uy tín của Đảng, Nhà nước, làm tha hóa đội ngũ đảng viên, cán bộ, công chức, viên chức, làm giảm sút niềm tin của Nhân dân, cản trở quá trình phát triển kinh tế – xã hội.
Muốn hoàn thiện cơ chế thực thi quyền lực nhà nước, cần xác định rõ hơn vai trò, vị trí, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể của mỗi cơ quan và mối quan hệ giữa các cơ quan nhà nước trong thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp; bảo đảm quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công rành mạch, phối hợp chặt chẽ và tăng cường kiểm soát quyền lực bên trong mỗi cơ quan và giữa các cơ quan nhà nước, giữa Trung ương và địa phương, giữa các cấp chính quyền địa phương và giữa các cơ quan trong cùng một cấp chính quyền. Quy định rõ hơn thẩm quyền, trách nhiệm của cơ quan hành pháp trong kiểm soát các cơ quan thực hiện quyền lập pháp, quyền tư pháp; của cơ quan tư pháp trong kiểm soát các cơ quan thực hiện quyền hành pháp, quyền lập pháp. Mọi quyền lực phải được kiểm soát chặt chẽ bằng cơ chế, phải được ràng buộc bằng trách nhiệm; quyền lực đến đâu trách nhiệm đến đó, quyền lực càng cao trách nhiệm càng lớn; lạm dụng, lợi dụng quyền lực phải bị truy cứu trách nhiệm và xử lý. Kiểm soát quyền lực gắn với siết chặt kỷ luật, kỷ cương trong hoạt động của Nhà nước, của cán bộ, công chức, viên chức. Kết hợp chặt chẽ, hiệu quả các cơ chế kiểm tra, giám sát, kiểm soát quyền lực nhà nước của Đảng, Nhà nước và Nhân dân; thực hiện đầy đủ nguyên tắc tập trung dân chủ, trách nhiệm giải trình, công khai, minh bạch trong từng cơ quan nhà nước. Tiếp tục đổi mới, nâng cao hiệu quả hoạt động của các cơ quan kiểm tra đảng, cơ quan tham mưu, giúp việc của Đảng, cơ quan thanh tra, kiểm toán nhà nước. Hoàn thiện cơ chế để Nhân dân trực tiếp kiểm soát quyền lực nhà nước; bảo đảm quyền tiếp cận thông tin, quyền kiến nghị, phản ánh, khiếu nại, tố cáo và các quyền khác của công dân theo quy định của Hiến pháp và pháp luật. Phát huy hơn nữa vai trò của MTTQVN, các tổ chức chính trị – xã hội, đoàn thể và các cơ quan báo chí trong giám sát, kiểm soát quyền lực nhà nước. Kiên quyết, kiên trì đấu tranh, ngăn chặn, đẩy lùi tham nhũng, tiêu cực. Nghiên cứu thành lập các thiết chế mới về kiểm soát quyền lực, phòng, chống tham nhũng, tiêu cực; ban hành các quy định về kiểm soát quyền lực để phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trong công tác thanh tra, kiểm tra, kiểm toán, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án; trong công tác XDPL và quản lý, sử dụng tài chính, tài sản công. Hình thành cơ chế phòng ngừa chặt chẽ để không thể tham nhũng, tiêu cực; phát hiện, xử lý kịp thời, nghiêm minh các hành vi tham nhũng, tiêu cực để không dám tham nhũng, tiêu cực; đẩy mạnh cải cách chính sách tiền lương, nâng cao đời sống của cán bộ, công chức, viên chức; xây dựng văn hóa liêm chính, tiết kiệm để không cần, không muốn tham nhũng, tiêu cực.
Để kiểm soát quyền lực để phòng, chống “lợi ích nhóm”, tham nhũng, tiêu cực trong công tác XDPL, cần phải tuân thủ các nguyên tắc: (i) Phải bảo đảm sự lãnh đạo thống nhất, toàn diện của Đảng trong kiểm soát quyền lực; (ii) Phải bảo đảm kết hợp đồng bộ, chặt chẽ các biện pháp kiểm soát quyền lực; chủ động phòng ngừa là chính, cơ bản, lâu dài; xử lý công minh, chính xác, kịp thời, khách quan, toàn diện, căn cứ vào quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước tại thời điểm xảy ra vi phạm; bảo vệ cán bộ, đảng viên dám nghĩ, dám làm. Kỷ luật đảng không thay thế kỷ luật hành chính, kỷ luật đoàn thể và các hình thức xử lý khác theo quy định của pháp luật; (iii) Phải bảo đảm thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền trong công tác XDPL; (iv) Phải bảo đảm tuân thủ trình tự, thủ tục, tiến độ, thời hạn, chất lượng trong công tác XDPL; không làm cản trở sự chủ động, sáng tạo, công khai, minh bạch, dân chủ trong công tác XDPL; (v) Phải bảo đảm sự tham gia XDPL và giám sát việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật của MTTQVN và các tổ chức thành viên của Mặt trận, cơ quan báo chí, tổ chức xã hội khác và Nhân dân theo đúng quy định của Đảng và Nhà nước; (vi) Phải nâng cao trách nhiệm của người đứng đầu cấp ủy, cơ quan, tổ chức, đảng viên, cán bộ, công chức, viên chức trong công tác XDPL.
Đồng thời, chúng ta phải nhận diện rõ được các hành vi lợi ích nhóm tham nhũng, tiêu cực trong công tác XDPL là những hành vi có tính chất phổ biến nào, chẳng hạn như các hành vi: (i) Chủ trì ban hành hoặc tham mưu ban hành văn bản có nội dung “lợi ích nhóm”; có “tư duy nhiệm kỳ”, chạy theo mục tiêu trước mắt, trong ngắn hạn để thu vén lợi ích cho bản thân, gia đình, cho “lợi ích nhóm” mà bỏ qua những mục tiêu, lợi ích dài hạn của tập thể, cộng đồng và đất nước; cố ý trì hoãn việc bãi bỏ, thay thế, sửa đổi, ban hành văn bản quy phạm pháp luật vì mục đích “lợi ích nhóm”; tặng quà, nhận quà dưới mọi hình thức để tác động đến cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền trong công tác XDPL để ban hành chính sách pháp luật có “lợi ích nhóm”; (ii) Lạm quyền, lộng quyền, cơ hội, vụ lợi, cấu kết với doanh nghiệp, đối tượng khác để trục lợi trong công tác XDPL và các hành vi tham nhũng khác theo quy định của Luật Phòng, chống tham nhũng trong công tác XDPL; (iii) Cố ý không chấp hành nguyên tắc, thẩm quyền, trình tự, thủ tục trong công tác XDPL; (iv) Chủ trì ban hành hoặc tham mưu ban hành văn bản có nội dung trái với chủ trương, đường lối, quy định của Đảng, văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên hoặc có nhiều sơ hở, bị lợi dụng gây thiệt hại cho Nhà nước, tổ chức, cá nhân; không thực hiện, thực hiện không đúng chủ trương, đường lối, quy định của Đảng trong công tác XDPL; (v) Không chấp hành hoặc chấp hành không đầy đủ các nguyên tắc tổ chức, hoạt động của Đảng; nể nang, né tránh, ngại va chạm, không đấu tranh hoặc phụ họa theo ý kiến, quan điểm sai trái, lệch lạc; độc đoán, chuyên quyền, mất dân chủ, dân chủ hình thức, không tôn trọng ý kiến của tập thể trong công tác XDPL; (vi) Quan liêu, không sâu sát công việc, không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ trách nhiệm nêu gương theo quy định của Đảng trong công tác XDPL; (vii) Cung cấp, để lộ, làm mất hoặc viết bài, đăng những thông tin, tài liệu bí mật của Đảng, Nhà nước trong công tác XDPL; (viii) Móc nối, câu kết với các thế lực thù địch, phản động và các phần tử cơ hội, bất mãn chính trị nhằm truyền bá tư tưởng, quan điểm đối lập trong công tác XDPL; lợi dụng việc phản ánh, góp ý kiến, phản biện xã hội trong công tác XDPL để chống phá Đảng và Nhà nước; (ix) Thiếu trách nhiệm, buông lỏng lãnh đạo, quản lý để xảy ra tình trạng tham nhũng, tiêu cực; bao che, không báo cáo, phản ánh, không xử lý các hành vi tham nhũng, tiêu cực trong cơ quan, địa phương do mình trực tiếp quản lý trong công tác XDPL; (x) Sử dụng trái quy định tài chính, tài sản công, tài sản của tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân đóng góp, tài trợ trong công tác XDPL.
