Thông tư 05/2021/TT-TTCP ngày 01/10/2021 quy định về xử lý đơn khiếu nại, đơn tố cáo, đơn kiến nghị, phản ánh. Nhưng không quy định thời hạn mà cơ quan nhận được đơn phải trả lời đơn cho công dân.
a. Vậy, xin hỏi, quy định pháp luật về thời hạn trả lời đơn khiếu nại, đơn tố cáo, kiến nghị, phản ánh cho công dân được quy định như thế nào?
b.Tôi có làm đơn tố cáo cán bộ, công chức cơ quan có hành vi mượn tiền của tôi nhưng không trả, gửi ra cơ quan Công an với mục đích đòi tiền đã cho mượn. Sau đó, đã được cơ quan Công an trả lời đơn của tôi là tranh chấp dân sự nên không thuộc thẩm quyền giải quyết của họ. Vậy muốn đòi được nợ tôi phải gửi đơn đến đâu? Ai là người có thẩm quyền giải quyết đơn của tôi?
Đề nghị quý Trường Cán bộ thanh tra giải đáp giúp.
Câu hỏi của bạn Trường Cán bộ Thanh tra trả lời như sau:
Thông tư 05/2021/TT-TTCP ngày 01/10/2021 quy định về xử lý đơn khiếu nại, đơn tố cáo, đơn kiến nghị, phản ánh. Nhưng không quy định thời hạn mà cơ quan nhận được đơn phải trả lời đơn cho công dân. Quy định pháp luật về thời hạn trả lời đơn khiếu nại, đơn tố cáo, kiến nghị, phản ánh cho công dân được quy định tại Điều 28. Luật Tiếp công dân: Trong thời hạn 10 ngày làm việc, kể từ ngày tiếp nhận nội dung khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh, người tiếp công dân có trách nhiệm trả lời trực tiếp hoặc thông báo bằng văn bản đến người đã đến khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh.
Mặt khác: Luật Tố cáo 2018 quy định tại Điều 24 Trong thời hạn 07 ngày làm việc kể từ ngày nhận được tố cáo, cơ quan, tổ chức, cá nhân có trách nhiệm kiểm tra, xác minh thông tin về người tố cáo và điều kiện thụ lý tố cáo; trường hợp phải kiểm tra, xác minh tại nhiều địa điểm thì có thể kéo dài hơn nhưng không quá 10 ngày làm việc. Trường hợp đủ điều kiện thụ lý thì ra quyết định thụ lý tố cáo; trường hợp không đủ điều kiện thụ lý thì không thụ lý tố cáo và thông báo ngay cho người tố cáo biết lý do không thụ lý tố cáo.
Luật Khiếu nại 2011 cũng quy định: Trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày nhận được khiếu nại thuộc thẩm quyền mà không thuộc một trong các trường hợp được quy định tại Điều 11 của Luật này, người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại lần đầu phải thụ lý giải quyết; thông báo bằng văn bản cho người khiếu nại; trường hợp không thụ lý giải quyết thì phải nêu rõ lý do.
Như vậy, quy định của pháp luật về thời hạn phải trả lời đơn khiếu nại, đơn tố cáo, kiến nghị, phản ánh cho Công dân được quy định tại Luật Tiếp công dân, Luật Khiếu nại, Luật Tố cáo.
b. Trường hợp công dân làm đơn tố cáo cán bộ công chức cơ quan có hành vi mượn tiền nhưng không trả
Theo quy định của bộ Luật Dân sự thì: Tranh chấp dân sự được hiểu là những mâu thuẫn, xung đột giữa các cá nhân, tổ chức trong các quan hệ về nhân thân hoặc tài sản (tiền bạc ).
Theo quy định tại Điều 26 Bộ Luật Tố tụng dân sự 2015 quy định về Những tranh chấp về dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.
Vậy, muốn đòi được nợ bạn phải gửi đơn đến Tòa án nơi bạn và người nợ tiền của bạn đang sinh sống. Tòa án có thẩm quyền giải quyết đơn của bạn.
