Tóm tắt: Thanh tra có vai trò quan trọng, góp phần vào cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước, qua hoạt động thanh tra góp phần phát hiện sơ hở trong cơ chế, chính sách, pháp luật để kiến nghị cấp có thẩm quyền sửa đổi, bổ sung, phòng ngừa, phát hiện và xử lý các hành vi vi phạm pháp luật, giúp cơ quan, tổ chức, cá nhân thực hiện đúng pháp luật, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức. Vì vậy, bài tham luận này đi sâu phân tích thực tiễn hoạt động thanh tra và những yêu cầu đặt ra trong bối cảnh sắp xếp tổ chức bộ máy, từ đó đề xuất các định hướng nghiên cứu khoa học trọng tâm nhằm đổi mới toàn diện phương thức hoạt động, thích ứng với kỷ nguyên số và nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước của ngành Thanh tra.
Từ khóa: thanh tra, kiểm tra; định hướng nghiên cứu khoa học
I. ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong bối cảnh đất nước ta đang đẩy mạnh cải cách tổ chức bộ máy nhà nước theo hướng tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả theo tinh thần Nghị quyết 18-NQ/TW ngày 25/10/2017 của Ban Chấp hành Trung ương về “Một số vấn đề về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị, tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả”, đồng thời thúc đẩy chuyển đổi số quốc gia, đổi mới sáng tạo và phát triển khoa học, công nghệ trở thành động lực tăng trưởng mới, ngành Thanh tra đang đứng trước yêu cầu đổi mới toàn diện cả về tổ chức, phương thức hoạt động và tư duy quản lý.
Cùng với đó là việc triển khai Luật Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo năm 2025 cùng với các chủ trương lớn của Đảng, Nhà nước về xây dựng nền hành chính hiện đại, liêm chính, phục vụ nhân dân đã mở ra những điều kiện thuận lợi để hoạt động nghiên cứu khoa học trong ngành Thanh tra chuyển mạnh từ tư duy “quản lý” sang “kiến tạo”, từ nghiên cứu nặng về lý luận sang nghiên cứu gắn với thực tiễn, phục vụ trực tiếp cho công tác quản lý nhà nước, thanh tra, tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo và phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực.
Đặc biệt, trong bối cảnh sắp xếp tổ chức bộ máy và chuyển đổi mô hình hoạt động của ngành Thanh tra theo hướng tinh gọn, chuyên sâu, hiện đại và ứng dụng mạnh mẽ công nghệ số, nghiên cứu khoa học không còn là hoạt động mang tính bổ trợ mà cần trở thành nền tảng tri thức, công cụ dự báo và động lực đổi mới của toàn ngành. Thực tiễn hiện nay cho thấy, nhiều vấn đề mới đang đặt ra đối với hoạt động thanh tra như: thanh tra trên môi trường điện tử; quản trị dữ liệu số; kiểm soát quyền lực trong điều kiện phân cấp, phân quyền mạnh mẽ; xử lý khiếu nại, tố cáo trên không gian mạng; phòng, chống tham nhũng trong các lĩnh vực công nghệ cao; ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong phân tích rủi ro và cảnh báo sai phạm… Những vấn đề này đòi hỏi hoạt động nghiên cứu khoa học phải đi trước một bước, cung cấp luận cứ khoa học và thực tiễn cho quá trình đổi mới tổ chức và hoạt động của ngành.
Do đó, việc xác định đúng định hướng nghiên cứu khoa học của ngành Thanh tra trong tình hình mới có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, không chỉ phục vụ nâng cao hiệu quả hoạt động của ngành mà còn góp phần xây dựng nền hành chính minh bạch, hiện đại, đáp ứng yêu cầu phát triển nhanh và bền vững của đất nước trong kỷ nguyên số.
II. THỰC TIỄN HOẠT ĐỘNG THANH TRA THỜI GIAN QUA VÀ NHỮNG YÊU CẦU ĐẶT RA ĐỐI VỚI NGÀNH THANH TRA TRONG BỐI CẢNH SẮP XẾP TỔ CHỨC BỘ MÁY VÀ CHUYỂN ĐỔI MÔ HÌNH HOẠT ĐỘNG
1. Thực tiễn hoạt động thanh tra thời gian qua
Hoạt động thanh tra thời gian qua đã đạt được nhiều kết quả quan trọng, góp phần cụ thể hóa chủ trương kiểm soát quyền lực, phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực. Trong giai đoạn 2021-2025, toàn ngành Thanh tra đã triển khai hàng nghìn cuộc thanh tra, qua đó phát hiện vi phạm về kinh tế lên tới hàng trăm nghìn tỷ đồng và hàng trăm héc-ta đất, kiến nghị thu hồi, xuất toán, xử lý khác số tiền rất lớn và diện tích đất đáng kể.