Các hoạt động kiểm soát quyền lực trong công tác XDPL bao gồm: (i) Hoạt động lãnh đạo, chỉ đạo, kiểm tra, giám sát của Đảng; (ii) Hoạt động kiểm soát quyền lực lẫn nhau của các cơ quan thông qua việc thực hiện thẩm quyền, trình tự, thủ tục trong công tác XDPL; (iii) hoạt động giám sát văn bản quy phạm pháp luật; (iv) Hoạt động kiểm tra của các cơ quan có thẩm quyền; (v) Hoạt động tham gia ý kiến, giám sát, phản biện xã hội của MTTQ và các tổ chức thành viên, cơ quan báo chí, tổ chức xã hội khác.
Cấp ủy, tổ chức đảng, cơ quan, tổ chức, đảng viên, cán bộ, công chức, viên chức trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm thực hiện các hoạt động kiểm soát quyền lực trong XDPL.
Cấp ủy, tổ chức đảng của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền trong công tác XDPL phải thực hiện các hoạt động đó là: (i) Lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện các nguyên tắc, quy định về công tác XDPL; lãnh đạo, chỉ đạo thể chế hóa kịp thời, chính xác, đầy đủ chủ trương, chính sách của Đảng; (ii) Rà soát, sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành theo thẩm quyền các quy định của Đảng về công tác XDPL nhằm bảo đảm trình tự, thủ tục chặt chẽ, khoa học, dân chủ, khách quan, công khai, minh bạch; (iii) Báo cáo xin ý kiến cơ quan có thẩm quyền của Đảng đối với các vấn đề lớn như: (i) Dự kiến những định hướng nội dung sửa đổi, bổ sung Hiến pháp, định hướng chương trình XDPL nhiệm kỳ Quốc hội, chương trình xây dựng luật, pháp lệnh hằng năm trước khi trình Quốc hội thông qua; (ii) Quan điểm và nội dung về một số vấn đề cơ bản còn có ý kiến khác nhau liên quan đến đường lối, chủ trương, chính sách mới, quan trọng của Đảng trong dự án, dự thảo văn bản quy phạm pháp luật; (iii) Quan điểm và nội dung về một số vấn đề cơ bản còn có ý kiến khác nhau liên quan đến thể chế chính trị, thể chế kinh tế, quốc phòng, an ninh, đối ngoại; (iv) Những vấn đề mà dư luận xã hội đặc biệt quan tâm;(v) Thường xuyên tự kiểm tra và kiểm tra, giám sát việc thực hiện nhiệm vụ của cơ quan tham mưu, giúp việc, cơ quan cấp dưới và đảng viên, cán bộ, công chức, viên chức thuộc quyền quản lý trong công tác XDPL. Kịp thời phát hiện, chấn chỉnh, xử lý nghiêm hành vi “lợi ích nhóm”, tham nhũng, tiêu cực trong công tác XDPL; (vi) Bảo vệ và khen thưởng kịp thời tổ chức, cá nhân phát hiện, phản ánh, tố cáo hành vi vi phạm trong công tác XDPL; (vii) Lãnh đạo, chỉ đạo việc đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng cán bộ, công chức làm công tác XDPL; miễn nhiệm, điều động, chuyển đổi vị trí công tác đối với những người có năng lực chuyên môn không đáp ứng yêu cầu hoặc thiếu khách quan, minh bạch trong công tác XDPL; (viii) Cung cấp thông tin, tài liệu và thực hiện yêu cầu của cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền trong quá trình kiểm tra, giám sát, xử lý hành vi “lợi ích nhóm”, tham nhũng, tiêu cực trong công tác XDPL; (ix) Chịu trách nhiệm trước cấp ủy cấp trên về việc lãnh đạo cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền bảo đảm tiến độ, chất lượng, tuân thủ trình tự, thủ tục trong công tác XDPL; chịu trách nhiệm khi để xảy ra “lợi ích nhóm”, tham nhũng, tiêu cực trong công tác XDPL.
Thành viên cấp ủy, tổ chức đảng của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền trong công tác XDPL có trách nhiệm: (i) Thực hiện đúng, đầy đủ quyền hạn, trách nhiệm và chịu trách nhiệm trước cấp ủy, tổ chức đảng đối với việc thực hiện nhiệm vụ trong công tác XDPL; (ii) Kiên quyết đấu tranh với những biểu hiện, việc làm trái với các quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước trong công tác XDPL; (iii) Thể hiện rõ chính kiến và chịu trách nhiệm về ý kiến của mình, được bảo lưu ý kiến trong công tác XDPL. Chịu trách nhiệm cá nhân và chịu trách nhiệm liên đới cùng với cấp ủy, tổ chức đảng khi để xảy ra “lợi ích nhóm”, tham nhũng, tiêu cực trong công tác XDPL, trừ trường hợp đã có ý kiến không đồng ý.
Người đứng đầu cấp ủy, tổ chức đảng của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền trong công tác XDPL phải thực hiện trách nhiệm của thành viên cấp ủy, tổ chức đảng và còn phải thực hiện: (i) Lãnh đạo cấp ủy, tổ chức đảng thực hiện trách nhiệm của cấp ủy; (ii) Chịu trách nhiệm trước cấp ủy, tổ chức đảng cấp trên đối với việc chỉ đạo trong công tác XDPL; (iii) Thường xuyên kiểm tra, giám sát đối với đảng viên, cán bộ, công chức, viên chức được giao nhiệm vụ trong công tác XDPL thuộc cơ quan, tổ chức mình. Kịp thời phát hiện, xử lý theo thẩm quyền hoặc chỉ đạo xử lý nghiêm hành vi “lợi ích nhóm”, tham nhũng, tiêu cực trong công tác XDPL.