Về câu hỏi của ban Trường Cán bộ thanh tra xin được trả lời như sau:
Thứ nhất; Thông tư 11/2020/TT-BLĐTBXH là văn bản quy định những nội dung chủ yếu về: Danh mục nghề/công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm… và nguyên tắc rà soát, đề xuất sửa đổi danh mục; Thông tư không quy định thời hạn cụ thể để giải quyết “đơn đề nghị” của công dân khi kiến nghị liên quan đến rà soát ngành nghề độc hại
Tuy nhiên, nếu chị gửi đơn kiến nghị/ phản ánh đến cơ quan nhà nước thì về thủ tục tiếp nhận – thông báo kết quả xử lý ban đầu theo Điều 28 Luật Tiếp công dân 2013 quy định: Trong 10 ngày làm việc kể từ ngày tiếp nhận nội dung kiến nghị, phản ánh… người tiếp công dân phải trả lời trực tiếp hoặc thông báo bằng văn bản (ví dụ đã thụ lý để giải quyết, chuyển cơ quan khác, hướng dẫn công dân…) vì vậy trong 10 ngày làm việc chị sẽ nhận được văn bản thông báo về việc tiếp nhận đơn kiến nghị để xem xét, giải quyết. Đối với đơn kiến nghị, phản ánh chưa quy định quy trình cụ thể giải quyết vì vậy tùy thuộc vào nhiệm vụ của cơ quan có thẩm quyền để quyết định thời hạn giải quyết đơn kiến nghị đó.
Thứ hai; Theo điểm c, khoản 2, Điều 7 Nghị định số 178/2024/NĐ-CP có quy định “Trường hợp có tuổi đời còn từ đủ 02 năm đến đủ 05 năm đến tuổi nghỉ hưu quy định tại Phụ lục II ban hành kèm theo Nghị định số 135/2020/NĐ-CP và có đủ thời gian công tác có đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc để được hưởng lương hưu theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội, trong đó có đủ 15 năm trở lên làm nghề, công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm hoặc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm thuộc danh mục do Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội ban hành hoặc có đủ 15 năm trở lên làm việc ở vùng có điều kiện kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn do Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội ban hành, bao gồm cả thời gian làm việc ở nơi có phụ cấp khu vực hệ số 0,7 trở lên trước ngày 01 tháng 01 năm 2021, ngoài hưởng chế độ hưu trí theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội, thì còn được hưởng các chế độ sau:”, đủ15 năm trở lên làm nghề, công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm hoặc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm thuộc danh mục do Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội ban hành thì 15 năm được hiểu là tính từ thời điểm bắt đầu công tác ngành nghề đó đến thời điểm trước thời điểm chị nghỉ hưu. Trường hợp được tính thời gian làm việc ở vùng có điều kiện kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn do Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội ban hành, bao gồm cả thời gian làm việc ở nơi có phụ cấp khu vực hệ số 0,7 trở lên trước ngày 01 tháng 01 năm 2021 thì mới được tính 15 năm
Tôi là viên chức sự nghiệp làm bên ngành phât thanh, truyền hình, đơn vị công tác đội văn hóa thể thao và truyền thông , trung tam văn hóa tỉnh Lạn Sơn gửi tới quí ban 2 câu hỏi sau nhờ trả lời giúp
1. gửi đơn đề nghi tới cơ quan giải quyết về vấn đề rà soát ngành nghề độc hại theo thông tư 11/2020/TT-BL ĐTBXH ngà 12 tháng 11 năm 2020 . Theo quy định thì bao nhiêu ngày được giải quyết và nếu không được trả lời thì tôi tiếp tục gửi đơn đến đâu để được giả quyết.
2. Theo nghị định 178/2024/NĐ-CP ngày 31 tháng 12 năm 2024 tại điều 7 ý 2 điểm c trang 7 của nghị định và nghị định 67/2025/NĐ-CP tại điều 7 ý c trang 6 của nghị định 67 có nêu đủ 15 năm trở lên làm công việc nặng nhọc, độc hại…và 15 năm làm ở vùng kinh tế- xã hội khó khăn và vùng hệ số phụ cấp 0,7 trở lên trước ngày mùng 1 tháng 1 năm 2021… .vậy theo văn bản nghị định 178/2024 và 67/2025 cơ quan tôi tính thời gian tôi hưởng độc hại từ tháng 3/2009 đến tháng 11/2024 như vậy có đúng không hay chỉ được tính đến thời điểm từ tháng 3/2009 đến 31/12/2020 ( trước ngày mùng 01 tháng )01 năm 2021.
Rất mong sự giúp đỡ , giải thích cho tôi được biết rõ hơn . Tôi xin chân thành cảm ơn