Từ kết quả thanh tra, cơ quan thanh tra đã kiến nghị xử lý hành chính hàng nghìn tổ chức, cá nhân; chuyển nhiều vụ việc có dấu hiệu tội phạm sang cơ quan điều tra, góp phần quan trọng vào việc phát hiện, xử lý các vụ án tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, nhất là các vụ việc, vụ án nghiêm trọng, phức tạp, dư luận xã hội quan tâm. Công tác đôn đốc, kiểm tra việc thực hiện kết luận thanh tra tiếp tục được tăng cường, tỷ lệ kiến nghị về kinh tế và xử lý hành chính được thực hiện dứt điểm qua các năm tăng lên, qua đó nâng cao kỷ luật, kỷ cương hành chính, chấn chỉnh công tác quản lý, hoàn thiện cơ chế, chính sách, pháp luật trên nhiều lĩnh vực. Tuy nhiên, trước yêu cầu ngày càng cao của công tác thanh tra, phòng, chống tham nhũng lãng phí, kiểm soát quyền lực, công tác thanh tra đã bộc lộ một số hạn chế, bất cập, cụ thể:
Một là, chất lượng một số cuộc thanh tra chưa thật sự đáp ứng yêu cầu đặt ra; ở một số nơi, việc lựa chọn nội dung, phương thức thanh tra còn dàn trải, nặng về kiểm tra việc chấp hành, xử lý sai phạm vụ việc, chưa tập trung đúng mức vào việc phát hiện những sơ hở, bất cập trong cơ chế, chính sách, pháp luật và những biểu hiện sai phạm có tính chất hệ thống để kiến nghị hoàn thiện thể chế, khắc phục từ gốc. Năng lực chuyên môn, bản lĩnh chính trị, ý thức trách nhiệm của một bộ phận cán bộ, công chức thanh tra chưa đồng đều; trình độ phân tích, dự báo, khả năng nhận diện các thủ đoạn tham nhũng tinh vi, gắn với lợi ích nhóm, “sân sau” còn hạn chế, làm cho kết luận thanh tra ở một số trường hợp chưa thật sự sâu sắc, thuyết phục, sức nặng kiến nghị chưa tương xứng với yêu cầu tăng cường kiểm soát quyền lực nhà nước .
Hai là, việc phát hiện tham nhũng, lãng phí, tiêu cực thông qua hoạt động thanh tra chưa tương xứng với diễn biến phức tạp của tham nhũng trong thực tiễn và với vai trò, vị trí của cơ quan thanh tra được Đảng, Nhà nước giao phó. Các báo cáo của Chính phủ và cơ quan có thẩm quyền gần đây cho thấy, mặc dù số vụ án, vụ việc tham nhũng, lãng phí, tiêu cực được phát hiện, xử lý tăng lên, nhiều vụ việc đặc biệt nghiêm trọng, phức tạp, dư luận xã hội quan tâm đã được đưa ra xử lý nghiêm minh, nhưng số vụ tham nhũng được phát hiện qua thanh tra vẫn chiếm tỷ lệ chưa cao, chủ yếu vẫn dựa vào tố giác, tin báo của nhân dân, báo chí và kết quả điều tra chuyên ngành.
Ba là, việc thực hiện kết luận, kiến nghị, quyết định xử lý sau thanh tra ở một số nơi còn chậm, chưa nghiêm, chưa được coi là tiêu chí quan trọng để đánh giá mức độ hoàn thành nhiệm vụ, trách nhiệm người đứng đầu. Thực tế cho thấy, vẫn còn những vụ việc kết luận thanh tra đã ban hành nhưng kéo dài trong việc tổ chức thực hiện; tỷ lệ thu hồi tiền, tài sản, đất đai theo kiến nghị của cơ quan thanh tra còn chưa đáp ứng yêu cầu; có nơi còn biểu hiện né tránh, nể nang, thiếu kiên quyết trong xử lý trách nhiệm tổ chức, cá nhân vi phạm, nhất là trường hợp liên quan đến cán bộ lãnh đạo, quản lý.