Người đứng đầu cơ quan, tổ chức trong công tác XDPL phải thực hiện trách nhiệm: (i) Chỉ đạo, tổ chức thực hiện nghiêm các quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước trong công tác XDPL; (ii) Chỉ đạo báo cáo kịp thời, đầy đủ, trung thực cho cấp ủy, tổ chức đảng, tập thể lãnh đạo và cơ quan nhà nước có thẩm quyền đối với những nội dung quan trọng, những vấn đề lớn còn có ý kiến khác nhau của dự án, dự thảo văn bản quy phạm pháp luật; (iii) Thường xuyên kiểm tra, giám sát công tác XDPL trong cơ quan, tổ chức; xử lý các trường hợp xung đột lợi ích trong công tác XDPL theo quy định; kịp thời phát hiện, nhắc nhở, chấn chỉnh, xử lý nghiêm hành vi “lợi ích nhóm”, tham nhũng, tiêu cực trong công tác XDPL; (iv) Chỉ đạo tổ chức việc kiểm tra, giám sát, xử lý văn bản quy phạm pháp luật có dấu hiệu trái pháp luật theo thẩm quyền; (v) Phải chịu trách nhiệm trực tiếp khi để xảy ra hành vi “lợi ích nhóm”, tham nhũng, tiêu cực trong công tác XDPL của người do mình trực tiếp quản lý, giao nhiệm vụ; chịu trách nhiệm liên đới trong trường hợp đã giao cấp phó của mình chịu trách nhiệm trực tiếp phụ trách công tác XDPL; (vi) Chịu trách nhiệm về việc cơ quan, tổ chức mình không hoàn thành nhiệm vụ trong công tác XDPL cả về tiến độ trình và chất lượng dự án, dự thảo văn bản quy phạm pháp luật.
Đảng viên, cán bộ, công chức, viên chức tham mưu, đề xuất trong công tác XDPL phải thực hiện đầy đủ, nghiêm túc các nguyên tắc, quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước trong công tác XDPL; nắm vững chủ trương, đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước, các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên, tình hình thực tiễn về các vấn đề có liên quan đến chính sách mà mình tham mưu, đề xuất; bảo đảm khách quan, minh bạch, công tâm, chính xác, thận trọng, chặt chẽ trong tham mưu, đề xuất về công tác XDPL; chịu trách nhiệm về nội dung tham mưu, đề xuất của mình trong công tác XDPL; kịp thời báo cáo lãnh đạo xử lý trong trường hợp biết hoặc buộc phải biết có xung đột lợi ích khi thực hiện nhiệm vụ trong công tác XDPL và báo cáo cấp có thẩm quyền xử lý khi phát hiện các nội dung của dự án, dự thảo văn bản quy phạm pháp luật có dấu hiệu “lợi ích nhóm”, tham nhũng, tiêu cực trong công tác XDPL. Đảng viên, cán bộ, công chức, viên chức có trách nhiệm phát hiện, lắng nghe ý kiến của Nhân dân để phản ánh, kiến nghị, tố cáo, cung cấp thông tin, tài liệu cho cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền về hành vi “lợi ích nhóm”, tham nhũng, tiêu cực trong công tác XDPL, bao che, tiếp tay cho hành vi “lợi ích nhóm”, tham nhũng, tiêu cực trong công tác XDPL.
Việc tổ chức Đảng, đảng viên, thành viên cấp ủy Đảng, người đứng đầu cấp ủy Đảng và cán bộ, công chức, viên chức, người đứng đầu cơ quan, tổ chức có thẩm quyền kiểm soát quyền lực trong XDPL và phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trong xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật có sai phạm phải được kịp thời phát hiện, ngăn chặn, xử lý nghiêm minh theo quy định của Đảng và pháp luật Nhà nước./.
Thiếu tướng Hàn Mạnh Thắng
Vụ trưởng Vụ Pháp chế, Bộ Quốc phòng
(Nguồn tin: Bài viết được đăng tải trên Ấn phẩm Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp số 08 (480), tháng 04/2023.)
[1] Khoản 1 Điều 4 Hiến pháp năm 2013.
[2] Điều 69 và Điều 70 Hiến pháp năm 2013.
[3] Khoản 2 Điều 74 Hiến pháp năm 2013.
[4] Khoản 2 Điều 84 Hiến pháp năm 2013.
[5] Khoản 1 Điều 88 Hiến pháp năm 2013.
[6] Khoản 2 Điều 84 Hiến pháp năm 2013.
[7] Điều 100 Hiến pháp năm 2013.
[8] Điều 4 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2020 (Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật).
1. Điểm mới của Luật Thanh tra năm 2022 về tổ chức hoạt động thanh tra, tiếp công dân của cấp huyện
Luật Thanh tra đã được Quốc hội thông qua ngày 14/11/2022 và có hiệu lực từ ngày 01/7/2023. Với mục đích khắc phục những hạn chế, bất cập của Luật, giải quyết những khó khăn, vướng mắc trong quá trình thực hiện Luật hiện hành (Luật Thanh tra năm 2010), Luật Thanh tra năm 2022 (Luật 2022) đã có nhiều sửa đổi, bổ sung quan trọng và được kỳ vọng sẽ là công cụ pháp lý góp phần nâng cao hiệu quả, hiệu lực hoạt động thanh tra, đáp ứng được yêu cầu của tình hình mới trong bối cảnh phát triển kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế ngày càng mạnh mẽ. Một trong những sửa đổi được thể hiện trong Luật 2022 là điều chỉnh mô hình các cơ quan thanh tra theo cấp hành chính để phù hợp hơn với thực tiễn quản lý nhà nước của các Bộ, ngành, địa phương. Tuy nhiên, với thanh tra cấp huyện, cơ cấu tổ chức, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan thanh tra cấp huyện về cơ bản được giữ nguyên so với Luật hiện hành. Luật 2022 chỉ bổ sung một chức năng của thanh tra huyện đó là: “…giúp Uỷ ban nhân dân cấp huyện quản lý nhà nước về tiếp công dân; thực hiện nhiệm vụ tiếp công dân… theo quy định pháp luật[1].
Như vậy, có thể nói, Luật 2022 dường như chưa giải quyết triệt để những vấn đề còn vướng mắc trong tổ chức và hoạt động của thanh tra cấp huyện.
Thứ nhất, về tổ chức hoạt động thanh tra
Theo quy định tại Điều 30 Luật Thanh tra năm 2022, Thanh tra huyện có nhiệm vụ giúp Uỷ ban nhân dân (UBND) cấp huyện quản lý nhà nước về công tác thanh tra, tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo và phòng, chống tham nhũng, tiêu cực; thực hiện nhiệm vụ thanh tra trong phạm vi quản lý nhà nước của UBND cấp huyện; thực hiện nhiệm vụ tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo và phòng, chống tham nhũng, tiêu cực theo quy định của pháp luật. Như vậy, với việc bổ sung thêm chức năng quản lý nhà nước về tiếp công dân, thực hiện nhiệm vụ tiếp công dân, Luật 2022 đã quy định chức năng của Thanh tra huyện trên tất cả các lĩnh vực công tác của ngành giống như Thanh tra tỉnh.
