

![]() |
| GS.TS. Vũ Văn Trường, Phó Tổng Giám đốc cho biết, Đại học Phenikaa tiền thân là Trường Đại học Thành Tây, thuộc hệ thống giáo dục đại học Việt Nam, chịu sự quản lý nhà nước về giáo dục và đào tạo của Bộ Giáo dục và Đào tạo, đồng thời chịu sự quản lý hành chính theo lãnh thổ của Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội |
Giới thiệu tổng quan về Đại học, GS.TS. Vũ Văn Trường, Phó Tổng Giám đốc cho biết, Đại học Phenikaa tiền thân là Trường Đại học Thành Tây, thuộc hệ thống giáo dục đại học Việt Nam, chịu sự quản lý nhà nước về giáo dục và đào tạo của Bộ Giáo dục và Đào tạo, đồng thời chịu sự quản lý hành chính theo lãnh thổ của Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội.
Đại học Phenikaa xác định triết lý giáo dục xuyên suốt là “Tôn trọng – Sáng tạo – Phản biện”, mọi thành viên đều được tôn trọng giá trị cá nhân, được khuyến khích tự do tư duy, sáng tạo và phản biện khoa học trên tinh thần tích cực và trách nhiệm. Trên nền tảng đó, trường xây dựng hệ giá trị cốt lõi gồm “Trải nghiệm – Xuất sắc – Tự hào”, với thông điệp hành động “Hiện thực hóa tiềm năng”.
Tính đến năm 2025, Đại học Phenikaa đã triển khai đào tạo khoảng 102 chương trình và ngành học ở cả bậc đại học, thạc sĩ và tiến sĩ. Quy mô ngành học đa dạng này thể hiện định hướng mở rộng đa lĩnh vực, gồm cả các ngành thuộc khối Luật, Kinh doanh, Khoa học – Xã hội và các lĩnh vực Kỹ thuật – Công nghệ tiên tiến.
Sau hơn 17 năm xây dựng và phát triển, Đại học Phenikaa đã khẳng định vị thế là một trong những trường đại học tư thục tiêu biểu tại Việt Nam, đóng góp thiết thực cho sự nghiệp giáo dục – đào tạo, nghiên cứu khoa học, đổi mới sáng tạo và phát triển bền vững quốc gia, từng bước hiện thực hóa mục tiêu trở thành đại học đổi mới sáng tạo hàng đầu khu vực.
![]() |
| PGS.TS. Mai Đắc Biên, Trưởng Khoa cho biết, Khoa Luật, Đại học Phenikaa được thành lập trên cơ sở Bộ môn Luật kinh tế thuộc Khoa Kinh tế và Kinh doanh – một trong những khoa mũi nhọn hàng đầu và lâu đời nhất tại Đại học Phenikaa, được thành lập năm 2007 |
Về Khoa Luật, Đại học Phenikaa, PGS.TS. Mai Đắc Biên, Trưởng Khoa cho biết, Khoa Luật được thành lập trên cơ sở Bộ môn Luật kinh tế thuộc Khoa Kinh tế và Kinh doanh – một trong những khoa mũi nhọn hàng đầu và lâu đời nhất tại Đại học Phenikaa, được thành lập vào năm 2007.
Trước đòi hỏi khách quan về đào tạo nhân lực chất lượng cao ngành Luật để tham gia thị trường lao động, góp phần vào sự phát triển chung của đất nước, đồng thời từng bước hiện thực hóa mục tiêu chiến lược về quy hoạch tổng thể trong đào tạo, kế hoạch phát triển ngành và sứ mệnh, chức năng, nhiệm vụ, gắn liền với chiến lược phát triển của Đại học Phenikaa, ngày 11/11/2024, Chủ tịch Hội đồng Trường đã ký Nghị quyết số 37/NQ-ĐHP-HĐT về việc thành lập Khoa Luật thuộc Đại học Phenikaa. Cùng với việc điều chuyển Bộ môn Luật kinh tế thuộc Khoa Kinh tế và Kinh doanh sang Khoa Luật, Hội đồng Trường đã ký các quyết định mở 04 ngành đào tạo trình độ đại học gồm Luật, Luật kinh tế, Luật quốc tế, Luật thương mại quốc tế; 01 chương trình đào tạo Luật kinh doanh và 01 ngành đào tạo trình độ thạc sĩ Luật Kinh tế.
Bên cạnh đó, để bảo đảm hiệu quả hoạt động giảng dạy và nghiên cứu, trường đã thực hiện công tác tuyển dụng thêm nhiều giảng viên có chất lượng cao. Tính đến tháng 01/2026, Khoa Luật, Đại học Phenikaa đã có 26 giảng viên ngành Luật, trong đó có 04 Phó Giáo sư, 13 Tiến sĩ, 09 Thạc sĩ; ngoài ra còn có 35 giảng viên đang công tác tại các trường, khoa và ban khác của Đại học Phenikaa và các cơ sở đào tạo khác ngoài Trường có học hàm, học vị cùng tham gia giảng dạy các môn của Khoa Luật.
Phát biểu tại buổi Lễ, nhấn mạnh Tạp chí Dân chủ và Pháp luật là một trong những cơ quan báo chí chủ lực của Bộ Tư pháp, TS. Trương Thế Côn, Tổng Biên tập Tạp chí cho biết, trải qua gần 50 năm hình thành và phát triển, Tạp chí đã xuất bản hơn 730 ấn phẩm định kỳ hằng tháng và trên 219 ấn phẩm chuyên đề. Nội dung các ấn phẩm tập trung vào các dự án luật, công tác triển khai thi hành pháp luật; ấn phẩm về kỷ niệm của Bộ, ngành Tư pháp, cũng như các ấn phẩm được thực hiện theo chương trình, thỏa thuận hợp tác với các cơ quan, đơn vị.
![]() |
| Toàn cảnh buổi Lễ |
Bên cạnh đó, Tạp chí đã hoàn thành nhiệm vụ đề nghị xét nâng điểm khoa học Tạp chí khoa học năm 2025. Theo Quyết định số 26/QĐ-HĐGSNN ngày 11/7/2025 của Hội đồng Giáo sư Nhà nước về việc phê duyệt danh mục Tạp chí khoa học được tính điểm năm 2025, Tạp chí được tính 0,75 điểm đối với ngành Luật học, ngành Khoa học An ninh từ năm 2025.
Ngoài các ấn phẩm nghiên cứu khoa học, Tạp chí còn đặc biệt chú trọng phát triển các ấn phẩm truyền thông phục vụ công tác tuyên truyền, định hướng chính sách pháp luật, cụ thể: Đối với các dự án luật quan trọng do Bộ Tư pháp chủ trì, nhất là những dự án có tác động lớn đến kinh tế – xã hội, trước khi trình Quốc hội, Tạp chí luôn chủ động tạo diễn đàn nghiên cứu, đồng thời xuất bản các ấn phẩm chuyên đề nhằm truyền thông mạnh mẽ về nội dung chính sách. Sau khi luật được ban hành, Tạp chí tiếp tục phát hành các ấn phẩm phục vụ triển khai thi hành, góp phần đưa quy định pháp luật nhanh chóng đi vào cuộc sống. Tổng Biên tập nhấn mạnh, dù mang tính chất truyền thông, song các ấn phẩm này vẫn bảo đảm giá trị khoa học cao, qua đó giúp người dân và doanh nghiệp hiểu đúng, đầy đủ các quy định của pháp luật, đồng thời hỗ trợ hiệu quả trong quá trình tổ chức thi hành luật trong thực tiễn.
![]() |
| TS. Trương Thế Côn, Tổng Biên tập nhấn mạnh Tạp chí Dân chủ và Pháp luật là một trong những cơ quan báo chí chủ lực của Bộ Tư pháp |
Song song với các ấn phẩm in, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật còn đẩy mạnh phát triển Tạp chí điện tử thông qua việc đăng tải thường xuyên các bài viết phục vụ công tác truyền thông pháp luật. Đặc biệt, chuyên mục “Nghiên cứu, trao đổi” được định hướng trở thành không gian học thuật chuyên sâu, quy tụ nhiều công trình khoa học và bài viết chất lượng về pháp luật của Bộ, ngành Tư pháp và các địa phương.
Theo TS. Trương Thế Côn, với vai trò là cơ quan truyền thông, đồng thời là diễn đàn khoa học pháp lý của Bộ Tư pháp, Tạp chí luôn phối hợp chặt chẽ với các đơn vị chuyên môn trong Bộ, cũng như các cơ quan của Chính phủ và các bộ, ngành liên quan. Trong quá trình Bộ Tư pháp được giao chủ trì xây dựng các nghị quyết quan trọng của Trung ương, Tạp chí đã tích cực tổ chức các diễn đàn khoa học, xây dựng chuyên đề và xuất bản ấn phẩm phục vụ trực tiếp công tác tham mưu, trình cấp có thẩm quyền.
Về định hướng phát triển, Tổng Biên tập cho biết, ngày 07/4/2026, Bộ trưởng Bộ Tư pháp đã phê duyệt Đề án “Đổi mới tổ chức và hoạt động của Tạp chí Dân chủ và Pháp luật giai đoạn 2026 – 2030, tầm nhìn đến 2040” với một trong những mục tiêu mà Tạp chí hướng tới là trở thành tạp chí khoa học đạt chuẩn quốc tế, có mặt trong các danh mục trích dẫn quốc tế uy tín. Trên cơ sở đó, TS. Trương Thế Côn bày tỏ kỳ vọng sẽ nhận được sự đồng hành, đóng góp của đội ngũ giảng viên, nhà khoa học trong và ngoài nước, đặc biệt thông qua việc gửi bài nghiên cứu chất lượng cao.