Bốn là, cơ chế phối hợp giữa các cơ quan, lực lượng có chức năng kiểm soát quyền lực (thanh tra, kiểm toán, kiểm tra của Đảng, điều tra, kiểm sát, tòa án…) còn những bất cập, chưa thực sự chặt chẽ, hiệu quả. Tình trạng chồng chéo, trùng lặp về phạm vi, đối tượng, nội dung thanh tra, kiểm tra, kiểm toán tuy đã được nhận diện, có nhiều giải pháp khắc phục, song vẫn chưa được xử lý dứt điểm; ở nhiều nơi, doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân vẫn phải tiếp nhiều đoàn thanh tra, kiểm tra, kiểm toán trong cùng một khoảng thời gian, trong khi vẫn còn “khoảng trống” giám sát ở một số lĩnh vực, địa bàn, khâu giải quyết công việc dễ phát sinh tham nhũng, lãng phí, tiêu cực.
Trong bối cảnh hiện nay, việc tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị theo hướng tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả đang được Đảng và Nhà nước ta đặc biệt quan tâm. Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và các chủ trương của Trung ương về kiểm soát quyền lực trong bộ máy nhà nước đặt ra yêu cầu nâng cao hiệu quả hoạt động của các cơ quan kiểm tra, giám sát, thanh tra nhằm phòng ngừa và phát hiện kịp thời các hành vi tham nhũng, lãng phí, tiêu cực. Trong quá trình đó, ngành Thanh tra cũng đang được rà soát, kiện toàn tổ chức bộ máy, hoàn thiện chức năng, nhiệm vụ và đổi mới phương thức hoạt động để phù hợp với yêu cầu quản lý nhà nước trong tình hình mới. Hoạt động thanh tra cần tập trung hơn vào những lĩnh vực dễ phát sinh tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, nâng cao chất lượng các cuộc thanh tra, thanh tra không chỉ phát hiện để xử lý mà còn nhằm phòng ngừa sai phạm từ sớm, từ xa, tăng cường hiệu quả thực hiện kết luận thanh tra và đẩy mạnh phối hợp với các cơ quan kiểm tra của Đảng, kiểm toán nhà nước và cơ quan điều tra.
2. Những yêu cầu đặt ra đối với ngành thanh tra trong bối cảnh sắp xếp tổ chức bộ máy và chuyển đổi mô hình hoạt động
2.1. Đổi mới tư duy hoạt động thanh tra.
Ngày 28/3/2025, Bộ Chính trị, Ban Bí thư đã ban hành Kết luận số 134-KL/TW về Đề án sắp xếp hệ thống cơ quan thanh tra tinh, gọn, mạnh, hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả, theo đó: “Bộ Chính trị, Ban Bí thư đồng ý chủ trương sắp xếp, tinh gọn tổ chức bộ máy hệ thống cơ quan thanh tra theo 2 cấp ở Trung ương và địa phương. Ở Trung ương, kết thúc hoạt động của thanh tra các bộ để sắp xếp, tổ chức lại thành các cục thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo, phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực theo lĩnh vực thuộc Thanh tra Chính phủ.
Tiếp tục duy trì tổ chức và hoạt động đối với: Thanh tra Bộ Quốc phòng, Thanh tra Bộ Công an, Thanh tra Ngân hàng Nhà nước, Thanh tra Cơ yếu, Thanh tra Cục An toàn bức xạ và hạt nhân, Thanh tra Cục Hàng hải Việt Nam, Thanh tra Cục Hàng không Việt Nam, Thanh tra Ủy ban Chứng khoán Nhà nước… Ở địa phương, kết thúc hoạt động của Thanh tra huyện và Thanh tra sở, tổ chức lại thành các tổ chức thuộc thanh tra tỉnh”.
Kết luận số 134 cũng nêu rõ, sau khi sắp xếp, các cơ quan không còn tổ chức thanh tra thì thực hiện chức năng, nhiệm vụ kiểm tra trong phạm vi quản lý nhà nước. Người đứng đầu có trách nhiệm giao đơn vị trực thuộc tham mưu thực hiện chức năng, nhiệm vụ kiểm tra, tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo và phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực theo quy định của pháp luật.
Quá trình sắp xếp tổ chức bộ máy theo tinh thần Kết luận 134 nêu trên đặt ra yêu cầu ngành Thanh tra phải chuyển mạnh từ mô hình quản lý mang tính hành chính, kiểm soát truyền thống sang mô hình quản trị hiện đại, dựa trên dữ liệu, công nghệ và đánh giá rủi ro. Hoạt động thanh tra không chỉ dừng lại ở phát hiện và xử lý vi phạm, mà phải hướng mạnh hơn tới phòng ngừa từ sớm, từ xa; nâng cao năng lực dự báo, cảnh báo nguy cơ sai phạm; kiến nghị hoàn thiện thể chế, chính sách và cơ chế quản lý nhà nước. Điều này đòi hỏi nghiên cứu khoa học phải trở thành công cụ hỗ trợ hoạch định chính sách, đổi mới phương thức quản lý và nâng cao hiệu quả thực thi công vụ của ngành Thanh tra.