Trong lĩnh vực thanh tra, Thanh tra huyện giúp UBND cùng cấp quản lý nhà nước về công tác thanh tra, nhiệm vụ, quyền hạn của Thanh tra huyện được quy định cụ thể, bao gồm: Xây dựng dự thảo kế hoạch thanh tra của Thanh tra huyện, báo cáo Chủ tịch UBND cấp huyện xem xét, quyết định trước khi gửi Thanh tra tỉnh tổng hợp vào kế hoạch thanh tra của tỉnh; Tổ chức thực hiện nhiệm vụ của Thanh tra huyện trong kế hoạch thanh tra của tỉnh; thanh tra việc thực hiện chính sách, pháp luật và nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp huyện và của UBND cấp xã; Thanh tra vụ việc khác khi được Chủ tịch UBND cấp huyện giao; Theo dõi, đôn đốc, kiểm tra việc thực hiện kết luận, kiến nghị của Thanh tra huyện và quyết định xử lý về thanh tra của Chủ tịch UBND cấp huyện; Tổng hợp, báo cáo kết quả công tác thanh tra[2].
Theo quy định này, Thanh tra huyện sẽ không chủ động trong xây dựng và thực hiện kế hoạch thanh tra như quy định trong Luật Thanh tra hiện hành. Để tránh trùng lặp, chồng chéo trong hoạt động thanh tra, Điều 23 Luật 2022 đã quy định Thanh tra cấp tỉnh có nhiệm vụ: Xây dựng dự thảo kế hoạch thanh tra của tỉnh, hướng dẫn Thanh tra sở, Thanh tra huyện xây dựng dự thảo kế hoạch thanh tra để tổng hợp vào kế hoạch thanh tra của tỉnh trình Chủ tịch UBND cấp tỉnh ban hành; Tổ chức thực hiện kế hoạch thanh tra của Thanh tra tỉnh; theo dõi, đôn đốc, kiểm tra việc thực hiện kế hoạch thanh tra của Thanh tra sở, Thanh tra huyện. Đồng thời, Luật quy định nhiệm vụ của Thanh tra huyện là xây dựng dự thảo kế hoạch thanh tra của Thanh tra huyện, báo cáo Chủ tịch UBND cấp huyện xem xét, quyết định trước khi gửi Thanh tra tỉnh tổng hợp vào kế hoạch thanh tra của tỉnh. Sau khi Thanh tra tỉnh tổng hợp, trình Chủ tịch UBND cấp tỉnh ban hành kế hoạch thanh tra chung của tỉnh thì Thanh tra huyện có nhiệm vụ: Tổ chức thực hiện nhiệm vụ của Thanh tra huyện trong kế hoạch thanh tra của tỉnh. Một số nhiệm vụ, quyền hạn thực hiện theo Luật hiện hành như: Thanh tra vụ việc phức tạp, có liên quan đến trách nhiệm của nhiều cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp huyện, UBND cấp xã. Tuy nhiên, xét về bản chất hoạt động, Thanh tra huyện vẫn sẽ thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn này nếu nó được thể hiện trong Kế hoạch thanh tra chung do Chủ tịch UBND tỉnh ký. Ngoài ra, Thanh tra huyện vẫn sẽ thực hiện nhiệm vụ khác do Chủ tịch UBND huyện giao.
Nếu so sánh về câu từ trong điều khoản, quy định của Luật 2022 dường như chú trọng hơn đến chức năng giúp UBND cùng cấp quản lý nhà nước về công tác thanh tra và hạn chế nhiệm vụ, quyền hạn thực hiện thanh tra trực tiếp của Thanh tra huyện. Khi Luật 2022 có hiệu lực thi hành, việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn thanh tra trực tiếp của Thanh tra huyện có hai khả năng xảy ra: khả năng thứ nhất, có thể giữ nguyên như hiện tại nếu dự thảo kế hoạch thanh tra ban đầu của họ gửi lên được Thanh tra tỉnh giữ nguyên và đưa vào kế hoạch thanh tra chung của tỉnh. Khả năng thứ hai, việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của Thanh tra huyện sẽ bị thu hẹp khi nội dung dự thảo kế hoạch thanh tra ban đầu của họ bị đưa ra khỏi kế hoạch thanh tra chung của tỉnh hoặc được lồng ghép vào là một phần trong kế hoạch thanh tra chung. Khi đó, Thanh tra huyện hoặc không tổ chức thanh tra theo dự thảo kế hoạch ban đầu, hoặc sẽ tham gia một phần vào những cuộc thanh tra chung theo kế hoạch của tỉnh với tư cách thành viên Đoàn thanh tra. Khả năng thứ hai dễ xảy ra hơn bởi mục đích quy định của Luật 2022 là trao quyền cho Thanh tra tỉnh trong việc xây dựng kế hoạch thanh tra chung để tránh trùng lặp, chồng chéo trong hoạt động thanh tra tại địa phương.
Như vậy, việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn thanh tra trực tiếp của Thanh tra huyện sẽ phụ thuộc nhiều hơn vào Thanh tra tỉnh. Đồng thời, họ vẫn có nhiệm vụ: Thanh tra vụ việc khác khi được Chủ tịch UBND cấp huyện giao. Vấn đề đặt ra là nếu như dự thảo kế hoạch do Thanh tra huyện đưa lên và Thanh tra tỉnh đưa ra khỏi kế hoạch thanh tra chung của tỉnh nhưng Chủ tịch UBND huyện vẫn giao Thanh tra huyện tiến hành nếu thấy không trùng lặp, chồng chéo với nội dung kế hoạch thanh tra chung thì Thanh tra huyện vẫn phải thực hiện. Trong trường hợp này, việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ trong lĩnh vực thanh tra của Thanh tra huyện không khác gì so với hiện tại. Từ góc độ phân tích như vậy, có thể thấy quy định của Luật 2022 chưa giải quyết được vấn đề chất lượng, hiệu quả hoạt động thanh tra của Thanh tra huyện còn nhiều hạn chế trong thời gian qua.
Thực tiễn thực hiện Luật Thanh tra hiện hành cho thấy, về cơ bản, Thanh tra huyện thực hiện chức năng trên tất cả các lĩnh vực công tác của ngành, tuy nhiên mức độ thực hiện có sự khác biệt rõ rệt. Trong đó, việc “thực hiện nhiệm vụ thanh tra trong phạm vi quản lý nhà nước của UBND cấp huyện” là mảng chức năng còn nhiều hạn chế. Báo cáo Tổng kết thi hành Luật Thanh tra năm 2010 cũng cho thấy hiệu quả hoạt động của cơ quan thanh tra cấp huyện còn hạn chế… không phát huy được vai trò trong phát hiện, kiến nghị khắc phục sơ hở trong cơ chế quản lý, chính sách, pháp luật, phòng ngừa và phát hiện, xử lý các hành vi vi phạm pháp luật, nâng cao hiệu quả, hiệu lực quản lý nhà nước của Chủ tịch UBND cấp huyện… Số cuộc thanh tra được triển khai trong năm rất ít. Tính trung bình số cuộc thanh tra do Thanh tra huyện tiến hành trong vòng 05 năm (2015-2020) trở lại đây của tỉnh Hà Tĩnh là 2,54, thành phố Cần Thơ là 2,67, tỉnh Bắc Kạn là 3,13, tỉnh Bạc Liêu là 2,86…)[3].