Liên quan đến Biên bản ghi nhớ hợp tác được ký kết, Tổng Biên tập Tạp chí Dân chủ và Pháp luật nhấn mạnh, đây là cơ sở quan trọng để hiện thực hóa các nội dung hợp tác trên thực tế. Trong thời gian tới, hai bên sẽ tăng cường phối hợp chuyên môn, trong đó Tạp chí đóng vai trò đầu mối đăng tải các công trình nghiên cứu, bài viết khoa học; đồng thời xây dựng kế hoạch hằng năm để phối hợp tổ chức hội thảo, tọa đàm, phát triển diễn đàn học thuật và thúc đẩy trao đổi chuyên gia nghiên cứu.


GS.TS. Vũ Văn Trường, Phó Tổng Giám đốc Đại học Phenikaa và TS. Trương Thế Côn, Tổng Biên tập Tạp chí Dân chủ và Pháp luật (Bộ Tư pháp) ký kết Biên bản ghi nhớ hợp tác
Trong khuôn khổ buổi Lễ, GS.TS. Vũ Văn Trường, Phó Tổng Giám đốc Đại học Phenikaa và TS. Trương Thế Côn, Tổng Biên tập Tạp chí Dân chủ và Pháp luật đã ký kết Biên bản ghi nhớ hợp tác, với các hoạt động nhằm tăng cường gắn kết giữa hoạt động đào tạo luật và thực tiễn nghề nghiệp, góp phần thúc đẩy các hoạt động đào tạo, nghiên cứu và truyền thông pháp lý.
Theo Danchuphapluat.vn
Link bài: https://danchuphapluat.vn/tang-cuong-gan-ket-giua-hoat-dong-dao-tao-luat-va-truyen-thong-phap-ly-9352.html
Chào mừng Ngày Sách và Văn hóa đọc Việt Nam (21/4) và Ngày Sách và Bản quyền Thế giới (23/4), sáng ngày 20/4/2026, Trường Đại học Luật Hà Nội đã long trọng tổ chức chương trình “Ngày Sách và Văn hóa đọc Việt Nam năm 2026” tại không gian Thư viện (Nhà D). Sự kiện là nhịp cầu tri ân, kết nối những người yêu sách và khẳng định giá trị bền vững của tri thức trong kỷ nguyên số.
Tham dự chương trình, về phía khách mời có sự tham dự của TS. Nguyễn Huy Hoàng Giảng viên Cao cấp, Phó Hiệu trưởng, Trường Cán bộ thanh tra, Thanh tra Chính phủ; Ông Nguyễn Văn Quang – Trưởng phòng Truyền thông – Phát hành – Nhà xuất bản Tư pháp, Bộ Tư pháp; Bà Đào Thị Thanh Bình, Phó Tổng Giám đốc Công ty cổ phần thông tin và Công nghệ số (IDT Việt Nam) và đại diện Nhà sách Dân Hiền.
Về phía Trường Đại học Luật Hà Nội có sự hiện diện của PGS. TS. Nguyễn Bá Bình và TS. Hoàng Xuân Châu – Phó Hiệu trưởng; ThS. Phạm Văn Hạnh, Giám đốc Trung tâm Công nghệ thông tin và Thư viện, ThS. Phạm Thị Mai, Phó Giám đốc Trung tâm Công nghệ thông tin và Thư viện cùng sự có mặt của lãnh đạo các đơn vị, các cán bộ, giảng viên nhà trường và các học viên, sinh viên là những bạn đọc quen thuộc.
Chương trình “Ngày Sách và Văn hóa đọc Việt Nam năm 2026” nhận được sự quan tâm, ủng hộ của Ban Giám hiệu, lãnh đạo các đơn vị, các cán bộ, giảng viên nhà trường và các học viên, sinh viên.
TS. Hoàng Xuân Châu phát biểu khai mạc, chính thức khởi động chuỗi hoạt động của “Ngày Sách và Văn hóa đọc Việt Nam năm 2026”. Trong nội dung chia sẻ, TS. Hoàng Xuân Châu nhấn mạnh tầm quan trọng của việc phát triển văn hóa đọc như một nền tảng cốt lõi để xây dựng xã hội học tập và bồi dưỡng nguồn nhân lực chất lượng cao. Đặc biệt, Thầy đã đưa ra những con số ấn tượng minh chứng cho sự chuyển mình mạnh mẽ của văn hóa đọc tại Nhà trường trong bối cảnh chuyển đổi số: chỉ riêng trong năm 2025, đã có hơn 548.000 lượt lưu thông tài liệu số với gần 8.000 bạn đọc thường xuyên sử dụng. Điều này phản ánh xu hướng học tập hiện đại, chủ động và linh hoạt của sinh viên Trường Đại học Luật Hà Nội trước yêu cầu của kỷ nguyên tri thức.
TS. Hoàng Xuân Châu phát biểu khai mạc, chính thức khởi động chuỗi hoạt động của “Ngày Sách và Văn hóa đọc Việt Nam năm 2026”.
Bên cạnh việc ghi nhận những kết quả đạt được, bài phát biểu cũng định hướng rõ nét về vai trò của các chủ thể trong hệ sinh thái tri thức. Trong đó, lãnh đạo Nhà trường giữ vai trò định hướng, đội ngũ cán bộ thư viện là nòng cốt và người học chính là trung tâm của mọi hoạt động lan tỏa tri thức. Thông qua các hoạt động thiết thực như trưng bày tài liệu và giao lưu học thuật, Nhà trường mong muốn khơi dậy niềm đam mê đọc sách, giúp sinh viên hình thành thói quen đọc bền vững và phát triển tư duy phản biện sắc sảo. Kết thúc lời phát biểu, TS. Hoàng Xuân Châu đã kêu gọi toàn thể viên chức, người lao động và người học tiếp tục phát huy tinh thần tự học, không ngừng nâng cao trình độ chuyên môn thông qua việc đọc sách mỗi ngày. Những lời chia sẻ đầy tâm huyết này không chỉ khơi gợi cảm hứng học tập mà còn mở đường cho các hoạt động ý nghĩa diễn ra ngay sau đó.
Tiếp nối chương trình, không gian Thư viện trở nên ấm áp hơn với phần trao tặng những “món quà tri thức”. Đại diện Trường Cán bộ Thanh tra, Nhà xuất bản Tư pháp, Nhà sách Dân Hiền và Công ty IDT đã trao tặng cây xanh cùng nhiều đầu sách giá trị cho Thư viện. Về phía cán bộ giảng viên Nhà trường, TS. Nguyễn Thị Dung – Phó Trưởng khoa Khoa Pháp luật Kinh tế và TS. Lưu Hải Yến, TS. Phạm Thị Thu Hiền cùng tập thể tác giả có món quà quý là những tác phẩm trao tặng cho Trường. Những món quà này không chỉ làm đẹp thêm không gian sư phạm mà còn là biểu tượng cho sự vun trồng dữ liệu, gieo mầm hạt giống tri thức cho tương lai. Đáp lại tình cảm đó, lãnh đạo Nhà trường đã trao gửi những món quà lưu niệm ý nghĩa để bày tỏ lòng tri ân sâu sắc tới các đơn vị đối tác.
.jpg)
.jpg)
.jpg)
Đại diện Trường Cán bộ Thanh tra, Nhà xuất bản Tư pháp, Nhà sách Dân Hiền và Công ty IDT trao tặng cây xanh và sách cho Thư viện.
.jpg)
TS. Nguyễn Thị Dung – Phó Trưởng khoa Khoa Pháp luật Kinh tế, TS. Lưu Hải Yến, TS. Phạm Thị Thu Hiền trao tặng sách cho Trường.
Đặc biệt, chương trình đã vinh danh những “Sứ giả văn hóa đọc” gồm các bạn sinh viên có thành tích đọc sách tích cực và những thành viên tiêu biểu của Câu lạc bộ Thư viện trẻ. Đây là sự ghi nhận cho niềm đam mê, tinh thần tự học và nỗ lực cống hiến thầm lặng của các em trong việc kết nối các giá trị học thuật với cộng đồng sinh viên.
ThS. Phạm Văn Hạnh – Giám đốc Trung tâm Công nghệ thông tin và Thư viện, trao giấy khen vinh danh những “Sứ giả văn hóa đọc”.
Một trong những điểm nhấn ấn tượng nhất của ngày hội năm nay là chuyên mục “Giao lưu cùng diễn giả”. Hai vị diễn giả – TS. Lưu Hải Yến và TS. Phạm Thị Thu Hiền đã mang đến những chia sẻ đầy cảm hứng về hai công trình nghiên cứu tâm huyết: “Trách nhiệm của tư cách pháp nhân dưới góc độ so sánh Luật” và “Quản trị địa phương ở Việt Nam thế kỷ XV – XIX – Thực tiễn vận hành và giá trị”. Cuộc đối thoại đã giúp độc giả thấu hiểu hơn về sứ mệnh của mỗi tác phẩm trong việc kiến tạo giá trị sống và giải mã những di sản quản trị của cha ông.
Sự kiện “Ngày Sách và Văn hóa đọc Việt Nam năm 2026” của Trường Đại học Luật Hà Nội đã khép lại thành công rực rỡ. Dòng chảy tri thức ấy sẽ vẫn tiếp nối qua khu vực trưng bày sách trợ giá và những hoạt động tham quan giới thiệu sách, góp phần xây dựng một hệ sinh thái tri thức sống động tại Trường Đại học Luật Hà Nội.
Một số hình ảnh tại sự kiện:

Không gian trưng bày tại Thư viện “Ngày Sách và Văn hóa đọc Việt Nam năm 2026”.
.jpg)

Hoạt động bán sách trợ giá được các bạn sinh viên đón nhận.
Theo hlu.edu.vn
https://hlu.edu.vn/News/Details/31101?zoneid=zone2
Ngày 16/4, ba cơ sở đào tạo luật gồm Trường Đại học Luật Hà Nội, Trường Đại học Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội và Trường Đại học Kinh tế – Luật – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh phối hợp tổ chức Hội thảo quốc gia “Đổi mới chương trình đào tạo và phương pháp giảng dạy luật tại các cơ sở đào tạo luật ở Việt Nam trong bối cảnh mới”. Hội thảo có sự tham gia đông đảo các giáo sư, chuyên gia, nhà khoa học đầu ngành, cùng đại diện lãnh đạo, giảng viên của nhiều cơ sở đào tạo luật trên cả nước.