2.2. Yêu cầu thích ứng với chuyển đổi số và môi trường quản trị mới
Chuyển đổi số đang làm thay đổi căn bản phương thức quản lý nhà nước và hoạt động thanh tra. Dữ liệu lớn, trí tuệ nhân tạo, điện toán đám mây, nền tảng số và các hệ thống quản trị thông minh đang tạo ra cả cơ hội và thách thức đối với ngành Thanh tra. Trong bối cảnh đó, ngành Thanh tra cần nhanh chóng xây dựng mô hình “thanh tra số”, từng bước hình thành hệ sinh thái quản trị, giám sát và xử lý thông tin trên môi trường điện tử.
Yêu cầu này đặt ra nhiệm vụ cấp thiết đối với hoạt động nghiên cứu khoa học là phải tập trung nghiên cứu các mô hình thanh tra điện tử, hệ thống cảnh báo sớm sai phạm, ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong phân tích dữ liệu, quản lý hồ sơ số, xây dựng cơ sở dữ liệu liên thông và các công cụ hỗ trợ ra quyết định.
2.3. Nâng cao chất lượng tham mưu, hoàn thiện thể chế
Trong bối cảnh tổ chức bộ máy được tinh gọn, yêu cầu nâng cao chất lượng tham mưu chiến lược của ngành Thanh tra ngày càng trở nên quan trọng. Hoạt động nghiên cứu khoa học cần hướng mạnh vào việc tổng kết thực tiễn, phát hiện những khoảng trống, bất cập trong cơ chế, chính sách và pháp luật; từ đó đề xuất giải pháp hoàn thiện thể chế, nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước.
Đây cũng là yêu cầu nhằm chuyển hóa kết quả hoạt động thanh tra thành nguồn dữ liệu và tri thức phục vụ công tác hoạch định chính sách, thay vì chỉ dừng lại ở xử lý vụ việc cụ thể.
2.4. Yêu cầu phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao
Quá trình chuyển đổi mô hình hoạt động đặt ra yêu cầu xây dựng đội ngũ cán bộ thanh tra có tư duy đổi mới, năng lực số, khả năng nghiên cứu và thích ứng với môi trường quản trị hiện đại. Đối với hoạt động nghiên cứu khoa học, yêu cầu này đòi hỏi phải hình thành đội ngũ nghiên cứu có kiến thức liên ngành, kết hợp giữa pháp luật, quản trị công, công nghệ thông tin, phân tích dữ liệu và khoa học quản lý.
Đồng thời, cần đổi mới cơ chế quản lý nghiên cứu theo hướng tăng quyền tự chủ, khuyến khích sáng tạo, chấp nhận rủi ro trong nghiên cứu khoa học và thúc đẩy hợp tác với các cơ sở đào tạo, viện nghiên cứu, chuyên gia trong và ngoài nước.
III. ĐỊNH HƯỚNG NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CỦA NGÀNH THANH TRA TRONG TÌNH HÌNH MỚI
Luật Khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo năm 2025 cùng với việc mở rộng không gian sáng tạo, đặt ra những yêu cầu cao hơn đối với công tác quản lý nghiên cứu khoa học trong ngành Thanh tra. Với vai trò cơ quan quản lý nhà nước về công tác thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, Thanh tra Chính phủ cần chủ động xây dựng chiến lược nghiên cứu khoa học dài hạn, xác định rõ các lĩnh vực ưu tiên gắn với yêu cầu đổi mới hoạt động thanh tra trong bối cảnh chuyển đổi số và hội nhập quốc tế.