Một số hạn chế khác trong thực trạng tổ chức hoạt động thanh tra của cấp huyện cũng được chỉ ra trong các nghiên cứu, khảo sát như: (1) Hầu hết các cuộc thanh tra đều có phạm vi nhỏ, ngắn ngày, chỉ mang tính chất kiểm tra chuyên ngành[4]. Sau khi tiến hành thanh tra, nếu nội dung thanh tra có thể mở rộng hơn, có tính chất phức tạp hơn, Thanh tra huyện sẽ báo cáo, đề xuất chuyển cuộc thanh tra đó lên cho Thanh tra tỉnh/thành phố thực hiện, thanh tra huyện/quận sẽ phối hợp nếu được yêu cầu; (2) Việc giám sát hoạt động đoàn thanh tra của thanh tra cấp huyện chỉ mang tính hình thức. Thực tế cho thấy, các cuộc thanh tra của thanh tra cấp huyện đều do người ra quyết định thanh tra thực hiện giám sát và thể hiện trong quyết định thanh tra.
Có thể chỉ ra một số nguyên nhân của thực trạng này đó là:
Một là, từ góc độ tổ chức bộ máy, biên chế hiện nay của Thanh tra huyện được giao trên cơ sở vị trí việc làm, gắn với chức năng, nhiệm vụ, phạm vi hoạt động và nằm trong tổng số biên chế công chức trong các cơ quan, tổ chức hành chính của huyện được cấp có thẩm quyền giao. Số lượng công chức, người lao động tại Thanh tra huyện trung bình từ 04 – 07 người (01 Chánh thanh tra và không quá 02 Phó Chánh thanh tra[5] áp dụng cho tất cả các cơ quan thanh tra huyện trên toàn quốc. Tuy nhiên, cũng có những địa phương, số lượng biên chế trung bình của Thanh tra huyện khá ít. Ví dụ: Bắc Kạn từ 02 đến 03 biên chế, Cao Bằng từ 03 đến 04 biên chế, Quảng Trị 03 đến 04 biên chế,… Bên cạnh đó, trong cơ cấu nhân sự của cơ quan thanh tra huyện thì số lượng công chức được bổ nhiệm vào ngạch thanh tra chưa nhiều do những yêu cầu khắt khe về chuyên môn, nghiệp vụ, lại thường xuyên có sự thay đổi do sự điều động, luân chuyển công tác từ phía UBND. Thực trạng đó dẫn đến việc xây dựng và phát triển đội ngũ cán bộ thanh tra huyện hoàn toàn bị động bởi không thể kế hoạch hóa được việc đào tạo, quy hoạch đội ngũ cán bộ thanh tra chuyên nghiệp và tâm huyết, gắn bó với nghề. Sự thiếu ổn định về nhân sự và hạn chế về chuyên môn, nghiệp vụ dẫn đến việc khó đảm bảo về chất lượng cán bộ, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ khó đáp ứng yêu cầu công tác. Với số lượng biên chế có hạn lại thường xuyên biến động như vậy, cùng với việc phải tập trung nhiều hơn vào thực hiện nhiệm vụ giải quyết khiếu nại, tố cáo – là lĩnh vực được cơ quan này thực hiện nhiều nhất – thì nhân sự dành cho thực hiện nhiệm vụ thanh tra là không đủ, không thể tiến hành các cuộc thanh tra có quy mô lớn, dài ngày. Do vậy, chất lượng, hiệu quả hoạt động thanh tra trên thực tế rất hạn chế.
Hai là, việc quy định cứng số lượng biên chế của cơ quan thanh tra huyện trên phạm vi cả nước vừa không phù hợp với thực tiễn từng địa phương, vừa không đáp ứng được những yêu cầu về nhiệm vụ của Thanh tra huyện. Bởi lẽ, tại những địa phương có quy mô dân số lớn, có mức độ phát triển kinh tế, xã hội hơn, vai trò của cơ quan thanh tra cấp huyện sẽ lớn hơn nhưng số lượng biên chế cũng ngang bằng như cơ quan thanh tra ở những địa phương có dân số ít, kinh tế chưa phát triển, tình hình xã hội không phức tạp. Điều này dẫn đến việc “quá tải” đối với cơ quan thanh tra huyện ở chỗ này nhưng lại lãng phí nguồn lực ở nơi khác. Ví dụ, Thanh tra huyện Quản Bạ, tỉnh Hà Giang số cuộc thanh tra trung bình một năm tính từ 2011 đến 2017 là 03 cuộc trong khi thanh tra quận Hà Đông, thành phố Hà Nội là 07 cuộc[6]. Đây cũng là một hạn chế trong thực hiện Luật Thanh tra năm 2010 đặt ra yêu cầu cần có sự điều chỉnh trong Luật mới. Quá trình sửa đổi Luật Thanh tra năm 2010, vấn đề không tổ chức thanh tra huyện để tinh giản đầu mối cũng đã từng được đưa vào Dự thảo Luật. Tuy nhiên, trong quá trình thảo luận, ý kiến cho rằng huyện là một cấp chính quyền hoàn chỉnh nên cần thiết phải có tổ chức thanh tra để giúp cho UBND trong công tác quản lý đã thuyết phục được đa số. Quan điểm giữ lại Thanh tra huyện và tăng cường đổi mới tổ chức, nâng cao hiệu quả đã được thể hiện bằng quy định về Thanh tra huyện hiện nay trong Luật 2022.
Vấn đề đặt ra là, khi Luật 2022 có hiệu lực, cơ quan thanh tra cấp huyện sẽ chính thức thực hiện thêm một lĩnh vực là quản lý nhà nước về tiếp công dân. Thực hiện nhiệm vụ tiếp công dân nhưng số lượng biên chế và chất lượng cán bộ, công chức thanh tra không thay đổi như hiện nay thì việc tổ chức hoạt động thanh tra sẽ khó đảm bảo duy trì hiệu quả như hiện tại chứ chưa nói đến việc nâng cao hiệu quả.