![]() |
| Hội thảo quốc gia “Đổi mới chương trình đào tạo và phương pháp giảng dạy luật tại các cơ sở đào tạo luật ở Việt Nam trong bối cảnh mới” |
Nguồn nhân lực pháp luật phải có năng lực tư duy hệ thống, tư duy phản biện, thích ứng nhanh
Phát biểu khai mạc, PGS.TS. Tô Văn Hòa, Hiệu trưởng Trường Đại học Luật Hà Nội nhấn mạnh, đất nước ta đang bước vào một giai đoạn phát triển mới với những yêu cầu rất cao, rất cấp thiết về hoàn thiện thể chế, pháp luật để xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, phát triển kinh tế hiện đại, giàu bản sắc và hội nhập quốc tế sâu rộng, thúc đẩy chuyển đổi số quốc gia, phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Do đó, yêu cầu đặt ra đối với nguồn nhân lực pháp luật không còn dừng lại ở việc nắm được hệ thống quy định hiện hành, mà còn phải có năng lực tư duy hệ thống, tư duy phản biện, năng lực thích ứng nhanh và khả năng xử lý các vấn đề pháp lý mới trong thực tiễn phát triển.
![]() |
| PGS.TS. Tô Văn Hòa, Hiệu trưởng Trường Đại học Luật Hà Nội phát biểu khai mạc Hội thảo |
Hiệu trưởng Tô Văn Hòa cho biết, đào tạo luật ở Việt Nam, mặc dù có truyền thống chưa thật sự dài so với nhiều ngành khoa học cơ bản khác, nhưng lại đang đứng trước những đòi hỏi và thách thức rất lớn. Cụ thể như làm thế nào để vừa truyền thụ được nền tảng kiến thức pháp lý có hệ thống vừa hình thành được năng lực hành nghề, năng lực giải quyết vấn đề và năng lực làm việc thực tiễn; hay thách thức đến từ trí tuệ nhân tạo, hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng…
Vì vậy, PGS.TS. Tô Văn Hòa nhận định, chủ đề của Hội thảo có ý nghĩa rất thiết thực và mang tính thời sự sâu sắc. Cách tiếp cận của Hội thảo không đi vào từng môn học hay từng lĩnh vực pháp luật cụ thể mà tập trung vào 3 chủ đề chính: (i) Đổi mới chương trình đào tạo để bảo đảm tính hiện đại, liên thông, thực tiễn và thích ứng; (ii) Đổi mới phương pháp đào tạo, phương pháp giảng dạy theo hướng phát huy năng lực chủ động, tư duy phản biện và khả năng ứng dụng của người học; (iii) Nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên luật có trình độ chuyên môn cao, có trải nghiệm thực tiễn, có năng lực sư phạm tốt và có tinh thần đổi mới.
![]() |
| PGS.TS. Trịnh Tiến Việt, Q. Hiệu trưởng Trường Đại học Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội phát biểu tại Hội thảo |
Phát biểu tại Hội thảo, PGS.TS. Trịnh Tiến Việt, Q. Hiệu trưởng Trường Đại học Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội nhấn mạnh việc ba cơ sở đào tạo luật đồng tổ chức sự kiện thể hiện tinh thần tiên phong và trách nhiệm xã hội trong đổi mới giáo dục pháp lý trước những cơ hội và thách thức của thời đại số. Đồng quan điểm, PGS.TS. Hoàng Công Gia Khánh, Hiệu trưởng Trường Đại học Kinh tế – Luật, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh khẳng định, sự phát triển của khoa học công nghệ đang đặt ra yêu cầu đổi mới đào tạo luật theo hướng liên ngành, hội nhập quốc tế, đồng thời chỉ ra các thách thức về cấu trúc chương trình, năng lực hội nhập của sinh viên và chất lượng đội ngũ giảng viên.
![]() |
| PGS.TS. Hoàng Công Gia Khánh, Hiệu trưởng Trường Đại học Kinh tế – Luật, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh |
Đổi mới chương trình đào tạo và phương pháp giảng dạy luật trong bối cảnh mới
Hội thảo có Phiên buổi sáng và Phiên buổi chiều: Phiên buổi sáng với chủ đề “Đổi mới nội dung chương trình đào tạo luật”; Phiên buổi chiều với chủ đề “Đổi mới phương pháp giảng dạy luật học và nâng cao năng lực giảng viên trong đào tạo luật ở Việt Nam”.
Tại Hội thảo, các đại biểu tập trung trao đổi, thảo luận, chia sẻ về các nội dung như: Đổi mới chương trình đào tạo luật đáp ứng yêu cầu đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao; sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong kỷ nguyên phát triển mới; nâng cao chất lượng đào tạo luật theo tinh thần các nghị quyết của Đảng trong bối cảnh mới; ứng dụng trí tuệ nhân tạo tạo sinh (AI) trong giảng dạy luật; phương pháp giảng dạy và học tập tích cực trong đào tạo luật quốc tế ở Việt Nam; viết pháp lý trong đào tạo luật ở Anh và Úc…
![]() |
| Đổi mới nội dung chương trình đào tạo luật |
Về đổi mới chương trình đào tạo luật, nhiều ý kiến đại biểu tại Hội thảo nhận định chương trình hiện còn nặng về lý thuyết, thiếu gắn kết với thực tiễn nghề nghiệp và chưa bắt kịp xu thế hội nhập quốc tế. Trên cơ sở đó, đại biểu đề xuất nhiều giải pháp như tăng cường đào tạo kỹ năng hành nghề, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số, cập nhật kiến thức pháp luật quốc tế và luật so sánh, đồng thời nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên và mở rộng hợp tác với các cơ quan, tổ chức thực tiễn.
Bên cạnh đó, các đại biểu còn chia sẻ, trao đổi về sự phát triển nhanh chóng của trí tuệ nhân tạo (AI), đặc biệt là các mô hình ngôn ngữ lớn, đang mở ra cả cơ hội và thách thức đối với đào tạo luật. AI thúc đẩy đổi mới nội dung và phương pháp giảng dạy theo hướng liên ngành, cá nhân hóa và lấy người học làm trung tâm, đồng thời tái định vị vai trò của giảng viên trong giáo dục pháp lý, cũng như mô hình giảng dạy kết hợp nghiên cứu với thực hành.
Tại Hội thảo, một số đại biểu trao đổi khẳng định về sự cần thiết gắn kết đào tạo với nghiên cứu khoa học nhằm nâng cao chất lượng giáo dục pháp lý. Theo đó đề xuất xây dựng khung năng lực nghiên cứu, tăng cường đầu tư nghiên cứu và bảo đảm liêm chính khoa học trong thời đại số. Đồng thời, mô hình “học giả thực hành” (scholar-practitioner) được đánh giá là đặc biệt phù hợp trong đào tạo và thực hành một số lĩnh vực của luật thông qua việc phân tích những giá trị và ý nghĩa của sự kết hợp giữa lý luận và thực tiễn.
![]() |
| Các đại biểu chụp ảnh lưu niệm tại Hội thảo |
Từ những ý kiến thảo luận, trao đổi, chia sẻ thẳng thắn và tâm huyết, Hội thảo đã trở thành cầu nối quan trọng để các cơ sở đào tạo luật cùng thống nhất lộ trình đổi mới toàn diện. Những góp ý từ các chuyên gia, nhà khoa học tại Hội thảo sẽ là cơ sở thực tiễn giá trị để các trường tham khảo nghiên cứu điều chỉnh cấu trúc chương trình đào tạo và phương pháp giảng dạy theo hướng hiện đại, liên thông. Sự phối hợp chặt chẽ giữa Trường Đại học Luật Hà Nội, Trường Đại học Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội và Trường Đại học Kinh tế – Luật – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh không chỉ nhằm nâng cao chất lượng của từng đơn vị, mà còn khẳng định trách nhiệm chung trong việc cung cấp nguồn nhân lực pháp luật có bản lĩnh, đủ năng lực hội nhập để phụng sự sự nghiệp xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa trong kỷ nguyên số.
Theo Nguyễn Linh, Uyên Nhi/ Danchuphapluat.vn
https://danchuphapluat.vn/doi-moi-dao-tao-luat-trong-boi-canh-moi-yeu-cau-tat-yeu-tu-thuc-tien-9217.html
Thực hiện Kế hoạch số 86/KH-TTCP ngày 13/1/2026 của Tổng Thanh tra Chính phủ về đào tạo, bồi dưỡng ngành Thanh tra năm 2026, Trường Cán bộ Thanh tra tổ chức chiêu sinh Lớp Bồi dưỡng nghiệp vụ về kiểm tra chuyên ngành K05 năm 2026.
Chi tiết nội dung chiêu sinh như sau:
Thực hiện Kế hoạch số 86/KH-TTCP ngày 13/1/2026 của Tổng Thanh tra Chính phủ về đào tạo, bồi dưỡng ngành Thanh tra năm 2026, Trường Cán bộ Thanh tra tổ chức chiêu sinh Lớp Bồi dưỡng nghiệp vụ về kiểm tra chuyên ngành K04 năm 2026.