Nhìn lại hoạt động nghiên cứu khoa học của Thanh tra Chính phủ trong năm 2026, cho thấy có sự đánh dấu bước chuyển rõ nét trong hoạt động nghiên cứu khoa học khi một loạt đề tài được phê duyệt theo định hướng mới. Với 16 đề tài cấp bộ và 12 đề tài cấp cơ sở, tập trung vào những lĩnh vực then chốt. Trong số các đề tài cấp bộ, có thể thấy rõ tính chiến lược và tầm nhìn dài hạn. Đề tài “Cơ sở khoa học xây dựng Chiến lược phát triển ngành Thanh tra đến năm 2035, tầm nhìn đến năm 2045” không chỉ phục vụ công tác hoạch định chính sách mà còn giúp định hướng toàn diện cho sự phát triển của ngành. Đề tài “Hoạt động thanh tra trên môi trường điện tử” phản ánh xu hướng tất yếu của chuyển đổi số, mở ra hướng đi mới cho hoạt động thanh tra trong bối cảnh công nghệ phát triển mạnh mẽ. Một số đề tài khác mang tính thực tiễn cao, hướng vào giải quyết những vấn đề nóng khi thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp như “Giải quyết khiếu nại, tố cáo của chính quyền địa phương trong giai đoạn hiện nay” hay “Giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh của đơn vị sự nghiệp công lập” trực tiếp đáp ứng nhu cầu cấp thiết trong quản lý nhà nước. Đây là những lĩnh vực thường xuyên phát sinh vướng mắc, đòi hỏi phải có nghiên cứu chuyên sâu để nâng cao hiệu quả xử lý.
Đáng chú ý, các Đề tài như “Kiểm soát quyền lực của chính quyền cấp cơ sở nhằm phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực” hay “Đổi mới cơ chế kiểm soát tài sản, thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn” thể hiện rõ sự gắn kết giữa nghiên cứu khoa học và nhiệm vụ trọng tâm của ngành Thanh tra trong công cuộc phòng, chống tham nhũng, tiêu cực. Những nghiên cứu này không chỉ có ý nghĩa về mặt lý luận mà còn góp phần hoàn thiện cơ chế kiểm soát quyền lực, tăng cường minh bạch và trách nhiệm giải trình.
Tiếp tục phát huy những thành tựu trong công tác nghiên cứu khoa học những năm qua, trong thời gian tới, hoạt động nghiên cứu khoa học của ngành thanh tra cần tập trung vào một số vấn đề lớn như sau:
1.Đổi mới tư duy nghiên cứu khoa học của ngành thanh tra theo hướng phục vụ thực tiễn hoạt động thanh tra và kiến tạo sự phát triển
Trong giai đoạn tới, hoạt động nghiên cứu khoa học của ngành Thanh tra cần chuyển mạnh từ tư duy nghiên cứu mang tính hàn lâm sang nghiên cứu phục vụ trực tiếp yêu cầu thực tiễn. Các đề tài nghiên cứu phải xuất phát từ những vấn đề đặt ra trong quá trình đổi mới tổ chức và hoạt động của ngành; gắn với yêu cầu nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và phục vụ người dân, doanh nghiệp.
Tại Lễ kỷ niệm 80 năm ngày thành lập Ngành Thanh tra Việt Nam (23/11/1945-23/11/2025), Tổng Bí thư Tô Lâm cũng đặc biệt nhấn mạnh đến vai trò của ngành thanh tra trong tình hình mới, Một trong những thông điệp xuyên suốt trong chỉ đạo của Tổng Bí thư là yêu cầu chuyển đổi mạnh mẽ tư duy hoạt động thanh tra: từ “xử lý vi phạm” sang “phòng ngừa từ xa, từ sớm”; kết hợp giữa thanh tra hành chính với thanh tra chuyên đề, giữa kiểm tra hiện trường với phân tích dữ liệu số. Thanh tra phải đi trước một bước, dự báo, cảnh báo sớm những nguy cơ, không để vi phạm nhỏ tích tụ thành sai phạm lớn[1].
Đặc thù của ngành Thanh tra đòi hỏi nghiên cứu phải “đi trước một bước”, không chỉ tổng kết thực tiễn mà còn dự báo xu hướng, nhận diện phương thức vi phạm mới. Khi cơ chế quản lý được nới lỏng theo hướng kiến tạo, các đề tài nghiên cứu có điều kiện tiếp cận sâu hơn với thực tiễn, từ đó đưa ra những giải pháp sát với yêu cầu quản lý. Đáng chú ý, Luật Khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo mở ra khả năng thúc đẩy mạnh mẽ các nghiên cứu ứng dụng công nghệ trong hoạt động thanh tra. Các hướng nghiên cứu như phân tích dữ liệu lớn, xây dựng hệ thống cảnh báo sớm sai phạm hay phát triển mô hình thanh tra dựa trên đánh giá rủi ro đang trở nên khả thi hơn trong bối cảnh cơ chế được tháo gỡ. Đây là những lĩnh vực có ý nghĩa quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả hoạt động thanh tra, giúp chuyển từ phương thức xử lý bị động sang chủ động phòng ngừa, phát hiện sớm vi phạm.