Ngược trở lại vấn đề tổ chức hoạt động thanh tra ở địa phương, khi tổng kết thực hiện Luật Thanh tra năm 2010, việc tổ chức hoạt động thanh tra sở cũng có nhiều điểm tương đồng như tổ chức hoạt động thanh tra cấp huyện từ vấn đề biên chế ít và thường xuyên bị điều động, luân chuyển nên khó khăn trong nâng cao chuyên môn, nghiệp vụ; số lượng Đoàn thanh tra thực hiện được tính trung bình trong năm rất ít[7] và chủ yếu là Đoàn thanh tra có quy mô nhỏ; việc giám sát hoạt động Đoàn thanh tra chủ yếu do người ra quyết định thanh tra tự giám sát do hạn chế về số lượng biên chế; hiệu quả hoạt động thanh tra cấp sở rất hạn chế. Trên cơ sở tổng kết thực tiễn, xuất phát từ đặc điểm và nhu cầu quản lý trong các lĩnh vực ở từng địa phương khác nhau, đồng thời để bảo đảm phù hợp với quy định của pháp luật về tổ chức cơ quan chuyên môn của chính quyền địa phương, Luật 2022 đã có những thay đổi căn bản về tổ chức hoạt động thanh tra sở. Theo đó, Thanh tra sở được thành lập tại sở có phạm vi quản lý rộng và yêu cầu quản lý chuyên ngành phức tạp; tại sở, do UBND tỉnh quyết định căn cứ vào yêu cầu quản lý nhà nước tại địa phương và biên chế được giao. Với những lĩnh vực quản lý nhà nước của các sở không thành lập Thanh tra sở, Thanh tra tỉnh sẽ thực hiện thanh tra hành chính và thanh tra chuyên ngành đối với đối tượng thuộc phạm vi quản lý nhà nước của sở đó. Theo tác giả, đây là điểm mới rất tích cực của Luật Thanh tra năm 2022 không chỉ thu gọn đầu mối cơ quan nhà nước, giải quyết căn cơ những hạn chế trong hoạt động thanh tra tại địa phương. Vậy nhưng, với Thanh tra huyện có những tồn tại, hạn chế từ thực tiễn lại không được Luật 2022 giải quyết dứt điểm như với Thanh tra sở vì cho rằng, Thanh tra huyện thuộc UBND huyện là một cấp chính quyền hoàn chỉnh nên cần phải có tổ chức thanh tra để giúp cho UBND trong công tác quản lý có lẽ chưa thực sự thuyết phục. Bởi lẽ, UBND huyện có nhiều công cụ khác để quản lý nhà nước chứ không chỉ có tổ chức thanh tra và việc không tổ chức hoạt động thanh tra cho Thanh tra cấp huyện (nếu có) cũng không có nghĩa là lĩnh vực này ở huyện bị bỏ trống mà sẽ được thực hiện bởi cơ quan nhà nước khác.
Hai là, về tổ chức hoạt động tiếp công dân
Với quy định tại Điều 30 Luật 2022, cơ quan thanh tra cấp huyện chính thức thực hiện chức năng giúp UBND cùng cấp quản lý nhà nước về tiếp công dân, thực hiện nhiệm vụ tiếp công dân. Trên thực tế hiện nay, Thanh tra huyện vẫn thực hiện nhiệm vụ này nhưng là nhiệm vụ do Chủ tịch UBND tỉnh yêu cầu và giao chứ không phải nhiệm vụ do luật định. Theo quy định của pháp luật tiếp công dân, nhiệm vụ này của Ban tiếp công dân ở cấp huyện thuộc văn phòng UBND cùng cấp.
Việc thể chế hóa nhiệm vụ này của Thanh tra huyện trong Luật 2022 đã khẳng định vai trò quan trọng của Thanh tra huyện trong lĩnh vực tiếp công dân tại địa phương. Đồng thời, với việc quy định chính thức là một chức năng, nhiệm vụ trong Luật thì cơ quan thanh tra sẽ phải thực hiện nhiều công việc hơn, vốn trước đây là nhiệm vụ của Ban tiếp công dân. Chất lượng công tác tiếp công dân, xử lý đơn thư theo lý thuyết khi chuyển về là nhiệm vụ của cơ quan thanh tra sẽ đảm bảo hơn, bởi đội ngũ cán bộ thanh tra có chuyên môn, nghiệp vụ và được đào tạo bài bản, có kinh nghiệm trong lĩnh vực này. Mặc dù Luật 2022 không làm phát sinh thêm chức năng, nhiệm vụ trên thực tế của Thanh tra huyện nhưng quy định này đặt ra vấn đề là khi Luật này có hiệu lực, việc tổ chức hoạt động tiếp công dân ở cấp huyện sẽ thực hiện như thế nào? Ban tiếp công dân hiện tại được tổ chức và hoạt động theo Luật Tiếp công dân và Luật Tổ chức chính quyền địa phương nên sẽ không đương nhiên bị thay đổi bởi quy định của Luật 2022. Việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ liên quan đến quản lý nhà nước về tiếp công dân, thực hiện nhiệm vụ tiếp công dân trên thực tế của Ban tiếp công dân cấp huyện và cơ quan thanh tra huyện vẫn cần Chủ tịch UBND phân công, giao nhiệm vụ. Như vậy, quy định này của Luật 2022 chỉ là chính thức hóa một nhiệm vụ vốn được Thanh tra huyện thực hiện trên thực tế chứ dường như chưa thể giải quyết được vấn đề căn cơ là hiệu quả công tác tiếp công dân tại địa phương. Bởi lẽ, Ban tiếp công dân hay cơ quan thanh tra thực tế chỉ phân loại, xử lý đơn và chuyển đến các cơ quan chuyên môn cấp huyện để giải quyết. Cơ quan thanh tra chủ yếu tham mưu giúp Thủ trưởng cơ quan quản lý nhà nước giải quyết mà không trực tiếp giải quyết. Vấn đề căn cơ để nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác tiếp công dân là để tiếp nhận, xử lý đơn nhanh chóng cho công dân, giải quyết đúng thẩm quyền, dứt điểm triệt để vấn đề của người dân thì sẽ không giải quyết được bằng quy định này của Luật 2022.
2. Một số kiến nghị
Một là, tiếp tục hoàn thiện cơ chế tổ chức hoạt động thanh tra cấp huyện
Trước mắt, khi Luật 2022 có hiệu lực, việc tổ chức thực hiện quy định của Luật về tổ chức hoạt động thanh tra cấp huyện nên theo hướng Thanh tra huyện chủ yếu tập trung thực hiện nhiệm vụ giúp UBND cùng cấp quản lý nhà nước về công tác thanh tra; thực hiện thanh tra hành chính đối với cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp huyện và của UBND cấp xã. Hạn chế tối đa, dần tiến tới bỏ chức năng thanh tra kinh tế – xã hội của Thanh tra huyện. Bên cạnh đó, chính quyền địa phương cần có sự điều chỉnh linh hoạt về số lượng biên chế đối với Thanh tra huyện phù hợp với nhu cầu thực tiễn tại địa phương và yêu cầu thực hiện chức năng quản lý nhà nước về thanh tra của Thanh tra huyện.
Về lâu dài, cần tiếp tục nghiên cứu, tổng kết thực tiễn để hoàn thiện pháp luật về tổ chức và hoạt động của Thanh tra huyện. Theo tác giả, quy định về tổ chức và hoạt động của Thanh tra huyện cần có sự đổi mới mạnh mẽ trên cơ sở tiếp cận từ tổ chức bộ máy và hiệu quả hoạt động. Tránh tổ chức dàn trải, đồng nhất cứng nhắc theo một mô hình ở tất các địa phương trên phạm vi cả nước như hiện nay. Tiếp tục nghiên cứu, xem xét phương án tổ chức Thanh tra huyện theo cách tiếp cận như tổ chức Thanh tra sở của Luật 2022: chỉ tổ chức hoạt động Thanh tra huyện tại những tỉnh/thành phố lớn có đông dân cư, mức độ phát triển kinh tế – xã hội cao, nhu cầu quản lý phức tạp. Giao quyền chủ động cho UBND tỉnh quyết định việc tổ chức hoạt động thanh tra cấp huyện tùy thuộc vào yêu cầu quản lý nhà nước tại địa phương.