Chi tiết nội dung chiêu sinh như sau:
1. Đặt vấn đề
Nhìn lại hành trình lịch sử của dân tộc, dấu mốc Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng Cộng sản Việt Nam (1986) không chỉ đơn thuần là một kỳ đại hội chuyển giao thế hệ, mà còn là khởi điểm của một cuộc kiến tạo vĩ đại, mở ra “kỷ nguyên mới” cho sự sinh tồn và phát triển của đất nước [1]. Trước khi Đổi mới, Việt Nam rơi vào tình trạng khủng hoảng kinh tế – xã hội trầm trọng, hệ quả của mô hình kế hoạch hóa tập trung quan liêu, bao cấp đã lỗi thời, khiến quốc gia đứng trước nguy cơ bị gạt ra khỏi dòng chảy phát triển của nhân loại. Thời điểm đó, Việt Nam bị xếp vào nhóm 20 quốc gia nghèo nhất thế giới, với mức thu nhập bình quân đầu người chỉ dao động từ 125 đến 200 USD/năm [2]. Đáng báo động hơn, nền kinh tế rơi vào tình trạng bất ổn vĩ mô cực độ khi chỉ số lạm phát phi mã vào tháng 12/1986 đạt mức kỷ lục 774,7%, gây tê liệt các hoạt động sản xuất và làm xói mòn niềm tin xã hội [3]. Trong bối cảnh ngặt nghèo đó, quyết sách “Đổi mới” đã được ban hành như một tất yếu lịch sử, là kết quả của sự dũng cảm nhìn thẳng vào sự thật và nhu cầu tự thân về một sự thay đổi toàn diện từ tư duy đến hành động.
Tuy nhiên, nếu chỉ quan sát Đổi mới qua những con số tăng trưởng GDP ấn tượng hay sự thay đổi diện mạo đô thị, chúng ta mới chỉ thấy được phần bề nổi của tảng băng chìm. Thực chất, đằng sau sự chuyển mình kỳ diệu của nền kinh tế, đưa quy mô GDP đạt trên 510 tỷ USD và thu nhập bình quân đầu người vượt ngưỡng 5.000 USD vào năm 2025 [4], là một cuộc cách mạng lặng lẽ nhưng vô cùng bền bỉ và quyết liệt về mặt thể chế. Đây là quá trình chuyển đổi mang tính bản lề từ mô hình “Nhà nước quản lý” dựa trên các mệnh lệnh hành chính cứng nhắc sang mô hình “Nhà nước pháp quyền XHCN kiến tạo phát triển” [5]. Trong mô hình mới này, thể chế đóng vai trò là “hạ tầng của hạ tầng”, không chỉ giới hạn ở việc quản trị xã hội bằng pháp luật mà còn là việc kiến tạo nên không gian tự do cho sự sáng tạo, bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mọi thực thể kinh tế và thúc đẩy sự minh bạch trong thực thi công lý.
Trọng tâm cốt lõi của hành trình 40 năm qua chính là sự tương tác biện chứng giữa “kiến tạo thể chế” và “thực thi công lý”. Thể chế mạnh tạo ra hành lang pháp lý an toàn, còn công lý được thực thi nghiêm minh là sợi dây gắn kết lòng dân, tạo nên sự ổn định chính trị cần thiết cho mọi sự phát triển bền vững [6]. Nhận thức rõ điều này, việc nghiên cứu và đánh giá sâu sắc các thành tựu về thể chế pháp lý trong 40 năm qua không chỉ nhằm tổng kết một giai đoạn lịch sử, mà còn để đúc rút những giá trị lý luận quan trọng, làm tiền đề thực tiễn để định hình tầm nhìn đến năm 2045. Đó là khát vọng về một quốc gia phát triển, thu nhập cao, nơi mà giá trị của con người và sự thượng tôn pháp luật trở thành chuẩn mực tối thượng, đưa Việt Nam vững vàng bước vào kỷ nguyên vươn mình của dân tộc trong bối cảnh toàn cầu hóa đầy biến động [7].

Ảnh minh họa. Nguồn: VGP.
2. Kiến tạo thể chế: Động lực cốt lõi cho sự bứt phá kinh tế
Trong suốt hành trình 40 năm qua, việc xây dựng và hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa (XHCN) không chỉ đơn thuần là sự điều chỉnh các chính sách quản lý, mà thực chất là một cuộc kiến tạo “hệ điều hành” mới cho toàn bộ nền kinh tế quốc gia. Thể chế đã chuyển hóa từ vai trò kìm hãm sang vai trò “bệ phóng”, tạo lập không gian sinh tồn và phát triển cho các thành phần kinh tế.
Sự chuyển đổi mang tính bước ngoặt về quy mô và chất lượng nền kinh tế là minh chứng sinh động nhất cho hiệu quả của việc đổi mới thể chế. Từ một nền kinh tế lạc hậu, khép kín, Việt Nam đã kiến tạo nên một môi trường kinh doanh minh bạch và bình đẳng hơn, thúc đẩy sự giải phóng mạnh mẽ sức sản xuất xã hội. Những con số thống kê đã phác họa một hành trình bứt phá ngoạn mục: Nếu như ở giai đoạn tiền Đổi mới, thu nhập bình quân đầu người chỉ dừng lại ở mức nghèo khổ (từ 125 – 200 USD/năm), thì đến giai đoạn 2021 – 2025, con số này đã tăng vọt lên trên 5.000 USD/người/năm [8]. Sự gia tăng gấp hàng chục lần này phản ánh sự thay đổi về chất trong năng lực tạo ra giá trị của nền kinh tế. Song hành với đó, quy mô GDP toàn quốc đã đạt ngưỡng trên 510 tỷ USD, chính thức đưa Việt Nam hiện diện trong nhóm những nền kinh tế năng động và có sức bật lớn nhất khu vực Đông Nam Á cũng như Châu Á – Thái Bình Dương [9]. Đây là thành quả trực tiếp từ việc chuyển đổi sang mô hình kinh tế thị trường, nơi mà các quy luật giá trị, cung cầu và cạnh tranh được tôn trọng và vận hành dưới sự điều tiết vĩ mô của Nhà nước pháp quyền.
Quyền tự do kinh doanh và chiều sâu hội nhập quốc tế đóng vai trò là “linh hồn” của công cuộc kiến tạo thể chế. Điểm đột phá lớn nhất trong tư duy pháp lý là sự chuyển dịch từ nguyên tắc quản lý “chọn – cho” (chỉ được làm những gì pháp luật cho phép) sang nguyên tắc pháp quyền hiện đại: “Người dân và doanh nghiệp được tự do kinh doanh tất cả những gì pháp luật không cấm” [10]. Sự thay đổi này đã kích hoạt tinh thần khởi nghiệp quốc gia, biến Việt Nam từ một nước thiếu hụt lương thực trở thành một mắt xích quan trọng trong chuỗi cung ứng toàn cầu. Trên bình diện đối ngoại, thể chế kinh tế đã được điều chỉnh để tương thích với các chuẩn mực quốc tế cao nhất. Tính đến nay, Việt Nam đã ký kết và thực thi 17 Hiệp định thương mại tự do (FTA) với hơn 60 quốc gia và vùng lãnh thổ, bao gồm cả những FTA thế hệ mới như CPTPP và EVFTA [11]. Những nỗ lực cải cách hành chính và minh bạch hóa pháp lý đã giúp Chỉ số Tự do kinh tế (Economic Freedom Index) của Việt Nam vào năm 2024 tăng mạnh 13 bậc, vươn lên vị trí 59/176 quốc gia và vùng lãnh thổ [12]. Kết quả này không chỉ là một thứ hạng, mà là sự thừa nhận của cộng đồng quốc tế đối với một môi trường pháp lý ngày càng ổn định, hấp dẫn và tin cậy, tạo nền tảng vững chắc để Việt Nam tiếp tục bứt phá trong kỷ nguyên số và hội nhập sâu rộng.
3. Thực thi công lý và xây dựng nhà nước pháp quyền
Trong tư duy quản trị quốc gia hiện đại, việc kiến tạo thể chế không chỉ bó hẹp trong phạm vi điều hành kinh tế mà đã lan tỏa sâu rộng, trở thành “trụ cột pháp lý” trong lĩnh vực tư pháp, nhằm mục tiêu tối thượng là đảm bảo quyền con người và quyền công dân. Sự chuyển dịch này đánh dấu bước tiến từ quản lý xã hội bằng các quy định đơn thuần sang một tầm cao mới: xây dựng một xã hội thượng tôn công lý, nơi mà mỗi thiết chế pháp luật đều xoay quanh trục giá trị nhân văn và quyền tự do của chủ thể.
Quá trình hoàn thiện hệ thống pháp luật và tư pháp trong 40 năm qua đã đạt được những bước tiến mang tính bản lề, mà đỉnh cao là sự ra đời của Hiến pháp năm 2013. Đây không chỉ là đạo luật cơ bản mà còn là cột mốc lý luận quan trọng, chính thức hóa nguyên tắc: “Nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân” [13]. Dưới ánh sáng của Hiến pháp, quyền lực nhà nước được phân định rõ ràng giữa các cơ quan lập pháp, hành pháp và đặc biệt là sự độc lập tương đối của cơ quan tư pháp. Quyền tư pháp được giao cho Tòa án, thực hiện nhiệm vụ bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người. Điểm đột phá mạnh mẽ nhất trong cải cách tư pháp chính là việc khẳng định nguyên tắc tranh tụng trong xét xử được bảo đảm, trong đó quyền bào chữa của bị can, bị cáo và vai trò của Luật sư được nâng lên một vị thế mới, mang tính đối trọng và phản biện thực chất [14]. Sự lớn mạnh của các thiết chế tư pháp đã tạo ra một “màng lọc” pháp lý, giúp giảm thiểu các sai sót tư pháp và củng cố niềm tin của nhân dân vào sự công minh của pháp luật.