Chính vì vậy, sự chuyển đổi của ngành thanh tra này, không thể thực hiện nếu thiếu nền tảng tri thức khoa học vững chắc. Hoạt động nghiên cứu khoa học không còn là hoạt động bổ trợ mà trở thành động lực cốt lõi giúp ngành Thanh tra thực hiện vai trò mới. Thay vì chỉ tổng kết các vụ việc đã xảy ra, nghiên cứu khoa học cần hướng tới việc phân tích xu hướng, nhận diện nguy cơ và dự báo sớm các dạng thức vi phạm. Điều này hoàn toàn phù hợp với yêu cầu “phòng ngừa từ sớm, từ xa” mà Tổng Bí thư đã nhấn mạnh. Có thể thấy rõ, chỉ đạo này tạo sự tương thích mạnh mẽ với tinh thần của Luật Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo 2025, nơi nghiên cứu khoa học được đặt trong mối liên hệ chặt chẽ với thực tiễn và phát triển.
Nghiên cứu khoa học cần trở thành công cụ hỗ trợ dự báo, cảnh báo và kiến tạo chính sách; góp phần tháo gỡ các “điểm nghẽn” về thể chế, nâng cao tính minh bạch, trách nhiệm giải trình và hiệu quả quản trị công.
2. Ưu tiên nghiên cứu các lĩnh vực gắn với chuyển đổi số ngành Thanh tra
Một điểm nhấn quan trọng trong chỉ đạo của Tổng Bí thư nữa là yêu cầu đẩy mạnh ứng dụng công nghệ và chuyển đổi số trong hoạt động thanh tra. Trong bối cảnh đó, nghiên cứu khoa học cần đóng vai trò tiên phong trong việc phát triển các mô hình, công cụ và giải pháp công nghệ phục vụ hoạt động thanh tra. Các hướng nghiên cứu như phân tích dữ liệu lớn, trí tuệ nhân tạo, hệ thống cảnh báo sớm sai phạm hay xây dựng cơ sở dữ liệu liên thông không chỉ là xu hướng, mà đã trở thành yêu cầu cấp thiết. Để hiện thực hóa mục tiêu “thanh tra trên môi trường số”, ngành Thanh tra cần một hệ sinh thái nghiên cứu khoa học đủ mạnh, có khả năng tích hợp kiến thức liên ngành giữa pháp luật, công nghệ và quản trị công. Điều này cũng đồng nghĩa với việc phải thay đổi cách tổ chức nghiên cứu, tăng cường hợp tác với các viện nghiên cứu, trường đại học và chuyên gia công nghệ, thay vì chỉ giới hạn trong phạm vi nội bộ ngành.
Những định hướng trọng tâm là đẩy mạnh nghiên cứu ứng dụng công nghệ số trong hoạt động thanh tra. Các hướng nghiên cứu cần ưu tiên gồm:
- Xây dựng mô hình thanh tra trên môi trường điện tử;
- Ứng dụng trí tuệ nhân tạo và dữ liệu lớn trong phát hiện, phân tích và dự báo sai phạm;
- Xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu dùng chung của ngành Thanh tra;
- Phát triển hệ thống giám sát, cảnh báo sớm rủi ro trong quản lý nhà nước;
- Chuyển đổi số trong quản lý hồ sơ, tiếp công dân và giải quyết khiếu nại, tố cáo;
- Nghiên cứu mô hình quản trị dữ liệu phục vụ phòng, chống tham nhũng, tiêu cực.
Đây không chỉ là yêu cầu của chuyển đổi số quốc gia mà còn là điều kiện để ngành Thanh tra chuyển từ phương thức xử lý bị động sang quản trị chủ động, dựa trên dữ liệu và phân tích rủi ro.
3. Đẩy mạnh nghiên cứu liên ngành và nghiên cứu dự báo
Các vấn đề quản lý hiện nay ngày càng phức tạp, liên quan đến nhiều lĩnh vực khác nhau. Vì vậy, nghiên cứu khoa học của ngành Thanh tra cần tăng cường tính liên ngành, kết hợp giữa pháp luật, công nghệ, quản trị công, kinh tế học và khoa học dữ liệu.
Đồng thời, cần chú trọng hơn tới nghiên cứu dự báo, nghiên cứu chiến lược nhằm nhận diện xu hướng mới, các nguy cơ phát sinh trong quản lý nhà nước về công tác thanh tra, tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo và phòng, chống tham nhũng, tiêu cực. Các nghiên cứu không chỉ dừng ở tổng kết thực tiễn mà phải hướng tới phát hiện quy luật, xây dựng mô hình quản trị hiện đại và đề xuất giải pháp mang tính dài hạn.