Hai là, cần hoàn thiện cơ chế tổ chức hoạt động tiếp công dân cấp huyện
Từ thực tiễn thực hiện tiếp công dân của cấp huyện, theo tác giả, để nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác này trong điều kiện nhân sự còn khá hạn chế của cơ quan thanh tra, cần giảm tải công việc tiếp nhận, xử lý đơn cho cơ quan thanh tra, đồng thời tăng tính chủ động, trách nhiệm của các cơ quan chuyên môn cấp huyện. Cụ thể, sửa đổi Luật Tiếp công dân năm 2013 theo hướng:
– Chuyển Ban tiếp công dân từ thuộc UBND cấp huyện như hiện tại về thuộc Thanh tra huyện. Đồng thời, quy định trách nhiệm của cơ quan thanh tra huyện trong việc nhận đơn thuộc thẩm quyền giải quyết của nhiều cơ quan, đơn vị, cá nhân hoặc đơn chưa rõ thuộc thẩm quyền của cơ quan, đơn vị, cá nhân nào. Thanh tra huyện thực hiện chức năng, nhiệm vụ giúp UBND cấp huyện quản lý nhà nước về tiếp công dân; thực hiện tiếp công dân đối với trường hợp không thuộc thẩm quyền tiếp của phòng, ban chuyên môn.
– Quy định cụ thể về trách nhiệm tiếp công dân của các phòng, ban chuyên môn cấp huyện theo hướng những đơn thư khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh của người dân thuộc lĩnh vực quản lý nhà nước nào sẽ do phòng, ban chuyên môn cấp huyện thực hiện chức năng quản lý nhà nước chuyên ngành tiếp nhận, xử lý và giải quyết. Khi nhận được đơn không thuộc thẩm quyền, phòng, ban chuyên môn sẽ giải thích, hướng dẫn cụ thể để người dân (hoặc trực tiếp chuyển đơn) đến đúng cơ quan có thẩm quyền giải quyết./.
TS. Phạm Thị Huệ
Viện Chiến lược và Khoa học thanh tra, Thanh tra Chính phủ
[1] Khoản 1 Điều 30 Luật Thanh tra năm 2022.
[2] Khoản 1 Điều 31 Luật Thanh tra năm 2022.
[3] Báo cáo số 276/BC-TTCP, ngày 28/02/2022 của Thanh tra Chính phủ “Tổng kết thi hành Luật Thanh tra năm 2010”.
[4] Báo cáo kết quả khảo sát thuộc đề tài khoa học cấp bộ năm 2022-2023: “Tổ chức hoạt động thanh tra, tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo ở cấp huyện”, Thanh tra Chính phủ.
[5] Điều 8 Thông tư liên tịch số 03/2014/TTLT-TTCP-BNV, ngày 08/09/2014 của Tổng Thanh tra Chính phủ phối hợp Bộ trưởng Bộ Nội vụ ban hành.
[6] Xem: http://www.thanhtravietnam.vn/tin-trong-nganh/thanh-tra-quan-ha-dong-thanh-tra-de-dam-bao-quyen-va-loi-ich-hop-phap-cua-nguoi-dan-193927.
[7] Theo Báo cáo số 276/BC-TTCP, ngày 28/02/2022 của Thanh tra Chính phủ: Tính trung bình số cuộc thanh tra do Thanh tra huyện tiến hành trong vòng 05 năm (2015-2020) trở lại đây của tỉnh Hà Tĩnh là 2,54, thành phố Cần Thơ là 2,67, tỉnh Bắc Kạn là 3,13, tỉnh Bạc Liêu là 2,86… Số cuộc thanh tra trung bình do Thanh tra sở tiến hành như sau: Thanh tra Sở Nội vụ là 2,49, Thanh tra Sở Kế hoạch và Đầu tư là 2,89, Thanh tra Sở Tư pháp là 2,1, Thanh tra Sở Ngoại vụ là 2,95…
Thường trực Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực (Ban Chỉ đạo) thống nhất đưa Vụ án xảy ra tại Công ty Cổ phần Tập đoàn Thuận An và các cơ quan, địa phương liên quan; Vụ án xảy ra tại Công ty Cổ phần Tập đoàn Phúc Sơn, Công ty Cổ phần Đầu tư Thương mại và Bất động sản Thăng Long và một số cơ quan, địa phương liên quan vào diện Ban Chỉ đạo theo dõi, chỉ đạo.Sáng 30/5, tại Hà Nội, Thường trực Ban Chỉ đạo đã tổ chức cuộc họp để thảo luận, cho ý kiến đối với kết quả chỉ đạo xử lý một số vụ án, vụ việc tham nhũng, tiêu cực từ đầu năm đến nay.
Ban Nội chính Trung ương – Cơ quan Thường trực của Ban Chỉ đạo thông báo đến các cơ quan báo chí một số nội dung chủ yếu.
Khởi tố mới 285 vụ án, 646 bị can về tội tham nhũng
Trong đó, về một số kết quả nổi bật, Thường trực Ban Chỉ đạo đánh giá, từ đầu năm 2024 đến nay, các cơ quan chức năng đã có nhiều nỗ lực, cố gắng, thực hiện nghiêm Kết luận của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, Trưởng Ban Chỉ đạo và kết luận Phiên họp thứ 25 của Ban Chỉ đạo; tiến độ điều tra, xử lý các vụ án, vụ việc thuộc diện Ban Chỉ đạo theo dõi, chỉ đạo cơ bản hoàn thành theo kế hoạch của Ban Chỉ đạo, có việc vượt yêu cầu đề ra.
Công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực tiếp tục được đẩy mạnh, quyết liệt theo đúng tinh thần chỉ đạo của Tổng Bí thư là: “Không có vùng cấm, không có ngoại lệ”; kết hợp ngày càng chặt chẽ, hiệu quả giữa công tác phòng, chống tham nhũng với phòng, chống tiêu cực; giữa phòng, chống tham nhũng, tiêu cực với công tác cán bộ, xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị; vừa xử lý nghiêm hành vi tham nhũng, vừa xử lý nghiêm vi phạm trách nhiệm nêu gương của lãnh đạo các cấp, góp phần xây dựng Đảng ta ngày càng trong sạch, vững mạnh, không phải là “đấu đá nội bộ”, “phe cánh”, “tranh giành quyền lực” như các đối tượng xấu, thế lực thù địch xuyên tạc.
Những kết quả nổi bật là: Các cơ quan tiến hành tố tụng cả nước đã khởi tố, điều tra 2.100 vụ với 4.211 bị can, truy tố 2.030 vụ với 4.042 bị can, xét xử sơ thẩm 1.686 vụ với 3.198 bị cáo về các tội tham nhũng, kinh tế, chức vụ; trong đó đã khởi tố mới 285 vụ án, 646 bị can về tội tham nhũng.