Tuy nhiên, nhìn nhận một cách khách quan dưới góc độ khoa học chính trị và pháp lý, những thách thức trong thực thi và vận hành bộ máy vẫn đang đặt ra những yêu cầu bức thiết về sự đổi mới. Tài liệu dự thảo tổng kết 40 năm (tháng 10/2025) đã thẳng thắn chỉ ra rằng, mặc dù hệ thống pháp luật đã đồ sộ hơn về số lượng nhưng tính chuyên nghiệp và sự đồng bộ trong xây dựng pháp luật vẫn chưa đáp ứng kịp sự biến đổi nhanh chóng của thực tiễn xã hội. Minh chứng điển hình là trong nhiệm kỳ Quốc hội khóa XIV, chương trình xây dựng luật, pháp lệnh đã có những biến động rất lớn: phải bổ sung thêm 30 dự án Luật và rút ra khỏi chương trình 35 dự án Luật khác do chưa đảm bảo chất lượng hoặc không còn phù hợp [15]. Sự “vênh” giữa quy định pháp lý và sự vận động tự thân của đời sống kinh tế – xã hội cho thấy một thực tế: tư duy làm luật đôi khi vẫn mang tính đối phó hoặc chưa dự báo hết được các kịch bản phát triển. Điều này đòi hỏi các cơ quan lập pháp, các nhà hoạch định chính sách và đặc biệt là đội ngũ Luật sư – những người trực tiếp “chạm” vào nhịp thở của công lý – phải không ngừng đổi mới tư duy, nâng cao năng lực phản biện chính sách để hệ thống pháp luật không chỉ là công cụ quản lý mà phải là một thực thể sống, linh hoạt và kiến tạo [16]. Việc giải quyết các điểm nghẽn về thể chế tư pháp chính là chìa khóa để hiện thực hóa khát vọng về một Nhà nước pháp quyền thực thụ, nơi công lý không chỉ được thực hiện mà còn phải được “nhìn thấy” thông qua từng bản án và quyết định pháp lý.
4. Vai trò của đội ngũ luật sư trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc
Trong tiến trình 40 năm Đổi mới, sự phát triển của nghề luật sư không chỉ là sự gia tăng thuần túy về mặt số lượng nhân lực, mà thực chất là sự khẳng định một định chế bổ trợ tư pháp không thể tách rời trong cấu trúc Nhà nước pháp quyền XHCN. Đội ngũ luật sư đã và đang trở thành chủ thể quan trọng trong việc hiện thực hóa các quyền con người, quyền công dân và là nhân tố thúc đẩy sự minh bạch, công bằng trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội.
Sự trưởng thành về quy mô và vị thế nghề nghiệp gắn liền với từng giai đoạn chuyển mình của thể chế quốc gia. Nhìn lại những năm đầu thập niên 90, khi khái niệm về hành nghề luật sư chuyên nghiệp còn khá sơ khai với số lượng ít ỏi các văn phòng luật sư tập trung tại các đô thị lớn, thì đến nay, đội ngũ luật sư Việt Nam đã có sự lớn mạnh vượt bậc cả về lượng và chất. Tính đến năm 2025, mạng lưới luật sư và các tổ chức hành nghề luật sư đã phủ khắp 63 tỉnh, thành phố, bám sát mọi biến động của đời sống kinh tế – xã hội [17]. Không chỉ dừng lại ở các lĩnh vực truyền thống như hình sự hay dân sự, luật sư ngày nay đã hiện diện sâu sắc trong các lĩnh vực chuyên biệt, phức tạp như sở hữu trí tuệ, tài chính quốc tế, thị trường vốn và quản trị doanh nghiệp. Sự gia tăng về trình độ chuyên môn, bản lĩnh nghề nghiệp và đạo đức hành nghề đã giúp luật sư xác lập vị thế là người đồng hành tin cậy của nhân dân và doanh nghiệp, góp phần đưa pháp luật vào cuộc sống một cách thực chất và sinh động.
Sứ mệnh bảo vệ công lý và vai trò “gác cổng” trong hội nhập quốc tế là những dấu ấn nổi bật nhất của nghề luật sư trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc. Trong hoạt động tư pháp, luật sư không chỉ tham gia tranh tụng tại tòa để bảo vệ lẽ phải và quyền lợi hợp pháp của khách hàng, mà còn đóng vai trò là “người phản biện thực tiễn”, góp phần kiểm soát quyền lực và hạn chế các sai sót trong hoạt động tố tụng [18]. Đặc biệt, trong bối cảnh Việt Nam hội nhập sâu rộng thông qua các FTA thế hệ mới, đội ngũ luật sư đã trở thành lực lượng tiên phong hỗ trợ các doanh nghiệp nội địa bứt phá ra “biển lớn” quốc tế. Với vai trò là những chuyên gia hiểu biết sâu sắc về luật pháp quốc tế và tập quán thương mại toàn cầu, luật sư giúp doanh nghiệp nhận diện rủi ro, phòng vệ thương mại và giải quyết các tranh chấp xuyên biên giới. Quan trọng hơn, thông qua hoạt động tư vấn, giới luật sư đóng góp tích cực vào quá trình “nội luật hóa” các tiêu chuẩn quốc tế, giúp thể chế kinh tế Việt Nam tương thích hoàn toàn với các quy chuẩn minh bạch của thế giới, từ đó củng cố uy tín và vị thế của quốc gia trên trường quốc tế [19].
Có thể khẳng định, sự lớn mạnh của đội ngũ luật sư chính là thước đo cho mức độ hoàn thiện của Nhà nước pháp quyền. Trong tầm nhìn đến năm 2045, khi Việt Nam hướng tới mục tiêu trở thành quốc gia phát triển, đội ngũ luật sư chính là một trong những nguồn lực tri thức cốt lõi để duy trì sự ổn định pháp lý, bảo đảm công bằng xã hội và kiến tạo những giá trị bền vững cho một xã hội văn minh, thượng tôn pháp luật [20].
5. Định hướng chiến lược đến năm 2030 và tầm nhìn 2045: Đột phá thể chế cho kỷ nguyên vươn mình của dân tộc
Tiến tới các cột mốc lịch sử quan trọng, hành trình 40 năm Đổi mới không chỉ là điểm tổng kết những thành tựu đã qua mà còn là bệ phóng cho các mục tiêu mang tầm vóc thời đại. Dựa trên dự thảo báo cáo năm 2025, lộ trình chiến lược quốc gia được xác lập với các mốc thời gian cụ thể: Đến năm 2025, Việt Nam quyết tâm vượt qua mức thu nhập trung bình thấp; đến năm 2030, nhân kỷ niệm 100 năm thành lập Đảng, trở thành nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao; và đến năm 2045, kỷ niệm 100 năm thành lập nước, hoàn thành mục tiêu trở thành nước phát triển, thu nhập cao [21]. Để hiện thực hóa khát vọng này, Đảng và Nhà nước xác định “đột phá thể chế” là ưu tiên hàng đầu, là chìa khóa mở ra cánh cửa của sự phát triển bền vững và thịnh vượng.
Trước hết, việc xây dựng hạ tầng pháp lý cho nền kinh tế số và kinh tế xanh được coi là động lực mới để tăng trưởng chất lượng cao. Trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đang tái cấu trúc lại nền kinh tế toàn cầu, hệ thống pháp luật Việt Nam cần tập trung xây dựng các khung pháp lý thử nghiệm (sandbox) và các quy định chính thức cho trí tuệ nhân tạo (AI), kinh tế tuần hoàn và các mô hình kinh doanh dựa trên nền tảng dữ liệu lớn [22]. Việc kiến tạo một môi trường pháp lý cho phép đổi mới sáng tạo, đồng thời bảo đảm an ninh mạng và chủ quyền số quốc gia, sẽ giúp Việt Nam không chỉ bắt kịp mà còn có thể vượt lên trong các lĩnh vực công nghệ mới, giảm thiểu tác động đến môi trường và chuyển đổi thành công sang mô hình phát triển bền vững.
Thứ hai, tinh gọn bộ máy và nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị quốc gia là điều kiện tiên quyết để giảm chi phí tuân thủ pháp luật và khơi thông các nguồn lực xã hội. Quyết tâm chính trị này đã được cụ thể hóa bằng những con số ấn tượng khi tính đến cuối năm 2025, Chính phủ đã thực hiện tinh gọn bộ máy cấp Trung ương, giảm 5 bộ và 4 cơ quan thuộc Chính phủ so với các nhiệm kỳ trước [23]. Việc sáp nhập các đơn vị hành chính và tinh giảm các tầng nấc trung gian không chỉ giúp tiết kiệm ngân sách nhà nước mà quan trọng hơn là xóa bỏ những “rào cản hành chính” gây phiền hà cho người dân và doanh nghiệp. Một bộ máy quản trị hiện đại, linh hoạt và minh bạch chính là nền tảng để Nhà nước pháp quyền thực hiện tốt vai trò kiến tạo phát triển.
Cuối cùng, việc hoàn thiện cơ chế kiểm soát quyền lực và phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực phải được tiến hành song song với việc bảo vệ các nhân tố đổi mới. Thể chế trong giai đoạn mới cần xây dựng được một hệ thống pháp luật vừa nghiêm minh, chặt chẽ để “không thể tham nhũng”, vừa có cơ chế “bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm vì lợi ích chung” [24]. Điều này giúp khơi dậy khát vọng cống hiến, giải tỏa tâm lý e ngại, “sợ sai” trong thực thi công vụ của đội ngũ cán bộ, công chức. Kiểm soát quyền lực bằng luật pháp, kết hợp với thực thi công lý nghiêm minh, sẽ tạo ra môi trường chính trị – pháp lý lành mạnh, là bảo đảm vững chắc nhất để đất nước vững bước tiến tới mục tiêu năm 2045, khẳng định vị thế và uy tín của một Việt Nam hùng cường trên bản đồ thế giới [25].
6. Kết luận: Thượng tôn pháp luật – Nền tảng cho kỷ nguyên vươn mình của dân tộc
Hành trình 40 năm Đổi mới (1986 – 2026) không chỉ là một giai đoạn lịch sử về tăng trưởng kinh tế thuần túy, mà quan trọng hơn, đó là minh chứng hùng hồn cho sức mạnh của sự thay đổi tư duy lý luận và thực tiễn về kiến tạo thể chế. Từ những bước đi dò dẫm đầu tiên để thoát khỏi cơ chế tập trung quan liêu, bao cấp, Việt Nam đã hình thành nên một hệ thống tri thức đồ sộ về Nhà nước pháp quyền XHCN, nơi mà pháp luật trở thành công cụ tối thượng để quản trị quốc gia và thúc đẩy tiến bộ xã hội.