4. Gắn kết chặt chẽ giữa nội dung nghiên cứu khoa học với hoạt động thực tiễn của ngành thanh tra
Một yêu cầu quan trọng là khắc phục tình trạng “nghiên cứu để nghiệm thu”, nâng cao khả năng ứng dụng thực tiễn của các đề tài khoa học. Cần xây dựng cơ chế lựa chọn đề tài xuất phát từ yêu cầu thực tiễn của ngành; đồng thời hoàn thiện cơ chế chuyển giao, ứng dụng kết quả nghiên cứu vào hoạt động nghiệp vụ.
Kết quả nghiên cứu cần được sử dụng hiệu quả trong xây dựng chính sách, hoàn thiện quy trình thanh tra, đào tạo cán bộ và hỗ trợ ra quyết định quản lý. Ngành Thanh tra có chức năng đặc thù trong hệ thống quản lý nhà nước, với nhiệm vụ phát hiện, xử lý vi phạm và kiến nghị hoàn thiện cơ chế, chính sách, pháp luật. Vì vậy, hoạt động nghiên cứu khoa học trong ngành phải bám sát thực tiễn, phục vụ trực tiếp cho công tác chuyên môn.
Trong bối cảnh các vấn đề quản lý ngày càng phức tạp, nghiên cứu khoa học cần đi trước một bước, cung cấp cơ sở lý luận và thực tiễn cho việc hoạch định chính sách. Các đề tài nghiên cứu cần tập trung vào những vấn đề đang đặt ra trong thực tiễn như hoàn thiện cơ chế phòng, chống tham nhũng, nâng cao hiệu quả giải quyết khiếu nại, tố cáo, hay đổi mới phương thức thanh tra trong điều kiện chuyển đổi số. Đặc biệt, xu hướng ứng dụng công nghệ trong hoạt động thanh tra đang ngày càng rõ nét. Vì vậy, các nghiên cứu liên quan đến xây dựng hệ thống dữ liệu, ứng dụng trí tuệ nhân tạo, hay phát triển các công cụ hỗ trợ ra quyết định cần được ưu tiên. Việc gắn kết chặt chẽ giữa nghiên cứu và thực tiễn không chỉ giúp nâng cao chất lượng đề tài, mà còn bảo đảm các kết quả nghiên cứu có thể được triển khai ngay trong hoạt động nghiệp vụ.
5. Hoàn thiện cơ chế tổ chức và tổ chức ứng dụng có hiệu quả kết quả nghiên cứu vào thực tiễn hoạt động thanh tra
Để đáp ứng yêu cầu phát triển trong tình hình mới, ngành Thanh tra cần từng bước thực hiện các giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động nghiên cứu khoa học của ngành thanh tra, bao gồm:
- Hoàn thiện chiến lược phát triển khoa học và công nghệ của ngành;
- Xây dựng các nhóm nghiên cứu mạnh, trung tâm nghiên cứu chuyên sâu;
- Đẩy mạnh hợp tác với các trường đại học, viện nghiên cứu và tổ chức quốc tế;
- Đổi mới cơ chế quản lý đề tài theo hướng linh hoạt, minh bạch và hiệu quả;
- Có chính sách khuyến khích, thu hút đội ngũ chuyên gia, nhà khoa học chất lượng cao tham gia nghiên cứu.
Đồng thời, cần tạo môi trường nghiên cứu cởi mở, khuyến khích đổi mới sáng tạo và chấp nhận rủi ro trong nghiên cứu khoa học, phù hợp với tinh thần của Luật Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo năm 2025.
Tại Lễ kỷ niệm 80 năm ngày thành lập ngành thanh tra, Tổng Bí thư Tô Lâm cũng nhấn mạnh yêu cầu, phải xây dựng cho được đội ngũ cán bộ thanh tra “liêm chính, bản lĩnh, trí tuệ, tinh thông”. Đây cũng chính là yêu cầu cốt lõi đặt ra đối với đội ngũ làm công tác nghiên cứu khoa học trong ngành. Trong bối cảnh các vấn đề quản lý ngày càng phức tạp, liên ngành và gắn với công nghệ, đội ngũ cán bộ nghiên cứu không chỉ cần kiến thức pháp luật mà còn phải có khả năng phân tích dữ liệu, tư duy hệ thống và kỹ năng nghiên cứu hiện đại. Do đó, ngành Thanh tra cần chú trọng hơn nữa công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ nghiên cứu, đồng thời xây dựng cơ chế thu hút chuyên gia giỏi từ bên ngoài. Việc hình thành các nhóm nghiên cứu mạnh, các trung tâm nghiên cứu chuyên sâu cũng là hướng đi cần được xem xét nhằm nâng cao năng lực nghiên cứu của toàn ngành.