![]() |
| Một số gói thầu do Tập đoàn Thuận An trúng thầu. Ảnh: VGP |
Kiên quyết xử lý nghiêm các vụ án tham nhũng, tiêu cực, phức tạp, xảy ra đã lâu, liên quan đến nhiều bộ, ngành, địa phương
Riêng các vụ án, vụ việc thuộc diện Ban Chỉ đạo theo dõi, chỉ đạo đã khởi tố mới 2 vụ án với 8 bị can, khởi tố thêm 135 bị can trong 7 vụ án; kết luận điều tra 3 vụ án với 318 bị can; kết luận điều tra bổ sung 2 vụ án với 10 bị can; ban hành cáo trạng truy tố 2 vụ án với 304 bị can; xét xử sơ thẩm 5 vụ án với 140 bị cáo; xét xử phúc thẩm 2 vụ án với 9 bị cáo.
Nhất là đã khởi tố, điều tra, kiên quyết xử lý nghiêm các vụ án tham nhũng, tiêu cực, phức tạp, xảy ra đã lâu, liên quan đến nhiều bộ, ngành, địa phương, như: Vụ án xảy ra tại Tập đoàn Phúc Sơn; vụ án xảy ra tại Tập đoàn Thuận An.
Hoàn thành kết luận điều tra, ban hành cáo trạng truy tố vụ án xảy ra tại Cục Đăng kiểm Việt Nam, các trung tâm đăng kiểm một số địa phương và vụ án xảy ra tại tập đoàn FLC.
Hoàn thành xét xử sơ thẩm 2 vụ án trọng điểm xảy ra tại tập đoàn Vạn Thịnh Phát, Ngân hàng SCB và tập đoàn Tân Hoàng Minh, với mức án rất nghiêm khắc, cũng rất nhân văn, trong đó, lần đầu tiên tuyên phạt tử hình đối với 1 bị cáo là chủ doanh nghiệp tư nhân về tội “tham ô tài sản”.
Cấp ủy, ủy ban kiểm tra các cấp đã tập trung kiểm tra, xử lý nghiêm các tổ chức đảng, đảng viên có dấu hiệu vi phạm trong các vụ án, vụ việc thuộc diện Ban Chỉ đạo theo dõi, chỉ đạo; vi phạm do suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, trách nhiệm nêu gương, vi phạm những điều đảng viên không được làm./.
(Nguồn: ThanhtraVietNam)
Sáng 30/5, tại Hà Nội, Thường trực Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực (Ban Chỉ đạo) đã tổ chức cuộc họp để thảo luận, cho ý kiến đối với kết quả chỉ đạo xử lý một số vụ án, vụ việc tham nhũng, tiêu cực từ đầu năm đến nay.
Một trong những nội dung đáng chú ý được đưa ra tại cuộc họp đó là Thanh tra Chính phủ đã tiến hành 7 chuyên đề, vụ việc theo kế hoạch của Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, đến nay đã kết thúc quá trình thanh tra, đang xây dựng, hoàn thiện dự thảo kết luận thanh tra đối với 1 chuyên đề, 1 vụ việc.
Trong khi đó, Kiểm toán Nhà nước đã hoàn thành kiểm toán 2 vụ việc theo kiến nghị của Đoàn kiểm tra của Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực (Ban Chỉ đạo).
Kiên quyết xử lý trách nhiệm chính trị của người đứng đầu, xử lý vi phạm trách nhiệm nêu gương, vi phạm quy định về những điều đảng viên không được làm.
Trên cơ sở đó khuyến khích cán bộ tự giác nhận khuyết điểm, chủ động xin từ chức, xin thôi chức vụ khi thấy mình không còn đủ điều kiện, năng lực, uy tín, thể hiện sự nghiêm minh, công bằng, nhưng cũng rất nhân văn; đưa việc “có lên có xuống, có vào có ra” dần trở thành văn hóa, việc làm bình thường trong công tác cán bộ, được dư luận, cán bộ, đảng viên hoan nghênh, đồng tình cao.
Công tác thu hồi tài sản trong các vụ án, vụ việc thuộc diện Ban Chỉ đạo theo dõi, chỉ đạo tiếp tục được quan tâm.
Riêng các vụ án thuộc diện Ban Chỉ đạo theo dõi, chỉ đạo, giai đoạn thi hành án dân sự đã thu hồi được gần 7.500 tỷ đồng, nâng tổng số tiền thu hồi được từ khi thành lập Ban Chỉ đạo đến nay lên hơn 85.000 tỷ đồng./.
(Nguồn: ThanhtraVietNam)
![]() |
| Đồng chí Đoàn Hồng Phong, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bí thư Ban cán sự đảng, Bí thư Đảng ủy, Tổng Thanh tra Chính phủ phổ biến, quán triệt các quy định tại Hội nghị. Ảnh: K. Dung |
Tham dự Hội nghị có các đồng chí Ủy viên Ban cán sự đảng, lãnh đạo Thanh tra Chính phủ; các đồng chí Ủy viên Ban Thường vụ Đảng ủy, Ủy viên Ban Chấp hành Đảng bộ Thanh tra Chính phủ; các đồng chí Bí thư, Phó Bí thư các đảng bộ, chi bộ trực thuộc Đảng bộ Thanh tra Chính phủ; lãnh đạo các cục, vụ, đơn vị và Trưởng các tổ chức đoàn thể cơ quan Thanh tra Chính phủ.
![]() |
| Toàn cảnh Hội nghị. Ảnh: K. Dung |
Tại Hội nghị, đồng chí Đoàn Hồng Phong, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bí thư Ban cán sự đảng, Bí thư Đảng ủy, Tổng Thanh tra Chính phủ đã phổ biến, quán triệt mục đích, yêu cầu, tiêu chuẩn, cơ cấu, số lượng, nguồn cán bộ, quy trình bổ sung Phó Bí thư Đảng ủy Thanh tra Chính phủ nhiệm kỳ 2020 – 2025; bổ sung quy hoạch Ban Chấp hành Đảng bộ Thanh tra Chính phủ nhiệm kỳ 2020 – 2025 theo đúng quy trình 5 bước (như hướng dẫn của Đảng ủy cấp trên).
![]() |
| Đồng chí Đoàn Hồng Phong, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bí thư Ban cán sự đảng, Bí thư Đảng ủy, Tổng Thanh tra Chính phủ bỏ phiếu tại Hội nghị. Ảnh: K. Dung |
![]() |
| Phó Tổng Thanh tra Chính phủ Bùi Ngọc Lam bỏ phiếu tại Hội nghị. Ảnh: K. Dung |
![]() |
| Đồng chí Nguyễn Thị Thanh Tú, Ủy viên Ban Chấp hành Đảng bộ, Phó Chánh Văn phòng Đảng – Đoàn thể thông báo chương trình Hội nghị. Ảnh: K. Dung |
Sau quá trình làm việc khẩn trương, nghiêm túc, đúng quy định, Đảng ủy đã thống nhất cao trong việc bỏ phiếu kiện toàn Phó Bí thư Đảng ủy Thanh tra Chính phủ và bổ sung quy hoạch Ban Chấp hành Đảng bộ Thanh tra Chính phủ nhiệm kỳ 2020 – 2025. Kết quả chính thức của Hội nghị sẽ được công bố sau khi có kết quả phê chuẩn của Đảng bộ Khối các cơ quan Trung ương./