“Kiến tạo thể chế” và “Thực thi công lý” trong bối cảnh hiện nay không còn là những khái niệm lý thuyết trừu tượng, mà đã trở thành những mệnh lệnh hành động cụ thể, quyết liệt nhằm giải phóng mọi nguồn lực, khơi thông mọi tiềm năng của đất nước. Kiến tạo thể chế chính là tạo ra môi trường nuôi dưỡng sự sáng tạo và bảo đảm an toàn pháp lý cho mọi chủ thể; trong khi thực thi công lý là “hàng rào bảo vệ” cuối cùng để bảo đảm quyền con người, quyền công dân và tính nghiêm minh của chế độ [26]. Sự kết hợp hài hòa giữa hai yếu tố này tạo nên thế đứng vững chãi cho quốc gia trước những biến động khó lường của tình hình quốc tế.
Bước vào kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, sứ mệnh của đội ngũ luật sư và những người làm công tác pháp luật ngày càng trở nên nặng nề nhưng vô cùng vinh quang. Họ chính là những người trực tiếp chuyển hóa các cam kết pháp lý trên văn bản thành hiện thực công bằng, minh bạch trong đời sống thường nhật của mỗi người dân và hoạt động của mỗi doanh nghiệp. Trong tầm nhìn chiến lược đến năm 2045, vai trò của giới luật sư không chỉ dừng lại ở việc bảo vệ quyền lợi hợp pháp trong các vụ án cụ thể, mà còn là lực lượng tiên phong trong phản biện chính sách, đóng góp trí tuệ vào quá trình hoàn thiện thể chế quốc gia và hỗ trợ Việt Nam khẳng định bản sắc pháp lý trên trường quốc tế [27].
Khép lại hành trình 40 năm với những thành tựu có ý nghĩa lịch sử, chúng ta hoàn toàn có quyền tin tưởng vào một tương lai rạng rỡ. Với tinh thần thượng tôn pháp luật, sự kiên định trong cải cách thể chế và quyết tâm thực thi công lý, Việt Nam chắc chắn sẽ hoàn thành thắng lợi mục tiêu trở thành nước phát triển, thu nhập cao vào năm 2045. Đó không chỉ là thành công của một chiến lược phát triển, mà còn là biểu tượng của ý chí tự cường và khát vọng hòa bình, công lý của dân tộc Việt Nam trong dòng chảy văn minh nhân loại [28].
Tài liệu tham khảo, trích dẫn
[1] Đảng Cộng sản Việt Nam (1986), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, NXB Sự thật, Hà Nội.
[2] Ban Chỉ đạo Tổng kết 40 năm Đổi mới (2025), Báo cáo tổng kết một số vấn đề lý luận và thực tiễn về công cuộc Đổi mới theo định hướng XHCN trong 40 năm qua ở Việt Nam (Dự thảo tháng 10/2025), Hà Nội.
[3] Tổng cục Thống kê (1991), Số liệu thống kê kinh tế – xã hội Việt Nam 1986 – 1990, NXB Thống kê, Hà Nội.
[4] Chính phủ (2025), Báo cáo tình hình kinh tế – xã hội năm 2024 và dự kiến kế hoạch năm 2025, trình Quốc hội khóa XV.
[5] Nguyễn Phú Trọng (2022), Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, NXB Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội.
[6] Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam (2024), Cải cách thể chế ở Việt Nam: Thành tựu và những vấn đề đặt ra sau 40 năm Đổi mới, Tạp chí Khoa học xã hội Việt Nam, số tháng 08/2024.
[7], [13] Quốc hội (2013), Hiến pháp nước Cộng hòa XHCN Việt Nam năm 2013.
[8] Ban Chỉ đạo Tổng kết 40 năm Đổi mới (2025), Báo cáo tổng kết một số vấn đề lý luận và thực tiễn về công cuộc Đổi mới theo định hướng XHCN trong 40 năm qua ở Việt Nam (Dự thảo tháng 10/2025), Hà Nội.
[9] World Bank (2025), Vietnam Economic Update: Reaching New Heights in the Reform Era, Washington, D.C. (Bản cập nhật dữ liệu kinh tế Việt Nam 2024 – 2025).
[10] Quốc hội, Luật Doanh nghiệp 2020 và các văn bản hướng dẫn thi hành, NXB Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội.
[11] Bộ Công Thương (2024), Báo cáo tổng kết 20 năm tham gia các FTA của Việt Nam và lộ trình thực thi đến năm 2030, Hà Nội.
[12] The Heritage Foundation (2024), 2024 Index of Economic Freedom: Vietnam Country Report, Washington, D.C. (Dữ liệu về chỉ số tự do kinh tế thế giới).
[14] Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2022), Nghị quyết số 27-NQ/TW về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam trong giai đoạn mới, Hà Nội.
[15] Ban Chỉ đạo Tổng kết 40 năm Đổi mới (2025), Báo cáo tổng kết một số vấn đề lý luận và thực tiễn về công cuộc Đổi mới theo định hướng XHCN trong 40 năm qua ở Việt Nam (Dự thảo tháng 10/2025), Hà Nội. (Trích dẫn số liệu về xây dựng luật khóa XIV).
[16] Viện Nhà nước và Pháp luật (2024), Cải cách tư pháp ở Việt Nam: Lý luận và thực tiễn thực thi công lý trong bối cảnh Đổi mới, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 11/2024.
[17] Liên đoàn Luật sư Việt Nam (2025), Báo cáo tổng kết công tác nhiệm kỳ và phương hướng phát triển đội ngũ luật sư đến năm 2030, tầm nhìn 2045, Hà Nội.
[18] Ban Chỉ đạo Cải cách tư pháp Trung ương (2024), Đề án nâng cao năng lực đội ngũ các thiết chế bổ trợ tư pháp trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền, Tạp chí Nội chính, số tháng 09/2024.
[19] Bộ Tư pháp (2025), Báo cáo đánh giá tác động của việc gia nhập các FTA thế hệ mới đối với sự phát triển của dịch vụ pháp lý tại Việt Nam, Hà Nội.
[20] Viện Chiến lược và Khoa học pháp lý (2024), Nghề luật sư Việt Nam trước thách thức của kỷ nguyên số và hội nhập toàn cầu, NXB Tư pháp, Hà Nội.
[21] Ban Chỉ đạo Tổng kết 40 năm Đổi mới (2025), Báo cáo tổng kết một số vấn đề lý luận và thực tiễn về công cuộc Đổi mới theo định hướng XHCN trong 40 năm qua ở Việt Nam (Dự thảo tháng 10/2025), Hà Nội.
[22] Bộ Thông tin và Truyền thông (2024), Chiến lược quốc gia về phát triển kinh tế số và xã hội số đến năm 2030, tầm nhìn 2045, NXB Thông tin và Truyền thông, Hà Nội.
[23] Chính phủ (2025), Báo cáo tổng kết đẩy mạnh cải cách hành chính và tinh gọn bộ máy tổ chức giai đoạn 2021 – 2025, Hà Nội.
[24] Bộ Chính trị (2023), Kết luận số 14-KL/TW ngày 22/9/2021 về chủ trương khuyến khích và bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo vì lợi ích chung.
[25] Hội đồng Lý luận Trung ương (2024), Kỷ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam: Lý luận và thực tiễn kiến tạo tương lai đến năm 2045, NXB Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội.
[26] Nguyễn Văn Quyền (2024), Vai trò của Hội Luật gia và giới luật sư trong thực thi công lý tại Việt Nam, Tạp chí Pháp luật và Phát triển.
[27] Tạp chí Luật sư Việt Nam (2025), Số chuyên đề: Luật sư Việt Nam đồng hành cùng 40 năm Đổi mới và tầm nhìn phát triển quốc gia, Hà Nội.
[28] Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh (2025), Giáo trình Lý luận về Nhà nước và Pháp quyền XHCN trong bối cảnh Đổi mới, NXB Lý luận chính trị, Hà Nội.
PGS. TS. NGUYỄN THỊ THÚY HÀ
Đại học Tôn Đức Thắng
LÊ HÙNG
Học viện Chính trị khu vực I
Theo lsvn.vn
(link: https://lsvn.vn/kien-tao-the-che-va-thuc-thi-cong-ly-trong-tam-cot-loi-trong-hanh-trinh-40-nam-doi-moi-va-dinh-huong-den-nam-2045-a169444.html)
18/02/2026 19:49
Sau 3 ngày từ 5/2 đến 7/2, lớp bồi dưỡng nghiệp vụ tiếp công dân, xử lý đơn, giải quyết khiếu nại tố cáo K01 theo Chương trình hợp tác giữa Thanh tra Chính phủ và UBND tỉnh Lào Cai không chỉ đạt được kết quả, mục tiêu ban đầu mà còn có nhiều nội dung vượt kỳ vọng của đơn vị, tổ chức và học viên.

Theo Thanh tra tỉnh Lào Cai, thông qua lớp bồi dưỡng, Chủ tịch, Phó chủ tịch UBND xã, cán bộ trực tiếp làm công tác tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo đã được trang bị 5 chuyên đề chất lượng; hàng trăm câu hỏi, vấn đề của học viên được các chuyên gia, giảng viên giàu kinh nghiệm của Trường Cán bộ thanh tra, Thanh tra Chính phủ tổng hợp để trả lời, giải đáp, hướng dẫn. Nhiều nội dung khó khăn, vướng mắc của học viên tiếp tục được ghi nhận, tổng hợp, chọn lọc để giải đáp bằng hình thức phù hợp sau khi kết thúc lớp bồi dưỡng.