Để bảo đảm hoạt động nghiên cứu khoa học đi đúng hướng, cần phát huy vai trò định hướng và tổ chức của cơ quan quản lý ngành trong việc xây dựng chiến lược nghiên cứu khoa học. Một trong những yêu cầu quan trọng là thiết lập cơ chế lựa chọn đề tài theo nhu cầu thực tiễn, tránh tình trạng dàn trải, thiếu trọng tâm. Các đề tài cần xuất phát từ yêu cầu cụ thể của công tác quản lý, thay vì từ nhu cầu nội tại của đơn vị nghiên cứu. Bên cạnh đó, cần xây dựng quy trình chuyển giao và ứng dụng kết quả nghiên cứu vào hoạt động nghiệp vụ. Đây là khâu còn yếu trong thời gian qua, dẫn đến việc nhiều kết quả nghiên cứu không được khai thác hiệu quả.
Cần coi kết quả nghiên cứu là một nguồn lực quan trọng phục vụ công tác quản lý nhà nước. Do đó, phải có cơ chế rõ ràng để đưa các kết quả này vào thực tiễn, từ việc ban hành chính sách, hoàn thiện quy trình nghiệp vụ đến hỗ trợ ra quyết định.
Ngoài ra, việc tăng cường phối hợp giữa các đơn vị trong và ngoài ngành, đặc biệt với các cơ sở đào tạo, viện nghiên cứu, cũng là yếu tố quan trọng nhằm nâng cao chất lượng nghiên cứu.
Kết luận
Trong bối cảnh sắp xếp tổ chức bộ máy và chuyển đổi mô hình hoạt động, ngành Thanh tra đang đứng trước yêu cầu đổi mới toàn diện nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên số. Để thực hiện thành công quá trình chuyển đổi này, nghiên cứu khoa học cần được xác định là nền tảng tri thức, động lực đổi mới và công cụ kiến tạo phát triển của ngành Thanh tra. Việc đổi mới tư duy nghiên cứu, thúc đẩy nghiên cứu ứng dụng, tăng cường chuyển đổi số, phát triển nghiên cứu liên ngành và gắn kết chặt chẽ giữa nghiên cứu với thực tiễn sẽ góp phần nâng cao chất lượng tham mưu, hoàn thiện thể chế và nâng cao hiệu quả hoạt động của ngành Thanh tra.
Trong thời gian tới, nếu tận dụng tốt những cơ hội từ chuyển đổi số, đổi mới sáng tạo và cải cách thể chế, hoạt động nghiên cứu khoa học của ngành Thanh tra sẽ không chỉ phục vụ hiệu quả công tác chuyên môn mà còn góp phần xây dựng nền hành chính minh bạch, hiện đại, liêm chính, vì nhân dân phục vụ./.
GVCC Nguyễn Huy Hoàng
Phó Hiệu trưởng, Trường Cán bộ Thanh tra
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] Nghị quyết 18-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Khóa XII về “Một số vấn đề về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả.
[2] Ban Chấp hành Trung ương Đảng Khóa XIII. Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phát khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số quốc gia.
[3] Bộ Chính trị, Ban Bí thư (2025). Kết luận số 134-KL/TW ngày 28/3/2025 về Đề án sắp xếp hệ thống cơ quan thanh tra tinh, gọn, mạnh, hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả.
[4] Bài phát biểu của Đồng chí Tô Lâm, Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam tại Lễ kỷ niệm 80 năm ngày thành lập ngành thanh tra Việt Nam (23/11/1945-23/11/2025)
[5] Quốc hội (2025). Luật Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo năm 2025.
[6] Thanh tra Chính phủ. Đề án “Đẩy mạnh chuyển đổi số trong hoạt động của Thanh tra Chính phủ và ngành thanh tra”.
[7] Thanh tra Chính phủ. Báo cáo tổng kết công tác thanh tra năm 2021, 2022, 2023, 2024 và năm 2025.
[1] Bài phát biểu của Tổng Bí thư Tô Lâm tại Lễ kỷ niệm 80 năm ngày thành lập Ngành Thanh tra Việt Nam