Đặt trong bối cảnh, trung bình một tháng tỉnh Lào Cai nhận hàng trăm đơn khiếu nại, tố cáo thì hoạt động tập huấn, bồi dưỡng kỹ năng, nghiệp vụ của cán bộ tiếp công dân, xử lý đơn, giải quyết khiếu nại, tố cáo là vô cùng cấp thiết. Vượt ra khỏi khuôn khổ lớp bồi dưỡng thông thường, chương trình bồi dưỡng nghiệp vụ tiếp công dân, xử lý đơn, giải quyết khiếu nại, tố cáo tại Lào Cai không chỉ giúp nâng cao được nhận thức của cán bộ tiếp công dân ở cấp xã, đặc biệt là Chủ tịch UBND cấp xã, mà còn “cầm tay, chỉ việc”, bồi dưỡng nghiệp vụ, rèn luyện kỹ năng “thực chiến” để lãnh đạo, cán bộ tiếp dân cấp xã có thể áp dụng một cách hiệu quả ngay vào công việc hằng ngày.

Bà Đào Ngọc Thanh Tuyền Chủ nhiệm lớp bồi dưỡng nghiệp vụ tiếp công dân, xử lý đơn, giải quyết khiếu nại tố cáo K01 cho biết: Đúng như tinh thần định hướng của Ban Giám hiệu Trường Cán bộ thanh tra tại các lớp bồi dưỡng nghiệp vụ chuyên sâu “lấy người học làm trung tâm”, các giảng viên, chuyên gia đã tập trung triển khai thực hiện các chuyên đề xoay quanh người học, các đối tượng học viên gồm Chủ tịch, Phó Chủ tịch xã, cán bộ công chức trực tiếp phụ trách công tác tiếp công dân, xử lý đơn, giải quyết khiếu nại, tố cáo. Các nội dung chuyên đề truyền đạt tới học viên bám sát thực tiễn, chú trọng trao đổi kinh nghiệm, hướng dẫn xử lý các tình huống cụ thể đúng như tinh thần chỉ đạo của Phó Chủ tịch UBND tỉnh Lào Cai Nguyễn Thành Sinh. Qua nội dung và cách thức tổ chức lớp bồi dưỡng này đã phát huy tính chủ động của học viên, đặt ra nhiều câu hỏi, vấn đề thực tiễn để giải quyết, đạt mức độ tương tác cao giữa giảng viên và học viên.

Với vai trò là học viên, Chuyên viên Văn phòng HĐND – UBND xã Tả Van, tỉnh Lào Cai Kim Thị Phương Oanh nhìn nhận: Thông qua chương trình bồi dưỡng, tôi đã “thu hoạch” được nhiều kiến thức và kỹ năng trong công tác tiếp công dân, xử lý đơn thư, giải quyết khiếu nại tố cáo như: Bổ sung thêm kiến thức pháp luật về Luật Tiếp công dân, Luật Khiếu nại, Luật tố cáo; Các văn bản hướng dẫn thi hành liên quan trực tiếp đến cấp xã. Đồng thời, được hướng dẫn kỹ năng tiếp công dân, xử lý các tình huống phức tạp và bất ngờ trong quá trình thực hiện nhiệm vụ. Nhất là trong kinh nghiệm và kỹ năng để xử lý những tình huống khó, phức tạp đối với các vụ việc, cán bộ tiếp công dân chúng tôi được truyền đạt kinh nghiệm: Trong mọi tình huống cần bình tĩnh, giữ thái độ hòa nhã, gần gũi, thông cảm, thấu hiểu nhưng cũng dứt khoát để giải thích, hướng dẫn cho công dân đúng theo nguyên tắc, quy định pháp luật.
“Chúng tôi cũng được chia sẻ thực tiễn trong quá trình thực tiễn từ cấp trên và các địa phương, một số cách làm hay, sáng tạo, hiệu quả trong công tác tiếp công dân và giải quyết đơn thư, khiếu nại, tố cáo. Hy vọng, hoạt động bồi dưỡng, tập huấn của Thanh tra Chính phủ tiếp tục được nghiên cứu để triển khai phạm vi rộng hơn, nội dung ngày càng chuyên sâu hơn để cán bộ tiếp dân ở cơ sở được thường xuyên tập huấn, bồi dưỡng, rèn luyện nghiệp vụ, qua đó, góp phần xây dựng, vận hành chính quyền “gần dân””, học viên đến từ UBND xã Tả Van đề xuất.

Chánh Thanh tra tỉnh Lào Cai Nguyễn Trung Triều, trân trọng cảm ơn sự quan tâm chỉ đạo của Thanh tra Chính phủ, UBND tỉnh, sự phối hợp của Trường Cán bộ Thanh tra đã luôn đồng hành, hỗ trợ Thanh tra tỉnh Lào Cai trong công tác đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ, nhất là trong nghiệp vụ tiếp công dân, xử lý đơn, giải quyết khiếu nại, tố cáo. Đồng thời, tin tưởng công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo tại Lào Cai sẽ có nhiều chuyển biến tích cực sau lớp học này. Thanh tra tỉnh sẽ tiếp tục phối hợp để mở nhiều lớp nghiệp vụ tiếp theo trong phạm vi quản lý nhà nước của ngành Thanh tra.
Theo daibieunhandan.vn
https://daibieunhandan.vn/hieu-qua-tu-mo-hinh-boi-duong-nghiep-vu-thuc-chien-10406406.html?zarsrc=30&utm_source=zalo&utm_medium=zalo&utm_campaign=zalo
![]() |
| Tổng Bí thư Tô Lâm, Chủ tịch nước Lương Cường bỏ phiếu bầu Ủy viên Trung ương chính thức và Ủy viên dự khuyết Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV |
Sáng 23/1, Ban Chấp hành Trung ương khóa XIV tổ chức Hội nghị lần thứ nhất để bầu Bộ Chính trị, Tổng Bí thư và Ban Bí thư khóa mới.
Đoàn Chủ tịch sẽ báo cáo yêu cầu, tiêu chuẩn và giới thiệu nhân sự do Trung ương khóa trước chuẩn bị, cùng ý kiến của Bộ Chính trị khóa mới và kết quả giới thiệu từ Đại hội để Hội nghị tham khảo. Sau đó, Trung ương họp tổ thảo luận, tiến hành ứng cử, đề cử. Đoàn Chủ tịch tổng hợp danh sách, trình Hội nghị biểu quyết thông qua và tiến hành bỏ phiếu, công bố kết quả.
Nhân sự Tổng Bí thư phải đạt các tiêu chuẩn cơ bản: Có uy tín cao, là hạt nhân lãnh đạo, trung tâm đoàn kết của toàn Đảng, toàn dân; có tư duy lý luận sắc sảo, kiến thức toàn diện và “bình tĩnh, sáng suốt trước những vấn đề khó, phức tạp liên quan đến vận mệnh của Đảng, quốc gia, dân tộc”; đã kinh qua chức vụ bí thư tỉnh, thành phố hoặc trưởng ban, bộ, ngành Trung ương; tham gia Bộ Chính trị trọn một nhiệm kỳ trở lên. Trường hợp đặc biệt do Ban Chấp hành Trung ương quyết định.
Trước đó, tối 22/1, Đại hội XIV của Đảng công bố danh sách 200 Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương khóa XIV (180 ủy viên chính thức và 20 ủy viên dự khuyết).
Theo danh sách công bố, trong 16 Ủy viên Bộ Chính trị khóa XIII, có 10 đồng chí tái cử Ban Chấp hành Trung ương khóa mới. Trong đó có 3 lãnh đạo chủ chốt của Đảng, Nhà nước gồm: Tổng Bí thư Tô Lâm, Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn, Thường trực Ban Bí thư Trần Cẩm Tú.
7 Ủy viên Bộ Chính trị khóa XIII khác tái cử Ban Chấp hành Trung ương khóa XIV, gồm: Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam Bùi Thị Minh Hoài; Trưởng Ban Tổ chức Trung ương Lê Minh Hưng; Đại tướng, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Phan Văn Giang; Đại tướng, Bộ trưởng Bộ Công an Lương Tam Quang; Bí thư Thành ủy Hà Nội Nguyễn Duy Ngọc; Đại tướng, Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam Nguyễn Trọng Nghĩa; Phó chủ tịch thường trực Quốc hội Đỗ Văn Chiến.
9 Ủy viên Ban Bí thư khóa XIII tái cử Ban Chấp hành Trung ương khóa XIV (tính cả Ủy viên Bộ Chính trị do Bộ Chính trị phân công) gồm: Tổng Bí thư Tô Lâm; Thường trực Ban Bí thư Trần Cẩm Tú; Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam Bùi Thị Minh Hoài; Trưởng Ban Tổ chức Trung ương Lê Minh Hưng; Trưởng Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương Trịnh Văn Quyết; Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Lê Hoài Trung; Bí thư Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh Trần Lưu Quang; Đại tướng, Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam Nguyễn Trọng Nghĩa; Phó ban thường trực Ban Nội chính Trung ương Lê Minh Trí.
Theo chương trình, chiều 23/1, Đại hội XIV của Đảng sẽ họp phiên bế mạc. Theo thông lệ, tại phiên bế mạc, Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Ủy ban Kiểm tra Trung ương Đảng khóa XIV sẽ ra mắt Đại hội.
Theo Danchuphapluat.vn
https://danchuphapluat.vn/ban-chap-hanh-trung-uong-khoa-xiv-tien-hanh-hoi-nghi-lan-thu-nhat-bau-tong-bi-thu-8495.html
![]() |
| Đồng chí Nguyễn Thanh Bình, Phó Trưởng Ban Tổ chức Trung ương, trình bày tham luận tại Đại hội – Ảnh: TTXVN |
Sáng 21/1, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng làm việc tại hội trường, nghe đại diện các đảng bộ trình bày các bài tham luận quan trọng, tập trung vào các vấn đề chiến lược của đất nước.
Đại hội đã nghe đồng chí Nguyễn Thanh Bình, Phó Trưởng Ban Tổ chức Trung ương trình bày tham luận về xây dựng, hoàn thiện tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị, tổng kết thực tiễn, nhấn mạnh tầm nhìn chiến lược về cuộc cách mạng tinh gọn bộ máy, coi đây là chìa khóa để đưa đất nước bước vào kỷ nguyên vươn mình.
Báo cáo về kết quả mang tính đột phá của cuộc cách mạng tinh gọn tổ chức bộ máy thực hiện theo Nghị quyết số 18-NQ/TW, Phó Trưởng Ban Tổ chức Trung ương nêu rõ, hệ thống tổ chức các cơ quan Đảng, Nhà nước và Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị-xã hội từ Trung ương đến địa phương được tổ chức lại đồng bộ, tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả; kết thúc hoạt động mô hình Đảng đoàn, Ban cán sự Đảng từ Trung ương đến địa phương; giảm 4 cơ quan Đảng Trung ương, 5 cơ quan Quốc hội, 5 bộ, 3 cơ quan thuộc Chính phủ, 13 tổng cục và tương đương, gần 1.500 đầu mối cấp vụ và hơn 4.800 đầu mối cấp phòng.
Giảm 29 tỉnh, thành phố, không tổ chức mô hình cấp huyện và giảm gần 700 huyện. Điều chỉnh sáp nhập từ hơn 10.000 xuống còn 3.321 xã, phường (giảm khoảng 6.700 xã, phường). Tinh giản gần 150.000 cán bộ, công chức, viên chức, người lao động thông qua chính sách hỗ trợ vượt trội. Đã sắp xếp tổ chức bộ máy theo mô hình mới, tổ chức lại hệ thống quân đội, công an ở địa phương, tòa án, viện kiểm sát, thanh tra, các cơ quan, đơn vị quản lý theo ngành dọc. Sắp xếp tổ chức Đảng và các tổ chức chính trị-xã hội, các hội quần chúng do Đảng, Nhà nước giao nhiệm vụ ở địa phương đồng bộ với tổ chức hành chính.
Về hệ thống các quy định, đã ban hành kịp thời đồng bộ các chủ trương, quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước, quy định của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể như các nghị quyết, kết luận, quy định, quyết định và trên 70 văn bản chỉ đạo các loại của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư. Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội cũng đã ban hành các luật, nghị quyết có liên quan trực tiếp về sắp xếp tổ chức bộ máy, đơn vị hành chính trong năm 2025.
Hệ thống các văn bản mới ban hành cơ bản bảo đảm đầy đủ cơ sở chính trị, pháp lý để thực hiện sắp xếp kịp thời, bảo đảm không trùng giẫm, rõ thẩm quyền, rõ trách nhiệm, theo hướng đẩy mạnh phân cấp, phân quyền cho các cấp cơ sở; bảo đảm giữ vững ổn định an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, không để xảy ra các vấn đề phức tạp trước, trong và sau khi thực hiện sáp nhập, vận hành tổ chức bộ máy mới.
Nhìn lại hơn 1 năm thực hiện cuộc cách mạng sắp xếp tổ chức bộ máy, nhất là giai đoạn nước rút trong vòng 6 tháng, từ tháng 7/2025 đến nay, đồng chí Nguyễn Thanh Bình khẳng định: Đây là một chủ trương rất đúng, rất trúng, có ý nghĩa lịch sử, được cán bộ, đảng viên, nhân dân đồng tình ủng hộ, dư luận quốc tế đánh giá cao.
Việc sắp xếp tinh gọn không chỉ giảm số lượng về tổ chức, đơn vị, giảm biên chế, giảm kinh phí chi thường xuyên mà quan trọng hơn là đã nâng cao hiệu lực, hiệu quả của bộ máy, giảm tầng nấc trung gian, phân cấp phân quyền được đẩy mạnh theo hướng gần dân, sát dân, phục vụ nhân dân tốt hơn; đã mở ra không gian, khơi thông nguồn lực, tạo dư địa để phát triển kinh tế-xã hội cho giai đoạn tiếp theo.
Từ những kết quả thành tựu của cuộc cách mạng tinh gọn tổ chức bộ máy vừa qua, Phó Trưởng Ban Tổ chức Trung ương Nguyễn Thanh Bình nêu ra một số bài học kinh nghiệm.
Trước hết, có sự lãnh đạo, chỉ đạo tập trung, thống nhất, quyết liệt của Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư và cấp ủy các cấp, đặc biệt là vai trò của đồng chí Tổng Bí thư trong chỉ đạo định hướng, thúc đẩy truyền cảm hứng và thực sự là một “tổng công trình sư” của cuộc cách mạng.
Kiên định, giữ vững các nguyên tắc của Đảng, thực hiện nghiêm các quy định pháp luật, kịp thời thể chế hóa, cụ thể hóa các chủ trương của Đảng, tập trung giải quyết những nút thắt, vướng mắc, có sự chuẩn bị kỹ lưỡng về nguồn lực để thực hiện.
Làm tốt công tác dự báo trên cơ sở tổng kết thực tiễn, bám sát bối cảnh trong nước, quốc tế, nhất là dự báo về những khó khăn, thách thức; có chiến lược định hướng, tầm nhìn dài hạn, có kế hoạch thực hiện cụ thể, khả thi, đồng bộ, bảo đảm ổn định chính trị-xã hội.
Thống nhất trong nhận thức và hành động, đoàn kết cao trong toàn hệ thống chính trị; tinh thần dám nghĩ, dám làm, dám vượt qua khó khăn, thách thức của đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, qua đó phát huy trách nhiệm, nỗ lực vượt lên chính mình.
Công tác tổ chức triển khai thực hiện được nghiêm túc, quyết liệt với tinh thần trách nhiệm cao nhất, có sự chủ động, linh hoạt trong sáng tạo, triển khai từ trên xuống dưới, Trung ương làm gương, địa phương hưởng ứng; không chủ quan nóng vội nhưng cũng không cầu toàn với phương châm vừa làm vừa rút kinh nghiệm, kịp thời chuyển đổi trạng thái từ “vừa chạy vừa xếp hàng” sang “thẳng hàng lối thông, đồng lòng cùng tiến”. Tăng cường ứng dụng khoa học công nghệ, chuyển đổi số. Đây là bài học kinh nghiệm có ý nghĩa hết sức quan trọng trong xu hướng phát triển mới, qua đó khắc phục được khâu yếu về tổ chức thực hiện trước đây.
Sự chủ động kịp thời định hướng thông tin tuyên truyền, công khai minh bạch đầy đủ các chủ trương, đường lối, chính sách mới; làm tốt công tác chính trị tư tưởng, nâng cao nhận thức của cán bộ, đảng viên và nhân dân, tạo sự thống nhất cao trong Đảng và sự đồng thuận trong xã hội; hạn chế tối đa các khoảng trống về thông tin để các thế lực thù địch, các phần tử xấu lợi dụng xuyên tạc, chống phá, chia rẽ nội bộ.
Từ các bài học kinh nghiệm trên, xác định rõ cuộc cách mạng về sắp xếp tổ chức bộ máy, đơn vị hành chính mới đạt được những kết quả là bước đầu, Phó Trưởng Ban Tổ chức Trung ương Nguyễn Thanh Bình nhấn mạnh, nhiệm vụ đặt ra trong thời gian tới hết sức quan trọng và cho rằng cần tập trung vào một số nhiệm vụ trọng tâm.
Trước hết, tiếp tục hoàn thiện đồng bộ thể chế, quy định của Đảng và pháp luật của Nhà nước phù hợp với mô hình tổ chức mới, xác định rõ chức năng nhiệm vụ, cơ cấu tổ chức trong từng cơ quan đơn vị, bảo đảm hoạt động thông suốt, đồng bộ, nhịp nhàng.
Đẩy mạnh và thực hiện hiệu quả phân cấp phân quyền giữa Trung ương và địa phương theo hướng nâng cao năng lực tự chủ, tự chịu trách nhiệm của địa phương.
Vận hành tổ chức bộ máy mới thông suốt, đồng bộ, hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả; kịp thời sơ kết, tổng kết tháo gỡ khó khăn vướng mắc trong quá trình triển khai thực hiện. Tiếp tục sắp xếp tinh gọn tổ chức bên trong của các cơ quan đơn vị, đẩy mạnh chuyển đổi số, quản lý và sử dụng trụ sở, tài sản sau sắp xếp phù hợp với thực tế, tránh lãng phí. Tập trung sắp xếp các đơn vị sự nghiệp công lập, trường học, cơ sở giáo dục, y tế, doanh nghiệp nhà nước theo đúng định hướng của Trung ương.
Hoàn thiện các quy định về công tác cán bộ, đồng thời đẩy mạnh giáo dục chính trị tư tưởng, đổi mới nhận thức, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, nhất là cán bộ cơ sở. Hoàn thiện cơ chế chính sách thu hút, trọng dụng và phát huy người có tài năng; rà soát xây dựng hoàn thiện vị trí việc làm và giao biên chế phù hợp cho giai đoạn 2026-2031.
Trước yêu cầu nhiệm vụ của thời kỳ phát triển mới, hướng đến hiện thực hóa hai mục tiêu 100 năm, Phó Trưởng Ban Tổ chức Trung ương Nguyễn Thanh Bình bày tỏ tin tưởng, nhiệm kỳ Đại hội XIV với quyết tâm nỗ lực của cả hệ thống chính trị, chắc chắn tổ chức bộ máy theo mô hình mới sẽ tiếp tục hoàn thiện và triển khai vận hành hiệu quả, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới.
Theo Phương Liên/Danchuphapluat.vn
https://danchuphapluat.vn/tam-nhin-chien-luoc-ve-cuoc-cach-mang-tinh-gon-bo-may-8455.html
Cơ quan chủ quản: Thanh tra Chính phủ
Giấy phép hoạt động: 220/GP-TTĐT
Cấp ngày: 25/12/2025
Nơi cấp: Cục Phát thanh, Truyền hình và Thông tin Điện tử
© 2021 Bản quyền của Trường Cán bộ Thanh tra. Design by tcsoft.vn
Cấm sao chép dưới mọi hình thức nếu không có sự chấp thuận bằng văn bản
(Ghi rõ nguồn https://thanhtra.edu.vn nếu sử dụng thông tin từ Website này)